Tên học viên thực hiện:Ứng Thị Lý Nguyễn Thị Hồng Mận Lớp: Cao học hóa lý k17 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH OXY HOÁ TIÊN TIẾN: QUÁ TRÌNH FENTON VÀ OZON HOÁ TRONG TIỀN XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC TỪ BÃI CHÔN
Trang 1Tên học viên thực hiện:
Ứng Thị Lý Nguyễn Thị Hồng Mận Lớp: Cao học hóa lý k17
ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH OXY HOÁ TIÊN TIẾN: QUÁ TRÌNH FENTON
VÀ OZON HOÁ TRONG TIỀN XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC TỪ BÃI CHÔN LẤP
RÁC
Xử lí Fenton (Fe2+/H2O2) và quá trình oxy hóa tiên tiến bằng ozone (AOPs) (O3, O3/
OH- và O3 /H2O2) để phân hủy từng phần, chuyển các chất khó phân hủy sinh học thành chất có khả năng phân hủy sinh học để tiếp tục dùng các quá trình xử lý sinh học tiếp sau Pha loãng hai lần nước thải, ở điều kiện thí nghiệm tối ưu hóa (pHban đầu = 3, tỷ lệ mol H2O2/Fe2+là 3, lượng Fe2+ 4 mmol/l và thời gian phản ứng 40 phút).Quá trình Fenton loại bỏ được khoảng 46% nhu cầu oxy hóa học (COD), tỉ lệ nhu cầu oxy sinh hóa BOD5 và COD (BOD5 / COD) tăng từ 0,01 đến 0,15 Năng suất loại bỏ cao nhất của quá trình phân hủy sinh học bằng ozone tại các giá trị pH cao hơn đạt được khi kết hợp với H2O2 , thành phần này giúp tăng cường sản xuất các gốc hydroxyl Sau 60 phút quá trình ozone cần 5,6 g O3 h-1, pHban đầu= 7, và 400 mg/L hydrogen peroxide, hiệu suất loại bỏ COD là 72% và BOD5/COD tăng từ 0,01 tới 0,24 Ước tính tổng chi phí của quá trình AOPs theo nghiên cứu cho thấy rằng Fe 2+/H2O2 là hệ thống kinh tế nhất (8.2 € m-3 g-1 loại COD) để xử lí nước rỉ rác Tuy nhiên nghiên cứu kinh tế này nên được xem xét cẩn thận vì nó không xem xét đến vốn đầu tư ban đầu, giá cả ở quy mô nhà máy, bảo trì và chi phí lao động
1 Giới thiệu
Trong quá trình xử lý các bãi chôn lấp rác sự hình thành nước rỉ rác là tất yếu
(Wang et al., 2010) Nước thải rỉ rác từ bãi chôn lấp rác thường được đặc trưng bởi
độ cao ion amoni (NH4+), phân hủy sinh học thấp (tỷ lệ BOD/ C5OD thấp) và chứa phần lớn các phân tử hữu cơ khó phân hủy như axit humic và fulvic (de Morais and Zamora, 2005; Deng and Englehardt, 2006) Trong nhiều trường hợp, sau khi xử lí qua nhiều quá trình oxy hóa, Nước thải rỉ rác vẫn còn các hợp chất khó phân hủy và hợp chất chứa nitơ ở nồng độ cao nên quy trình phân hủy sinh học không có hiệu quả cho các loại nước thải này
Trang 2Trong hai thập kỷ qua, AOPs đã được coi là một quy trình có ý nghĩa trong việc loại bỏ màu, giảm tải chất hữu cơ và cải thiện phân hủy sinh học của các chất ô nhiễm khó phân hủy từ hố chôn rác (Deng and Englehardt, 2006; Kochany and Lipczynska-Kochany, 2009; Renou et al., 2008) Các quá trình này liên quan đến việc sản xuất gốc tự do, chủ yếu là các gốc tự do hydroxyl (OH●) Các gốc hydroxyl được sản xuất từ chất oxi hóa đơn giản như ozone (O3), hoặc từ một sự kết hợp của chất oxi hóa mạnh như O3 và (OH●) các ion kim loại màu O3 và hydrogen peroxide (H2O2), hoặc hydroxide Fe 2+ với H2O2 (Renou et al., 2008; Rosenfeldt et al., 2006) Sự kết hợp của Fe 2+ với H2O2 được gọi là quá trình oxy hóa Fenton
Quá trình oxy hóa Fenton đã được nghiên cứu rộng rãi trong xử lý nước thải rỉ rác
từ bãi chôn lấp rác Trong công nghệ oxy hóa tiên tiến ở pH tối ưu, các ion kim loại
phản ứng với hydrogen peroxide để tạo ra các gốc tự do hydroxyl một cách rất đơn giản và mang lại lợi nhuận (Deng và Englehardt, 2006) Ozone (không phân hủy,
pH < 6) là một chất oxi hóa mạnh, có phản ứng mạnh và tính chọn lọc đối với các chất ô nhiễm hữu cơ như các hợp chất thơm (Lucas et al,2010; Lin et al, 2009) Khả năng oxy hóa của gốc hydroxyl (E0 = 2,80 V) cao hơn nhiều so với ozone (E0= 2,07 V), việc sử dụng ozone ở pH cao (O3 / OH●) hoặc trong một sự kết hợp với
H2O2 (O3 / H2O2) tăng việc sản xuất của các gốc hydroxyl và tăng tốc việc loại bỏ các chất hữu cơ khó phân hủy từ nước rỉ rác (Lucas et al, 2010; Tizaoui et al, 2007) Ozon hóa dưới điều kiện có tính kiềm và sự kết hợp của ozone với hydrogen peroxide đã được chứng minh là quá trình oxy hóa tiên tiến hiệu quả để xử lí nước
rỉ rác (Haapea et al., 2002; Tizaoui et al., 2007)
Mặc dù AOPs tỏ ra hiệu quả trong việc xử lí các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, nếu chúng được áp dụng chỉ như quá trình xử lí, chúng sẽ rất tốn kém Một thay thế kinh tế đầy hứa hẹn để hoàn thiện các quá trình oxy hóa của các hợp chất khó phân hủy là việc sử dụng một công nghệ oxy hóa tiên tiến tiền xử lý để chuyển đổi hợp chất khó phân hủy vi sinh ban đầu thành chất dễ phân hủy sinh học trung gian, tiếp theo là quá trình oxy hóa sinh học của các chất đó để tạo sinh khối và nước (Lin và Kiang, 2003)
Nghiên cứu này được tiến hành để kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi quá trình oxy hóa tiên tiến hệ Fenton và hệ ozone, là hai quá trình tiền xử lí nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác, để cải thiện sự phân hủy sinh học tiếp theo Ảnh hưởng của pH ban đầu, nồng độ chất oxy hóa và thời gian, hiệu suất phản ứng mỗi AOP được đánh giá qua COD, tổng carbon hữu cơ (TOC), BOD5, các hợp chất chứa nitơ và chất
Trang 3thơm Một ước tính sơ bộ chi phí hoạt động liên quan đến từng loại tiền xử lý cũng được thực hiện để so sánh tính khả thi về kinh tế của chúng
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Nước rỉ rác trong hố trôn rác
Nước rỉ rác được thu gom từ nhiều hố chôn rác ở phía Bắc của Bồ Đào Nha, hoạt động từ năm 1998 Hệ thống xử lí hiện tại hố chôn rác gồm bể kị khí, một bể thiếu oxi, một bể hiếu khí và một ngăn lắng gạn sinh học, cùng với một bể oxy hóa và hai bể chứa chất kết tủa Tuy nhiên sau khi xử lý, nước thải vẫn không đáp ứng hàm lượng nitơ tối đa cho phép và nồng độ chất hữu cơ xả trực tiếp, theo DL 236/1998 vào ngày 01 tháng 8 (Portuguese Ministry of Environment, 1998) Các đặc tính của nước thải không bị pha loãng được liệt kê trong Bảng 1
Bảng 1
Bảng đặc biểu nước rỉ rác trong hố trôn rác
Giá trị thấp của tỷ lệ BOD5 / COD (0.01) và lượng Nitơ – Amoni cao(N - NH4+), Điều này chỉ ra rằng thành phần nước rỉ rác giàu hợp chất khó phân hủy sinh học Mặt khác, tính chất quan trọng của nước rỉ rác này là lượng nitơ-nitrate cao
(N-NO3-) Một cách tiếp cận kinh tế để xử lí nước thải này có thể đạt được bằng cách kết hợp một quá trình oxy hóa tiên tiến làm giảm các hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học, và sử dụng các sản phẩm này như một nguồn carbon cho việc loại bỏ các hợp chất chứa nitơ trong các quá trình sinh học
Trang 4Tất cả các thí nghiệm được thực hiện với việc pha loãng nước thải hai lần do nồng
độ nitrate cao của nước rỉ rác ban đầu Xử lí Fenton hoặc oxy hóa tiên tiến bằng ozon (O3, O3/OH- và O3 /H2O2) được áp dụng vào bước tiền xử lí, để cải thiện sự phân hủy sinh học nước thải cho quá trình xử lý sinh học tiếp theo
2.2 Cách tiến hành xử lí Fenton
Thí nghiệm oxy hóa Fenton được thực hiện ở nhiệt độ phòng (22± 1 oC) và áp suất khí quyển Độ pH của nước rỉ rác đã được điều chỉnh bằng cách sử dụng H2SO4 95-97% Nồng độ Fe2+ cần thiết được định trước bằng FeSO4.7H2O Một lượng dung dịch H2O2 35% được thêm vào trong một lần Sau khi cố định thời gian quá trình oxy hóa khoảng (120 phút), dung dịch hydroxide được thêm vào để tăng độ pH trên
7 trong 10 phút Tắt khuấy và bùn được kết tủa trong khoảng một giờ.Cuối cùng kết tủa được li tâm 10 phút tại 10.000 rpm và các mẫu được phân tích Các thí nghiệm được tiến hành hai lần và kết quả được tính trung bình
2.3 Cách tiến hành ozon hóa
Thí nghiệm ozon hóa được thực hiện trong một cột acrylic cao 69,5 cm và đường kính 8,2 cm Ozone được tạo thành từ oxy tinh khiết, sử dụng một máy sinh ozone (AnserosCom-AD-02) Hỗn hợp ozone và oxy là liên tục được đưa vào các cột thông qua một bộ khuếch tán gốm đặt ở đáy thùng và 1 L nước thải đã được pha loãng hai lần được xử lý trong 60 phút.Nồng độ đầu vào và đầu ra của ozone trong pha khí đo tại λ = 254 nm bằng cách sử dụng một máy phân tích ozone (Anseros OzomatGM-6000-OEM) trong suốt thí nghiệm Tốc độ dòng khí là 50 L/h và ozone đầu vào nồng độ khoảng 0,112 g O3 L-1 Mẫu nước sau khi xử lí được lấy thường xuyên và phân tích
Thí nghiệm ozon hóa được thực hiện tại các giá trị pH được điều chỉnh từ 7,9 đến
11 Giá trị pH được điều chỉnh natrihydroxide (NaOH).Quá trình oxy hóa tiên tiến kết hợp hydrogen peroxide và ozone cũng đã được nghiên cứu.Trong những thí nghiệm trên, nước rỉ rác có pH đã được điều chỉnh đến 7 ((Staehelin and Hoigné, 1982), trước khi ozone được cho vào cột, H2O2 ở nồng độ 100, 200 hoặc 400 mg/L
sẽ được cho vào trước Các mẫu thu được từ các thí nghiệm đã được xử lí bằng NaOH để trung hòa lượng H2O2 dư
Tất cả các thí nghiệm đã được thực hiện ở nhiệt độ phòng và kết quả được tính trung bình
Trang 52.4 Phương pháp phân tích
Các thông số đặc trưng nước rỉ rác trước và sau thí nghiệm là COD, BOD5, nồng độ nitơ-nitrite (N-NO2-), và nitơ - amoni (N-NH4+) được xác định theo phương pháp đường chuẩn (APHA et al., 1989) Điều quan trọng cần lưu ý là trong khi phân tích, vì môi trường có tính axit có ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật,
do đó đo BOD5 được thực hiện sau khi trung hòa axit của mẫu, theo khuyến cáo trong phương pháp chuẩn (APHA et al.,1989)
Nồng độ nitrate (NO3-) được đo bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), sử dụng một cột Varian Metacarb (loại 67H, 9 mm, dài 300 mm, đường kính trong 6.5 mm)
và một pha động axit sulfuric (H2SO4) 0.005 M tại 0.7 mL/phút Nhiệt độ đặt ở
60oC và nitrat được phát hiện bằng UV ở 210 nm Tia cực tím hấp thụ ở 254 nm (UV254) thu được bằng máy đo quang Jasco V-560 sử dụng một tế bào 1 cm Phân tích TOC được thực hiện bằng cách sử dụng hệ thống phân tích
DOHRMANNDC-190 TOC
3 Kết quả và thảo luận
Nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác được xử lý các hợp chất khó phân hủy và tăng khẳ
năng phân hủy sinh học của nó bằng cách sử dụng các hệ thống oxy hóa tiên tiến:
Xử lí Fenton, ozone, ozone ở pH kiềm và ozone kết hợp với H2O2 Hiệu suất của những phương pháp được lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm sự hiện diện của các chất vô cơ và hữu cơ trong nước thải, pH, thời gian phản ứng và nồng
độ oxy hóa Các nghiên cứu đã tiến hành xác định các điều kiện tối ưu của mỗi quá trình và ảnh hưởng của nó đến phân hủy sinh học Loại bỏ cacbon và các hợp chất chứa nitơ, hấp thụ tia cực tím tại 254 nm Các kết quả thu được rất hữu ích để chọn điều kiện tối ưu nhất Quá trình oxy hóa tiên tiến và điều kiện tối ưu để được áp dụng để tiền xử lí nước rỉ rác trước khi tiến hành xử lý sinh học Những dữ liệu cũng có thể dẫn đến một sự hiểu biết tốt hơn về chất oxy Fenton và ozon, cũng như vai trò của pH, ion sắt và nồng độ hydrogen peroxide và thời gian quá trình xử lí nước thải khó phân hủy
3.1 Xử lí Fenton
Quá trình Fenton tỏ ra hiệu quả trong việc xử lí các chất ô nhiễm bởi trong môi trường axit do sản sinh lượng lớn gốc tự hydroxyl gọi là ●OH (de Morais and Zamora, 2005; Kochany and Lipczynska-Kochany, 2009) Giá trị pH tối ưu trong
Trang 6quá trình Fenton để xử lý nước rỉ rác trong hố chôn rác thường nằm trong khoảng
từ 2 đến 4.5 (Deng và Englehardt, 2006) Điều này được chứng minh trong Bảng 2
Bảng 2
Phù hợp với báo cáo (Deng, 2007; Lopez et al., 2004), pH <3 hiệu suất loại bỏ COD và TOC cao nhất Tại pH thấp nhỏ hơn 3, hiệu quả loại bỏ COD giảm, chủ yếu do tốc độ phản ứng thấp của [Fe (H2O)]2+ và H2O2(Szpyrkowicz et al., 2001),
●OH bị mất bởi H+ (Gallard et al., 1998) và / hoặc sự ức chế phản ứng giữa Fe3+ và
H2O2 do nồng độ cao của H+ (Tang and Huang,1996) Ngược lại, hiệu quả loại bỏ COD giảm khi pH vượt quá 5, do tăng sự tự phân hủy của H2O2, khử hoạt tính của các ion sắt vào oxyhydroxides sắt, tác dụng làm sạch tăng của carbonate và bicarbonate trên●OH,và / hoặc khả năng oxi hóa giảm của●OH
Như có thể thấy trong Bảng 2, ảnh hưởng của pH đến sự khoáng hóa (TOC) là tương tự hiệu quả loại bỏ COD, mặc dù hơi thấp ở những điều kiện đó hiện tượng quan sát trong suốt nghiên cứu Fenton và có thể liên quan với sự tích tụ của axit cacboxylic như là các sản phẩm cuối (Cañizareset al., 2009) Do đó, dữ liệu tiếp theo liên quan đến TOC trong xử lí Fenton sẽ không trình bày
Độ hấp thụ ở 254 nm (UV254) có thể đại diện cho mức độ các chất thơm và các hợp chất không no có trong nước thải (Sevimli, 2005) Do đó, sự sụt giảm trong hấp thụ
UV có thể phản ánh sự giảm các hợp chất khó phân hủy và tăng tỷ lệ BOD5/COD
Từ Bảng 2 có thể quan sát thấy sự hấp thụ tia cực tím để xử lí cũng ở pH=3 Việc
Trang 7loại bỏ COD thấp so với loại bỏ UV254 có thể được giải thích bởi sự oxy hóa không hoàn hợp chất hữu cơ
Ảnh hưởng của pH ban đầu và UV254 đến hiệu quả loại bỏ COD, TOC nồng độ
N-NO2-, N-NO3- và N-NH4+ Fenton xử lý nước rỉ rác (điều kiện: thời gian phản ứng =
120 phút; H2O2/ Fe2+= 3; Fe2+= 4 mmol/L, có nghĩa là ban đầu COD = 340 mg/L)
Hình 1: Ảnh hưởng của pH ban đầu đến hiệu quả COD (), BOD5 (),tỉ lệ BOD5/ COD sau thời gian phản ứng = 120 phút xử lí Fenton H2O2/ Fe2+= 3; Fe2+= 4 mmol/L, có nghĩa là ban đầu COD = 340 mg/L)
Như đã đề cập trước đây, nước rỉ rác thường chứa nồng độ cao các chất ô nhiễm nitơ Trong thí nghiệm của chúng tôi N-NO2-, N-NO3- và N-NH4+ thực tế không thay đổi sau quá trình Fenton đối với các giá trị pH khác nhau thí nghiệm (Bảng 2) Điều này phù hợp với các kết quả của Wang et al (2001) Các nghiên cứu khác đã báo cáo rằng với nồng độ H2O2 cao trong quá trình Fenton sự loại bỏ ion ammoni
do tạo thành sản phẩm chính là khí N2 và nitrate (Goi and Trapido, 2002) Do đó,
dữ liệu liên quan đến hợp chất chứa nitơ trong điều trị Fenton sẽ không được trình bày ở đây Để đánh giá hiệu quả của pH khác nhau đối với nước rỉ rác phân hủy sinh học, đo BOD5 được thực hiện sau 120 phút xử lí Fenton Các kết quả của COD, BOD5 và BOD5 / COD như một hàm của pH mô tả trong hình 1 Có thể thấy rằng xử lí Fenton đã dẫn đến sự tăng nồng độ BOD5 theo tất cả các giá trị pH thử nghiệm Sự cải thiện BOD5 chứng tỏ sự hiện diện của sản phẩm sau khi oxy hóa có
Trang 8trọng lượng phân tử nhỏ và do đó dễ dàng bị vi sinh phân hủy hơn hoặc sự giảm bớt độc tính của một số hợp chất hữu do sự phân hủy của chúng BOD5 tăng từ 5 đến 28mg/L-1 tại pH = 3 Sự tăng BOD5 và giảm COD dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ BOD5/COD Sự cải tiến phân hủy sinh học cũng xác nhận sự xuất hiện quá trình oxy hóa một phần
Dựa trên các kết quả, hơn nữa thí nghiệm được biểu diễn tại pH = 3
Trong xử lí Fenton, H2O2 cũng như Fe2+ phải được dùng ở nồng độ cao, để đảm bảo rằng lượng tối đa ●OH cho quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ (Tang và Huang, 1996) Do đó tỉ lệ mol (H2O2 / Fe2+) là tham số quan trọng để kiểm soát nồng độ của chúng Tác dụng của H2O2 / Fe2+ đối với hiệu quả loại bỏ COD vàUV254 được kiểm tra dưới các tỉ lệ của 1, 2 và 4 mmol/ L Các kết quả được trình bày ở bảng 3
Bảng 3
Ảnh hưởng của nồng độ H2O2 / Fe2+ và Fe2+ đến hiệu quả loại bỏ COD và UV254
trong xử lý nước rỉ rác bằng phản ứng Fenton (điều kiện: pH ban đầu bằng 3, thời gian phản ứng 120 phút; có nghĩa là ban đầu COD = 340 mg L-1)
Đối với ba nồng độ của sắt II thử nghiệm Hiệu quả quá trình oxy hóa tối đa xảy ra tại H2O2 / Fe2+ = 3 tỷ lệ cao hơn không cho thấy sự cải thiện hiệu quả loại bỏ Kết quả này có thể là do sự giảm mạnh số lượng các gốc hydroxyl khi tỷ lệ H2O2 / Fe2+
tăng Một lời giải thích khác có thể là do sự hình thành của các gốc tự hydroperoxyl (HO2●), nó phản ứng kém khi tấn công các hợp chất khó phân hủy trong pha lỏng (Kurniawan và Lo, 2009) Tại một tỷ lệ H2O2 / Fe2+ < 3, hiệu quả quá trình oxy hóa giảm, có lẽ vì không có đủ hydrogen peroxide để hình thành các gốc tự do hydroxyl Có rất nhiều hợp chất trong nước thải làm mất đi gốc này, nên quá trình oxy hóa xảy ra một cách chậm chạp
Deng (2007) cũng cho thấy tỉ lệ mol H2O2 / Fe2+= 3 sử dụng trong xử lí Fenton để
xử lí nước rỉ rác trong các hố chôn rác như một tiền xử lý
Trang 9Sự gia tăng lượng ion sắt làm tăng hiệu quả loại bỏ COD và UV254 (Bảng 3) Điều này chỉ ra rằng nước rỉ rác không chứa đủ lượng ion kim loại để duy trì phản ứng xảy ra với một tốc độ đáng kể Hiệu quả xử lý của Fe2+trên các gốc hydroxyl không được quan sát
Ảnh hưởng của nồng độ Fe2+ đối với nước rỉ rác phân hủy sinh học cũng đã được nghiên cứu dưới một tỉ lệ nồng độ cố định H2O2 / Fe2+ = 3 Tuy nhiên, hình 2 cho thấy rằng xử lý Fenton dẫn đến sự tăng giá trị BOD5 đối với tất cả nồng độ Fe2+ Sự phân hủy sinh học tối đa xảy ra tại Fe2+ = 4 mmol L-1
Hình 2 Ảnh hưởng của nồng độ Fe2+ đối với COD ( ), BOD5 ( ) và tỷ lệ BOD5 / COD ( ) sau 120 phút xử lý Fenton ở H2O2 / Fe2+ = 3, pH = 3 và nghĩa là ban đầu COD = 340 mg L-1
Việc kiểm tra được thực hiện ở pH ban đầu bằng 3, H2O2 / Fe2+ = 3 và Fe2+ = 4 mmol L-1, để xem xét liệu thời gian phản ứng nhỏ hơn 120 phút (tức là thời gian cố định trong suốt quá trình) có làm giảm mức độ quá trình oxy hóa nước rỉ rác Bảng
4 cho thấy rằng các hợp chất hữu cơ nhanh chóng bị loại bỏ khi xử lý Fenton Sự loại bỏ hợp chất hữu cơ nhiều nhất xảy ra trong 40 phút đầu tiên, sau đó là không đáng kể Do đó, trong 40 phút của phản ứng Fenton xử lý bãi rác này sẽ là đủ để có được kết quả tương tự như kết quả thu được khi xử lý trong 2 h
Bảng 4
Ảnh hưởng của thời gian phản ứng về COD và hiệu quả loại bỏ UV254trong xử lý Fenton nước rỉ rác (điều kiện: pH ban đầu 3; H2O2 / Fe2+ là 3, Fe2+ = 4 mmol L
-1trung bìnhban đầu COD = 340 mmol L-1)
Trang 10Kết quả BOD5 và COD còn lại chỉ ra rằng tỷ lệ BOD5 / COD tăng từ 0,01 đến 0,15 đối với nước thải pha loãng 2 lần sau 40 phút xử lý Fenton, và phản ứng nếu cứ tiếp tục thì cũng không cải thiện sự phân hủy sinh học (Hình 3)
Hình 3 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đối với COD ( ), BOD5 ( ) và tỉ lệ BOD5 / COD ( ) sau khi xử lý Fenton ở H2O2 / Fe2+= 3, pH ban đầu 3, Fe2+ = 4 mmol L-1, COD = 340 mg L-1
Các điều kiện tối ưu cho quá trình Fenton đã nghiên cứu là như sau: pH ban đầu bằng 3, tỉ lệ mol H2O2 / Fe2+ là 3, Fe2+ = 4 mmol L-1 và thời gian phản ứng là 40 min Đối với nước rỉ rác được pha loãng hai lần, dưới những điều kiện này, hiệu quả khử COD là 46%, loại bỏ UV254 là 62% và tỷ lệ BOD5 / COD tăng 0,01-0,15
3.2 Ozon hóa
Để chứng minh ảnh hưởng của pH đến quá trình ozon hóa, nước rỉ rác đã được ozon hóa ở pH 5.5, 7, 9 và 11 trong 60 phút
Bảng 5 trình bày tổng COD, TOC và sự loại bỏ UV254, cũng như sự thay đổi
N-NO2-, N-NO3- và N-NH4+ tại bốn giá trị pH khác nhau
Bảng 5