Quản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu Cáp và Thiết bị viễn thông tại Công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông LTCQuản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu Cáp và Thiết bị viễn thông tại Công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông LTCQuản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu Cáp và Thiết bị viễn thông tại Công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông LTCQuản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu Cáp và Thiết bị viễn thông tại Công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông LTCQuản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu Cáp và Thiết bị viễn thông tại Công ty cổ phần Điện nhẹ Viễn thông LTC
Trang 1ĐIỆN NHẸ VIỄN THÔNG LTC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
NGUYỄN THÀNH DƯƠNG
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH NHẬP KHẨU CÁP VÀ THIẾT BỊ VIỄN THÔNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
ĐIỆN NHẸ VIỄN THÔNG LTC
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
(Theo định hướng ứng dụng)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS NGUYỄN XUÂN VINH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Nguyễn Thành Dương
Trang 4Tôi chân thành cảm ơn Ban giám đốc công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông (LTC) đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu công tác qua trình quản trị rủi ro tại quý công ty
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông (LTC) luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC TÌNH HUỐNG ix
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NHẬP KHẨU 4 1.1 Một số vấn đề chung về nhập khẩu 4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nhập khẩu với nền kinh tế 4
1.1.2 Các hình thức nhập khẩu 7
1.2 Rủi ro trong hoạt động nhập khẩu 9
1.2.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu 9
1.2.2 Phân loại rủi ro 11
1.3 Xây dựng quản trị rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu 18
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong kinh doanh xuất nhập khẩu 18
1.3.2 Nguyên tắc quản lý rủi ro kinh doanh nhập khẩu 19
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro trong nhập khẩu 20
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong nhập khẩu 24
1.3.5 Vai trò của quản trị rủi ro trong nhập khẩu đối với doanh nghiệp 28
1.4 Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN NHẸ VIỄN THÔNG (LTC) 31
2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Điện nhẹ viễn thông LTC 31
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Điện nhẹ viễn thông LTC 31
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh của công ty 33
Trang 62.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty 34 2.1.4 Các nhân tố tác động đến quản trị rủi ro trong hoạt động nhập khẩu hàng hoá
của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011-2015 37 2.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông 43 2.2.1 Sơ lược về nhập khẩu hàng hoá của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông
trong những năm gần đây (2011-2015) 43 2.2.2 Thực trạng quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hoá của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông 45 2.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC 59 2.3.1 Những ưu điểm trong quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty
cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC 59 2.3.2 Những tồn tại trong quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC 61 2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC 64 2.4 Kết luận chương 2 67 CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CHO CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN NHẸ VIỄN THÔNG LTC 68 3.1 Căn cứ để đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa 68 3.1.1 Định hướng phát triển chung của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông trong những năm tới 68 3.1.2 Định hướng phát triển nhập khẩu hàng hoá của công ty cổ phần điện nhẹ
Trang 7viễn thông LTC 69
3.2 Các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa cho công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC 71
3.2.1 Nhóm giải pháp trọng tâm 71
3.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 80
3.3 Một số kiến nghị với các Bộ ngành liên quan 82
3.3.1 Đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi, bến cảng cho các đơn vị hỗ trợ hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế 82
3.3.2 Tập trung đầu tư phát triển ngành công nghệ thông tin 83
3.3.3 Tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính 84
3.4 Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hoạt động nhập khẩu thiết bị định vị của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011-2015 44 Bảng 2.2 Hoạt động nhập khẩu từ các nước của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011-2015 45 Bảng 2.3 Thống kê thiệt hại của các loại rủi ro tại công ty CP điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011-2015 48 Bảng 2.4 Bảng tổng kết số hợp đồng rủi ro của LTC giai đoạn 2011-2015 53 Bảng 2.5 Danh mục rủi ro, nguyên nhân và các biện pháp hạn chế rủi ro 54 Bảng 2.6 Cơ cấu rủi ro giữa các loại rủi ro trong nhập khẩu của LTC giai đoạn
2011 - 2015 55 Bảng 2.7 Khả năng đo lường của các loại rủi ro trong hoạt động nhập khẩu của LTC giai đoạn 2011 – 2015 56
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Thiệt hại kinh tế khi rủi ro xảy ra trong nhập khẩu hàng hóa tại công ty
cổ phần điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011-2015 46 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ thiệt hại khi rủi ro xảy ra so với trị hàng nhập khẩu của công ty LTC giai đoạn 2011-2015 47
Trang 11DANH MỤC TÌNH HUỐNG
Tình huống 2.1 Tình huống về rủi ro trong thanh toán bằng L/C do đối tác không cung cấp hàng hoá 49 Tình huống 2.2 Tình huống về rủi ro xuất phát từ phía nhà xuất khẩu không cung cấp hàng hóa do yếu tố giá cả 50 Tình huống 2.3 Tình huống về rủi ro liên quan đến chi phí hàng phải lưu kho 51 Tình huống 2.4 Tình huống về rủi ro do hệ thống công nghệ thông tin lạc hậu 52 Tình huống 2.5 Tình huống về rủi ro do chuyên chở hàng hoá bằng đường biển 52
Trang 13
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chug ngày càng mở rộng, rủi ro và quản trị rủi ro ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư cũng như kinh tế học Kinh doanh và rủi ro
là hai phạm trù song song cùng tồn tại Rủi ro tuy là sự bất trắc gây ra mất mát thiệt hại, song lại đồng hành với các hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường và cạnh tranh Nó tạo tiền đề cho quá trình đào thải tự nhiên các doanh nghiệp yếu kém, thúc đẩy sự chấn chỉnh, sự thích nghi của các doanh nghiệp, tạo
xu hướng phát triển ổn định và hiệu quả cho nền kinh tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế giữa các chủ thể ngày càng thoát khỏi sự ràng buộc về biên giới địa lí Các doanh nghiệp đã xây dựng các biện pháp đó thành chiến lược có tính hệ thống, gọi là quản trị rủi ro từ những năm
80 và coi quản trị rủi ro như một chức năng trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp (Tiêu chuẩn quốc gia về quản lí rủi ro-Nguyên tắc và hướng dẫn, 2011) Hoạt động kinh doanh XNK của các doanh nghiệp Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động trên Hầu như không có loại hình kinh doanh nào, không có giao dịch XNK nào của các doanh nghiệp không hàm chưa rủi ro Bởi lẽ hoạt động kinh doanh XNK là một hoạt động rất nhạy cảm, mọi biến động của nền kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế đều nhanh chóng tác động đến hoạt động của doanh nghiệp
Công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông trong quá trình hoạt động kinh doanh nhập khẩu các thiết bị viễn thông và cáp chưa thực sự chú trọng đến chức năng quản trị rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu của mình Do đó, công ty đã thường gặp phải các rủi ro trong thanh toán quốc tế, rủi ro trong quá trình chuyên chở hàng hóa, rủi ro vì giá cả hàng hóa tăng… Điều đó đã làm thiệt hại về kinh tế rất nhiều cho công ty, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của công ty Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế như hiện nay, nếu tình trạng này còn kéo dài thì công ty
sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và có xu hướng ngày càng gia tăng Với đề tài
“Quản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu cáp và thiết bị viễn thông tại công ty
Trang 14cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC” tác giả mong muốn được nghiên cứu chuyên sâu nhằm có các căn cứ khoa học và thực tiễn đề xuất các giải pháp nhằm quản trị rủi ro trong hoạt động nhập khẩu tại công ty tốt hơn, để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo lập môi trường kinh doanh an toàn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong nhập khẩu
• Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công
ty điện nhẹ viễn thông và đưa ra những đánh giá về quản trị rủi ro của công ty
• Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông trong nhập khẩu hàng hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nội dung quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông trong giai đoạn từ năm 2011 đến hết năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích và đề xuất các biện pháp quản trị rủi ro trong nhập khẩu Đề tài chú trọng sử dụng các phương pháp khác bao gồm thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, suy luận logic…nhằm tăng thêm cơ sở của vấn đề và giải quyết chúng có hệ thống
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận cơ bản về quản trị rủi ro trong nhập khẩu
Trang 15Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hóa của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông giai đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong nhập khẩu hàng hoá của công ty cổ phần điện nhẹ viễn thông LTC
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG NHẬP KHẨU
1.1 Một số vấn đề chung về nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nhập khẩu với nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm nhập khẩu
Luật thương mại 2005 của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2006, quy định rõ: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hang hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt năm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Nhập khẩu được xem như việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài, nhập khẩu để bổ sung hàng hoá
mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu Nhập khẩu còn để thoả mãn mục đích kiếm lời, nghĩa là nhập khẩu những hàng hoá
mà sản xuất trong nước không có lợi bằng nhập khẩu [5, tr.9]
Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh
tế, các công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau
Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết
sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa Nhập khẩu làm cho thị trường trong nước dồi dào, phong phú hơn, giải quyết được tình trạng khan hiếm hang hóa trên thị trường, điều hòa quan hệ cung cầu tạo môi trường cạnh tranh, kích thích người sản xuất trong nước phải cải tiến, hoàn thiện chất lượng mẫu mã bao bì sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu cao của người tiêu dùng
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động
Trang 17quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán
1.1.1.2 Đặc điểm và vai trò của nhập khẩu với nền kinh tế
a) Đặc điểm của nhập khẩu
Những đặc điểm của nhập khẩu được xem xét dưới góc độ quản trị rủi ro, do vậy chỉ những đặc điểm nào ảnh hưởng tới tình hình rủi ro của doanh nghiệp mới được đề cập
• Nhập khẩu diễn ra trong môi trường đa dạng và phức tạp
Nhập khẩu liên quan đến một hay nhiều thị trường bên ngoài quốc gia Những kinh nghiệm từ thị trường trong nước không thể áp dụng sang các thị trường ngoài nước do sự khác biệt về điều kiện văn hoá, xã hội, chính trị Sự khác biệt này đòi hỏi doanh nghiệp phải thu thập thông tin không chỉ vì nhu cầu, sở thích, thói quen… của khách hàng, về tình hình đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài mà
cả các đặc điểm về môi trường tự nhiên, văn hoá, chính trị ở đó Đây chính là nguồn gốc tạo ra những loại rủi ro mà các doanh nghiệp kinh doanh trong nước có thể không hoặc ít khi gặp phải
• Nhập khẩu chịu sự điều tiết của đồng thời nhiều nguồn luật
Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu không chỉ chịu sự điều tiết của pháp luật trong nước mà còn cả pháp luật tại các nước mà mình có hoạt động kinh doanh, các công ước, tập quán quốc tế Vấn đề này không chỉ đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững luật pháp nước sở tại, các luật và tập quán quốc tế mà còn phải xử lý những xung đột giữa các nguồn luật này Đây chính là nguồn gốc dẫn đến những quan niệm khác nhau trong việc xử lý tranh chấp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu dễ rơi vào tình trạng bị kéo dài [1, tr.3]
• Các đối tác trong nhập khẩu có quốc tịch khác nhau
Một đặc điểm trong nhập khẩu là các giao dịch sẽ được tiến hành với một hay nhiều đối tác có quốc tịch nước ngoài Đặc điểm này có thể dẫn tới các bất đồng
về ngôn ngữ, tập quán buôn bán, văn hoá… là nguồn gốc gây ra rủi ro [2, tr.37]
Trang 18• Phương thức giao dịch gián tiếp và từ xa đóng vai trò chủ yếu
Giao dịch trong kinh doanh quốc tế chủ yếu thông qua các hình thức gián tiếp như: thư tín, điện thoại, fax, thư điện tử, mạng internet Các hình thức này giúp giảm đáng kể chi phí và tăng nhanh tốc độ liên lạc Tuy nhiên, việc sử dụng các hình thức giao dịch gián tiếp này lại dễ gây ra những rủi ro do tính hạn chế của chúng Thông tin không đến đúng nơi kịp thời, có thể bị giả mạo là những nguyên nhân làm tăng độ rủi ro cho các giao dịch
• Hàng hoá và chứng từ liên quan phải chuyển giao trong thời gian dài và cự
ly xa
Trong nhập khẩu, hàng hoá được chuyển giao từ người bán sang người mua qua những không gian địa lý rất xa Những rủi ro như bị mất trộm, cướp, bị đắm chìm, bị va tàu… là những rủi ro dường như nằm ngoài tầm kiểm soát của người chuyên chở
Việc lưu chuyển chứng từ thanh toán bằng hình thức trực tiếp qua thuyền trưởng đến thẳng người mua hay gián tiếp qua hệ thống ngân hàng cũng thường gặp phải không ít rủi ro như: động đất, bão lụt, thậm chí là sự thiếu trách nhiệm của các bên liên quan trong giao dịch chứng từ
• Hoạt động thanh toán phải trải qua bước chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
Mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng, do vậy khi thực hiện thanh toán hợp đồng, các doanh nghiệp đều phải đổi từ đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác Những rủi ro thường gặp là: tỷ giá hối đoái biến động bất thường hay giá trị đồng tiền nắm giữ bị suy giảm nghiêm trọng
b) Vai trò của nhập khẩu với nền kinh tế
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của ngoại thương Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước; nhập khẩu để bổ sung các hàng hoá trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu; nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng xuất khẩu Trước hết
Trang 19nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hoá còn thiếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng làm cân đối kinh tế Nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân [1, tr.2]
Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước, đuổi kịp các nước tiên tiến, bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển kinh tế cân đối ổn định
Nhập khẩu góp phần cải thiện, nâng cao mức sống của nhân dân, vì nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động Nhập khẩu làm đa dạng hoá hàng tiêu dùng trong nước, phong phú chủng loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người dân
Nhập khẩu có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy xuất khẩu Sự tác động này thể hiện ở chỗ xuất khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng sản xuất được trong nước ra nước ngoài, đặc biệt
là nước đối tác mà mình đã nhập hàng của họ
Có thể nói, nhập khẩu tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các “yếu tố đầu vào” và tiêu thụ các “yếu tố đầu ra” cho nền kinh tế quốc dân trong hệ thống kinh tế quốc tế Tuy nhiên để vận dụng tối đa vai trò đó là cả một vấn đề đặt ra với đường lối phát triển của mỗi quốc gia, với những quan điểm của Đảng lãnh đạo (voer.edu)
1.1.2 Các hình thức nhập khẩu
Ở Việt Nam, có khá nhiều hình thức nhập khẩu, tuy nhiên để sử dụng hình thức nhập khẩu nào là phù hợp với doanh nghiệp mình để có hiệu quả cao nhất thì doanh nghiệp nhập khẩu cần phải xem xét môi trường kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, điều kiện giao dịch Dưới đây là hai hình thức nhập khẩu phổ biến:
Trang 201.1.2.1 Nhập khẩu trực tiếp
Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp, doanh nghiệp trực tiếp nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác, lựa chọn đối tác, tính toán chi phí, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, chịu trách nhiệm về lỗ lãi… đảm bảo đúng phương hướng, phù hợp luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế [1, tr.33] Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp được hiểu là việc đơn vị kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt nam với danh nghĩa và chi phí của mình rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng hoá nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu
1.1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu ủy thác là hoạt động được hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một số hàng hoá nhưng lại không tham gia nhập khẩu trực tiếp mà uỷ thác cho một doanh nghiệp khác (gọi
là thương nhân trung gian) chuyên nhập khẩu hàng theo yêu cầu của mình Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức uỷ thác là việc đơn vị ngoại thương (bên nhận uỷ thác ) đóng vai trò trung gian để thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt nam theo yêu cầu của bên uỷ thác với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên uỷ thác
Bên đặt hàng (bên uỷ thác) giao đơn vị ngoại thương (bên nhận uỷ thác) tiến hành nhập khẩu một số lô hàng nhất định Theo đó, bên nhận uỷ thác phải ký hợp đồng nhập khẩu với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên uỷ thác Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với doanh nghiệp nước ngoài để làm thủ tục nhập hàng theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng một phần phí gọi là phí uỷ thác
Trách nhiệm và quyền lợi của các bên như sau:
- Bên uỷ thác nhập khẩu: Đưa đơn hàng có kèm theo xác nhận của ngân hàng
về khả năng thanh toán cho bên nhận uỷ thác, tham gia giao dịch mua hàng, có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng
Trang 21- Bên nhận uỷ thác: Ký hợp đồng nhập khẩu với điều kiện có lợi cho bên uỷ thác, thực hiện các thủ tục hải quan, kiểm tra chất lượng hàng hoá… để bên uỷ thác
có thể nhận hàng, tiến hành các biện pháp hạn chế tổn thất
Mối liên hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thể hiện ở hoạt động ký kết giữa hai bên và những tài liệu, giấy tờ liên quan mà bên uỷ thác gửi cho đơn vị ngoại thương Và chính đây là cơ sở quan trọng để bên được uỷ thác tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu với đối tác ở nước ngoài Sau khi công việc nhập khẩu hoàn tất, đơn vị được uỷ thác bàn giao hàng hoá đúng như yêu cầu cho bên uỷ thác gọi là chi phí uỷ thác khoảng 1% giá trị hợp đồng, chi phí này có thể ít hơn hoặc nhiều hơn 1% phụ thuộc vào mối quan hệ giữa bên bán uỷ thác và bên nhận uỷ thác cũng như giá trị của hợp đồng
1.2 Rủi ro trong hoạt động nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.2.1.1 Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là sự việc không được mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Trong cuộc sống và công việc hàng ngày, rủi ro có thể xuất hiện trên mọi lĩnh vực, không ngoại trừ một ai, một quốc gia, một dân tộc nào Sự kiện 11-09-2001 là một ví dụ điển hình Tuỳ từng trường phái mà quan niệm về rủi ro có thể khác nhau
Theo trường phái tiêu cực
• Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại…(dịch từ nguyên bản Từ điển Oxford)
• Trong lĩnh vực kinh doanh, tác giả Hồ Diệu định nghĩa “Rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, KD của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp” [4, tr.5]
Theo trường phái trung hoà
• “Rủi ro là sự bất trắc gây thiệt hại, sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi” [23]
Trang 22• “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”, “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” [24]
Như vậy, đa số các học giả theo trường phái trung hoà đều cho rằng: “Rủi ro
là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm… cho con người, nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội”
Nhìn chung theo các quan điểm trên, rủi ro là những nhân tố mang tính tiêu cực, thường ảnh hưởng xấu đến kết quả của một hoạt động nào đó Tuy nhiên, cũng
có một số quan điểm khác lại cho rằng rủi ro mang tính trung hoà, không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực Rủi ro có thể mang lại hậu quả xấu nhưng cũng có thể góp phần tạo nên kết quả tích cực cho doanh nghiệp
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên có thể nhận thấy rủi ro có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Song quan điểm cho rằng rủi ro mang tính tiêu cực, tác động xấu đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn kinh doanh quốc tế Do đó, các doanh nghiệp phải luôn chú trọng việc nghiên cứu các rủi ro theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể để có thể kiểm soát chúng một cách hữu hiệu đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại mà doanh nghiệp có thể phải gánh chịu
1.2.1.2 Rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu
Kinh doanh là một hoạt động đầy rủi ro và mạo hiểm Trong kinh doanh, chúng ta phải thường xuyên đưa ra các quyết định nhằm giải quyết các công việc thường nhật, hoạch định các kế hoạch và chính sách cho doanh nghiệp và mỗi một quyết định lại tiềm ẩn trong nó những rủi ro, bất trắc có thể xảy ra bất kỳ lúc nào Những rủi ro này có thể xuất phát từ những yếu tố khách quan, tồn tại độc lập với doanh nghiệp Nhưng dù cho xuất phát điểm của chúng là do nhân tố khách quan hay chủ quan thì để có thể vươn tới thành công, doanh nghiệp không những phải hạn chế đến mức tối thiểu nguy cơ xảy ra rủi ro mà còn phải kiểm soát được chúng trong quá trình hoạt động của mình [14]
Trang 23Về cơ bản, rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu là sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời, nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích, những cơ hội thuận lợi trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Sau khi đã hiểu rõ về khái niệm rủi ro, có thể đưa ra khái niệm về rủi ro trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa như sau:
Rủi ro trong hoạt động nhập khẩu là một tình huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hay mong đợi phát sinh trong quá trình thực hiện nhập khẩu hàng hóa liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thực hiện hoạt động nhập khẩu như: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, các ngân hàng, các tổ chức cá nhân và các tác nhân trung gian… hoặc do những nhân tố khách quan khác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị…
1.2.2 Phân loại rủi ro
1.2.2.1 Phân loại rủi ro nói chung
Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro, sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
Theo tính chất của rủi ro
Có hai loại: rủi ro suy đoán và rủi ro thuần tuý
Rủi ro suy đoán: còn gọi là rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ, tồn tại cơ hội kiếm lời cũng như nguy cơ tổn thất Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động đầu tư kinh doanh và đầu cơ
Rủi ro thuần tuý: là loại rủi ro mà nếu xảy ra thì chỉ có thể dẫn đến tổn thất
mà không còn cơ hội kiếm lời nữa Loại rủi ro này thường là những rủi ro thuộc về môi trường thiên nhiên như động đất, lụt bão, sóng thần…
Theo nguyên nhân của rủi ro
Có hai loại: rủi ro do các yếu tố khách quan và rủi ro do các yếu tố chủ quan
và không thể lường trước hay kiểm soát được Rủi ro này thường là những
Trang 24nguyên nhân xảy ra từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, mưa, bão lụt, hạn hán… hay rủi ro do khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành vĩ mô của Chính phủ Vì vậy, các doanh nghiệp rất khó kiểm soát để hạn chế rủi ro
Rủi ro do các yếu tố chủ quan: loại rủi ro này ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi của con người hoặc của các tổ chức kinh doanh, như hệ thống luật pháp thay đổi, thể chế chính trị không ổn định, chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng…
Theo phạm vi ảnh hưởng của rủi ro
Có hai loại: rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt
Rủi ro cơ bản: là những rủi ro phát sinh từ những nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của con người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường, có ảnh hưởng chung tới toàn xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, động đất…
Rủi ro riêng biệt: là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và khách quan của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này chỉ ảnh hưởng tới lợi ích của từng
cá nhân hoặc tổ chức, chứ không ảnh hưởng tới toàn xã hội
Theo tác động của môi trường vĩ mô
Có các loại: rủi ro do điều kiện tự nhiên, rủi ro chính trị, rủi ro kinh tế, rủi ro luật pháp, rủi ro văn hoá… Với nhóm rủi ro này, nếu doanh nghiệp không có biện pháp quản trị tốt thì rất dễ phải chịu hậu quả nặng nề
Theo hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Rủi ro trong thanh toán
Rủi ro vận chuyển, bảo hiểm
Rủi ro do điều khoản trong hợp đồng
Rủi ro do tác động của môi trường…
Thực tiễn hoạt động kinh doanh NK cho thấy, các rủi ro phân chia theo tác động của môi trường và theo hoạt động kinh doanh NK là những rủi ro thường mang lại nhiều tổn thất, mất mát nhất Do vậy, luận văn chủ yếu tập trung phân tích các loại rủi ro này
Trang 251.2.2.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động nhập khẩu
a) Căn cứ vào tác động của môi trường
• Rủi ro do điều kiện tự nhiên
Những điều kiện tự nhiên có nhiều khả năng tác động đến hoạt động kinh doanh NK chính là thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, động đất, song thần…Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp mà hàng hoá nhập khẩu mang tính thời vụ và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên như nông sản, hải sản…, thì khi xảy ra những sự cố thiên tai, giá trị sử dụng và giá trị thương mại của hàng hoá sẽ giảm nhanh chóng
Nguồn: Internet
Hình 1.1: Mô hình rủi ro theo môi trường tác động
• Rủi ro do môi trường văn hoá, chính trị
Rủi ro do môi trường văn hoá là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức… của dân tộc khác, từ đó dẫn đến cách hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất mát, mất cơ hội kinh doanh
Môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh Rủi ro chính trị sẽ làm đảo lộn mọi dự đoán của doanh nghiệp 3 loại rủi ro chính trị thường gặp là:
- Rủi ro liên quan đến quyền sở hữu (như sung công tài sản, tịch thu tài sản, nội địa hoá…)
Trang 26- Rủi ro do nhà nước can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động của tổ chức (quy định về cấp giấy phép kinh doanh; hạn ngạch sản xuất, hạn ngạch NK; giấy phép
NK…)
- Rủi ro về chuyển giao
• Rủi ro do môi trường kinh tế
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn Mặc dù hoạt động của một chính phủ (đặc biệt là chính phủ của các siêu cường quốc) có thể ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường thế giới, nhưng họ cũng không thể kiểm soát nổi toàn
bộ thị trường thế giới
Một số rủi ro kinh tế thường gặp:
- Rủi ro do nền kinh tế phát triển không ổn định
Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, rủi ro quốc gia là không thể tránh khỏi và do
đó, độ an toàn trong kinh doanh của các doanh nghiệp KD XNK cũng bị ảnh hưởng mạnh Chẳng hạn như cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á giai đoạn 1997-1998
đã khiến rất nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường, đối tác KD mới cũng như xây dựng lại chiến lược KD ngắn và dài hạn
- Rủi ro do sự biến động giá cả: Biến động về giá cả hàng hoá, dịch vụ và yếu tố đầu vào nhiều khi rất khó dự đoán Các doanh nghiệp ký xong hợp đồng thì giá
cả lại biến động mạnh, khi đó doanh nghiệp sẽ buộc phải lựa chọn hoặc phá hợp đồng và chịu phạt, hoặc tiếp tục thực hiện hợp đồng và chịu lỗ
• Rủi ro do môi trường pháp luật
Có rất nhiều rủi ro phát sinh từ hệ thống luật pháp Trong KD quốc tế, môi trường luật pháp phức tạp hơn rất nhiều, bởi chuẩn mực luật pháp của các nước khác nhau là khác nhau Nếu không am hiểu luật pháp nước đối tác, thì sẽ gặp rủi
ro Rủi ro pháp lý có nguồn gốc từ:
- Vi phạm luật quốc gia như luật chống độc quyền, chống phân biệt chủng tộc
- Thiếu kiến thức, hiểu biết về pháp luật
Trang 27- Do sự thay đổi về luật pháp liên quan đến KD như quy định về nhãn hiệu hàng
hoá, môi trường, lao động
b) Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Đối với hình thức đàm phán qua thư tín (gián tiếp), rủi ro sẽ xảy ra nếu hai bên đối tác chuẩn bị không tốt về hình thức và nội dung thư từ, văn bản trao đổi, ngôn ngữ và cách thức diễn đạt không rõ ràng, không đúng nội dung cần trao đổi
hoặc thậm chí sai lệch ý muốn của một trong hai bên đối tác…
Đối với hình thức đàm phán qua điện thoại, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro nếu không thông thạo ngôn ngữ đàm phán và diễn đạt sai…, dẫn đến đối tác hiểu nhầm, mất lòng, từ chối giao dịch và do đó, mất đi cơ hội kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp
Đối với hình thức đàm phán trực tiếp (gặp gỡ trực tiếp), rủi ro rất dễ xảy ra nếu trước khi gặp gỡ đối tác, doanh nghiệp không chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung đàm phán, tìm hiểu đối tác và có tình huống dự phòng
Đàm phán hợp đồng ngoại thương gồm nhiều giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị,
Giai đoạn tiếp xúc, Giai đoạn đàm phán, Giai đoạn kết thúc-ký kết hợp đồng, Giai đoạn rút kinh nghiệm Rủi ro có thể xuất hiện trong tất cả các giai đoạn của quá
trình đàm phán, hơn nữa, rủi ro trong giai đoạn trước sẽ kéo theo những thất bại, thua thiệt trong các giai đoạn sau Chẳng hạn, tại giai đoạn chuẩn bị, nếu doanh nghiệp tập hợp thông tin sai lệch về đối tác, khi tiếp xúc đàm phán không xây dựng chiến lược đàm phán phù hợp thì tất yếu hợp đồng sẽ không thể được ký kết theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
Trang 28• Rủi ro trong soạn thảo, ký kết hợp đồng
Hợp đồng XNK về bản chất là một hợp đồng mua bán quốc tế, là sự thoả thuận giữa các bên mua bán ở các nước khác nhau, trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hoá, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hoá và quyền
sở hữu hàng hoá, bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhận hàng Đặc biệt, đối với Việt Nam, do mở cửa muộn, chưa có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, nên hợp đồng thường để phía đối tác nước ngoài soạn thảo, hoặc nếu bên Việt Nam soạn thảo thì cũng dựa trên mẫu hợp đồng của nước ngoài, vì vậy hợp đồng thường chứa đựng những điều khoản bất lợi Hơn nữa, trước khi ký kết, nếu các doanh nghiệp không kiểm tra lại các điều khoản ghi trong hợp đồng thì sau khi hợp đồng
đã được ký, việc sửa chữa lại những điều khoản bất lợi cho mình là rất khó khăn, và phải cần có sự đồng ý của tất cả các bên tham gia [16, ch.3]
• Rủi ro trong quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, rủi ro có khả năng xuất hiện ở tất cả các khâu
- Rủi ro trong thanh toán
Có rất nhiều kiểu thanh toán như thanh toán đặt cọc trước khi nhận hàng, thanh toán nhờ thu, thư tín dụng chứng từ, thanh toán trả sau khi nhận hàng hoặc khi có các biên bản nghiệm thu, bảo lãnh bảo hành… Mỗi hình thức thanh toán lại
có những đặc trưng riêng, và do đó, mức độ và hình thức của rủi ro cũng khác nhau Chẳng hạn:
+Nếu là thanh toán TTR trả trước: rủi ro có thể là người bán nhận tiền rồi không giao hàng, giao hàng chậm tiến độ hoặc giao thiếu hàng
+Nếu là thanh toán nhờ thu trả ngay D/P: người NK chuyển tiền thanh toán nhưng người XK (câu kết với đại lý vận tải) không cung cấp D/O (lệnh giao hàng) để người NK đi nhận hàng
+Nếu là thanh toán L/C: rủi ro có thể phát sinh nếu người bán lập bộ chứng từ giả
để đòi tiền theo L/C, người XK lập bộ chứng từ có lỗi nên bị từ chối không được thanh toán
Trang 29- Rủi ro trong khâu làm thủ tục NK (xin giấy phép, làm thủ tục hải quan…)
Doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro nếu việc xin giấy phép kéo dài quá lâu hoặc thủ tục hải quan bị ách tắc, gián đoạn, dẫn đến việc chậm thời hạn cung cấp hàng cho người mua hoặc mất tính thời vụ của hàng hoá Ví dụ như mặt hàng đường tạm nhập tái xuất sang Trung Quốc Đây là mặt hàng NK phải xin giấy phép liên bộ giữa Bộ Thương Mại và Bộ Nông nghiệp Nếu không có sự phối hợp nhịp nhàng, khẩn trương giữa hai bộ thì doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội KD vì giá đường NK thay đổi liên tục và đối tác Trung Quốc cũng rất dễ đi tìm nhà cung cấp khác
- Rủi ro trong khâu thuê phương tiện vận tải, giao nhận hàng hoá
Đối với việc thuê tàu, doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro đắm, chìm tầu, hàng rơi xuống biển, đi chệch hướng… nếu thuê tàu già, không đủ khả năng đi biển, hãng vận chuyển không có uy tín, thuỷ thủ đoàn không có năng lực, hoặc cước phí thấp dẫn đến việc xếp hàng trên tàu không an toàn
Đối với việc giao nhận, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro nếu trọng tải tàu quá
lớn so với mực nước cho phép tại cảng dỡ hàng hoặc nhận hàng, do đó sẽ phải kéo dài thời gian vận chuyển bằng các tàu, xà lan nhỏ, và như vậy, chi phí cũng tăng lên tương ứng Mặt khác, nếu doanh nghiệp không chủ động nắm vững thông tin về việc giao hàng và kịp thời có chứng từ để nhận hàng, doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí lưu kho, bãi và chậm tiến độ nhận hàng
- Rủi ro trong khâu mua bảo hiểm
Doanh nghiệp có thể sẽ không được hưởng lợi từ hợp đồng bảo hiểm hoặc nếu có, bảo hiểm không đủ giá trị và không hết rủi ro Nguyên nhân có thể do doanh nghiệp
đã không mua đủ giá trị với điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro, tổn thất Đó cũng có thể
là do chứng từ bảo hiểm xuất trình theo quy định của hợp đồng không đảm bảo đúng quyền lợi của người được hưởng bảo hiểm, không được chuyển giao quyền hưởng lợi hoặc đã hết hạn bảo hiểm, tổn thất xảy ra trước khi hàng hoá được bảo hiểm [13, ch.1]
- Rủi ro trong khâu kiểm tra, giám định hàng hoá
Trang 30Doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro nếu đối tác câu kết với cơ quan giám định hàng hoá, cung cấp kết quả giám định sai khác so với thực tế Ngoài ra, đối với doanh nghiệp NK, nếu chấp nhận kết quả giám định tại cảng đi có giá trị quyết định cuối cùng thì rủi ro sẽ xảy ra khi hàng hoá tại cảng đến có trọng lượng, chất lượng hao hụt, sai biệt với kết quả giám định nhưng doanh nghiệp không thể kiện đối tác Tương tự với doanh nghiệp XK khi chấp nhận kết quả giám định tại cảng đến có giá trị quyết định cuối cùng
1.3 Xây dựng quản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro trong kinh doanh nhập khẩu
Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về quản lý rủi ro Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản
lý rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau Có những nhà nghiên cứu cho rằng quản lý rủi ro đồng nghĩa với việc mua bảo hiểm Đó chính là việc chỉ
quản lý những rủi ro thuần tuý, những rủi ro có thể phân tán, những rủi ro “có thể mua bảo hiểm”. Trong khi đó, trường phái hiện đại lại cho rằng cần phải quản lý tất
cả mọi loại rủi ro của doanh nghiệp một cách toàn diện và đầy đủ Hơn nữa, quản lý rủi ro còn là một chức năng chung để nhận dạng, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro đối với một tổ chức
Quan điểm của trường phái hiện đại có thể coi là một quan điểm “quản lý rủi
ro toàn diện” Theo đó, trong lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu, Quản lý rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro[4, ch.2]
Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp là quá trình nhận dạng, đo lường, đánh giá
và thực hiện các biện pháp kiểm soát, giảm thiểu rủi ro một cách có chủ đích, có tổ chức của doanh nghiệp, nhằm giúp cho doanh nghiệp đặt được mục đích, mục tiêu một cách có hiệu quả cao và bền vững trong điều kiện môi trường bất trắc [15, tr.34] Nói một cách khác, quản trị rủi ro và khủng hoảng trong doanh nghiệp là một
sự tác động có chủ đích, có tổ chức của doanh nghiệp để đối phó với các rủi ro hoặc
Trang 31khủng hoảng có thể xảy ra cho doanh nghiệp Vậy, để quản trị rủi ro được tốt, các nhà quản trị cần thực hiện một số công việc cụ thể như:
- Dự kiến trước với chi phí nhỏ nhất các nguồn lực tài chính cần thiết trong trường hợp có rủi ro xảy ra
- Kiểm soát các rủi ro bằng cách loại bỏ, giảm nguy cơ hoặc di chuyển một cách hợp lý rủi ro cho các đối tác kinh tế
- Đo lường những hậu quả của rủi ro gây ra và dự kiến các biện pháp tổ chức nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và của đối với công ty
1.3.2 Nguyên tắc quản lý rủi ro kinh doanh nhập khẩu
a) Nguyên tắc không có rủi ro thì không có lợi nhuận
Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt gắn liền của hoạt động KD Đặc biệt, trong thời đại hội nhập và toàn cầu hoá, mức độ cạnh tranh và theo đuổi lợi nhuận ngày càng tinh vi, phức tạp và rủi ro là không thể tránh khỏi Doanh nghiệp phải chấp nhận rủi ro một cách có ý thức, tính toán và xác định được rủi, để từ đó đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp Điều đó có nghĩa là khi xây dựng xây dựng kế hoạch
KD tổng thể hoặc chi tiết, dài hạn hay ngắn hạn, doanh nghiệp đều phải tính đến yếu tố rủi ro và mức độ tổn thất [9, ch.3]
b) Nguyên tắc phân tách người chấp nhận rủi ro và kiểm soát rủi ro
Đây là nguyên tắc tạo ra một môi trường KD NK có kiểm soát Mỗi doanh nghiệp sẽ xây dựng một bộ phận kiểm soát rủi ro độc lập, có trách nhiệm tư vấn, xác định rủi ro tiềm ẩn Quyền hạn và trách nhiệm của bộ phận kiểm soát rủi ro phải được quy định rõ ràng, cụ thể, tránh trường hợp đồng nhất hoặc lệ thuộc vào quyết định và ý chí chủ quan của lãnh đạo cấp cao
c) Nguyên tắc công khai
Như đã phân tích, rủi ro có thể xảy ra trong tất cả các khâu của hoạt động KD
NK, do hành vi ứng xử, tư duy, hành động của các thành viên, bộ phận của doanh nghiệp quyết định Vì vậy, việc công khai rủi ro là rất cần thiết Chỉ khi nào tất cả các mắt xích trong tập thể cùng hiểu và kiểm soát được rủi ro thì doanh nghiệp mới
Trang 32phần nào đảm bảo được khả năng hạn chế rủi ro Nguyên tắc công khai rủi ro đòi hỏi doanh nghiệp:
- Công khai những rủi ro tiềm ẩn và đã từng xảy ra đối với doanh nghiệp
- Định hướng phân tích, phát hiện, kiểm soát, giảm thiểu rủi ro trong tương lai
d) Nguyên tắc Tuyệt đối tuân thủ
Mỗi thành viên là một mắt xích trong dây chuyền hoạt động của doanh nghiệp, chỉ cần một mắt xích đi chệch hướng là toàn bộ dây chuyền sẽ bị ảnh hưởng Điều quan trọng là tất cả các cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ quy trình, quy định và chiến lược của doanh nghiệp Tuy nhiên, các thành viên vẫn có thể vận dụng linh hoạt, sáng tạo những nguyên tắc chung về quản lý rủi ro [9, ch.3]
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro trong nhập khẩu
Quản trị rủi ro được tổ chức ở các mức độ khác nhau, tuỳ thuộc vào tiềm lực tài chính của doanh nghiệp cũng như việc phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp Dù
mô hình tổ chức quản trị rủi ro tại mỗi doanh nghiệp có thể khác nhau, nội dung cơ bản gồm [10, tr.374] :
Hình 1.2 Nội dung quản trị rủi ro trong hoạt động nhập khẩu
1.3.3.1 Nhận biết các rủi ro có thể xảy ra trong nhập khẩu
Nhận biết rủi ro là công việc đầu tiên để thực hiện hoạt động quản trị rủi ro Nhận biết rủi ro là việc xác định một danh sách các rủi ro có thể gặp phải khi tiến
2 Đo lường nguy cơ xảy ra rủi ro
3 Giám sát các rủi ro
4 Kiểm soát các rủi ro
5 Báo cáo và đánh giá
1 Nhận biết các rủi ro
Trang 33hành hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp xuất phát từ nguyên nhân khách quan cũng như các nguyên nhân chủ quan Lập danh sách các rủi ro có thể gặp phải càng chi tiết và đầy đủ thì càng tốt cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp [4, ch.1]
Nhận biết rủi ro đòi hỏi nhà quản trị phải có trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, kinh nghiệm và sự thận trọng để tập hợp được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng theo các tiêu thức khác nhau Để nhận biết rủi ro trong hoạt động nhập khẩu, các nhà quản trị cần phải:
- Nghiên cứu nguồn rủi ro
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu liên quan đến việc mua bán giữa các tổ chức hay cá nhân của nước này với nước khác Do đó, các doanh nghiệp thường phải đối mặt với các nguồn rủi ro sau:
• Rủi ro từ môi trường kinh doanh (môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hoá)
• Rủi ro mang tính ngành nghề (rủi ro do tranh chấp, rủi ro do kiện tụng, rủi ro do chuyên chở, thanh toán…)
• Rủi ro từ nội bộ doanh nghiệp (rủi ro do thiếu thông tin, rủi ro do năng lực canh tranh…)
- Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro
Đối tượng gặp rủi ro ở đây có thể là tài sản, tiền bạc, con người, hay thậm chí
là cơ hội tham gia kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Phân tích rủi ro là việc
xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp phòng ngừa
- Lập bảng danh mục rủi ro
Lập bảng danh mục rủi ro nhằm liệt kê các rủi ro có thể gặp phải một cách có
hệ thống và khoa học Trên cơ sở những thống kê đó sẽ tiến hành phân tích các rủi
ro nhằm xác định nguyên nhân gây ra các rủi ro cũng như các nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro cho doanh nghiệp
Trang 341.3.3.2 Đo lường rủi ro xảy ra trong nhập khẩu
Đo lường rủi ro là việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của rủi ro mà doanh nghiệp phải đối mặt và mức độ thiệt hại nếu rủi ro đó xảy ra Đo lường rủi ro giúp các nhà quản trị quyết định doanh nghiệp có thể tự mình gánh chịu rủi ro hay phải chuyển giao bớt rủi ro, và nếu phải chuyển giao rủi ro thì cách nào là thích hợp để vừa tiết kiệm được chi phí vừa đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp
Có hai phương pháp đo lường rủi ro:
- Phương pháp đo lường định lượng
Có thể sử dụng các phương pháp đo lường định lượng sau:
• Phương pháp thống kê kinh nghiệm: Là phương pháp dựa vào những số liệu thống kê về sự cố đã xảy ra trong một khoảng thời gian quan sát hoặc dựa vào số lần các sự kiện xảy ra
• Phương pháp xác suất thống kê: Là phương pháp ước lượng xác suất rủi ro dựa trên cơ sở các định nghĩa, định lý và thuật toán của xác suất cổ điển
• Phương pháp áp dụng các quy luật phân phối xác suất: Trong thực tế,
có thể áp dụng các một số quy luật phân phối xác suất thông dụng như quy luật phân phối chuẩn, quy luật phân phối nhị thức để nghiên cứu và xác định tần số rủi ro
- Phương pháp đo lượng định tính
Có thể sử dụng phương pháp đo lường định tính sau:
• Phương pháp phân tích, cảm quan: Là phương pháp dự đoán rủi ro dựa trên cơ sở tổng hợp một loạt cái ngẫu nhiên từ đó suy ra cái tất nhiên, từ một loạt vấn đề về hình thức từ đó suy ra nội dung cũng như bản chất
• Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp dựa trên nghiên cứu của chuyên gia trong các lĩnh vực bảo hiểm, quản trị rủi ro, quản trị kinh doanh… đánh giá nguy cơ rủi ro bằng cách cho điểm
• Phương pháp xếp hạng mức độ ảnh hưởng tới rủi ro: Là phương pháp kết hợp so sánh liên hoàn giữa các nhân tố tác động tới rủi ro trong kinh doanh
Trang 351.3.3.3 Giám sát rủi ro trong nhập khẩu
Giám sát rủi ro trong nhập khẩu là việc giám sát rủi ro sao cho tổn thất xảy ra nằm trong khả năng có thể chấp nhận được để đảm bảo rằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp sẽ vẫn mang lại hiệu quả Để giám sát rủi ro, cần thực hiện các công việc như:
- Giám sát các hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng ngày để kiểm tra tính tuân thủ theo nguyên tắc đề ra
- Trao đổi thông tin giữa các bộ phận quản lý rủi ro và ban lãnh đạo để thu thập ý kiến phản hồi về các chiến lược quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.3.3.4 Kiểm soát rủi ro trong nhập khẩu
Trong hoạt động quản lý rủi ro, công việc trọng tâm là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các chiến lược, các chương trình hành động, các công cụ, kỹ thuật… nhằm ngăn ngừa, né tránh hay giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi của rủi ro đối với doanh nghiệp
Trong quá trình quản trị rủi ro, việc sử dụng biện pháp kiểm soát rủi ro nào phải căn cứ vào những đánh giá về khả năng xảy ra rủi ro, mức độ thiệt hại mà rủi
ro có thể gây ra, cũng như những nguồn lực tài chính mà doanh nghiệp sẵn có để khắc phục những thiệt hại đó Các biện pháp kiểm soát rủi ro có thể áp dụng:
- Né tránh rủi ro: Là việc chủ động né tránh trước những rủi ro có thể xảy ra
Né tránh rủi ro có thể giúp cho doanh nghiệp không phải chịu bất kỳ hậu quả xấu nào mà rủi ro được phát hiện có thể gây ra nhưng có thể khiến cho doanh nghiệp đó
bị bỏ lỡ các cơ hội kiếm lợi nhuận cao
- Giảm thiểu rủi ro: Khi rủi ro xảy ra thì các nhà quản trị sẽ phải tìm cách để giảm thiểu số lần xảy ra rủi ro nhằm kiểm soát, giảm thiểu thiệt hại
- Chấp nhận rủi ro: Chấp nhận rủi ro là việc sẵn sàng đương đầu khi rủi ro, tổn thất xảy ra Chấp nhận rủi ro là biện pháp không tránh khỏi để không bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận cao
Trang 36- Chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro: Chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro có thể thực hiện bằng cách mua bảo hiểm hay áp dụng các điều khoản chia sẻ rủi ro
1.3.3.5 Báo cáo và đánh giá về quản trị rủi ro trong nhập khẩu
Đây là bước cuối cùng của quá trình quản trị rủi ro trong hoạt động nhập khẩu, là bước mang tính chất tổng kết để rút ra các bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Qua mỗi giai đoạn của quá trình quản trị rủi ro trong nhập khẩu, doanh nghiệp phải đưa ra các nhận xét và kết luận về quá trình quản trị rủi ro đó Nhận xét
và kết luận đó phải chính xác để góp phần hoàn thiện hay điều chỉnh cho phù hợp ở các giai đoạn tiếp theo
Quy trình báo cáo có thể được thực hiện qua nhiều cấp, tuỳ thuộc vào quy
mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ, mức độ rủi ro nặng hay nhẹ Báo cáo rủi ro bao gồm những dự báo về rủi ro, tường thuật những rủi ro đã xảy ra và những biện pháp đã
sử dụng để hạn chế, giảm thiểu hay chuyển giao rủi ro theo nguyên tắc:
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong nhập khẩu
1.3.4.1 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong hoạt động
Trang 37quản trị bao gồm từ nhận thức và quan điểm cho đến khả năng chuyên môn của ban lãnh đạo, của đội ngũ cán bộ quản trị rủi ro
Sự yếu kém về trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp thể hiện ở sự thiếu kiến thức trong kinh doanh, trình độ, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ được giao; sự phối hợp về công việc giữa các bộ phận trong doanh nghiệp không được liên kết chặt chẽ; các chính sách về tuyển dụng, khen thưởng, đãi ngộ,
sa thải đối với người lao động không phù hợp… Sự yếu kém này sẽ gây ra những rủi ro, tổn thất lớn cho doanh nghiệp như: chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, hàng hoá bị trả lại, chi phí đào tạo cao…
Nhận thức và quan điểm của ban lãnh đạo doanh nghiệp nhập khẩu là yếu tố tiên quyết để nâng cao năng lực quản trị rủi ro Trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng của các nhà quản trị rủi ro càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro và tổn thất càng nhỏ
và ngược lại
b) Sự thiếu thông tin kinh doanh dẫn đến những quyết định sai lầm gây ra rủi
ro trong kinh doanh nhập khẩu
Để đưa ra được các quyết định đúng đắn, lãnh đạo doanh nghiệp phải dựa trên các thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình thị trường, thông tin sản phẩm, đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh doanh trong nước và nước ngoài…
Sự thiếu thông tin hay có những thông tin không chính xác sẽ dẫn đến các quyết định quản lý kinh doanh sai lầm, gây ra rủi ro cho doanh nghiệp
c) Sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhập khẩu
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở: quy mô về lao động và vốn, điều kiện cở vật chất, kỹ thuật, công nghệ, hiệu quả sản xuất kinh doanh… của doanh nghiệp nhập khẩu
Các cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ phục vụ sản xuất sẽ quyết định đến năng suất lao động và chất lượng hàng hóa Nếu chất lượng hàng hoá thấp kém, giá thành sản phẩm cao dẫn đến sản phẩm không có khả năng cạnh tranh trên thị trường các nước
Trang 38Các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ thông tin tạo điều kiện cho các cán
bộ thu thập được hệ thống thông tin, dữ liệu cập nhật để theo dõi thường xuyên và
dự báo chính xác và đầy đủ về xu hướng vận động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Điều đó giúp nhà quản trị rủi ro có thể đo lường được mức độ rủi ro và đề
ra các biện pháp ngăn ngừa rủi ro xảy ra
1.3.4.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong nhập
khẩu
Theo cách tiếp cận phân loại rủi ro theo nguyên nhân phát sinh thì các nguyên nhân khách quan là các nguyên nhân đến từ bên ngoài doanh nghiệp xuất phát từ phía nhà xuất khẩu và từ phía nhà chuyên chở Ngoài ra, có kể đến các yếu
tố môi trường bên ngoài như: môi trường tự nhiên, kinh tế - chính trị và văn hoá mà doanh nghiệp hoạt động
a) Các nhân tố xuất phát từ phía nhà xuất khẩu
• Thời hạn gửi hàng
Theo hợp đồng đã ký kết, người nhập khẩu bắt buộc phải nhận hàng trong thời hạn
đã thỏa thuận để họ có thể giao hàng cho đối tác của mình Mọi sự chậm trễ trong quá trình vận chuyển từ người xuất khẩu đều gây khó khăn cho người nhập khẩu là nhận hàng hóa không theo đúng hạn của hợp đồng, điều này gây tổn thất cho người nhà nhập khẩu khi nhà nhập khẩu không đúng thời hạn với đối tác của mình [13, ch.11]
• Số lượng hàng
Khi nhà nhập khẩu nhận được số lượng hàng ít hơn như đã yêu cầu thỏa thuận sẽ gây ra những hậu quả như: không đảm bảo để sản xuất, khách hàng của nhà nhập khẩu có thể sẽ hủy hợp đồng…
• Sự thay đổi về điều kiện và thời gian thanh toán
Nhiều khi hợp đồng thương mại đã ký quy định cụ thể về các điều kiện và thời gian thanh toán, song người xuất khẩu đơn phương thay đổi buộc nhà nhập khẩu phải thanh toán luôn một lần toàn bộ số tiền hàng, mới nhận được hàng, điều này khiến cho nhà nhập khẩu bị động phải vay từ ngân hàng để tài trợ cho việc thanh toán với
Trang 39phần lãi phải trả Nếu khoản vay lớn sẽ gây khó khăn trong việc vay vốn và ảnh hưởng đến khả năng nhận hàng
b) Các nhân tố xuất phát từ nhà chuyên chở
• Đạo đức của nhà chuyên chở
Nhà xuất khẩu giao hàng cho nhà chuyên chở, nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng lấy tiền rồi biến mất Và khi đó ngân hàng vẫn phải thanh toán cho nhà xuất khẩu theo
bộ chứng từ
• Nhà chuyên chở không quan tâm đến hàng hóa hay sắp xếp hàng hóa không đúng quy định, làm hàng hóa dễ bị hỏng
• Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên trên thế giới hiện nay đang là nơi chứa đựng rất nhiều hiểm hoạ, nguy cơ rủi ro, tổn thất mang tính toàn cầu Đó là những rủi ro do các thảm hoạ tự nhiên như: gió bão, song thần, động đất, cháy rừng, tình trạng thời tiết khắc nghiệt đã gây ra những tổn thất rất lớn cả về người và tài sản
• Môi trường chính trị
Sự ổn định chính trị là điều kiện vô cùng quan trọng đảm bảo cho một quốc gia phát triển và thịnh vượng Kinh doanh trong một môi trường chính trị ổn định là điều kiện cần cho sự thành công của các doanh nghiệp Với một môi trường chính trị bất định, doanh nghiệp sẽ luôn gặp phải những rủi ro bất khả kháng không lường trước
Đây chính là những nguy cơ rủi ro mà các doanh nghiệp phải nhận diện và phân tích đầy đủ trong chiến lược kinh doanh của mình
• Môi trường văn hoá – xã hội
Rủi ro do môi trường văn hoá – xã hội là những rủi ro xảy ra cho các doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu mà thiếu sự hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức, cấu trúc xã hội, các định chế… của các quốc gia, dân tộc đang và sẽ tham gia hoạt động kinh doanh Vì những thiếu hiểu biết đó
mà có hành vi ứng xử không phù hợp, dẫn đến mất cơ hội kinh doanh
Trang 40Đối với các quốc gia có tôn giáo chính thống, doanh nghiệp cần phải rất cẩn thận khi tiếp xúc, đàm phán… hay đối với các nước phát triển thì vấn đề quan trọng nhất là tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong kinh doanh
• Ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng Một khi khủng hoảng kinh tế xảy ra tức là nền kinh tế thế giới, khu vực hoặc quốc gia lâm vào tình trạng bất ổn, thất nghiệp gia tăng, lạm phát, giá cả tăng đột biến, tiền tệ mất giá nghiêm trọng, kinh tế suy thoái trầm trọng Tất cả những yếu tố này là nguyên nhân gây nên những rủi ro, tổn thất cho các doanh nghiệp nói chung
và các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế nói riêng
• Ảnh hưởng từ các chính sách kinh tế và môi trường pháp lý thiếu ổn định, thiếu minh bạch của các nước trên thế giới
Trong thực tế, ở các nước đang phát triển chủ yếu thuộc châu Á, châu Phi, hay Nam Mỹ… hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế điều hành mâu thuẫn, trái ngược với chính sách kinh tế chung của nhà nước Sự thay đổi và tính không ổn định của các chính sách kinh tế và hệ thống các văn bản pháp lý là một trong các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro trong kinh doanh quốc tế mà các doanh nghiệp thường gặp phải, mất vốn đã đầu tư, chi phí kinh doanh tăng dẫn đến giảm sức cạnh tranh trên thị trường, thu nhập của doanh nghiệp giảm, thậm chí bị lỗ trong kinh doanh [13, ch.3]
1.3.5 Vai trò của quản trị rủi ro trong nhập khẩu đối với doanh nghiệp
Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK có vai trò rất quan trọng và quyết định đối với kết quả kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
1.3.5.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý vĩ mô
Thứ nhất, công tác quản lý rủi ro kinh doanh XNK tại từng doanh nghiệp nói riêng và hệ thống tất cả các doanh nghiệp nói chung, nếu được đánh giá đúng và
thực hiện triệt để, sẽ gián tiếp giúp làm tăng nguồn thu NSNN, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Bởi lẽ, khi doanh nghiệp quản lý được rủi ro trong KD, ngăn ngừa