Mục lụcDANH SÁCH NHÓM 12iChương 1Tổng quan về các giao thức định tuyến11.1Khái niệm cơ bản11.2Khái niệm giao thức1Chương 2RIP12.1Tổng quát về giao thức RIP12.2Giao thức định tuyến RIP2Chương 3OSPF123.1Giới thiệu về OSPF123.2Hoạt động của OSPF123.3OSPF với Multi – Area213.4Định dạng gói tin OSPF233.5Ưu, nhược điểm:273.6Cấu hình OSPF28Chương 4Phần demo304.1Giao thức RIP304.2Giao thức OSPF Multiarea36
Trang 1BÁO CÁO MÔN MẠNG MÁY TÍNH
ĐỀ TÀI: MÔ PHỎNG, THIẾT KẾ CÁC GIAO THỨC ĐỊNH TUYẾN RIP, OSPF
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HCM
BỘ MÔN VIỄN THÔNG
GV bộ môn:
Nhóm thực hiện: Nhóm 12
TPHCM, 29/11/2016
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 12
Trang 3Mục lục
Trang 4Chương 1 Tổng quan về các giao thức định tuyến
1.1 Khái niệm cơ bản
Định tuyến là một tiến trình lựa chọn con đường cho thực thể thông tin
chuyển qua mạng, nó cũng được coi là khả năng của một nút trong vấn đề lựa chọn đường dẫn cho thông tin qua mạng
Định tuyến là một khái niệm cốt lõi của mạng IP và nhiều loại mạng
khác nhau Định tuyến cung cấp phương tiện tìm kiếm các tuyến đường theo
các thông tin mà thực thể thông tin được chuyển giao trên mạng
1.2 Khái niệm giao thức
Để đơn giản ta chỉ cần hiểu giao thức là cách thức giao tiếp Trong mạngthông tin giữa các máy tính thì giao thức rất quan trọng , giao thức chính là
cầu nối giữa các máy tính , các hệ thống máy tính và các hệ thống mạng
Các giao thức hiện có gồm có RIP (RIP-1, RIP-2) ; OSPF, IGRP,
EIGRP, IS-IS, BGP4
Chương 2 RIP
2.1 Tổng quát về giao thức RIP
2.1.1 Giới thiệu về RIP
Ngày nay, một mạng có thể lớn đến mức một giao thức định tuyến
không thể xử lý công việc cập nhật các bảng định tuyến của tất cả các
bộ định tuyến Vì vậy, liên mạng được chia thành các hệ thống tự trị
(AS-Autonomous System) Hệ thống tự trị (AS) là một nhóm các mạng
và bộ định tuyến có chung hệ thống quản trị Các giao thức định tuyến được sử dụng bên trong AS gọi là giao thức định tuyến nội miền IGP
(Interior Gateway Protocol) Routing Information Protocol (RIP) được
Trang 5thiết kế như một giao thức IGP dùng cho các AS kích thước nhỏ, không
sử dụng cho hệ thống mạng lớn và phức tạp.
2.1.2 Định nghĩa giao thức Rip
RIP là một giao thức định tuyến miền trong được sử dụng cho các hệ
thống tự trị (AS) Giao thức thông tin định tuyến thuộc loại giao thức
định tuyến khoảng cách vecto (Distance Vector), RIP sử dụng một giá
trị để đo lường đó là số bước nhảy (hop count) trong đường đi từ
nguồn đến đích Mỗi bước đi trong đường đi từ nguồn đến đích được
coi như là 1 hop count Khi bộ định tuyến nhận được một bản tin cập
nhật định tuyến cho các gói tin thì nó sẽ cộng 1 vào giá trị đo lường
đồng thời cập nhật bảng định tuyến.
RIP có 2 phiên bản:
- RIP version 1 (RIPv1)
- RIP version 2 (RIPv2)
Quá trình mô phỏng chỉ sử dụng giao thức RIPv2 nên bài này sẽ
trình bày cụ thể về giao thức định tuyến RIP version 2.
2.1.3 Thuật toán
RIP sử dụng thuật toán định tuyến theo khoảng cách vector DVA
(Distance Vector Algorithms)
Là thuật toán định tuyến tương thích nhằm tính toán con đường ngắn nhất giữa các cặp nút trong mạng, dựa trên phương pháp tập trung
được biết đến như thuật toán Bellman-Ford Các nút mạng thực hiện
quá trình trao đổi thông tin trên cơ sở địa chỉ đích, nút kế tiếp và con
đường ngắn nhất để tới đích.
Trang 62.2 Giao thức định tuyến RIP
2.2.1 Chi tiết về giao thức định tuyến RIP
A RIP phiên bản 2
a Đặc điểm
- Là một giao thức định tuyến khoảng cách Vector, sử dụng số
lượng hop làm thông số định tuyến
- Giá trị hop tối đa là 15 hop (nếu vượt quá gói tin sẽ tự động bị hủy)
- Thời gian giữ chậm cũng là 180s
- Sử dụng cơ chế chia rẽ tầng để chống lặp vòng (Đây là điểm đặc biệt giúp RIP version 2 khắc phục lỗi lặp vòng của RIP
version 1)
- RIPv2 có gửi mặt nạ mạng con đi kèm với các địa chỉ mạng trong thông tin định tuyến Nhờ đó mà RIPv2 có thể hỗ trợ VLSM và CIDR.
- RIPv2 có hỗ trợ việc xác minh thông tin định tuyến.
- RIPv2 gửi thông tin định tuyến theo địa chỉ multicast 244.0.0.9 trong khi RIPv1 gửi theo địa chỉ broadcast
255.255.255.255.
Trang 7- Command field: Cho ta biết gói tin là gói tin yêu cầu (Request)
hay gói tin trả lời (Response) Gói tin Request sẽ đưa ra yêu cầu cho một bảng định tuyến gửi tất cả hay 1 phần bảng định tuyến của nó Gói tin Response được đưa ra khi bộ định tuyến nhận
được gói tin Request.
- Version number: Chỉ ra phiên bản RIP đang được sử dụng.
- AFI (Address-Family identifier): Chỉ ra kiểu địa chỉ được sủ
dụng để cấu hình mạng Giá trị AFI cho IP là 2
- Metric: Cho ta biết có bao nhiêu bước liên mạng (internetwork hop) đã đi qua trong hành trình đến đích Giá trị này sẽ nằm
trong khoảng từ 1 đến 15 cho các đường đi còn hiệu lực.
định tuyến, giá trị FFFF được đặt vào trong trường AFI Trường tiếp
theo trong thông báo xác thực là loại xác thực, dùng để định nghĩa
phương pháp sử dụng để xác thực Trường cuối cùng trong thông báo
là để chứa dữ liệu xác thực Định dạng bản tin xác thực như sau:
Trang 8c Cấu trúc bản tin
- Command field: Cho ta biết gói tin là gói tin yêu cầu
(Request) hay gói tin trả lời (Response) Gói tin Request sẽ
đưa ra yêu cầu cho một bảng định tuyến gửi tất cả hay 1
phần bảng định tuyến của nó Gói tin Response được đưa ra khi bộ định tuyến nhận được gói tin Request.
- Version number: Chỉ ra phiên bản RIP đang được sử dụng.
- AFI (Address-Family identifier): Chỉ ra kiểu địa chỉ được sủ
dụng để cấu hình mạng Giá trị AFI cho IP là 2
- Metric: Cho ta biết có bao nhiêu bước liên mạng
(internetwork hop) đã đi qua trong hành trình đến đích Giá trị này sẽ nằm trong khoảng từ 1 đến 15 cho các đường đi
định tuyến, giá trị FFFF được đặt vào trong trường AFI Trường tiếp
theo trong thông báo xác thực là loại xác thực, dùng để định nghĩa
phương pháp sử dụng để xác thực Trường cuối cùng trong thông báo
là để chứa dữ liệu xác thực Định dạng bản tin xác thực như sau:
Trang 9Ngoài ra RIP phiên bản 2 còn hỗ trợ phát đa hướng (Multicast) so với phiên
bản 1 RIP phiên bản 1 sử dụng phát quảng bá để gửi các thông báo RIP tới
tất cả các bộ định tuyến lân cận Do đó, không chỉ các bộ định tuyến trên
mạng nhận được thông báo mà mọi trạm trong mạng đều có thể nhận được
Trong khi đó, RIP phiên bản 2 sử dụng địa chỉ đa hướng 224.0.0.9 để phát đa hướng các thông báo RIP tới chỉ các bộ định tuyến sử dụng giao thức RIP trênmột mạng mà thôi
d Thiết kế RIPv2
Một số điều cần ghi nhớ trong việc thiết kế mạng với RIPv2 là nó hỗ trợ
VLSM bên trong mạng và CIDR để tóm tắt những mạng gần kề ở bên kia
RIPv2 cho phép tóm tắt các lộ trình trong cùng 1 mạng RIPv2 vẫn có giới
hạn số hop là 16 Vì thế kích thước mạng không thể vượt quá giới hạn này
RIPv2 gửi bảng định tuyến 30s mỗi lần đến các máy để gửi địa chỉ IP là
224.0.0.9 RIPv2 thường có giới hạn khi truy nhập vào mạng nơi mà giao
thức này có thể hoạt động liên kết với các máy chủ được thực hiện định tuyến.RIPv2 cũng cung cấp sự xác nhận lộ trình
Như trong hình 11, khi sử dụng RIPv2, tất cả các điạ chỉ trong mạng có thể cónhững mặt nạ mạng con khác nhau
Trang 10-Nếu muốn hủy một mạng nào đó ta dùng câu lệnh sau
Router(config-router)#no network địa_chỉ_ip
- Cấu hình đường default route:
Router(config)#ip route 0.0.0.0 0.0.0.0 [exit interface/ip address]
f Kiểm tra và giải quyết sự cố
- Xem quá trình gửi nhận thông tin định tuyến RIP bằng lệnh debug ip rip
Router(config)#debug ip rip
Tắt chế độ debug bằng lệnh undebug all
Router(config)#undebug all
-Xem bảng định tuyến trên R2 bằng lệnh show ip route.
Router(config)# show ip route
- Dùng lệnh clear ip route * để xoá toàn bộ route từ bảng định tuyến
Router(config)# clear ip route *
-Kiểm tra lại cấu hình bằng lệnh Show run
Router(config)# Show run
B RIP phiên bản 1
a Đặc điểm
RIPv1 là một giao thức định tuyến theo véctơ khoảng cách nên nó
quảng bá (theo địa chỉ 255.255.255.255) toàn bộ bảng định tuyến của nó cho
Trang 11các bộ định tuyến lân cận theo định kỳ Chu kỳ cập nhật của RIP là 30 giây
Thông số định tuyến của RIP là số lượng hop, giá trị tối đa là 15 hop nếu lớn
hơn thì gói dữ liệu đó sẽ bị hủy bỏ Thời gian giữ chậm cho một tuyến là 180 giây, nếu lớn hơn thì tuyến này coi như là hết hạn
RIPv1 là giáo thức định tuyến được sử dụng phổ biến vì mọi bộ định
tuyến IP đều có hỗ trợ giao thức này RIPv1 được phổ biến vì tính đơn giản
và tính tương thích toàn cầu của nó RIPv1 có thể chia tải ra tối đa là 6 đường
có chi phí bằng nhau (mặc định là 4 đường)
RIPv1 là giao thức định tuyến theo lớp địa chỉ Khi RIP bộ định tuyến
nhận thông tin về một mạng nào đó từ một cổng, trong thông tin định tuyến
này không có thông tin về mặt nạ mạng con đi kèm Do đó bộ định tuyến sẽ
lấy mặt nạ mạng con của cổng để áp dụng cho địa chỉ mạng mà nó nhận được
từ cổng này Nếu mặt nạ mạng con này không phù hợp thì nó sẽ lấy mặt nạ
mạng con mặc định theo địa chỉ áp dụng cho địa chỉ mạng mà nó nhận được:
Các trường chức năng trong gói tin IP RIP:
• Command: Cho ta biết gói tin là gói tin yêu cầu (Request) hay gói tin trả lời (Response) Gói tin Request sẽ đưa ra yêu cầu cho một bảng định tuyếngửi tất cả hay 1 phần bảng định tuyến của nó Gói tin Response được đưa ra
Trang 12khi 1 bộ định tuyến nhận được gói tin Request Nhiều gói tin RIP có thể được
sử dụng để vận chuyển cho một bảng định tuyến lớn
• Version number: Chỉ ra phiên bản RIP đang sử dụng Trường này
dùng các kí hiệu khác nhau để chỉ ra các phiên bản khác nhau đang được sử
dụng trong mạng
• Zero: Trường này thực tế không sử dụng, nó được thêm vào để cung
cấp tính tương thích về sau cho các chuẩn của RIP Trường này có thể được
thiết lập mặc định giá trị 0
• Address-family identifier (AFI): Chỉ ra kiểu địa chỉ được sử dụng để
cấu hình mạng Do RIP được thiết kế để mang thông tin định tuyến cho nhiều các giao thức khác nhau nên mỗi loại sẽ có 1 nhận dạng riêng cho ta biết kiểu địa chỉ mà giao thức đang sử dụng Giá trị AFI cho IP là 2
• Address: Chỉ ra địa chỉ IP của các bộ định tuyến
• Metric: Cho ta biết có bao nhiêu bước liên mạng (internetwork hop)
đã đi qua trong hành trình đến đích Giá trị này sẽ nằm trong khoảng 1 đến 15cho các đường đi còn hiệu lực và 16 cho các đường đi không thể thực hiện
được bởi RIP
RIPv1 cũng quảng bá bảng định tuyến của nó 30 giây một lần RIPv1 thường
có giới hạn khi truy nhập vào mạng nơi mà giao thức này có thể hoạt động
liên kết với các máy chủ được thực hiện định tuyến
Như trong hình 9, khi sử dụng RIPv1, tất cả các địa chỉ trong mạng phải có
cùng mặt nạ mạng con
Hình 9: Các địa chỉ phải có cùng mặt nạ mạng con
Trang 13-Nếu muốn hủy một mạng nào đó ta dùng câu lệnh sau
Router(config-router)#no network địa_chỉ_ip
- Cấu hình đường default route:
Router(config)#ip route 0.0.0.0 0.0.0.0 [exit interface/ip address].
j Kiểm tra và giải quyết sự cố
- Xem quá trình gửi nhận thông tin định tuyến RIP bằng lệnh debug ip rip
Router(config)#debug ip rip
Tắt chế độ debug bằng lệnh undebug all
Router(config)#undebug all
-Xem bảng định tuyến trên R2 bằng lệnh show ip route.
Router(config)# show ip route
-Dùng lệnh clear ip route * để xoá toàn bộ route từ bảng định tuyến
Router(config)# clear ip route *
-Kiểm tra lại cấu hình bằng lệnh Show run
Router(config)# Show run
C So sánh
a Những điểm giống nhau:
• Là giao thức định tuyến theo véctơ khoảng cách
• Sử dụng số hop làm thông số định tuyến
• Chu kỳ cập nhật mặc định là 30 giây
Trang 14• Sử dụng thời gian giữ chậm để chống lặp vòng, thời gian này mặc
định là 80 giây
• Sử dụng cơ chế cắt ngang để chống lặp vòng
• Nếu gói dữ liệu đến mạng đích có số lượng hop lớn hơn 15 thì gói
dữ liệu đó sẽ bị hủy bỏ
• Cùng giữ những thông tin sau về mỗi đích :
- IP address: địa chỉ của máy đích hoặc mạng
- Gateway: Cổng vào ra đầu tiên mà đường dẫn tiến về đích
- Interface: Phần mạng vật lý mà sử dụng để đến cổng ra đầu tiên
của đường dẫn về đích
- Metric : Là số cho biết số hop đến đích
- Timer: Là lượng thời gian kể từ khi bộ định tuyến cập nhật lần
cuối cùng
k Những điểm khác nhau:
Bảng so sánh những điểm khác nhau giữa RIPv1 và RIPv2:
RIP version 1 – RIPv1 RIP version 2 – RIPv2
Định tuyến theo lớp địa chỉ Định tuyến không theo lớp địa chỉ
Không gửi thông tin về mặt nạ mạng
con trong thông tin định tuyến
Có gửi thông tin về mặt nạ mạng con trong thông tin định tuyến
Không hỗ trợ VLSM Do đó tất cả
các mạng trong hệ thống RIPv1 phải
có cùng mặt nạ mạng con
Có hỗ trợ VLSM Do vậy các mạngtrong hệ thống RIPv2 có thể có chiều dài mặt nạ mạng con khác nhau
Không hỗ trợ CIDR Có hỗ trợ CIDR
Không có cơ chế xác minh thông tin
Gửi thông tin định tuyến theo địa
đa hướng 224.0.0.9 nên hiệu quả hơn
Cùng giữ những thông tin giống nhau về đích nhưng RIPv1 không giữ
được thông tin về mặt nạ mạng con còn RIPv2 giữ được thông tin về mặt
nạ mạng con
Trang 16Chương 3 OSPF
3.1 Giới thiệu về OSPF
Open Shortest Path First (OSPF) được phát triển bởi Internet
Engineering Task Force (IETF) như một sự thay thế những hạn chế cũng như nhược điểm của RIP
OSPF là một link state protocol, như tên gọi của mình nó sử dụng thuật
toán Dijkstra'’ Shortest Path First (SPF) để xây dựng routing table và open nóinên tính phổ biến của nó OSPF đã được John Moy đưa ra thông qua một số
RFC, gần đây nhất là RFC 2328
Giống như các link state protocol, OSPF có ưu điểm là hội tụ nhanh, hỗ
trợ được mạng có kích thước lớn và không xảy ra routing loop Bên cạnh đó
OSPF còn có những đặc trưng sau:
- Sử dụng area để giảm yêu cầu về CPU, memory của OSPF routercũng như lưu lượng định tuyến và có thể xây dựng hierarchicalinternetwork topologies
- Là giao thức định tuyến dạng clasless nên hỗ trợ được VLSM vàdiscontigous network
- OSPF sử dụng địa chỉ multicast 224.0.0.5 (all SPF router) 224.0.0.6(DR và BDR router) để gửi các thông điệp Hello và Update
- OSPF còn có khả năng hỗ trợ chứng thực dạng plain text và dạngMD5
- Sử dụng route tagging để theo dõi các external route
- OSPF còn có khả năng hỗ trợ Type of Service
3.2 Hoạt động của OSPF
Các speaking router gửi các Hello packet ra tất cả các
OSPF-enable interface Nếu 2 router sau khi trao đổi Hello packet và thoả thuận một
số thông số chúng sẽ trở thành neighbor
Adjacency có thể được tạo qua virtual point-to-point link hay được tạo qua một vài neighbor OSPF định nghĩa ra một số loại network và một số loại router Sự thiết lập một adjacency được xác định bởi loại router trao đổi Hello
và loại network mà Hello trao đổi qua
Trang 17Mỗi router gửi các link state advertisement (LSA) qua tất cả adjacency.LSA mô tả tất cả các interface của router (link) và trạng thái của link Các
link này có thể là stub network, tới OSPF router khác, tới network trong cùng một area, tới external network Do có rất nhiều loại link state information cho nên OSPF định nghĩa ra đến 11 loại LSA
Mỗi router nhận một LSA từ neighbor với link state database của
neighbor đó và gửi một copy của LSA tới tất cả neighbor khác của nó
Bằng cách flooding các LSA toàn bộ một area, tất cả router sẽ xây dựng
chính xác link state database
Khi database được hoàn tất, mỗi router sử dụng thuật toán SPF để xây
dựng nên SPF tree
Mỗi router sẽ xây dựng nên routing table từ SPF tree
Trang 183.2.1 Neighbor và Adjacency
Trước khi bất kỳ LSA nào được gửi, OSPF router phải khám khám phá
neighbor của chúng và thiết lập adjacency Các neighbor sẽ được ghi lại vào
trong neighbor table, cùng với link (interface) mà trên đó neighbor được định
vị và thông tin cần thiết để duy trì neighbor
A Hello protocol.
Hello protocol có đặc trưng sau: Nó là cách thức mà neighbor được
khám phá và Nó quảng bá một vài thông số mà qua đó 2 router phải đồng ý
trước khi chúng trở thành neighbor
Hello packet hoạt động giông như keepalive giữa các neighbor
Đảm bảo thông tin 2 chiều giữa các neighbor
Bình bầu DR và DBR đối với môi trường multiaccess
speaking router đều đặn gửi Hello packet ra tất cả
OSPF-enable interface Khoảng thời gian này gọi là HelloInterval, mặc định khoảng thời gian này là 10 giây và ta có thể thay đổi nó Nếu router không nhận được Hello từ neighbor sau khi hết thời gian RouterDeadInterval (gấp 4 lần
HellInterval) nó sẽ công bố neighbor bị down
D Network types
OSPF định nghĩa 5 loại network:
- Hello protocol có đặc trưng sau: Nó là cách thức mà neighbor đượckhám phá và Nó quảng bá một vài thông số mà qua đó 2 router phải đồng ýtrước khi chúng trở thành neighbor
Trang 19- Broadcast network: như là Ethernet, Token Ring và FDDI.Broadcast network là multi-access trong đó có khả năng kết nối nhiều hơn 2thiết bị và chúng là broadcast có nghĩa là tất cả các thiết bị có thể nhận đượcgói tin khi chỉ có một gói được truyền một lần OSPF router trên broadcastnetwork sẽ bình bầu DR và BDR sẽ được đề cập trong phần sau.
- NBMA network: như là X.25, Frame Relay và ATM Chúng có khảnăng kết nối nhiều hơn 2 router nhưng không có khả năng broadcast Cónghĩa là một packet được gửi bởi một router sẽ không thể được nhận bởi tất
cả các router khác Các OSPF router trên mạng NBMA có bình bầu DR vàBDR nhưng tất cả OSPF packet đều là unicast
Trang 20- Point-to-multipoint network: nó là một trường hợp đặc biệt trongcấu hình của NBMA network Router trên các mạng này không có quá trìnhbình bầu DR và BDR và các OSPF packet được gửi dưới dạng multicast.
- Virtual link: là trường hợp đặc biệt trong cấu hình OSPF packetđược gửi dưới dạng unicast qua virtual link
E Bình bầu DR và BDR
Quá trình bình bầu DR và BDR được kích hoạt bởi interface state
machine, để quá trình bình bầu được thực hiện thì một số điều kiện sau phải
tồn tại:
- Mỗi interface của router mà nối vào multi-access network có mộtRouter priority, là một số nguyên từ 0 đến 255 Đối với các Cisco routerthông số này có giá trị mặc định là 1 Router với priority là 0 sẽ bị loại khỏiquá trình bình bầu DR và BDR
- Hello packet phải có trường để cho router gửi xác định Routerpriority và IP address của interface của router để bình bầu DR và BDR
- Khi một interface lần đầu trở thành active trên multi-accessnetwork, nó thiết lập trường DR và BDR có giá trị là 0.0.0.0 Và nó cũng thiếtlập wait timer cùng với giá trị Router DeadInterval
- Tồn tại interface trên multi-access network ghi lại address của DR
và BDR trong interface data structure
Quá trình bình đầu DR và BDR diễn ra theo các trình tự sau:
Trang 21- Sau khi 2-Way state được thiết lập với một hay nhiều neighbor,trường Priority, DR và BDR sẽ được xem xét trong Hello của neighbor Danhsách tất cả router đủ tư cách tham gia bình bầu được thiết lập (router cópriority lớn hơn 0 và neighbor của nó ở trạng thái 2-Way state); tất cả routercông bố chúng là DR (interface addresss của chúng được lưu trong trường DRcủa Hello packet); và tất cả các router công bố chúng là BDR (interfaceaddress của chúng được lưu trong trường BDR của Hello packet).
- Từ danh sách những router đủ tư cách, nó sẽ tạo một subset nhữngrouter không đòi hỏi là DR
- Nếu một hoặc nhiều hơn neighbor trong subset này chứa interfaceaddress của nó trong trường BDR, neighbor với highest priority sẽ công bố làBDR Nếu priority bằng nhau thì neighbor với highest router ID sẽ đượcchọn
- Nếu có một hoặc nhiều hơn eligible router có interface address của
nó trong trường DR thì neighbor với highest priority sẽ công bố là DR Nếupriority bằng nhau thì neighbor với highest Router ID sẽ được chọn là DR
- Nếu không có router công bố là DR thì BDR sẽ trở thành DR
- Nếu router thực hiện hiện tính toán là DR hay BDR mới được bầuchọn hay chưa bình bầu được DR, BDR thì thực hiện repeat từ bước 2 đếnbước 6 Chú ý: khi một OSPF router trở thành active và khám phá neighborcủa nó, nó sẽ kiểm tra hiệu lực của DR và BDR
- Nếu DR và BDR tồn tại thì router sẽ chấp nhận nó
- Nếu BDR không tồn tại, quá trình bình bầu BDR sẽ diễn ra vàrouter với highest priority sẽ trở thành BDR Nếu priority bằng nhau thì router
có highest router ID sẽ trở thành BDR
Nếu không có active DR thì BDR tăng cấp làm DR và quá trình bình bầu
BDR mới bắt đầu
F Neighbor States.
- Down: Không có Hello packet được nhận từ neighbor
- Init: Một Hello packet được nhận từ neighbor nhưng local routerkhông nhìn thấy nó trong Hello packet Bi-directional communication chưađược thiết lập
- Attempt: Neighbor phải cấu hình bằng tay cho trạng thái này Nó chỉ
áp dụng chỉ cho NBMA network connection và cho biết rằng không có thônggần đây được nhận từ neighbor