1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”

310 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 3,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi tín chỉ ECTS đại diện cho khối lượng công việc mà sinh viên phải làm, thì tất cả các khóa học/mô đun của một chương trình học nên được mô tả theo nghĩa liên quan đến kết quả họ

Trang 1

1

MỤC LỤC

Phần 1: Đào tạo liên thông và hệ thống tín chỉ

1 Hệ thống liên thông tương thích và tích lũy tín chỉ ECTS

4 Đánh giá khái niệm POHE trong bối cảnh các quy định tổ chức đào tạo

ở các trường đại học của Việt Nam 79

5 Bản ghi nhớ số 4: Hợp tác quốc tế, sinh viên và liên thông tín chỉ

cho khóa học đại học (cử nhân) 93

6 Chuyển đổi sang hệ thống Đào tạo theo tín chỉ -

Kinh nghiệm của Trung Quốc

TS Phạm Thị Ly tổng thuật 98

7 Chuyển đổi sang hệ thống Đào tạo tín chỉ tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức

TS Nhut Ho, TS Michelle Zjhra 108

8 Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương trình đào tạo và

vai trò của giáo viên

TS Michelle Zjhra 126

9 Hệ thống tín chỉ tại các trường đại học Hoa Kỳ:

Lịch sử phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động

12 Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy

Bộ Giáo dục & Đào tạo 163

13 Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

Bộ Giáo dục & Đào tạo 180

Trang 2

Phương pháp giảng dạy một số bộ môn ở bậc đại học

18 Giảng dạy Vật lý ở trường đại học Văn chương tự do (Liberty Arts):

Sự sáng tạo, nhận thức và niềm đam mê

21 Giảng dạy môn Tâm lý học: Luôn có sự khác biệt

Martin M Chemers, Barbara K Goza 282

22 Giảng dạy môn Lịch sử

Gerald N Izenberg 291

23 Dạy Toán ở một trường đại học công lập

William James Lewis 298

Trang 3

3

Trang 4

4

Trang 5

HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS 5

HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ

TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS

Lời mở đầu

ESIB - Hội Sinh viên quốc gia ở Châu Âu đã được thành lập từ năm 1982 nhằm mục đích thúc đẩy sự quan tâm của sinh viên về giáo dục, xã hội, kinh tế và văn hóa ở cấp độ toàn Châu Âu và hướng tới tất cả các tổ chức và các cơ sở giáo dục có liên quan ESIB hiện có 46 tổ chức thành viên đến từ 35 quốc gia Bài viết này thể hiện quan điểm của ESIB về Hệ thống liên thông và tích lũy tín chỉ (ECTS) của Châu Âu

Giới thiệu

Hệ thống liên thông và tích lũy tín chỉ Châu Âu (ECTS) được giới thiệu như một công cụ hoạt động trong khuôn khổ các chương trình ERASMUS/SOCRATES trong thời gian từ năm 1988 đến 1995 Mục tiêu mà tổ chức này nhắm đến là tạo điều kiện cho việc công nhận các khóa học mà sinh viên đã học ở nơi khác khi họ trở về cơ sở giáo dục tại quê nhà (liên thông tín chỉ) Tuy nhiên, trong tiến trình Bologna, nó đã trở thành một công cụ được sử dụng cho tất cả sinh viên, không chỉ đối với mục đích liên thông tín chỉ mà còn với mục đích tích luỹ tín chỉ Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng việc thực hiện ECTS gặp khá nhiều rắc rối trong hầu hết các quốc gia Trong nhiều quốc gia ECTS được thực hiện chỉ mang tính hình thức ESIB nhắm đến việc đo lường khối lượng công việc của sinh viên,

đó là nguyên tắc cốt lõi của ECTS, nhưng lại bị xem là vấn đề khó khăn nhất trong việc triển khai ECTS Cách tiếp cận kết quả học tập vẫn chưa được sử dụng rộng rãi và ECTS không phải lúc nào cũng hoàn toàn được sử dụng để tích lũy tín chỉ Với chính sách này, ESIB muốn phác thảo những vấn đề cần thiết để thực hiện thành công và chính xác ECTS

Tính hữu dụng của hệ thống tín chỉ

Việc sử dụng một hệ thống tín chỉ có thể mang lại nhiều tiện ích, ở cả mặt học tập lẫn trong khuynh hướng xã hội Hệ thống tín chỉ có thể mang lại lợi ích nhiều hơn để đạt được tính minh bạch và tương thích giữa các cơ cấu giáo dục khác nhau Tình hình hiện nay thường dựa vào các dữ liệu và chương trình giảng dạy, được xem là nguồn tham

Trang 6

6 HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS

khảo để xác định khoảng thời gian cho một chương trình học Khối lượng công việc thực của sinh viên, vấn đề cần thiết để hoàn tất thành công một phần của chương trình học, thường bị lãng quên ECTS nên thay đổi điều này cho các hệ thống sử dụng để tham khảo khi quy định thời gian của một chương trình học, kết quả là thời gian học sẽ được thiết kế ngày càng thực tế hơn Một hệ thống tín chỉ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình công nhận và cũng có thể mở ra nhiều cơ hội học tập linh hoạt, từ đó tạo điều kiện cho người học hiện đại được học cao hơn nếu họ muốn Rút kinh nghiệm từ những hình thức học tập trước đây trong việc xây dựng một phần của chương trình học, hệ thống tín chỉ có thể giúp người học hướng đến những bậc học cao hơn Để đạt được các lợi thế, các tiêu chí nhất định phải đảm bảo việc thực hiện và sử dụng một hệ thống tín chỉ Vì vậy ESIB hoan nghênh việc sử dụng một hệ thống tín chỉ và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện hệ thống này một cách chính xác ESIB cũng hoan nghênh việc

sử dụng hệ thống liên thông và tích lũy tín chỉ Để đạt thêm tính tương thích khi sử dụng

hệ thống tín chỉ, ESIB kêu gọi chính phủ ở các nước Châu Âu giới thiệu ECTS như là hệ thống tín chỉ hoặc trong trường hợp đã tồn tại hệ thống tín chỉ quốc gia thì làm cho chúng tương thích với ECTS với các điều kiện sẽ được trình bày trong tài liệu này Trong phần tiếp theo, thuật ngữ ECTS đề cập đến cả ECTS và hệ thống liên thông và tích lũy tín chỉ tương hợp ECTS

Yêu cầu chung đối với ECTS

Phân bổ tín chỉ

Việc phân bổ tín chỉ nên được các hội đồng của trường đại học và ở cấp khoa thực hiện Khoa chịu trách nhiệm về cấu trúc của chương trình và khóa học Trong hội đồng này, sinh viên và giảng viên phải được xem xét một cách bình đẳng Việc phân bổ các tín chỉ nên thực hiện theo nguyên tắc từ trên xuống, có nghĩa là số lượng tín chỉ có thể đạt được

Trang 7

HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS 7

trong một năm học phải được phân bổ theo các phần khác nhau của chương trình của các năm học tương ứng Các môn học mà ECTS đưa ra nói chung không nên quá dài, thí dụ chúng không nên kéo dài hơn một học kỳ hoặc một năm học Trong trường hợp một sinh viên không hoàn tất một học trình thì tín chỉ đã đạt được sẽ được tích lũy và được công nhận bởi các trường đại học hay các cấp có thẩm quyền khác công nhận

Lấy khối lượng công việc của sinh viên là cơ sở để thay đổi mô hình của một số hệ thống giáo dục là điều cần thiết để có được tính minh bạch và đảm bảo nguyên tắc lấy người học làm trung tâm trong suốt quá trình giảng dạy và học tập Khối lượng công việc của sinh viên phải được dựa vào sự đầu tư thời gian cho việc học, chứ không chỉ dựa vào những giờ học trực tiếp trên lớp Điều này cho thấy tất cả các hoạt động học tập đều được tính vào, không chỉ có thời gian sinh viên học nghe giảng hay tham gia hội thảo mà tính cả thời gian sinh viên sử dụng cho việc học tập cá nhân và thời gian chuẩn bị cho các kỳ thi v.v Để đo được khối lượng công việc của sinh viên cần sử dụng kinh nghiệm của các giảng viên Tuy nhiên, điều cần nhớ là việc đo lường khối lượng công viêc của sinh viên chính là kết quả của quá trình đánh giá được thu thập dựa trên các phiếu khảo sát của sinh viên và đó là những số liệu thực tế, chứ không chỉ dựa trên dự tính của giáo viên Những đánh giá này phải diễn ra thường xuyên và khối lượng công việc của sinh viên phải được điều chỉnh theo kết quả thu được Cần phải quy định chính xác bằng văn bản cách đo lường khối lượng công việc mà sinh viên phải làm

Tín chỉ phải được ấn định cho tất cả các phần của chương trình học Điều này cũng bao gồm cả các hoạt động thực tập, tham quan v.v

ECTS chỉ là một công cụ để đo lường định lượng khối lượng công việc của sinh viên Việc quyết định cấp tín chỉ nên được kết nối với việc hoàn thành một phần của chương trình học Nó không có liên quan trực tiếp đến thành tích học tập cụ thể của sinh viên và

do đó cũng không có liên quan đến từng điểm số của cá nhân sinh viên

Có những cấp độ khác nhau trong chương trình học liên quan đến những khó khăn và khả năng được yêu cầu Tuy nhiên, vì ECTS được sử dụng cho mục đích định lượng và

số lượng công việc của sinh viên được quy định tương ứng với thời gian cần thiết để đạt được kết quả học tập nên không còn sự phân biệt nào giữa các loại nỗ lực học tập liên quan đến số tín chỉ mà ECTS quy định

Tuy nhiên, điều cần thiết là ECTS được sử dụng trong tất cả chương trình giáo dục sau trung học, ví dụ như giáo dục đại học và dạy nghề (VET)

Trang 8

8 HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS

Kết quả học tập

Kết quả học tập là nguyên tắc chính thứ hai của ECTS Trong khi tín chỉ ECTS đại diện cho khối lượng công việc mà sinh viên phải làm, thì tất cả các khóa học/mô đun của một chương trình học nên được mô tả theo nghĩa liên quan đến kết quả học tập để đạt đến sự minh bạch về mặt nội dung Kết quả học tập biểu trưng cho cơ sở của bất cứ chương trình học nào và vì vậy kết quả học tập nên được xác định rõ ràng trước khi chương trình học bắt đầu

Nguyên tắc của kết quả học tập là vô cùng quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi từ giảng dạy sang học tập Việc mô tả kết quả học tập phải đề cập đến việc người học có thể làm được gì sau khi hoàn tất một khoá học hay một mô đun Nó không

đề cập đến tiêu chí đầu vào, chẳng hạn như chính xác là cái gì được dạy và với phương pháp giảng dạy nào

Thông tin / phối hợp

Vấn đề thiếu thông tin đã được giải quyết Phân công đầy đủ số người chịu trách nhiệm thông báo mọi việc liên quan đến ECTS Các điều phối viên ở các cơ sở giáo dục hay các ban ngành phải tư vấn và hướng dẫn sinh viên về ECTS Thông tin về ECTS có thể được truy cập thông qua các trang web của các cơ sở giáo dục

Sự phối hợp trong các quốc gia và trường đại học phải được cải thiện Do đó, hoạt động đào tạo cho các điều phối viên là rất quan trọng

Tính tương thích với hệ thống tín chỉ không thuộc các nước Châu

Âu

Để tăng tính cơ động và được công nhận vượt ra ngoài biên giới của các nước Châu Âu, cần có lộ trình để tạo sự tương hợp giữa các hệ thống tín chỉ khác nhau được sử dụng trên thế giới Tuy nhiên, trọng tâm này chỉ đạt được khi ECTS được triển khai thực hiện đúng cách ở Châu Âu

ECTS là một hệ thống có tính liên thông

Việc sử dụng ECTS như một hệ thống liên thông có một số yêu cầu cụ thể

Trang 9

HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS 9

Bản thân ECTS không có chức năng nhiều hơn một công cụ để mô tả thành tích học tập theo nghĩa khối lượng công việc của sinh viên (số tín chỉ) và kết quả học tập Những mô

tả khóa học phải được phát hành bằng cả hai thứ tiếng là tiếng Anh và tiếng được sử dụng trong khoá học Các mô tả khóa học nên được tiến hành sớm và được tự động cấp phát ngay khi sinh viên rời khỏi trường, như bản phụ lục của bảng điểm học tập Bảng điểm học tập cũng được trường đại học in ấn một cách tự động ngay khi một sinh viên rời khỏi trường Bảng điểm học tập này phải thể hiện được những thành tích cá nhân của sinh viên Bảng điểm nên được phát hành theo mẫu đã được chuẩn hóa Hơn nữa các trường đại học và sinh viên phải ký một bảng thoả thuận học tập để đảm bảo rằng các môn học được công nhận nếu không có khung pháp lý bảo đảm sự công nhận đó Để cho phép sinh viên thiết lập một Thỏa thuận Học tập và để ngăn chặn những thay đổi không cần thiết sau này, danh mục khóa học phải được xây dựng và ấn hành trước Tuy nhiên, tất cả những việc này có thể và cần phải được khắc phục bằng cách triển khai thực hiện

và sử dụng ECTS ECTS được nhìn nhận theo cách kết nối trực tiếp với văn bằng bổ sung và vì vậy chúng nên được giới thiệu cùng với nhau

Công nhận

Sự công nhận của tín chỉ phải được đảm bảo Trong một cơ sở giáo dục đại học, sự công nhận tín chỉ phải được đảm bảo một cách tự động Sự công nhận tín chỉ giữa các cơ sở giáo dục đại học cũng cần được tự động hoá khi nó liên quan đến sinh viên, và cũng phải linh hoạt trong một chương trình linh hoạt Nếu sinh viên là những người tự do và hay di chuyến, thì sự công nhận tuỳ thuộc vào cách đánh giá của đơn vị tiếp nhận Tuy nhiên sinh viên phải có những cam kết cụ thể theo đúng thủ tục Số lượng tín chỉ họ đạt được ở một trường đại học khác phải không có gì bị nghi vấn Một trường đại học có thể chỉ đánh giá các tín chỉ được công nhận trong khóa học Ngoài ra sinh viên có quyền được công nhận một cách công bằng và bình đẳng các tín chỉ mà mình đạt được Các tiêu chí được sử dụng phải mang tính công khai và khách quan Việc từ chối sự công nhận chỉ có thể xảy ra khi có những khác biệt đáng kể trong chương trình của các trường và tạo ra gánh nặng cho trường tiếp nhận Sinh viên phải được quyền khiếu nại Quyết định công nhận phải được thực hiện trong một thời hạn hợp lý do của các cơ quan có thẩm quyền công nhận ấn định ESIB tăng cường hỗ trợ các nguyên tắc đã được thỏa thuận trong Hiệp định Công nhận Lisbon và kêu gọi các đơn vị đào tạo triển khai thực hiện Quyết định công nhận nên dựa vào kết quả học tập, bao gồm cả những kỹ năng chuyên môn Khi muốn từ chối sự công nhận, cần đưa ra lý do từ chối, chẳng hạn như có sự khác biệt đáng kể về kết quả học tập, như đã được trường đại học quy định và mô tả, đó là chỉ trao

Trang 10

10 HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS

tín chỉ cho những học phần được công nhận dựa trên kết quả học tập được mô tả của khóa học, là trao tín chỉ với những khóa học có thể thay thế Các tiêu chí khác, chẳng hạn như loại hình của khóa học hay mô đun, loại hình trường đại học, đội ngũ giảng viên hay

vị thế của cơ quan có thẩm quyền công nhận đều không đóng bất cứ vai trò gì trong quyết định công nhận

Thang điểm (Grading Scale)

Điểm số là một phần nhạy cảm trong quá trình học Nó ăn sâu vào truyền thống sư phạm

và văn hoá của nhiều hệ thống giáo dục ở Châu Âu Trong khuôn khổ ECTS, thang điểm

đã được phát triển như một công cụ diễn giải cho phép so sánh điểm số theo các hệ thống quốc gia khác nhau Hệ thống ECTS đầu tiên chia sinh viên thành nhóm đậu và nhóm rớt, sau đó phân loại những sinh viên thuộc nhóm đậu thành năm nhóm nhỏ sử dụng cách phân loại điểm số tương đối theo phương pháp phân bố điểm số Gauss

Bất chấp các nỗ lực để tăng cường tính minh bạch về cách phân loại điểm số của các hệ thống quốc gia khác nhau, ESIB phản đối việc thiết kế thang điểm theo kiểu hệ thống ECTS Việc chấm điểm tập trung hoàn toàn vào thứ hạng tương đối của sinh viên Điều này thực tế khó thực hiện nếu chỉ chấm điểm cho một số lượng nhỏ sinh viên Hơn nữa còn khó thực hiện theo nguyên tắc xếp hạng sinh viên Vì vậy ESIB cho là ECTS chỉ nên cung cấp thông tin về việc sinh viên có thi đạt khoá học hay môn học nào đó hay không

ECTS là một hệ thống tích lũy tín chỉ

ESIB hoan nghênh việc sử dụng ECTS như một hệ thống tích lũy tín chỉ Theo ESIB, việc tích lũy tín chỉ có nghĩa là một sinh viên được cấp bằng ngay khi họ đạt đủ số lượng tín chỉ được yêu cầu Tuy nhiên không phải tất cả các mẫu ngẫu nhiên của 180 ECTS là

có giá trị bằng cấp ngang bằng nhau Theo ESIB, một chương trình học phải cung cấp cho sinh viên kết quả học tập mà trong đó toàn bộ điều đó được biểu trưng là trao một văn bằng Ý tưởng tích lũy không chỉ có ý nghĩa cộng dồn tín chỉ về mặt toán học mà còn có nghĩa là toàn bộ kết quả học tập được thể hiện tượng trưng bằng một bằng cấp có

ý nghĩa

Cũng trong lĩnh vực này, các tiêu chí cụ thể cũng phải được hoàn thành Các tiêu chí này được sắp đặt như sau

Trang 11

HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS 11

Bằng cấp bổ sung

Tất cả tín chỉ đạt được trong suốt chương trình học cần được ghi lại trong bảng điểm Điều này cũng bao gồm các trường hợp số tín chỉ được tích lũy nhiều hơn số tín chỉ tối thiểu mà một văn bằng yêu cầu cần phải có

Tính giá trị của tín chỉ

Một khi năng lực được ghi lại trong bảng điểm thì chúng không thể trở nên “lạc hậu” được Quan điểm như vậy sẽ được xem là mâu thuẫn với sự hiểu biết về giáo dục tổng quát Vì vậy tín chỉ đạt được sẽ không mất giá trị sau một khoảng thời gian nhất định Điều này cũng sẽ cho phép tích lũy tín chỉ trong suốt cuộc đời và vì vậy không hủy hoại khái niệm học tập suốt đời

Hệ thống tín chỉ cho việc học tập suốt đời

Công nhận chất lượng bên ngoài con đường học tập truyền thống

Tín chỉ được cấp là bằng chứng về kết quả học tập và khả năng của người học Vì vậy cần thiết phải đảm bảo rằng năng lực và phẩm chất mà một sinh viên đã đạt sẽ được ghi nhận nếu chúng phù hợp với chương trình học Sinh viên có quyền lấy kết quả học tập trước đó, đã được các trường đại học và/hoặc của các cơ quan có thẩm quyền công nhận,

để được công nhận vào học và được công nhận đáp ứng đủ các mục tiêu của ECTS Do

đó các tín chỉ sẽ được cấp đối với những thành tích mà sinh viên đã đạt trước đó và đặc biệt là năng lực của sinh viên có được từ những kinh nghiệm chuyên môn Cũng phải dự tính được rằng khả năng đạt được trong môi trường học không chính quy sẽ được công nhận dưới hình thức tín chỉ 2

Sự phát triển của ECTS

Theo nguyên tắc của ECTS, khối lượng công việc và kết quả học tập của sinh viên là phần cơ bản của hệ thống tín chỉ, được phổ biến rộng rãi và không giới hạn đối với lĩnh vực giáo dục đại học Vì vậy ESIB tin tưởng mạnh mẽ rằng bất kỳ hệ thống tín chỉ nào được áp dụng trong bất cứ lĩnh vực giáo dục nào cũng nên cùng dựa theo cùng một cách đối với học phần và kết quả học tập của sinh viên, giống như ECTS

Để dễ dàng liên thông và tích lũy tín chỉ giữa các loại hình giáo dục khác nhau (chẳng hạn như dạy nghề, giáo dục đại học, giáo dục nâng cao v.v.) thì cần phải có một hệ thống tín chỉ được tích hợp cho việc học tập suốt đời ESIB tự cam kết sẽ đóng góp cho sự phát

Trang 12

12 HỆ THỐNG LIÊN THÔNG TƯƠNG THÍCH VÀ TÍCH LŨY TÍN CHỈ ECTS

triển của ECTS vào một hệ thống phù hợp cho tất cả các loại hình giáo dục Sự phát triển này nên được thực hiện như một nỗ lực hợp tác của các đối tượng có liên quan đến từ các

cơ sở giáo dục đại học và các ban ngành giáo dục khác

Kết luận

ESIB hoan nghênh ECTS về cả hai mặt chuyển đổi và tích lũy tín chỉ và cần phải triển khai thực hiện ở tất cả các trường đại học tại Châu Âu Tuy nhiên, việc thực hiện của ECTS phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đã được đề cập ở trên và không được thực hiện chỉ để có ECTS như một hệ thống tín chỉ ESIB kêu gọi các chính phủ thiết lập một khung pháp lý để sử dụng cho ECTS và kêu gọi các trường đại học thực hiện hệ thống này một cách đúng đắn ECTS phải được sử dụng cho tất cả sinh viên ở tất cả chương trình học ECTS đã được triển khai thực hiện theo cách thức hỗ trợ cho việc học tập suốt đời

Được thông qua tại BM52, Luân Đôn, Vương quốc Anh

Tháng Năm, 2007

Trang 13

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU 13

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

"Các bộ trưởng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ Châu Âu (ECTS) trong việc tạo điều kiện cho sự lưu chuyển sinh viên và phát triển những chương trình đào tạo quốc tế Họ lưu ý rằng hệ thống chuyển đổi tín chỉ chấu Âu đang ngày càng trở thành nền tảng cho hệ thống tín chỉ của các quốc gia Họ khuyến khích những hoạt động tiếp theo nhằm biến hệ thống chuyển đổi tín chỉ này thành ra không chỉ một hệ thống chuyển đổi mà còn là một hệ thống tích lũy tín chỉ, để có thể áp dụng một cách nhất quán trong các trường đại học ở châu Âu”

From the Berlin Communiqué of Ministers responsible for Higher Education, September

2003 (Bologna Process)

Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ châu Âu (ECTS)

Hệ thống này đã được nhiều trường đại học châu Âu thử nghiệm và cải tiến trong khoảng thời gian trên mười năm Hệ thống này được tạo ra nhằm tăng cường sự cơ động của sinh viên và tạo điều kiện chuyển đổi tín chỉ cho những văn bằng liên kết giữa hai trường hoặc nhiều trường trong hàng ngũ các nước đã ký kết Tuyên ngôn Bologna về Giáo dục Đại học châu Âu năm 1999

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu đặt nền tảng trên sinh viên chính quy, những người học toàn thời gian để đạt 60 tín chỉ mỗi năm Một năm học có từ 36 đến 40 tuần lễ, Nếu được chia thành 2 học kỳ, sẽ có 18-20 tuần mỗi học kỳ Sinh viên sẽ dành thời gian cho hội thảo, dự giảng, tham gia seminar, tự học, viết báo cáo khoa học, chuẩn bị thi và dự thi v.v Thời gian học tập này được ước lượng khoảng 40-45 giờ mỗi tuần

Một khóa học/ môn học gồm 10 tín chỉ theo hệ thống này sẽ được tính khoảng 6-7 tuần với khối lượng công việc ước lượng 240-300 giờ, tương ứng với 24-30 giờ làm việc đối với một sinh viên trung bình Bằng Thạc sĩ với 120 tín chỉ tương ứng với 72-80 tuần học tập

Chuyển đổi sang giờ làm việc của sinh viên, số tín chỉ này một lần nữa tương ứng với 2880-3600 giờ để hoàn thành một chương trình học ở bậc Thạc sĩ

Trang 14

14 ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

Số giờ này có thể co giãn đối với sinh viên học bán thời gian Đơn vị chuyển đổi chính đối với khối lượng công việc của sinh viên trung bình được ước lượng là 24-30 giờ cho một tín chỉ ECTS Khối lượng công việc này được thực hiện tập trung trong một thời gian nhất định hay rải ra trong nhiều tuần không phải là một điều quan trọng cho lắm Chúng tôi cũng đề nghị rằng hệ thống cho điểm có tính thống kê trong hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu không áp dụng- hoặc ít ra là được áp dụng một cách thận trọng- ở bậc thạc sĩ

Cơ sở xây dựng Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ Châu Âu: Tiến trình Bologna

Sáng kiến này có tên gọi như vậy là do tuyên bố của 40 Bộ trưởng Giáo dục các nước châu Âu được đưa ra tại Bologna năm 1999 Mục tiêu của Tiến trình Bologna là tạo ra một không gian chung cho giáo dục đại học Châu Âu nhằm xây dựng một cơ chế chung, tăng cường sự lưu chuyển của giảng viên và sinh viên, nâng cao sự hợp tác và giao lưu giữa các trường trong lĩnh vực đào tạo đại học Ở Bologna Các Bộ trưởng Giáo dục châu

Âu đã cùng xác định 6 điều khoản trong Tuyên ngôn và sau đó tại Prague, tháng 5 năm

2001, đã bổ sung thêm 3 điều nữa:

1 Thông qua một hệ thống các văn bằng có thể đọc được và so sánh được một cách dễ dàng

2 Thông qua một hệ thống chủ yếu dựa trên hai vòng đào tạo: cử nhân và thạc sĩ

3 Xây dựng hệ thống tín chỉ

4 Thúc đẩy sự lưu chuyển giảng viên và sinh viên

5 Thúc đẩy sự hợp tác của châu Âu trong vấn đề đảm bảo chất lượng

6 Thúc đẩy định hướng Châu Âu trong giáo dục đại học

7 Học tập suốt đời

8 Trường đại học và sinh viên

9 Thúc đẩy sự thu hút của Vùng Giáo dục Đại học Châu Âu

Trang 15

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU 15

Quan trọng là sự thành lập của hệ thống công nhận tín chỉ lẫn nhau giữa các trường Hệ thống này giờ đây là một trong những thành tố tốt nhất của Tiến trình Bologna, được khởi động từ năm 1989 trong khuôn khổ chương trình Eramus, giờ đây trở thành một phần của chương trình Socrates Cho đến nay ECTS vẫn là hệ thống tín chỉ duy nhất đã được thử nghiệm và áp dụng thành công trên toàn lãnh thổ Châu Âu Hệ thống này đã tạo điều kiện cho sự công nhận thời gian học tập tại nước ngoài và qua đó nâng cao chất lượng cũng như mức độ lưu chuyển của sinh viên ở châu Âu Gần đây ECTS đang được phát triển để trở thành một hệ thống tích lũy tín chỉ để được áp dụng ở cấp trường, cấp khu vực, cấp quốc gia, và ở toàn châu Âu

Hệ thống tín chỉ là gì?

Hệ thống tín chỉ là cách diễn tả một chương trình giáo dục bằng cách gắn các tín chỉ vào các phần cấu thành chương trình ấy Việc xác định tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học có thể dựa trên những tham số khác nhau, chẳng hạn như khối lượng công việc của sinh viên, kết quả học tập, và số giờ tiếp xúc giữa giảng viên và sinh viên

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu (ECTS) là gì?

Hệ thống chuyển đổi và tích lũy tín chỉ châu Âu là một hệ thống lấy người học làm trung tâm, dựa trên khối lượng công việc sinh viên được yêu cầu phải thực hiện để hoàn thành mục tiêu của khóa học, những mục tiêu này tốt nhất là được cụ thể hóa dựa theo kết quả học tập cần đạt của khóa học và những năng lực mà sinh viên cần thụ đắc sau khóa học

ECTS đã được xây dựng như thế nào?

ECTS được đưa ra năm 1989 1989 trong khuôn khổ chương trình Eramus, hiện nay trở thành một phần của chương trình Socrates ECTS ECTS là hệ thống tín chỉ duy nhất đã được thử nghiệm thành công và áp dụng trên toàn lãnh thổ Châu Âu ECTS được sáng tạo nhằm mục đích chuyển đổi tín chỉ Hệ thống này đã tạo điều kiện cho sự công nhận thời gian học tập tại nước ngoài và qua đó nâng cao chất lượng cũng như mức độ lưu chuyển của sinh viên ở châu Âu ECTS đang được xây dựng thành một hệ thống tích lũy tín chỉ để được áp dụng ở cấp trường, cấp khu vực, cấp quốc gia, và ở toàn châu Âu Đây

là một trong những mục tiêu trọng yếu của Tiến trình Bologna năm 1999

Trang 16

16 ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

Tại sao đưa ra ECTS?

ECTS làm cho các chương trình học tập thành ra dễ đọc và có thể so sánh với nhau đối với tất cả sinh viên bản xứ và sinh viên nước ngoài ECTS tạo điều kiện cho sự công nhận kết quả học tập giữa các trường và thúc đẩy sự lưu chuyển sinh viên ECTS giúp các trường tổ chức và duyệt xét lại các chương trình đào tạo của mình ECTS có thể vận dụng đối với nhiều chương trình đào tạo khác nhau và hình thức tổ chức đào tạo khác nhau ECTS khiến cho giáo dục đại học Châu Âu hấp dẫn hơn đối với sinh viên nước ngoài

Đặc điểm chủ yếu của ECTS là gì?

 ECTS dựa trên nguyên tắc 60 tín chỉ là định mức đo lường khối lượng công việc mà một sinh viên học toàn thời gian phải thực hiện trong một năm học Khối lượng công việc của các chương trình đào tạo toàn thời gian ở châu Âu trong phần lớn trường hợp vào khoảng 1500-1800 giờ mỗi năm và trong trường hợp đó mỗi tín chỉ tương ứng với 25-30 giờ

 Tín chỉ trong hệ thống ECTS chỉ có thể đạt được sau khi người học làm tốt những công việc được yêu cầu, và kết quả học tập được đánh giá một cách thích hợp Mục tiêu học tập được xây dựng dựa trên những năng lực mà sinh viên cần thụ đắc sau khóa học, diễn đạt những gì sinh viên sẽ biết, sẽ hiểu, và sẽ làm được sau khi hoàn thành một tiến trình học tập, dù là dài hay ngắn

 Khối lượng công việc của sinh viên trong hệ thống ECTS bao gồm thời gian cần thiết

để hòan thành tất cả các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như tham dự bài giảng, tham gia seminar, tự học, chuẩn bị các đề tài/dự án và tham gia thi Tín chỉ được phân bổ cho tất cả các phần của chương trình học (các mô-đun (module), các môn học (course), thực tập, thực hiện luận văn, v.v và phản ánh số lượng công việc mỗi phần yêu cầu để đạt được mục tiêu cụ thể của phần ấy trong mối liên hệ với tổng

số khối lượng công việc cần thiết để hoàn tất một năm học

 Kết quả học tập của sinh viên được ghi nhận qua hệ thống điểm số của quốc gia hoặc của địa phương Bổ sung hệ thống điểm số thống nhất cho ECTS có một ý nghĩa tích cực, nhất là trong trường hợp chuyển đổi tín chỉ Hệ thống điểm số của ECTS đánh giá sinh viên trên cơ sở thống kê Bởi vậy dữ liệu thống kê về kết quả học tập của

Trang 17

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU 17

sinh viên là điều kiện tiên quyết để áp dụng hệ thống điểm số của ECTS Điểm số được cho theo thang bậc như sau:

Tài liệu chủ yếu của hệ thống ECTS là gì?

 Catalogue của các trường cung cấp thông tin về các khóa học và tất cả thông tin liên quan khác đều được ấn hành song ngữ (tiếng Anh và tiếng địa phương) hoặc chỉ bằng tiếng Anh đối với những chương trình được giảng dạy bằng tiếng Anh, trên web, và/hay trong bản in Để thực hiện quyển catalogue này nhất thiết phải có một bảng kiểm tra công việc (checklist) bao gồm những thông tin liên quan cho sinh viên nước ngoài:

Checklist dành cho quyển Catalogue của Trường

Thông tin về nhà trường

 Tên và địa chỉ

 Lịch năm học

 Những người có thẩm quyền của nhà trường

 Giới thiệu tổng quát về nhà trường (trong đó có nêu rõ trường thuộc loại gì, có cương

vị ra sao trong hệ thống)

 Danh sách các chương trình đào tạo có cấp bằng

Trang 18

18 ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

 Thủ tục tuyển sinh/đăng ký

 Điều lệ nhà trường (được chứng thực qua các thủ tục công nhận pháp nhân của trường)

 Điều phối viên ECTS của trường

Thông tin về các chương trình đào tạo cấp bằng

 Giới thiệu khái quát

 Các văn bằng được cấp

 Những yêu cầu của nhà trường dựa trên tuyên ngôn sứ mệnh của trường

 Mục tiêu giáo dục và nghề nghiệp

 Tiếp cận những bậc học cao hơn

 Sơ đồ cấu trúc khóa học cùng với số lượng tín chỉ (60 tín chỉ mỗi năm)

 Thi cuối khóa

 Các quy định về thi cử và đánh giá

 Bộ phận điều phối hệ thống chuyển đổi tín chỉ

 Giới thiệu từng đơn vị khóa học/ môn học

 Tên khóa học/môn học

 Mã số khóa học/môn học

 Loại khóa học/môn học

 Trình độ khóa học

 Số năm học

 Phân bổ thời gian từng học kỳ, từng quý

 Số tín chỉ được phân bổ dựa trên khối lượng công việc sinh viên được yêu cầu phải thực hiện đẩ đạt được mục tiêu của khóa học/môn học

Trang 19

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU 19

 Tên các giảng viên

 Mục tiêu của khóa học (tốt nhất là được diễn đạt dưới hình thức những kết quả học tập và năng lực cần đạt được sau khi học khóa học/môn học ấy)

 Những điều kiện tiên quyết để được nhận vào học

 Nội dung khóa học/môn học

 Tài liệu tham khảo cần đọc

 Phương pháp giảng dạy

 Các phương pháp đánh giá

 Ngôn ngữ được dùng để giảng dạy

Thông tin tổng quát dành cho sinh viên

Trang 20

20 ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

Thỏa thuận về việc Học tập là một văn bản chứa đựng danh sách các môn học được cấp

tín chỉ trong hệ thống ECTS, được ký kết giữa sinh viên và người có trách nhiệm liên quan trong trường Trong trường hợp chuyển đổi tín chỉ, văn bản này phải có sự đồng ý của sinh viên và hai trường liên quan trước khi sinh viên lên đường nhập học và phải được cập nhật ngay khi có sự thay đổi

Bảng điểm ghi lại tư liệu về quá trình học tập của sinh viên bằng cách liệt kê danh sách các môn đã học, số tín chỉ ECTS đã đạt, tín chỉ địa phương hay tín chỉ quốc gia, nếu có, điểm số hoặc xếp loại của trường địa phương hay của hệ thống ECTS đã đạt được Trong trường hợp chuyển đổi tín chỉ, Bảng điểm phải được trường sở tại phát hành trước khi sinh viên chuyển đi nơi khác và được xác nhận của trường tiếp nhận khi sinh viên kết thúc quãng thời gian học tập tại đó

Phụ lục văn bằng (Diploma Supplement - DS) là gì?

Phụ lục văn bằng là một văn bản kèm theo văn bằng đại học cho biết những thông tin đã được tiêu chuẩn hóa về tính chất, trình độ, bối cảnh, nội dung và tình trạng hoàn thành đến đâu của việc học tập trong tiến trình đạt đến bằng tốt nghiệp Phụ lục văn bằng đem lại sự minh bạch và tạo điều kiện cho sự công nhận về mặt học thuật và chuyên môn cho văn bằng các loại (bằng tốt nghiệp, học vị, chứng chỉ)

Phụ lục văn bằng nhằm mục đích nâng cao tính chất “minh bạch” quốc tế Nó được thiết

kế để cung cấp những thông tin về những gì mà người có tên trên văn bằng gốc đã đạt được trong quá trình học tập Nó cần được tách biệt khỏi những phán đoán về giá trị hoặc những nhận định có tính chất tương đương về giá trị của văn bằng Đây là một công cụ linh hoạt không có tính chất quy định bắt buộc, được đề ra nhằm tiết kiệm thời gian, tiền bạc và công sức Nó có khả năng thích nghi theo nhu cầu của các địa phương

Phụ lục văn bằng do các trường đại học quốc gia ban hành theo mẫu do Ủy ban Châu Âu- Hội đồng châu Âu xây dựng cùng với UNESCO tham gia thử nghiệm và cải tiến Phụ lục văn bằng gồm 8 phần (thông tin về người được cấp bằng, thông tin về văn bằng, thông tin về trình độ của văn bằng, thông tin về nội dung và kết quả đạt được, thông tin

về chức năng của văn bằng, thông tin bổ sung, xác nhận phụ lục văn bằng, thông tin về

hệ thống giáo dục đại học quốc gia) Thông tin trong cả 8 phần này cần được cung cấp đầy đủ, phần nào không có thông tin thì cần giải thích lý do

Trang 21

ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU 21

Một bản mô tả hệ thống giáo dục đại học quốc gia cần được kèm theo phụ lục văn bằng Bảm mô tả này được Trung tâm Thông tin về Công nhận Học thuật Quốc gia (National Academic Recognition Information Centers -NARICs) cung cấp

Phụ lục văn bằng không phải là cái gì?

 Nó không phải là sơ yếu lý lịch cá nhân

 Nó không phải là vật thay thế cho bản chính văn bằng hoặc bảng điểm

 Nó không phải là một hệ thống tự động bảo đảm rằng văn bằng này là được công nhận

Phụ lục văn bằng mang lại cho sinh viên những gì?

 Một văn bằng dễ đọc, dễ hiểu và có thể so sánh được ở nước ngoài

 Một bản miêu tả rõ ràng, chính xác về sự nghiệp học vấn của họ và những năng lực đạt được trong quá trình học tập

 Miêu tả khách quan những năng lực và thành tựu mà sinh viên đạt được

 Một cách tiếp cận dễ dàng hơn với những cơ hội làm việc hay học tiếp lên cao hơn ở nước ngoài

 Tăng cường khả năng tìm việc của họ

Phụ lục văn bằng mang lại cho các trường những gì?

Phụ lục văn bằng tạo điều kiện cho sự công nhận về mặt học thuật và chuyên môn qua đó gia tăng sự minh bạch của bằng cấp

 Nó bảo vệ quyền tự chủ của trường, của quốc gia trong khi đưa ra một khuôn khổ chung được chấp nhận trên toàn châu Âu

 Nó khích lệ những phán đoán dựa trên thông tin đầy đủ về văn bằng, nhờ đó văn bằng này có thể được hiểu chính xác trong những bối cảnh giáo dục khác

 Nó đặt ra vấn đề về tình trạng hữu hình của các trường đại học nước ngoài

Trang 22

22 ECTS – HỆ THỐNG TÍCH LŨY VÀ CHUYỂN ĐỔI TÍN CHỈ CHÂU ÂU

 Nó thúc đẩy khả năng tìm việc trên phạm vi quốc gia và quốc tế của những người đã

học xong

 Nó giúp tiết kiệm thời gian bởi vì nó cung cấp câu trả lời cho nhiều câu hỏi thường trực đặt ra cho việc quản lý trong trường đối với nội dung đào tạo và tính cơ động của các văn bằng

Tại sao cần có Phụ lục Văn bằng?

Những bằng cấp mới nảy nở sinh sôi trên toàn thế giới cũng như các quốc gia thường xuyên thay đổi hệ thống văn bằng và cơ cấu giáo dục của mình dưới tác động của những thay đổi nhanh chóng trong kinh tế, chính trị và khoa học kỹ thuật Ngày càng có nhiều công dân cơ động tìm kiếm sự công nhận công bằng hợp lý đối với văn bằng của mình Những văn bằng không được công nhận giá trị và bị đánh giá thấp là một vấn nạn toàn cầu Bởi vì chỉ riêng phẩm chất, thành tích thì không đủ thông tin, rất khó đo lường trình

độ và chức năng của một văn bằng nếu không có những giải thích chi tiết phù hợp

Phụ lục văn bằng đáp ứng những thử thách trên bởi vì:

 Nó điều chỉnh theo những thay đổi nhanh chóng của các loại văn bằng

 Nó giúp cho sự cơ động, tạo điều kiện cho việc tiếp cận giáo dục đại học và cho việc học tập suốt đời

 Nó khuyến khích sự công bằng và những nhận định có thông tin đầy đủ về bằng cấp

PGS.TS Vladimir tổng thuật

TS Phạm Thị Ly dịch

Trang 23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 23

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC

IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

Bài dịch này lấy từ tài liệu báo cáo dự án của Bắc Ireland về xây dựng hệ thống tín chỉ

Do báo cáo này quá dài, nên chúng tôi chỉ lấy từ phần Kết quả nghiên cứu của Dự án mà không lấy từ đầu, do đó, chúng tôi có sửa đổi lấy số thứ tự của Báo cáo Muốn xem Báo cáo đầy đủ bằng tiếng Anh, xin vào trang địa chỉ Web: http://www.bolton.ac.uk/Quality/Staff/MinorModifications/Documents/NICATS6.pdf

1.1 Bảng mô tả và hướng dẫn của NICATS

Bảng mô tả và hướng dẫn dưới đây trình bày các thành tố cơ bản của một khung chương trình chung mà người ta sử dụng để xây dựng các hệ thống sử dụng tín chỉ (ví dụ: tích lũy và liên thông tín chỉ, nguồn lực sử dụng dựa trên tín chỉ)

1.1.1 Tín chỉ

Tín chỉ có thể được định nghĩa là: Một quyết định cấp chứng chỉ được trao cho người

học nhằm công nhận thành quả và các kết quả học tập đạt được theo quy định ở một trình

độ nhất định

Quyết định trao tín chỉ là một hình thức để công nhận chính thức thành tích học tập của người học Tín chỉ được mô tả dưới dạng định lượng sao cho thành tích học tập ở các bối cảnh khác nhau có thể được so sánh rộng rãi theo nghĩa liên quan đến chiều sâu trí tuệ (cấp độ) và khối lượng tương đối (số tín chỉ)

Các nguyên tắc của tín chỉ (Dựa trên các nguyên tắc xây dựng tín chỉ trích từ báo cáo

INCCA – “Khung chương trình chung” Tháng 9 1998)

 Tín chỉ cung cấp phương tiện để định lượng kết quả học tập có thể đạt được với số giờ thực học ở một trình độ xác định

 Một tín chỉ có thể tương đương với 10 giờ thực học và các hoạt động học tập thành công

 Dù có mối liên hệ giữa tín chỉ và thời gian thực học, việc đánh giá vẫn tùy thuộc vào thành quả học tập đạt được, chứ không dựa trên thời gian dành cho việc học

Trang 24

24 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

 Tín chỉ tượng trưng cho việc đạt được các kết quả học tập cụ thể Không cần phải đạt được quá số tín chỉ cần thiết vượt trình độ ngưỡng (mặc dù những thành tích như vậy vẫn có thể được công nhận thông qua điểm số hay xếp hạng học tập)

1.1.2 Tín chỉ chung và riêng

Tín chỉ chung được định nghĩa là: Tổng số tín chỉ được quy định cho các kết quả học

tập được xác định từ trước để được phê chuẩn hay kiểm định

Tín chỉ riêng được định nghĩa là: Số tín chỉ ở các trình độ cụ thể mà một cơ sở đào tạo

tiếp nhận người học đã xác định nhằm công nhận quá trình học tập trước đó của người học để họ có thể theo học một chương trình đào tạo cụ thể ở cơ sở này

Để tích lũy và liên thông tín chỉ, cần phải biết rằng dù tất cả các dạng học tập đều có thể được kiểm định và công nhận, không phải tất cả tín chỉ đều có thể được hay sẽ được tích lũy để được theo học bất cứ chương trình cụ thể nào đó hay được cấp một bằng cụ thể nào đó

Trong trường hợp người học chuyển nơi học tập, cơ sở đào tạo tiếp nhận người học có trách nhiệm quy định số tín chỉ chung mà người học phải có và yêu cầu người học cung cấp các thông tin về các tín chỉ mà người học đã được cấp trước kia nhằm xem xét người học phải học thêm bao nhiêu tín chỉ nữa để được theo họcchương trình học mà người học muốn đăng ký Cần phải nghiên cứu cẩn thận các tín chỉ đã được cấp và các kết quả học tập trước đây nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc ra quyết định có chấp nhận người học không

Cơ sở đào tạo tiếp nhận có nhiệm vụ kiểm tra xem tín chỉ do người học cung cấp đó có còn hiệu lực hay không

1.1.3 Kết quả học tập

Kết quả học tập có thể được định nghĩa là: Tuyên bố về những gì mà nhà trường mong

muốn người học biết, hiểu và/hay có thể thực hiện được sau khi hoàn thành một quá trình học tập

Tổng hợp các kết quả học tập trong một bảng mô tả các đơn vị tín chỉ làm cho chương trình học có tính chặt chẽ hơn và, bằng việc làm cho quá trình học của sinh viên trở nên

rõ ràng, sẽ giúp người học có định hướng cho việc học của mình Việc tích lũy và liên thông tín chỉ sẽ được thực hiện dễ dàng nếu kết quả học tập đã được quy định rõ ràng, và

Trang 25

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 25

việc này cho thấy tính chính xác của thành quả học tập phù hợp với tín chỉ đạt được Khi được sử dụng cùng với các tiêu chí đánh giá, chúng sẽ cho thấy việc học đã diễn ra ở cấp

độ nào

Các quy định của kết quả học tập

 Kết quả học tập phải gắn liền với tiêu chí đánh giá

 Kết quả học tập, cùng với tiêu chí đánh giá, cụ thể hoá các yêu cầu tối thiểu để đạt được tín chỉ Việc đánh giá dựa trên mức độ đạt được các yêu cầu tối thiểu trên Các quyết định về hệ thống đánh giá, các kế hoạch và tiêu chí liên quan đến chính sách riêng của cơ sở đào tạo Khung tín chỉ không bao gồm kế hoạch đánh giá

 Các tuyên bố về khả năng có thể được sử dụng và tương đương với kết quả học tập Tuy nhiên, các kết quả học tập không phải lúc nào cũng xác định các khả năng

1.1.4 Tiêu chí đánh giá

Tiêu chí đánh giá là: Mô tả về những gì mà nhà trường mong muốn người học làm được

nhằm chứng minh rằng người học đã đạt được kết quả học tập

Tiêu chí đánh giá có mối quan hệ trực tiếp với kết quả học tập Mục đích của tiêu chí đánh giá là thiết lập các tiêu chuẩn thành tích rõ ràng và không mơ hồ đối với từng kết quả học tập

1.1.5 Thời gian thực học

Thời gian thực học được định nghĩa là: Số giờ học cần thiết mà một người học, ở mức

độ trung bình, phải trải qua, để hoàn thành các kết quả học tập cụ thể ở một trình độ nhất định

“Cần nhận biết rằng có các khái niệm về khối lượng học tập liên quan đến thành tích của các kết quả học tập cụ thể Thời gian cũng là một thước đo Tuy nhiên, thời gian thực sẽ khác nhau, và có thể khác nhau một cách đáng kể giữa sinh viên này với sinh viên khác Cũng cần biết rằng bất cứ cái gì có liên quan đến thời gian thực học cũng có thể chỉ là phỏng đoán mà thôi Tổng số tín chỉ được phân bổ cho các thành quả cụ thể cũng phải độc lập đối với hình thức học tập Khái niệm thời gian thực học đã được các nhà thực hành giáo dục phát triển và hiện tại là thước đo số lượng duy nhất thỏa yêu cầu” (The Welsh Higher Education Credit Framework Handbook, 1996)

Trang 26

26 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

Các quy định về thời gian thực học:

 Thời gian học hay thời gian tiếp xúc trên lớp khác nhau tùy thuộc vào hình thức giảng dạy, nhưng thời gian thực học thì không Tất cả hoạt động học tập có liên quan đến kết quả học tập đều được tính khi xác định thời gian thực học Cũng nên chú ý đến cấp độ của việc học

 Thời gian thực học không phải là thời gian thực sự mà người học cần trải qua để đạt được các kết quả học tập Thời gian thực sẽ khác nhau tùy theo khả năng của từng người, kinh nghiệm học trước đó hay các hình thức học tập khác nhau, ví dụ như, nếu việc học tập dựa trên khối lượng công việc thì thời gian thực được sử dụng tại nơi làm việc có thể nhiều hơn thời gian thực tế cần thiết để đạt được các mục tiêu học tập

cụ thể

 Bất cứ kỹ năng hay kiến thức nào mà người học đã có trước đó không nên bao gồm trong dự kiến thời gian thực học

1.1.6 Cấp độ để cấp tín chỉ và mô tả cấp độ

Cấp độ được định nghĩa là: Một chỉ số chỉ ra yêu cầu tương đối, mức độ phức tạp và độ

sâu của việc học tập cũng như mức độ tự chủ của người học

Các mô tả cấp độ được định nghĩa là: Các tuyên bố mô tả các loại yêu cầu cho việc

học tập mà người học phải đối mặt ở mỗi cấp độ

Cấp độ xác định độ sâu tương đối của việc học tập mà người học sẽ được yêu cầu phải thực hiện cho từng đơn vị đánh giá NICATS cho rằng có 9 cấp độ được mô tả, đó là: cấp

độ ban đầu đến cấp độ 3 (FE); và cấp độ 4 – 8 (HE) Các cấp độ này được phân biệt với nhau bằng các mô tả cấp độ (Để hiểu rõ hơn hệ thống hiện tại, xin vui lòng xem mục 7, phần 1.2.1)

Các mô tả cấp độ nên được hiểu như một trục/thang phát triển có tính liên tục trong đó các cấp độ đầu tiên cần được tính như là cơ sở tiên quyết cho các cấp độ tiếp theo Vì vậy, các mô tả cấp độ được xem như là cẩm nang hướng dẫn cho các nhà xây dựng chương trình cũng như cho việc sắp xếp các loại yêu cầu thích hợpđối vớingười học ở từng cấp độ trong các cấp độ đã được quy định

Các nguyên tắc của cấp độ (dựa trên các nguyên tắc về cấp độ được trích từ báo cáo

của InCCA - “Khung chương trình chung” Tháng 9 1998)

Trang 27

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 27

 Các cấp độ của NICATS cho thấy toàn bộ phổ của quá trình học sau cấp độ bắt buộc (giáo dục bắt buộc)

 Các cấp độ bao gồm tất cả các hình thức học tập đã được đánh giá được cung cấp trong suốt các cấp độ theo trình tự và được cấp bằng, được thực hiện với bất cứ phương thức nào và trong bất cứ bối cảnh nào

 Như được định nghĩa ở trên, cấp độ chỉ ra yêu cầu tương đối, mức độ phức tạp và độ sâu của việc học tập cũng như mức độ tự chủ của người học Vì vậy, chúng khác với các kết quả học tập cụ thể và các tiêu chí đánh giá có liên quan dùng để chỉ ra các tiêu chuẩn tối thiểu cần đạt được để được cấp tín chỉ và thông qua một đánh giá cụ thể (Vui lòng xem thêm phần 1.1.7 về vai trò của tín chỉ trong việc xác định tiêu chuẩn)

 Về mặt bản chất, các cấp độ không có liên quan đến việc học toàn thời gian hay đến việc học tập trước đây của người học Vì vậy:

1 Các đơn vị đánh giá được thực hiện sau bằng cấp đầu tiên không nhất thiết phải là ở cấp sau đại học Ví dụ: một môn học mở đầu cho một ngành học mới có thể ở một cấp độ thấp hơn các môn học khác trong một chương trình nhất định

2 Các môn được học sau khi có kinh nghiệm làm việc có thể ở bất kỳ cấp độ nào

 Các cấp độ của tín chỉ có liên quan đến các môn học được đánh giá hơn là toàn bộ các tín chỉ để được cấp bằng

 Mỗi cấp độ đều có các đơn vị đánh giá riêng của mình đã được qui định trước

 Một giấy chứng nhận hay một bằng cấp đều có thể là sản phẩm của các đơn vị ở các cấp độ khác nhau

 Các đơn vị học trình nên được đặt ở đúng cấp độ của mình (thông qua mối tương quan của các kết quả học tập và tiêu chí đánh giá đối với các mô tả cấp độ) bất kể việc chúng thuộc chương trình đào tạo nào

1.1.7 Vai trò của tín chỉ trong việc định nghĩa tiêu chuẩn

Bridges và Sand (1998) định nghĩa tiêu chuẩn là: Một tiêu chí hay một bộ các tiêu chí

đã được xây dựng từ trước mà dựa vào đó chất lượng học tập của sinh viên được đo lường: là kết quả của việc đo lường, tiêu chuẩn có thể được thỏa mãn hay không thỏa mãn

Trang 28

28 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

Đặt vào ngữ cảnh có liên quan đến hệ thống tín chỉ, tiêu chuẩn giúp cho việc đảm bảo sự nhất quán trong quá trình và kết quả Như được mô tả trong phần 1.1.6., các cấp độ có các mô tả cấp độ đã được phê chuẩn, được thiết kế nhằm giúp đỡ và thông báo cho người thiết kế chương trình Các mô tả cấp độ không phải là những tiêu chí chính thức và vì vậy các cấp độ tự nó không thể được xem như tiêu chuẩn Tiêu chuẩn được xác định thông qua việc đặt trình độ vào trong một ngữ cảnh chương trình và bằng việc xác định các kết quả học tập chính thức và các tiêu chí đánh giá có liên quan Vì vậy, kết quả học tập và các tiêu chí đánh giá có liên quan trở thành các tiêu chí xác định tiêu chuẩn; tiêu chuẩn tự nó được đáp ứng khi tất cả các tiêu chí đánh giá có liên quan đã được thỏa mãn Điều này giải thích tại sao nó là nguyên tắc nền tảng của NICATS, đó là tất cả các kết quả học tập nên được đáp ứng để có thể đạt được tín chỉ Dưới dạng biểu đồ, tiêu chuẩn

có thể được trình bày như sau:

Vì tất cả các kết quả học tập phải đạt được ở một mức độ được thể hiện thông qua các tiêu chí đánh giá, nên cần phải có những tuyên bố rõ ràng về tiêu chuẩn để đạt được tín chỉ

Bảng 2: Vai trò của tín chỉ trong việc xác định tiêu chuẩn

Tín chỉ có vai trò trong việc xác định các tiêu chuẩn của chương trình, để đạt được các bằng cấp chính quy Các nhà thiết kế chương trình được mong đợi là phải xác định các kết quả học tập cơ bản cho chương trình của mình và để đảm bảo rằng các kết quả được thực hiện thông qua các các đơn vị đánh giá thành tố Tiêu chuẩn ngưỡng để đạt tín chỉ

có thể được hiểu theo nghĩa toàn bộ các yêu cầu tín chỉ tối thiểu

Tuyên bố về thành tích học tập

Tiêu chuẩn

Chỉ số thể hiện chiều sâu của học tập

Tiêu chí đánh giá

có liên quan

Trang 29

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 29

1.1.8 Giá trị tín chỉ

Số lượng tín chỉ gắn với cho một đơn vị cụ thể được lượng hóa như giá trị tín chỉ của nó

và luôn luôn được diễn tả theo nghĩa số lượng tín chỉ ở một cấp độ cụ thể Giá trị tín chỉ

sẽ trở nên vô nghĩa nếu cấp độ của các tín chỉ không được xác định Việc gán và thông qua giá trị tín chỉ đi kèm với một đơn vị đánh giá phải nằm trong quá trình phê chuẩn Giá trị tín chỉ là một thông số chỉ khối lượng tương đối của các nỗ lực học tập được hiểu như là giờ thực học Cấp độ là một thông số chỉ yêu cầu tương đối, mức độ phức tạp và

độ sâu của việc học tập và sự tự chủ của chính người học

1.1.9 Đơn vị hóa việc học tập

Đơn vị hóa việc học tập có thể được định nghĩa là: Quá trình mô tả thành quả tiềm

năng của người học theo các đơn vị đánh giá Các đơn vị học trình mô tả những gì mà nhà trường mong muốn người học phải biết, làm và hiểu được cũng như giá trị của việc học tập được thể hiện trong các tín chỉ đạt được và cấp học

Những thành phần xây dựng nên hệ thống CAT là các tín chỉ đạt được cho thành quả của kết quả học tập Điều này đòi hỏi chương trình được chia thành các đơn vị đánh giá, thể hiện thông tin cần thiết để nhận định cấp độ và khối lượng học tập NICATS cho rằng tất

cả hoạt động học tập được cụ thể hóa theo nghĩa các đơn vị đánh giá, các thành phần hợp thành bao gồm tên gọi, cấp độ, giá trị tín chỉ, kết quả học tập cụ thể và tiêu chí đánh giá

có liên quan

Điều quan trọng cần ghi nhớ là đơn vị đánh giá có thể có nhiều kích cỡ Việc xác định kích cỡ của đơn vị đánh giá đi kèm với các bộ phận hay cơ sở đào tạo đang thực hiện chương trình và sẽ tùy thuộc vào bản chất, sự chặt chẽ và tính phức tạp của việc học Lợi ích của việc đơn vị hóa việc học tập đối với giáo dục thường xuyên được phác thảo trong các thông báo về tầm nhìn của FEDA cho năm 2020 và được thể hiện như sau:

 Việc học tập sẽ có thể được thực hiện dễ dàng hơn bởi có thể điều chỉnh các đơn vị học trình một cách dễ dàng

 Đơn vị hóa việc học tập làm cho chương trình có tính linh hoạt và mềm dẻo hơn cho

sự lựa chọn của người học bởi vì người học có thể điều chỉnh việc học tập của mình theo từng đơn vị học trình chứ không phải trên cơ sở cả một bằng cấp

Trang 30

30 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

 Cơ hội học với số lượng có thể kiểm soát được và được cấp chứng chỉ cho từng đơn

vị học trình có được sẽ tạo ra nhiều động lực cho người học hơn

 Đơn vị hóa việc học tập có các mô tả tất cả các thành quả cần đạt được- thông qua các kết quả học tập của một đơn vị - và định lượng được bằng số các thành quả học tập thông qua giá trị tín chỉ và các cấp độ

 Đơn vị hóa việc học tập cung cấp một cơ cấu kiến thức rất thực tế cho việc phát triển các cơ hội học tập mới

Có thể đạt được những lợi ích tương tự ở đại học thông qua việc sử dụng hệ thống các

mô đun, trong đó các mô đun được thiết kế phù hợp với các thành phần hợp thành như đã được mô tả ở trên

Rõ ràng là sẽ có nhiều hình thức học tập mà kết quả học tập có thể được thể hiện chỉ sau khi đã đạt được một số các mô đun hay đơn vị học tập

1.1.10 Các đơn vị đánh giá

Một đơn vị đánh giá được định nghĩa là: Một tập hợp các kết quả học tập có kết cấu

chặt chẽ và rõ ràng với các tiêu chí đánh giá tương quan, có tên gọi, giá trị tín chỉ và cấp

Một đơn vị đánh giá * bao gồm những yếu tố sau:

Tên gọi Là một tên gọi đã được định nghĩa kỹ càng và cụ thể Các tuyên bố kết quả học tập là những gì mà người học được mong đợi là sẽ biết,

hiểu và làm Tiêu chí đánh giá Các tiêu chuẩn để đạt được kết quả học tập

Cấp độ Cấp độ yêu cầu (NICATS quy định 9 cấp độ từ giáo dục

cơ sở đến trình độ tiến sĩ) Giá trị tín chỉ Là một tên gọi đã được định nghĩa kỹ càng và cụ thể

Trang 31

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 31

Nếu các mô đun liên quan chặt chẽ đến việc phân phối chương trình, các đơn vị đánh giá liên quan đến các phần chương trình có thể đánh giá được, ví dụ: kết quả học tập và các tiêu chí đánh giá có liên quan Đơn vị đánh giá chỉ quy định những thông tin cần thiết để nhận định cấp độ và kích cỡ của nó

“Một đơn vị đánh giá không bao gồm đề cương môn học hay các hình thức học tập hay các phương pháp đánh giá hay các phương thức đào tạo Với cách hiểu này, một đơn vị học tập được phépdạy ở hai cơ sở đào tạo khác nhau, ngay cả khi các trợ giảng có thể

sử dụng các đề cương khác nhau và các hình thức đánh giá khác nhau” (Bridges và Sand, 1998)

Trong một khung chương trình dạy theo tín chỉ, sẽ tồn tại việc tách rời các khái niệm về phương thức đào tạo và đánh giá Cả khi chúng tách rời nhau theo khái niệm, trong thực

tế người ta vẫn công nhận là phương thức đào tạo và đánh giá thường có liên quan với nhau Vì vậy, các thuật ngữ được sử dụng trong khung tín chỉ là các đơn vị đánh giá (đơn vị) và mô đun bài giảng (mô đun) Vì vậy, kết quả học tập của một đơn vị đánh giá có thể đạt được thông qua các chương trình dạy tại trường, việc học dựa trên công việc, APEL, việc học dựa trên nguồn lực và các cách thức khác

* Cần chú ý rằng, mặc dù NVOs và GNVOs được xây dựng với các đơn vị học trình, nhưng không nên nhầm lẫn các đơn vị này với các đơn vị đánh giá vì chúng không nhất thiết phải có cùng các thành tố như nhau

1.1.11 Mô đun

Một mô đun được định nghĩa là: Một thành tố có thể thay đổi được trong một chương

trình học có thể bao gồm một hay nhiều đơn vị đánh giá

Một mô đun khác với một đơn vị học trình ở chỗ mô đun đề cập đến chương trình đã được chuyển tải mà người học đã trải qua Bên cạnh tên gọi, kết quả học tập, cấp độ, giá trị tín chỉ và tiêu chí đánh giá, mô đun bao gồm đề cương chi tiết, các hình thức học tập, cách thức đánh giá và các hình thức đánh giá Độ lớn của mô đun do cơ sở đào tạo xác định

Đối với hệ thống chức năng CAT, mô đun phải thoả mãn đầy đủ các nguyên tắc nhấn mạnh đến sự công nhận các đơn vị đánh giá

Trang 32

32 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

1.1.12 Mối quan hệ giữa các đơn vị đánh giá và mô đun

Các đơn vị đào tạo sử dụng phương thức đào tạo dựa trên mô đun sẽ có tính tự do đáng

kể như cách thức liên kết các đơn vị đánh giá Mối quan hệ giữa các đơn vị đánh giá và

mô đun rất linh hoạt Ví dụ, các kết quả của một đơn vị học trình đơn có thể đạt được thông qua một mô đun, hay thông qua hai hay nhiều mô đun Tương tự, một mô đun đơn

có thể chuyển tải kết quả của một số đơn vị đánh giá khác nhau Ví dụ, một mô đun thực hành lấy kinh nghiệm làm việc có thể được sử dụng cho một đơn vị đánh giá năng lực nghề và các đơn vị đánh giá trong môn truyền thông hay toán học Sự hoán chuyển cho nhau đều có thể thực hiện được

Bảng 3: Mối quan hệ giữa các đơn vị đánh giá và mô đun

1.1.13 Tóm tắt: Cơ sở của việc trao tín chỉ

Có thể đạt được tín chỉ thông qua việc đạt được các kết quả học tập Mỗi đơn vị đánh giá

có các kết quả học tập đã được xác định chính thức Để có thể đạt được tín chỉ của một đơn vị đánh giá, người học phải đáp ứng tất cả các kết quả học tập đã được quy định Các nguyên tắc được thể hiện trong bảng 4, 5, 6 bên dưới được trích từ tài liệu do Bridges và Sand trong hướng dẫn DRN (1998)

Bảng 4

Đơn vị đánh giá

tập hợp có tính cố kết các kết quả học tập và các tiêu chí đánh giá có liên quan đã được xác định chính thức

Trang 33

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 33

Kết quả học tập đối với một đơn vị đánh giá là những thành quả đạt được và được xem

là nền tảng của mục tiêu của đơn vị đó

Tập hợp có tính cấu kết các kết quả học tập ở một cấp độ được quy định

Đơn vị đánh giá Tín chỉ

Các tín chỉ X ở cấp độ Y

Chiến lược đánh giá nên đảm bảo rằng sinh viên có đủ cơ hội để đáp ứng các tiêu chí đánh giá đối với tất cả các kết quả học tập đã được quy định

Chiến lược dạy và học

Chiến lược đánh giá

Đơn vị đánh giá

Đề cương

Một kết quả học tập là một tuyên bố mô tả

một lĩnh vực quan trọng của kiến thức hay

môt kỹ năng hay các thuộc tính khác mà

sinh viên được mong chờ sẽ đạt được

Nhà thiết kế chương trình xây dựng các đơn vị đánh giá và chiến lược đánh giá dựa trên các kết quả học tập ở một cấp

độ nhất định

Tương tự, nhà thiết kế chương

trình có thể tạo điều kiện cho

người học cố gắng đạt được một

số hay tất cả các kết quả học tập

dự định

Trang 34

34 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

phận đảm nhận việc trao tín chỉ tuân theo bảng mô tả khung tín chỉ của NICATS, thì các tiêu chí của việc tích luỹ tín chỉ nhắm đến bằng cấp (ví dụ: số tín chỉ và cấp độ mà chúng đạt được) sẽ được bộ phận trao tín chỉ cụ thể hóa

Các bộ phận chịu trách nhiệm trao các văn bằng quốc gia (ví dụ như Cơ quan Cấp bằng

và chương trình - Qualifications and Curriculum Authority (QCA) ở Anh; ACCAC ở Wales và Hội đồng Chương trình, Khảo thí và Đánh giá (NICCEA) ở Bắc Ireland) có trách nhiệm phát triển chương trình khung16-19 (ví dụ: văn bằng tiền đại học) NICATS cộng tác gắn bó với CCEA, QCA (Bắc Ireland) và các bộ phận trao tín chỉ địa phương Bắc Ireland để cải thiện tầm nhìn của hệ thống, ở đó các văn bằng quốc gia được đảm bảo bởi các nguyên tắc khung tín chỉ

Bắc Ireland được xem là nơi lý tưởng để thực hiện vòng tròn khảo thí để đạt được việc thực hiện khung tín chỉ và văn bằng duy nhất và hy vọng rằng các bộ phận trao tín chỉ của Bắc Ireland sẽ chấp thuận để được tham gia vào các hoạt động thử nghiệm, tuân thủ các nguyên tắc của NICATS Nếu đạt được tầm nhìn này, người học sẽ có thể báo cáo tín chỉ đạt được nhằm hỗ trợ cho việc học của họ và điều đó được đảm bảo chất lượng do các bộ phận trao tín chỉ thông qua Những thành quả đạt được của người học sẽ được các

bộ phận tham gia công nhận theo quy ước chung đã được quy định

Tổ chức Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học - The Quality Assurance Agency for Higher Education (QAAHE) có nhiệm vụ phát triển khung bằng cấp của Giáo dục Đại học Khung bằng cấp được đề nghị sẽ dựa vào các quy định về khung tín chỉ và cấp độ QAAHE sẽ quy định các yêu cầu về tín chỉ đối với các văn bằng bậc đại học ở mỗi cấp

độ, đảm bảo tính nhất quán trong các yêu cầu về tín chỉ của văn bằng đại học

1.2 Sự liên thông giữa các bằng cấp chuyên môn, nghề nghiệp và NVQ

1.2.1 Giới thiệu

NICATS công nhận 9 cấp độ, đó là cấp độ ban đầu đến cấp độ 3 (FE); và cấp độ 4 – 8 (HE) Bảng 7 bên dưới mô tả cách các mức độ của NICATS có thể liên thông trong hệ thống văn bằng Việc trình bày theo biểu đồ bao gồm các mức độ tương đương với cấp

độ được đề nghị cao hơn của NVQ Hy vọng rằng QCA sẽ chấp thuận các hướng dẫn và môt tả của NICATS để, với các hoạt động có tính phát triển cao hơn, sẽ có các bước chuyển đến các cấp độ tương đương đã được đề nghị

Trang 35

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 35

Bảng 7: Các mức độ của NICATS có thể liên thông trong hệ thống văn bằng

KHUNG

Văn bằng

1.2.2 Các kiến nghị của NICATS cho việc liên thông

NICATS đề nghị thực hiện việc sắp xếp NVQ cấp độ 4 với hoặc là NICATS cấp độ 4 (cấp độ chứng chỉ bậc đại học/cấp độ HNC) hoặc là cấp độ 5 (cấp độ cử nhân cao đẳng/Cấp độ HND) Cấp độ 5 NVQ sau đó sẽ liên thông với hoặc là NICATS cấp độ 6 (cấp độ bằng đại học danh dự) hay cấp 7 (cấp độ Thạc sĩ) Điều này có thể đƣợc sơ đồ hoá nhƣ sau:

Trang 36

36 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

KHUNG CHƯƠNG TRÌNH CỦA

 NCVQ được yêu cầu sắp xếp GNVQ 4 với hoặc là cấp độ 4 và 5, hoặc là cấp độ 4, 5

và 6, của chương trình đại học

 Xây dựng chương trình HND và HNC áp dụng rộng rãi tại các cơ sở giáo dục đại học tương đương với 2 năm đầu của bằng danh dự Chương trình NVQ hiện tại đặt cấp độ

4 tương đương với những văn bằng này

 “Báo cáo Dearing” (Báo cáo của Hội đồng Quốc gia về các yêu cầu đầu vào đại học – vào năm 1997 ở nước Anh) đưa ra đề nghị đối với việc phát triển mô hình chương trình 2+1 và 2+2 để đạt được các văn bằng cấp sau đại học Những mô hình này dựa vào giả định rằng người học có thể rời trường với những giá trị được thừa nhận ở cấp

độ thấp hơn cấp độ văn bằng sau đại học Vì vậy, người học có thể ra khỏi cấp độ 5 của NICATS với đầy đủ bằng cấp ở cấp độ 4 của NVQ

 Việc tham khảo với các trường bạncó cấp những văn bằng như Thạc sĩ Quản Trị kinh doanh (MBA) cho thấy rằng chương trình ở cấp độ “Thạc sĩ” đó tương đương rất nhiều với cấp độ 6 của NICATS (cấp độ văn bằng danh dự) Những văn bằng như vậy, đặc biệt là ở những nơi có kết nối với các tiêu chuẩn được gọi là Management

Trang 37

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 37

Charter Initiative Standards thường được thiết kế để phản ánh tiêu chuẩn cấp độ 5 của NCVQ

 Các phân biệt về cấp độ ở cấp độ 6 của NICATS, không như trước đây, là sự chuẩn bị

rõ ràng đối với các kỹ năng nghiên cứu độc lập được yêu cầu ở cấp độ “Thạc sĩ” Với

lý do này, NICATS cũng đề nghị rằng các mức “đậu” thông thường được chỉ định ở cấp độ 5 và rằng cấp độ 6 cung cấp các mô tả chung phân biệt với thành quả học tập

và cấp độ của NICATS Kích cỡ của học phần/đơn vị của NVQ trong tín chỉ (nghĩa là giá trị tín chỉ) sẽ khác nhau bởi vì bản thân các đơn vị trong NVQ cũng đã khác nhau về kích

cỡ

Bước đầu tiên để hiện thực hóa quan điểm này là đạt được thoả thuận với QCA về sự tương đồng chung giữa các cấp độ học phần của NVQ và các cấp độ của NICATS Sự phát triển này có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các học phần liên quan đến chuyên môn, NVQ và nghề nghiệp thông qua việc:

 Giúp các cơ sở đào tạo phân bổ tín chỉ cụ thể đến các học phần/đơn vị dựa trên chính

mô đun/đơn vị chuyên môn của cơ sở đó

 Làm rõ những kết hợp có liên quan đến chuyên môn của NVQ

 Tạo điều kiện cho việc phân bổ các tín chỉ chuyên môn theo NVQ

Trang 38

38 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thoả thuận về mức độ tương đương chung

INCCA tin rằng có thể đạt được sự thỏa thuận về sự tương đương giữa cấp độ chuyên môn đại học và cấp độ chuyên môn cao hơn của NVQ hơn bởi các yếu tố sau:

 Sự chấp nhận của QCA về tầm quan trọng của việc dựa trên kiến thức và hiểu biết (tất cả các NVQ mới và NVQ được hiệu chỉnh phải có nội dung này một cách rõ ràng);

 Các tiêu chí của QCA hiện nay cho phép sử dụng các hình thức và phương pháp đánh giá ở các cấp độ cao (ví dụ trong các ngành học về kỹ sư, tâm lý và luật sư tập sự);

 Sự tham gia của QCA trong các vấn đề Đảm bảo Chất lượng;

 Sự phát triển các văn bằng lấy việc học dựa trên công việc cung cấp một mô hình phương cách trong đó năng lực dựa trên công việc, lấy học tập mang tính „chuyên môn‟ phù hợp làm cơ sở (ưu tiên cho kiến thức và sự thông hiểu), có thể dẫn đến việc cấp văn bằng dạy nghề quốc gia và một bằng cấp;

 Sự phát triển có ý nghĩa trong sự đồng thuận về các mô tả cấp độ chung được viết tóm tắt hay viết chi tiết sẽ bao gồm các kết quả học tập dựa trên chuyên môn, nghề nghiệp và trên năng lực; và

 Sự chuyển hướng của hầu hết các cơ sở giáo dục đại học sang chương trình dựa trên

“kết quả học tập” có tính liên thông rất tốtvới hướng tiếp cận dựa trên năng lực của QCA

NICATS đồng ý với tầm quan trọng của các yếu tố này và kiến nghị rằng mô hình liên thông mà NICATS đề nghị có mô tả tốt nhất các tương đồng thực sự giữa các yêu cầu trong các thành phần mang tính chuyên môn truyền thống và các thành phần dựa trên công việc Các kiến nghị của NICATS tạo thêm những thuận lợi trong việc mô tả toàn diện thang bậc cấp độ tương đương trong toàn bộ thang bằng cấp, vì vậy mà tạo ra một

mô hình rõ ràng cho việc phân biệt giữa các cấp độ

Trang 39

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ 39

1.3 Sự phát triển của thang cấp độ đơn giữa giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên

1.3.1 Giới thiệu về sự phát triển của các thang cấp độ đơn

Các cấp độ trong giáo dục đại học luôn được mô tả theo hướng bằng cấp hoặc trình độ (chẳng hạn như bằng cử nhân cao đẳng, bằng đại học danh dự) hoặc các năm học riêng rẻ của một bằng cấp 3/4 năm Với mô hình thay đổi hướng đến một hệ thống giáo dục linh hoạt hơn, các cấp độ không còn gắn với một chứng chỉ hay bằng cấp và các năm học của một trình độ

Cần thừa nhận rằng chương trình giáo dục đại học có chức năng như một phần của thang học tập rộng lớn hơn Với cách nghĩ đó, sinh viên bước vào trường đại học với những thành tích đã đạt được trong quá khứ và có thể mong muốn khi ra trường ở bất cứ giai đoạn nào Tính linh hoạt của các mô đun hoặc các đơn vị học trình mà sinh viên có được

ở thời điểm đó, do đó, là một vấn đề và điều quan trọng là cần làm rõ ý nghĩa của bản chất hoặc cấp độ của mô đun hay đơn vị học trình mà sinh viên có thể mang theo mình khi vào lại trường đại học ở bất cứ cấp độ đại học và sau đại học nào Điều này đòi hỏi

sự thỏa thuận về một tập hợp các mô tả cấp độ liên tục có thể liên quan đến tất cả các cấp

độ trong thang bậc học tập từ cấp độ rất cơ sở cho đến cấp độ Tiến sỹ Với những lý do này, thay vì xem đây như như một khó khăn phải đương đầu như trong thời gian gần đây, vấn đề liên thông giữa các bậc học trong giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học được xem là trọng tâm của dự án NICATS Để giúp cho một hệ thống hợp nhất có thể hoạt động, NICATS đã tiếp tục xây dựng một tập hợp các mô tả cấp độ có tính liên tục từ cấp độ đầu vào đến cấp độ sau đại học Hiện tại, sự liên thông giữa cấp độ đại học và giáo dục thường xuyên bị cản trở vì các cấp độ trong giáo dục đại học có liên quan đến các năm học chứ không phải là do yêu cầu về trí tuệ Vì vậy, hầu hết năm thứ nhất của trường đại học thường chỉ ở cấp độ 3 của giáo dục thường xuyên (FE) Điều này được áp dụng cho cả các tiêu chuẩn ở bất cứ cấp độ nào được quy định ở bậc đại học và cho người học nào đang có cơ hội học tiếp để lấy bằng cấp khai báo tín chỉ mà họ đạt đã có trước đây hoặc được xem như ngoại lệ và cơ hội để lấy bằng cấp mà họ đã chọn nhanh hơn Nếu chúng ta nghiêm túc trong vấn đề liên thông chúng ta cần phải áp dụng bộ thang đơn mô tả cấp độ liên tục

Hiện nay ở Anh, không có hệ thống mô tả cấp độ liên tục nào mô tả thành tích học tập và

sự tiến bộ giữa các cấp độ Vì Mạng lưới Vùng Derbyshire là một điển hình có hệ thống tín chỉ tích hợp hoạt động duy nhất trong phân nhánh giáo dục thường xuyên/giáo dục

Trang 40

40 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN CỦA BẮC IRELAND VỀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG TÍN CHỈ

đại học đang tồn tại ở Anh hiện nay, nên nhóm dự án NICATS đã tiến hành kiểm tra những mô tả cấp độ của họ một cách cẩn thận Các cấp độ Derbyshire được xây dựng dựa trên các cấp độ FEU (các cấp độ đầu vào của 1, 2 và 3 của FE) được xem là quá rộng dẫn đến nguy cơ diễn giải mơ hồ Hơn nữa, mô hình Derbyshire không trình bày được tiến trình học tập trong một thang đo cấp độ; các cấp độ FEDA thấp hơn thì khá chung chung trong khi các cấp độ giáo dục đại học thì lại có liên quan đến các môn học Sự liên kết giữa cấp độ 3 của FE và cấp độ 1 của HE đòi hỏi phải có sự liên thông rõ ràng hơn Việc xây dựng một bộ đơn các cấp độ và các mô tả cấp độ vì vậy được xem như một lĩnh vực quan trọng của khung tín chỉ hợp nhất của Bắc Ireland

NICATS công nhận 9 cấp độ, đó là cấp độ đầu vào đến cấp độ 3 (FE); và các cấp độ từ 4-8 (HE) Sơ đồ 7 trong phần 1.2.1 mô tả cách thức mà các cấp độ của NICATS có thể liên thôngqua hệ thống bằng cấp Việc phát triển của các mô tả cấp độ NICATS chung đã được giới thiệu thông qua các mô hình các mô tả cấp độ hiện tại được đề xuất bởi: Đơn

vị Giáo dục Thường xuyên - the Further Education Unit (FEU, 1995), hiện được sử dụng trong khu vực FE và mạng lưới các trường đại học mở quốc gia - the National Open College Network (NOCN); Hội đồng Quốc gia về Bằng cấp Nghề - the National Council for Vocational Qualifications (NCVQ); Mạng lưới Vùng Derbyshire - the Derbyshire regional network (các quy định của trường Đại học Derby); Cơ quan Bằng cấp New Zealand (the New Zealand Qualifications Authority – NZQA) 1996) và (the Southern England (SEEC)/Wales consortia) (1996) Các mô tả cấp độ NICATS cũng dựa trên các

mô hình mang tính lý thuyết về phát triển học tập (chẳng hạn như Phân loại nhận thức của Bloom (1971) và Mô hình học tập mang tính thực nghiệm của Steinaker và Bell (1979), các cấp độ quốc gia, cùng với kinh nghiệm chuyên môn và nghề nghiệp của các thành viên Nhóm chuyên trách

Các phân loại mô tả mà nhóm dự án NICATS nhất trí phù hợp với khung Bắc Ireland bao gồm “Các phẩm chất và kỹ năng trí tuệ”, “Các tiến trình” và “Trách nhiệm giải trình” Tất cả thống nhất rằng các khái niệm rộng có thể bao gồm đầy đủ những mô tả đã được mô hình SEEC/Wales phác thảo

Nhóm dự án NICATS xem xét nội dung của các mô tả cấp độ Tất cả đồng ý rằng, trong khi nội dung nên bao gồm tất cả các mô tả như đã được thảo ra trong mô hình SEEC/Wales, thì các mô tả đó cần phải được tích hợp có chặt chẽ hơn Có cảm giác rằng nhiều mô tả trong khung SEEC/Wales trùng lắp với nhau và không đòi hỏi sự phân loại nào: ví dụ, các hiểu biết về đạo đức được xem như một phần tất yếu của trách nhiệm cá nhân và cả 2 khái niệm được nói đến khi phân loại mang tên “trách nhiệm giải trình”

Ngày đăng: 02/12/2016, 02:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Vai trò của tín chỉ trong việc xác định tiêu chuẩn - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng 2 Vai trò của tín chỉ trong việc xác định tiêu chuẩn (Trang 28)
1.3.4. Bảng trình bày các mô tả cấp độ chung - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
1.3.4. Bảng trình bày các mô tả cấp độ chung (Trang 43)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ. - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 51)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 53)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 56)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 58)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 60)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 62)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 63)
Bảng mô tả đầy đủ của cấp độ - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng m ô tả đầy đủ của cấp độ (Trang 64)
Hình 1. Mức thành thạo công việc hiện nay của sinh viên VN mới tốt nghiệp - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Hình 1. Mức thành thạo công việc hiện nay của sinh viên VN mới tốt nghiệp (Trang 111)
Hình 2. Mức thành thạo công việc mà các bên liên quan mong muốn sinh viên VN - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Hình 2. Mức thành thạo công việc mà các bên liên quan mong muốn sinh viên VN (Trang 111)
Bảng 1. Những điểm mạnh của các trường trong mối liên hệ với đặc điểm của - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Bảng 1. Những điểm mạnh của các trường trong mối liên hệ với đặc điểm của (Trang 120)
Hình 1. Những điểm mạnh của nhà trường, liên hệ với đặc điểm của những trường tốt nhất - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Hình 1. Những điểm mạnh của nhà trường, liên hệ với đặc điểm của những trường tốt nhất (Trang 127)
Hình 2. Những trở ngại mà các trường gặp phải khi thực hiện cải cách chương trình và - TÀI LIỆU THAM KHẢO CHO HỘI THẢO: “ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
Hình 2. Những trở ngại mà các trường gặp phải khi thực hiện cải cách chương trình và (Trang 128)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w