1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

LƯU TRỮ LỊCH sử VIỆT NAM từ 1954 1954

55 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a.Văn bản pháp luật về việc xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ lưu trữ • Sắc lệnh ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh sáp nhập các thư viện và các cơ quan văn hóa

Trang 1

CHÀO MỪNG THẦY VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA

NHÓM 4

Trang 2

LỊCH SỬ LƯU TRỮ VIỆT NAM

Giảng viên: Tiến sĩ Nghiêm Kỳ Hồng

Sinh viên thực hiện:

Trang 3

ĐỀ TÀI:

LƯU TRỮ

VIỆT NAM

TỪ 1954 - 1954

Trang 4

NỘI DUNG TRÌNH BÀY:

III LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN THỰC DÂN PHÁP

II LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ

IV NHẬN XÉT CHUNG

Trang 5

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ

 Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, mở ra

một kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập, tự chủ

 Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Ðình, Hồ Chủ

tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 6

Nhân dân hân hoan chào mừng Cách mạng Tháng

Tám thành công

Trang 7

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trên Lễ đài

Quảng trường, Ba Đình, Hà Nội, ngày 2/9/1945

Trang 8

Những khó khăn buổi đầu giành độc lập tự chủ:

Về kinh tế:

• Hầu như kiệt quệ với hệ thống kho tàng trống rỗng,

nông nghiệp lạc hậu, mất mùa vì lũ lụt.

• Các ngành công thương nghiệp, thủ công nghiệp bị

đình đốn hoặc phá sản

=> Hậu quả thảm khốc là nạn đói xảy ra, làm chết hơn hai triệu người, gần 1/10 dân số nước ta bấy giờ

Trang 9

Nạn đói năm Ất Dậu (1944 – 1945)

Trang 10

Vê trình độ dân trí: văn hóa, giáo dục thấp kém

với hơn 80% dân số mù chữ

Về chính trị: Tàn dư của chế độ thực dân, phong

kiến dẫn đến bệnh quan liêu giấy tờ trong bộ máy Nhà nước mới còn hết sức nặng nề

Trang 11

Về quân sự : “ thù trong giặc ngoài”

• Ðược Anh mở đường, thực dân Pháp trở lại gây căng

thẳng ở Nam Bộ Quân Tưởng Giới Thạch kéo vào miền Bắc

• Trong nước, các tổ chức Việt Cách và Việt Quốc núp

bóng quân Tưởng, bất hợp tác với Cách mạng, liên tục quấy phá; lớp địa chủ, tư sản cũng ngóc dậy, ngấm ngầm chống đối.

Trang 12

Quân Anh đến Sài Gòn vào tháng 9/1945 để mở đường cho Pháp quay lại xâm lược Việt Nam

Trang 13

Giải pháp:

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đưa đất nước vượt qua những khó khăn trước mắt, xây dựng, bảo vệ chính quyền :

 Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945,

 Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Bắc Kỳ ngày 10/9/1945

 Bản Chỉ thị về “Kháng chiến kiến quốc” ngày

25/11/1945 của Trung ương Đảng

Trang 15

“Một mặt phá hoại

Một mặt kiến thiết Phá hoại để ngăn địch Kiến thiết để đánh địch.”

Chỉ thị về “Kháng chiến kiến quốc”

Trang 16

 Những chủ trương về xây dựng chính quyền và xây

dựng nền văn hóa mới nói trên là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo quan trọng đối với công tác lưu trữ trong những năm đầu xây bảo vệ chính quyền và tiến

hành cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp.

Trang 17

4 Tổ chức sử dụng tài liệu

phục vụ công cuộc kháng

chiến, kiến quốc

Trang 18

a Văn bản pháp luật về việc xây dựng tổ

chức và đội ngũ cán bộ lưu trữ

b.Văn bản pháp luật về việc giữ gìn, bảo

vệ hồ sơ, tài liệu

c Văn bản pháp luật về việc tổ chức sử

dụng tài liệu phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc

II LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT

NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

1 Xây dựng, ban hành pháp luật về lưu trữ:

Trang 19

a.Văn bản pháp luật về việc xây dựng tổ chức và đội ngũ

cán bộ lưu trữ

Sắc lệnh ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ

Chí Minh sáp nhập các thư viện và các cơ quan văn hóa khác vào Bộ Quốc gia Giáo dục

Sắc lệnh số 21 ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm

thời Hồ Chí Minh cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc

Nghị định số 35/NĐ ngày 21/9/1945 về bộ máy tồ chức của

Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc

Trang 20

Sắc lệnh số 119/SL ngày 9/7/1946 của Quyền Chủ tịch

Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng quy định Sở Lưu trữ công

văn và Thư viện toàn quốc trực thuộc Nha Giám đốc Đại học vụ

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ IV ngày

Trang 21

Các Thông đạt ngày 8/9, 19 và 25/10/1945 của Ủy ban Nhân dân Bắc

Bộ khẳng định giá trị của công văn, tài liệu và yêu cầu các công sở phải ngăn chặn kịp thời tình trạng hủy hoại tài liệu đồng thời tổ chức việc giữ gìn, bảo quản an toàn công văn, tài liệu

Nghị quyết phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945.

Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ

Chí Minh quy định về nhiệm vụ của Đông Dương bác cổ học viện

Thông đạt số 1-C/VP ngày 3/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời

Hồ Chí Minh về giữ gìn và cấm tiêu hủy công văn, hồ sơ cũ

Thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày

16/11/1946

- b.Văn bản pháp luật về việc giữ gìn,

- bảo vệ hồ sơ, tài liệu:

Trang 22

Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ I ngày 24/11/1946.

Thư của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh gửi Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Nguyễn Hữu Nam ngày 9/7/1947

Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II ngày 16 –

20/7/1648

Nghị quyết Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ V tháng 8/1948.

Nghị quyết phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 17/11/1948.

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 2/1951.

Sắc lệnh số 69-SL ngày 10/12/1951 của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh

về giữ gìn bí mật quốc gia

Các Chỉ thị ngày 1 và 3/7/1954 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng về

việc tiếp thu và quản lý các thành phố mới giải phóng

Trang 23

c Văn bản pháp luật về việc tổ chức sử dụng tài liệu phục vụ cho công cuộc kháng chiến, kiến

quốc:

Thông tri ngày 7/9/1945 của Bộ Nội vụ chủ trương sưu

tầm những tài liệu là giấy tờ bí mật, các bản thống kê, tranh ảnh nói về tội ác của thực dân Pháp

Thông tư số 9 ngày 28/4/1946 của Chính phủ yêu cầu các

Bộ, các công sở tạo điều kiện giúp các vị đại biểu Quốc hội sưu tầm tài liệu phục vụ cho việc soạn thảo Hiến pháp

và chuẩn bị ý kiến đóng góp cho Chính phủ về công việc xây dựng đất nước

Trang 24

II LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

2.Xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ lưu trữ

a.Xây dựng tổ chức lưu trữ

• Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền Pháp đã thành lập Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương

• Sau ngày 19/8/1945, cơ quan này được chính quyền cách mạng tiếp quản

• Ngày 8/9/1945, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh ký hai Sắc lệnh:

Trang 25

- Sắc lệnh sáp nhập các thư viện và các cơ quan văn hóa khác vào Bộ Quốc gia Giáo dục Theo đó, Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương được cải tổ lại và đặt trong Bộ Quốc gia Giáo dục với tên gọi là Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc, vị trí của Nha được xác định là “một cơ quan mà sự hoạt động sẽ giúp một phần lớn vào việc cải tạo văn hóa nước nhà”.

Trang 26

• Sắc lệnh số 21 cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ

công văn và Thư viện toàn quốc

Ngô Đình Nhu

Trang 27

• Sau một thời gian hoạt động với bộ máy tổ chức mới được quy định tại Nghị định số 35/NĐ ngày 21/9/1945 và nhận thấy “cách tổ chức hiện thời đã không hợp lý lại sinh nhiều trở ngại vô ích

• Vào tháng 7/1946, Sở đã trình lên Nha Giám đốc Đại học vụ một bản

dự thảo Nghị định nhằm cải tổ tổ chức và hoạt động của Sở “cho phù hợp với chương trình kiến thiết quốc gia” trong giai đoạn mới

• Tuy nhiên, cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, công việc cải tổ lại Sở Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc đã không thực hiện được

Trang 28

 Mặc dù chỉ hoạt động trong một thời gian rất ngắn (1 năm

3 tháng, tháng 9/1945 - 12/1946) nhưng Sở đã đạt được

những thành tựu đáng chú ý:

• Tiếp quản, bảo vệ, giữ gìn tài liệu lưu trữ và sách báo do

Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương để lại

• Tổ chức bảo quản, bảo vệ hồ sơ, tài liệu, sách báo ở Kho lưu trữ Trung ương Hà Nội

• Tiến hành bổ sung tư liệu, tổ chức phục vụ bạn đọc ngay trong những ngày tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng đầy khó khăn thử thách

Trang 29

b.Xây dựng đội ngũ cán bộ lưu trữ

• Hội nghị Trung ương lần thứ IV: Ngày 20/5/1948, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ IV và một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị là đã đề ra nhiệm vụ cụ thể về kiện toàn một bước Văn phòng cấp ủy Đảng các cấp

• Hội nghị Cán bộ Văn phòng cấp ủy Đảng toàn quốc lần thứ I: Trong các ngày 8 - 10/6/1949, Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình và

đề ra nhiều nội dung quan trọng trong công tác văn phòng nói chung, công tác lưu trữ trong các cơ quan Đảng nói riêng

• Nghị quyết Hội nghị Cán bộ chính quyền về công tác văn phòng ngày 19/12/1950

Trang 30

II LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM DÂN

CHỦ CỘNG HÒA

3.TỔ CHỨC GIỮ GÌN, BẢO VỆ HỒ SƠ, TÀI LIỆU LƯU TRỮ

a.TÀI LIỆU CỦA CHÍNH QUYẾN CŨ ĐỂ LẠI

Ban hành các văn bản khẳng định giá trị của tài liệu lưu trữ và các loại tài sản văn hóa khác:

• Ủy ban Nhân dân Bắc Bộ, liên tục trong các ngày 8/9, 19 và 25/10/1945, đã ban hành các Thông đạt, Công văn khẳng định giá trị của công văn, tài liệu và yêu cầu các công sở phải ngăn chặn kịp thời tình trạng hủy hoại tài liệu

• Ngày 23/11/1945, trong Sắc lệnh số 65 quy định về nhiệm vụ của Đông Dương Bác

cổ học viện đã ra mệnh lệnh: “Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử

mà chưa được bảo tồn”.

Trang 31

Đông Dương Bác cổ học viện, nay là Bảo tàng Lịch sử

quốc gia Việt Nam (Hà Nội)

Trang 32

 Ngày 3/1/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã ký ban hành bản Thông đạt số 1-C/VP về giữ gìn và cấm tiêu hủy công văn,

hồ sơ cũ

Trang 33

o Thông đạt này của Chủ tịch Hồ Chí Minh

là văn kiện chỉ đạo đầu tiên hết sức quan trọng của Nhà nước ta về công tác lưu trữ

o Vì vậy, ngày 17/9/2007, Thủ tướng Chính

phủ Nguyễn Tấn Dũng, thông qua Quyết định số 1229/QĐ-TTg, đã chọn ngày 3/1 – ngày ra đời của bản Thông đạt – làm ngày

“Lưu trữ Việt Nam”.

Trang 34

• Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, quân

đội Pháp đã phải rút khỏi nhiều thành phố

Liên tiếp các ngày 1 và 3/7/1954, Ban Bí Thư Trung ương Đảng đã ban hành hai bản Chỉ thị

về việc tiếp thu và quản lý các thành phố mới giải phóng.

Trang 37

Thành tựu :

• Hồ sơ, tài liệu, sách báo ở Kho lưu trữ Trung ương Hà Nội được Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc tổ chức bảo quản, bảo vệ Trong khối tài liệu tiếp quản đó có nhiều tài liệu quý hiếm

• Hiện tượng tùy tiện hủy bỏ tài liệu trong nhiều công sở đã được từng bước ngăn chặn

• Hồ sơ, tài liệu trong các công sở và các kho lưu trữ ở các thành phố mới giải phóng đã được giữ gìn tương đối an toàn, hạn chế được hiện tượng bộ đội, công chức của ta đốt phá tài liệu địch cũng như việc địch phá hoại hoặc cướp tài liệu mang đi

Trang 38

Đối với tài liệu của các cơ quan Đảng, Nhà nước

và các đoàn thể cách mạng:

 Ngày 8/9/1945, Chính phủ đã có công văn yêu cầu các

công sở chủ động chuẩn bị tài liệu sẵn sàng di chuyển để

đối phó với những tình huống bất trắc khi Pháp đánh chiếm trở lại

 Phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14/11/1945 đã bàn

đến việc sơ tán tài liệu.

 Các văn bản chỉ đạo của Đảng như Thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946, Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ I ngày 24/11/1946, Nghị quyết Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II ngày 16 đến 20/7/1948, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tháng 2/1951, đều khẳng định quan

điểm bảo tồn lâu dài và phát huy giá trị của các di sản

văn hóa dân tộc, trong đó có tài liệu lưu trữ

Trang 39

Từ tháng 12/1946 - 2/1947, Trung ương Đảng đã chủ trương di chuyển các cơ quan Trung ương của Đảng, Chính phủ và tài liệu lưu trữ đến các

tỉnh ngoại vi Hà Nội.

 Trong bức thư gửi ông Hoàng Hữu Nam – Thứ trưởng Bộ Nội vụ ngày 9/4/1947, sau khi thông báo tin địch tấn công và lưu ý về việc đảm bảo

an toàn cho ta, Bác đã chỉ thị: “Nhân viên và tài liệu của Chính phủ

phải rời ngay vào nơi an toàn Lúc rời phải rất bí mật”.

 Trong Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ V (tháng 8/1948) và phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 17/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

nhắc nhở các cơ quan Chính phủ, các ngành, các cấp chính quyền phải

hết sức chú trọng giữ gìn bí mật trong các văn kiện của Nhà nước

Trang 40

Năm 1950, để tăng cường công tác bảo vệ bí mật,

Bộ Nội vụ đã có Tờ trình lên Chủ tịch nước để ban hành một bản Sắc lệnh về giữ gìn bí mật quốc gia

 Ngày 10/12/1951, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh đã ký

ban hành Sắc lệnh số 69-SL về giữ gìn bí mật quốc gia

 Trong những năm 1953 – 1954, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ đã đặt ra yêu cầu phải đề

cao kỷ luật, tuyệt đối giữ bí mật hồ sơ, tài liệu

Trang 41

Thành tựu

• Mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc kháng chiến, các

cơ quan phải sơ tán, tài liệu phải cất giấu nhiều nơi nhưng đa

số thành phần tài liệu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn được giữ gìn và bảo quản an toàn

• Sau khi hoà bình được lập lại trên miền Bắc năm 1954, khối tài liệu này đã được đưa từ Chiến khu Việt Bắc, từ chiến trường miền Trung, miền Nam về Thủ đô Hà Nội và đã được chỉnh lý, sắp xếp và nhu cầu khai thác sử dụng rất cao

Trang 42

4.TỔ CHỨC SỬ DỤNG TÀI LIỆU PHỤC VỤ CHO CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN, KIẾN QUỐC

• Chủ trương sưu tầm những tài liệu là giấy tờ bí mật, các bản thống kê, tranh ảnh nói về tội ác của thực dân Pháp, tập trung về Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam để biên soạn cuốn sách vạch trần tội ác của chúng (Thông tri ngày 7/9/1945 của Bộ Nội vụ)

• Sử dụng các văn bản quan trọng như Đạo luật, Sắc lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị,… của Nhà nước để đăng trong Việt Nam dân quốc công báo số đầu tiên ngày 29/9/1945

Trang 43

Việt Nam dân quốc công báo số đầu tiên ngày 29/9/1945

Trang 44

• Yêu cầu các Bộ, các công sở tạo điều kiện giúp các vị đại biểu Quốc hội sưu tầm tài liệu phục vụ cho việc soạn thảo Hiến pháp và chuẩn bị ý kiến đóng góp cho Chính phủ về công việc xây dựng đất nước (Thông tư số 9 ngày

Trang 45

Bác Hồ đang làm việc tại chiến khu Việt Bắc Từ trái sang phải: Nguyễn Thế Đoàn (quay phim), Diệp Minh

Châu (vẽ) và Đinh Đăng Định (chụp ảnh)

Trang 46

Bác Hồ đang dạy chiến sĩ vệ binh tập võ, trích

phim của Nguyễn Thế Đoàn

Trang 47

III.LƯU TRỮ CỦA CHÍNH QUYỀN

THỰC DÂN PHÁP

1.XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LƯU TRỮ

a.XÂY DỰNG TỔ CHỨC LƯU TRỮ

• Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương dời trụ sở vào Sài Gòn, đổi tên thành Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, trực tiếp quản

lý cơ quan Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam (gồm Kho Lưu trữ Trung ương và Thư viện

Trung ương ở Hà Nội), có nhiệm vụ bảo quản năm nguồn tài liệu

Trang 48

b.XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LƯU TRỮ

o Paul Boudet là Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư

viện Liên bang.

o Trong năm 1946, Simone De Saint Exupery

được giao trách nhiệm Trưởng Đại diện Lưu trữ

ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, Castagnol được bổ nhiệm làm Phó Trưởng Đại diện, Rémy

Bourgeois được bổ nhiệm làm Quản thủ viên của Lưu trữ Trung Kỳ.

Trang 49

 Từ năm 1947, Simone được giao trách nhiệm chỉ đạo Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang.

 Ngày 30/8/1948, Simone được giao nhiệm vụ Quyền Giám đốc Sở Lưu trữ và Thư viện Liên bang.

 Năm 1949, De Ferry được bổ nhiệm chính thức làm Giám đốc.

 Năm 1952, Ferry quyết định nhân sự của Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam gồm: Trưởng Đại diện – Thư ký đặc biệt, Bộ phận thư ký – kế toán, Bộ phận thư viện của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Kỳ; Simone được bổ nhiệm làm Giám đốc Thư viện Quốc gia trực thuộc Đại diện Lưu trữ và Thư viện phía Bắc Việt Nam.

Ngày đăng: 01/12/2016, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w