Theo khuyến cáo của ACC/AHA2008 và Hội tim mạch học Việt Nam 2010, các bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn nên được theo dõi hằng năm với khám lâm sàng, điện tim,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
ĐOÀN CHÍ THẮNG
NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN NHỊP TIM BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN TIM KHÔNG XÂM NHẬP Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN TỨ CHỨNG FALLOT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HUẾ - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
ĐOÀN CHÍ THẮNG
NGHIÊN CỨU RỐI LOẠN NHỊP TIM
BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐIỆN TIM KHÔNG XÂM NHẬP Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN TỨ CHỨNG
Trang 3Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Ý nghĩa khoa học 2
3 Ý nghĩa thực tiễn 3
4 Mục tiêu của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan tứ chứng Fallot 4
1.2 Điều trị tứ chứng Fallot 5
1.3 Sinh lý bệnh ở bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa tứ chứng Fallot 8
1.4 Diễn tiến bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot 12
1.5 Rối loạn nhịp tim sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn 12
1.6 Các phương pháp điện tim không xâm nhập 16
1.7 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 33
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 39
Trang 4Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 62 3.2 Rối loạn nhịp tim và các phương pháp điện tim, điện thế muộn, trắc nghiệm gắng sức, biến thiên nhịp tim/ Holter điện tim 24 giờ 68 3.3 Giá trị dự báo rối loạn nhịp tim của các phương pháp điện tim không xâm nhập 85
Chương 4 BÀN LUẬN 92
4.1 Một số đặc điểm của bệnh nhân tứ chứng Fallot 92 4.2 Rối loạn nhịp tim và thông số các phương pháp điện tim, trắc nghiệm gắng sức, biến thiên nhịp tim/ Holter điện tim 24 giờ 98 4.3 Giá trị dự báo rối loạn nhịp tim của các phương pháp điện tim không xâm nhập 115
KẾT LUẬN 122 KIẾN NGHỊ 124 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5ACC: (American College of Cardiology): Trường môn tim mạch Hoa Kỳ AHA (American Heart Association): Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ
BMI (Body Mass Index): chỉ số khối cơ thể
BSA (Body surface area): Diện tích da bề mặt cơ thể
BTNT: Biến thiên nhịp tim
ĐTM: Điện thế muộn
EDVRV (End diastolic volume of the right ventricular): Thể tích thất phải cuối tâm trương
ESC (European Society of Cardiology): Hiệp hội tim mạch Châu Âu
HF (High frequency): Tần số cao
HFQRSd (The QRS duration based on the filtered high frequency signal): Thời gian phức bộ QRS tần số cao được lọc (tính bằng ms)
LAHFd (Low amplitude portion at the end of QRS cycle): Thời gian của phần cuối QRS tần số cao mà biên độ < 40µV (tính bằng ms)
L hở phổi: chiều dài dòng hở phổi
LF (Low frequency): tần số thấp
NTTN: Ngoại tâm thu nhĩ
NTTT: Ngoại tâm thu thất
PT NP: Phẫu thuật đường nhĩ phải
PT TP-ĐMP: Phẫu thuật đường thất phải – động mạch phổi
RLNT: Rối loạn nhịp tim
RLNThất: Rối loạn nhịp thất
RMS (40ms) (Root mean square voltage of the last 40msec of the QRS complex): Giá trị trung bình của 40ms sau cùng của phức bộ QRS (µV)
Trang 6between adjacent NN intervals): Căn bậc hai của trung bình tổng bình phương các khác biệt giữa các khoảng NN
SAECG (Signal-averaged electrocardiography): Điện tim trung bình dấu hiệu SDANN (Standard deviation of the average of NN intervals): Độ lệch chuẩn của trung bình các thời khoảng NN mỗi 5 phút trong toàn bộ Holter điện tim 24 giờ SDNN (Standard deviation of all NN intervals): độ lệch chuẩn của tất cả các khoảng NN giữa các phức hợp QRS bình thường trong toàn bộ Holter điện tim 24 giờ
TAPSE (tricuspid annular plane systolic excursion): Chức năng tâm thu vùng vận động vòng van ba lá trên M mode
Tei2m: chức năng thất trái tính bằng phương pháp Tei mô
Tei3m: chức năng thất phải tính bằng phương pháp Tei mô
TNGS: Trắc nghiệm gắng sức
Trang 7Bảng 1.1 Đặc điểm khác nhau giữa điện tim tiêu chuẩn và điện tim có độ
phân giải cao 21
Bảng 1.2 Các thông số biến thiên nhịp tim phổ thời gian 25
Bảng 2.1.Các thông số được cài đặt cho máy điện tim có độ phân giải cao tại BVTW Huế 43
Bảng 2.2 Các thông số điện thế muộn 45
Bảng 2.3 Quy ước các vị trí chuyển đạo Holter theo AHA 47
Bảng 2.4 Phân độ ngoại tâm thu thất theo Lown 48
Bảng 2.5 Giá trị bất thường các chỉ số biến thiên nhịp tim theo phổ tần số và phân tích theo thời gian 50
Bảng 2.6 Kết quả chẩn đoán 60
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 62
Bảng 3.2: Tỷ lệ theo phương pháp phẫu thuật 62
Bảng 3.3: Đặc điểm các triệu chứng lâm sàng 63
Bảng 3.4: Mức độ hở van ba lá 64
Bảng 3.5: Mức độ hở van động mạch phổi 64
Bảng 3.6: Kết quả các thông số hình thái thất phải 65
Bảng 3.7: So sánh chức năng thất phải theo phương pháp phẫu thuật, thời gian sau phẫu thuật 65
Bảng 3.8: Tỷ lệ suy chức năng thất phải theo chỉ số Tei doppler mô 66
Bảng 3.9: Tương quan giữa chức năng thất phải, thất trái và L hở phổi 66
Bảng 3.10: Tỷ lệ rối loạn nhịp tim 68
Bảng 3.11: Tỷ lệ rối loạn nhịp tim theo phương pháp phẫu thuật 69
Bảng 3.12: Rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân có thời gian phẫu thuật trước và sau 3 năm 69
Bảng 3.13: Phân loại rối loạn nhịp tim 70
Trang 8Bảng 3.15: Tỷ lệ suy chức năng thất phải ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim 71
Bảng 3.16: So sánh chức năng tâm thu thất phải bằng chỉ số Tei mô nhóm có rối loạn nhịp tim 71
Bảng 3.17: So sánh chức năng tâm thu thất phải bằng chỉ số Tei mô nhóm có rối loạn nhịp thất 72
Bảng 3.18: Đặc điểm điện tim bề mặt 73
Bảng 3.19: Giá trị trung bình thời gian phức bộ QRS theo phương pháp phẫu thuật, thời gian phẫu thuật 74
Bảng 3.20 : Giá trị trung bình thời gian phức bộ QRS ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim, rối loạn nhịp thất 75
Bảng 3.21: Tỷ lệ điện thế muộn dương tính 75
Bảng 3.22: Các thông số điện thế muộn 76
Bảng 3.23: Các thông số điện thế muộn ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim, rối loạn nhịp thất 76
Bảng 3.24: Rối loạn nhịp tim trong trắc nghiệm gắng sức 77
Bảng 3.25: Giá trị trung bình công gắng sức tối đa 77
Bảng 3.26: Giá trị trung bình thời gian gắng sức 78
Bảng 3.27: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ thời gian theo phương pháp phẫu thuật 79
Bảng 3.28: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ thời gian theo thời gian phẫu thuật 79
Bảng 3.29: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ tần số theo phương pháp phẫu thuật 80
Bảng 3.30: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ tần số theo thời gian phẫu thuật 80
Bảng 3.31: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ thời gian ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim 81
Trang 9Bảng 3.33: Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ tần số ở bệnh nhân
có rối loạn nhịp tim 82
Bảng 3.34 : Giá trị trung bình các thông số BTNT phổ tần số ở bệnh nhân có rối loạn nhịp thất 82
Bảng 3.35: Mối tương quan giữa phức bộ QRS với EDVRV, L phổi, Tei3m 83
Bảng 3.36: Tương quan giữa công gắng sức tối đa, thời gian gắng sức với chức năng thất phải (Tei3m) 84
Bảng 3.37: Tương quan thông số điện thế muộn với thể tích thất phải cuối tâm trương (EDVRV),chức năng thất phải(Tei3m), chiều dài dòng hở phổi (L hở phổi) 84
Bảng 3.38: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp tim dựa vào điện thế muộn 86
Bảng 3.39: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp thất dựa vào điện thế muộn 86
Bảng 3.40: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp tim của trắc nghiệm gắng sức 88
Bảng 3.41: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp thất của trắc nghiệm gắng sức 88
Bảng 3.42: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp tim của biến thiên nhịp tim 88
Bảng 3.43: Dự báo về nguy cơ rối loạn nhịp thất của biến thiên nhịp tim 89
Bảng 3.44: Dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim dựa vào điện thế muộn và biến thiên nhịp tim/ điện tim 24 giờ 89
Bảng 3.45: Dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim dựa vào điện thế muộn và trắc nghiệm gắng sức 90
Bảng 3.46: Dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim dựa vào trắc nghiệm gắng sức và biến thiên nhịp tim / Holter điện tim 24 giờ 90
Bảng 3.47: Dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim dựa vào biến thiên nhịp tim / Holter điện tim 24 giờ, điện thế muộn, trắc nghiệm gắng sức 91
Trang 10Trang
Biểu đồ 3.1: Phân độ suy tim theo NYHA 63
Biểu đồ 3.2: Tương quan giữa chức năng thất phải và thất trái 67
Biểu đồ 3.3: Tương quan giữa chiều dài dòng hở phổi và chức năng thất phải 67
Biểu đồ 3.4: Phân loại rối loạn nhịp thất theo Lown 68
Biểu đồ 3.5: So sánh chức năng thất phải ở nhóm rối loạn nhịp tim 72
Biểu đồ 3.6: So sánh chức năng thất phải ở nhóm rối loạn nhịp thất 73
Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ bloc nhánh phải 74
Biểu đồ 3.8: Tỷ lệ bệnh nhân giảm biến thiên nhịp tim 83
Biểu đồ 3.9: Tương quan giữa thời gian QRS và chiều dài dòng hở phổi 83
Biểu đồ 3.10:Tương quan giữa thời gian QRS và thể tích thất phải cuối tâm trương 84
Biểu đồ 3.11: Đường cong ROC của thời gian phức bộ QRS trong tiên lượng rối loạn nhịp tim 85
Biểu đồ 3.12: Đường cong ROC của thời gian phức bộ QRS trong tiên lượng rối loạn nhịp thất 85
Biểu đồ 3.13: Đường cong ROC các thông số điện thế muộn trong tiên lượng rối loạn nhịp thất 87
Trang 11Trang
Hình 1.1 Đặc điểm giải phẫu của tứ chứng Fallot 4
Hình 1.2 Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot 6
Hình 1.3 Thời gian QRS dự đoán nhịp nhanh thất và đột tử do tim 16
Hình 1.4 Cấu hình của máy điện tim có độ phân giải cao 20
Hình 1.5 Các phác đồ trắc nghiệm gắng sức trên thảm lăn 32
Hình 1.6 Phác đồ xe đạp lực kế 32
Hình 2.1: Máy điện tim 6 cần PageWriter Trim III tại BVTW Huế 41
Hình 2.2 Vị trí gắn các điện cực đo điện thế muộn 44
Hình 2.3 Hình ảnh máy điện tim độ phân giải cao tại BVTW Huế 45
Hình 2.4 Hệ thống Holter điện tim tại BVTW Huế 46
Hình 2.5 Sơ đồ vị trí gắn các điện cực của Holter trên thành ngực 46
Hình 2.6 Trắc nghiệm gắng sức xe đạp lực kế tại BVTW Huế 51
Hình 2.7 Cách mắc các chuyển đạo trong TNGS 53
Hình 2.8 Protocol trong thực hiện NPGS 53
Hình 2.9 Hình ảnh máy siêu âm tim tại BVTW Huế 55
Hình 2.10 Cách đo chỉ số Tei bằng Doppler mô 56
Hình 2.11 Cách đo chỉ số TAPSE 57
Hình 2.12 Hình ảnh Doppler mô vòng van bên của van ba lá 57
Sơ đồ 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hở van động mạch phổi sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot 9
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết
Tứ chứng Fallot là một trong những bệnh tim bẩm sinh có tím phổ biến, chiếm tỷ lệ 1/3500 trẻ em mới sinh, 7-10% các bệnh lý tim bẩm sinh [118] Tứ chứng Fallot đã được phẫu thuật triệt để lần đầu tiên từ năm 1954 bởi Lillehei [19] Mặc dù phẫu thuật sửa chữa tứ chứng Fallot ngày càng hoàn thiện với tỷ
lệ sống còn trong 20 năm là trên 90% [36], nhưng với những tồn tại về bất thường huyết động và điện học đã làm gia tăng tỷ lệ tử vong bắt đầu sau 30 năm [115] Theo một phân tích tỷ lệ sống còn cho thấy những bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật có tỷ lệ tử vong muộn tăng 25 năm sau phẫu thuật
từ 0,24% /năm lên 0,94% /năm Theo khuyến cáo của ACC/AHA(2008) và Hội tim mạch học Việt Nam (2010), các bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn nên được theo dõi hằng năm với khám lâm sàng, điện tim, đánh giá chức năng thất phải, trắc nghiệm gắng sức và Holter điện tim định kỳ [2], [3], [123] Trong nghiên cứu của tác giả Khairy và cộng sự (2010), tỷ lệ rối loạn nhịp thất chiếm tỷ lệ 14,6% và tỷ lệ cần đặt máy phá rung (ICD) là 10,4% đối với bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn [71] Chính vì vậy, chúng ta cần phải phát hiện và dự báo các bệnh nhân có nguy cơ cao rối loạn nhịp tim, rối loạn nhịp thất để có biện pháp điều trị thích hợp Theo nghiên cứu của tác giả Villafañe J và cộng sự (2013), cho thấy tỷ lệ rối loạn nhịp thất nguy hiểm chiếm tỷ lệ 10% và tỷ lệ đột tử chiếm tỷ lệ khoảng 0,2% ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn và nguyên nhân chính gây đột tử chính là cơn nhịp nhanh thất bền
bĩ [118]
Điện tim tiêu chuẩn cũng cung cấp các chỉ số hữu ích trong phân tầng nguy cơ tim mạch trong đó những thay đổi thời gian phức bộ QRS ở 12 chuyển đạo cũng biểu hiện sự khác biệt sự truyền dẫn khác nhau giữa thất
Trang 13phải và thất trái [51] Điện tim trung bình tín hiệu là một phương pháp giúp ích để xác định bệnh nhân có cơn nhịp nhanh thất không bền bĩ và hữu ích trong việc dự đoán loạn nhịp thất nghiêm trọng hơn và đột tử [51] Ngoài ra, các chỉ số biến thiên nhịp tim (BTNT) được đánh giá bằng Holter điện tim 24 giờ sẽ phản ánh hoạt động của thần kinh tự động tim và là những thông số dự báo đối với các rối loạn nhịp thất nguy hiểm Thêm vào đó, trắc nghiệm gắng sức không chỉ đóng vai trò trong đánh giá tình trạng lâm sàng tổng thể mà còn giúp phát hiện rối loạn nhịp tim trong quá trình gắng sức [118]
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu sử dụng điện tim, trắc nghiệm gắng sức, điện thế muộn, biến thiên nhịp tim/Holter điện tim 24 giờ để theo dõi rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật, ở Việt Nam
có một vài công trình nghiên cứu rối loạn nhịp tim trên bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn nhưng chưa có nghiên cứu nào kết hợp các phương pháp trên để đánh giá rối loạn nhịp tim Do đó, chúng tôi áp dụng điện tim, trắc nghiệm gắng sức, điện thế muộn, biến thiên nhịp tim/ Holter điện tim 24 giờ để theo dõi bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật nhằm dự báo rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tứ chứng Fallot góp phần nâng cao thời gian sống cho bệnh nhân
2 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu này sẽ giúp xác định các rối loạn nhịp tim chủ yếu rối loạn nhịp thất nguy hiểm đe dọa tử vong ở bệnh nhân tứ chứng Fallot đã phẫu
thuật sửa chữa hoàn toàn
- Trong đánh giá và dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tứ
chứng Fallot đã phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn, chưa có một phương pháp nào thật sự hoàn thiện khi sử dụng đơn độc Xu hướng y học hiện nay là kết hợp hai hoặc nhiều phương pháp để vừa phát huy mặt mạnh của mỗi phương pháp vừa khắc phục nhược điểm của mỗi phương pháp Do đó phối hợp điện tim, trắc nghiệm gắng sức, điện thế muộn, biến thiên nhịp tim/Holter điện tim 24
Trang 14giờ nhằm phát hiện và dự báo rối loạn nhịp tim nguy hiểm ở bệnh nhân tứ chứng Fallot đã phẫu thuật là một giải pháp tốt trong dự báo rối loạn nhịp tim
đặc biệt là rối loạn nhịp thất nguy hiểm
3 Ý nghĩa thực tiễn
Trong điều kiện nước ta hiện nay, kết hợp giữa các phương pháp điện tim không xâm nhập như điện tim bề mặt, điện thế muộn, biến thiên nhịp tim/Holter điện tim 24 giờ, trắc nghiệm gắng sức có thể thực hiện được ở các
cơ sở y tế để dự báo rối loạn nhịp tim đặc biệt là các rối loạn nhịp thất nguy hiểm, từ đó có biện pháp dự phòng và điều trị thích hợp nhằm kéo dài thời gian sống của bệnh nhân sau phẫu thuật hoàn toàn tứ chứng Fallot
4 Mục tiêu của đề tài
Với mong muốn tìm hiểu thêm giá trị của các phương pháp điện tim không xâm nhập trong việc đánh giá, theo dõi và dự báo nguy cơ rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân sau phẫu thuật hoàn toàn tứ chứng Fallot, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này với các mục tiêu sau:
1) Đánh giá các rối loạn nhịp tim và những thay đổi thông số điện tim, điện
thế muộn, nghiệm pháp gắng sức, biến thiên nhịp tim/ Holter điện tim 24 giờ ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn
2) Xác định giá trị các phương pháp điện tim không xâm nhập trong dự báo
rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN TỨ CHỨNG FALLOT
Hình 1.1 Đặc điểm giải phẫu của tứ chứng Fallot [15]
Tứ chứng Fallot được mô tả vào năm 1888 bởi Etienne - Louis A.Fallot (1850- 1911), là một phức hợp bệnh lý tim bẩm sinh bao gồm 4 bất thường về tim mạch [2], [19], [109]:
Trang 161.2 ĐIỀU TRỊ TỨ CHỨNG FALLOT
1.2.1 Nội khoa
Điều trị nội khoa tùy thuộc vào biểu hiện lâm sàng Điều trị nội khoa chỉ
là tạm thời, lựa chọn thời điểm thích hợp để phẫu thuật [19] Điều trị nội khoa bao gồm điều trị cơn thiếu oxy cấp, điều trị dự phòng các biến chứng Cần phải lưu ý rằng các thuốc digitalis và lợi tiểu là chống chỉ định vì có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân tứ chứng Fallot chưa được phẫu thuật Nhóm thuốc digitalis có xu hướng làm tăng các cơn thiếu oxy cấp, lợi tiểu làm tăng mức
độ quánh của máu [18]
1.2.2 Ngoại khoa
1.2.2.1 Điều trị phẫu thuật tạm thời
Là tạo ra đường thông thương giữa động mạch chủ hay các nhánh của quai chủ với động mạch phổi để chuyển một phần dòng máu thiếu dưỡng khí
từ động mạch chủ sang động mạch phổi Phương pháp này do Blalock tìm ra theo sáng kiến của bác sĩ nhi khoa Taussig đó là nối tận - bên động mạch dưới đòn trái với động mạch phổi trái, phẫu thuật này đã mang lại kết quả rất tốt, từ
đó xuất hiện thuật ngữ phẫu thuật Blalock - Taussig [18], [48]
Hiện nay để khắc phục nhược điểm của phẫu thuật Blalock-Taussig có thể gây thiếu máu tay cùng bên, người ta cải tiến thay vì dùng trực tiếp động mạch dưới đòn thì người ta dùng một ống nhân tạo Gore-Tex nối giữa động mạch dưới đòn và động mạch phổi cùng bên Phẫu thuật này được xem như là một giai đoạn chuẩn bị cho mổ triệt để, hiện nay vẫn được dùng nhiều nhất
Có một số phương pháp tương tự khác vận dụng nguyên tắc trên nhưng ít được sử dụng hơn:
- Nối bên-bên giữa mặt sau của động mạch chủ lên và mặt trước động mạch phổi phải (phương pháp của Waterston 1962)
- Nối động mạch phổi trái với động mạch chủ xuống (Potts - 1946)
Trang 17- Nối tĩnh mạch chủ trên với động mạch phổi phải (Glenn - 1954) [27] Những phương pháp này có nhiều nguy cơ gây suy tim và tăng áp lực động mạch phổi nên hiện nay ít được sử dụng
Nếu không được phẫu thuật thì rất nặng nề 90% trẻ sinh ra không thể sống đến tuổi thành niên Bệnh nhân thường chết sau một cơn ngất do thiếu oxy não kéo dài, áp xe não, nhồi máu não hay viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn [18]
1.2.2.2 Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot
Hình 1.2 Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot [46]
* Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn qua đường nhĩ phải
Phẫu thuật sửa chữa tứ chứng Fallot qua đường nhĩ có thể được thực hiện ở mọi lứa tuổi, ngay cả ở trẻ sơ sinh Kỹ thuật này thường thực hiện trước khi
có phì đại thứ phát giúp cho việc phân chia các bó cơ ở đường ra thất phải đơn giản hơn Tuổi chính xác quá trình chuyển tiếp này xảy ra lúc nào thì không được biết rõ, phẫu thuật nên được chọn lọc đối với trẻ dưới 6 tháng
tuổi [15]
* Phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn qua đường mở thất phải-động mạch phổi
Chỉ định đặt miếng vá xuyên qua vòng van động mạch phổi theo kích thước vòng van động mạch phổi
Trang 18- Phễu thất phải hình ống và giảm sản, và vòng van động mạch phổi nhỏ hơn bình thường
- Đối với một số bệnh nhân có thông liên thất dưới đại động mạch
- Đường kính của động mạch phổi phải và động mạch phổi trái có kích thước gần như bình thường, chỉ định đặt miếng vá xuyên qua vòng van động mạch phổi khi vòng van động mạch phổi có giá trị Z < -2
- Sử dụng miếng vá qua vòng van động mạch phổi nếu van động mạch phổi là van 2 lá [15]
Chỉ định làm miếng vá xuyên qua vòng van động mạch phổi theo áp lực thất phải/ thất trái
- Chỉ định đặt miếng vá xuyên qua vòng van động mạch phổi khi tiên lượng áp lực thất phải/ thất trái sau phẫu thuật > 0,75 [15]
* Phẫu thuật trường hợp bất thường động mạch vành
- Trong trường hợp bất thường động mạch vành, chỉ định phẫu thuật sửa chữa qua đường nhĩ phải hoặc đặt miếng vá ở vị trí hẹp thất phải với đường mở thất phải hạn chế để bảo tồn các bất thường động mạch vành
- Phẫu thuật làm cầu nối chủ-phổi lúc trẻ còn nhỏ, sau đó làm ống dẫn ngoài tim giữa thất phải và động mạch phổi
- Sửa chữa hoàn toàn có thể trì hoãn đợi khi trẻ lớn [15]
1.2.3 Điều trị bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn
Phần lớn bệnh nhân không cần sử dụng thuốc thường xuyên trong trường hợp không có bất thường nặng huyết động học tồn lưu Thuốc điều trị suy tim cần thiết trong trường hợp rối loạn chức năng thất phải và thất trái
Bệnh nhân có rối loạn nhịp thất nguy hiểm thường được điều trị bằng can thiệp điện sinh lý hoặc dặt máy phá rung (ICD) Điều trị bằng thuốc ít được khuyên dùng ở bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn [118]
Trang 191.3 SINH LÝ BỆNH Ở BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA
TỨ CHỨNG FALLOT
1.3.1 Hở van động mạch phổi sau phẫu thuật sửa chữa tứ chứng Fallot
Giải phóng đường ra thất phải thường liên quan đến phá hỏng lá van thân động mạch phổi điều này dẫn đến hở van động mạch phổi đối với phần lớn bệnh nhân sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot Cả những
số liệu trên thực nghiệm và trên lâm sàng đều cho thấy mức độ hở nặng của van động mạch phổi gia tăng theo thời gian [38],[59]
Mức độ của hở van động mạch phổi bao gồm một số yếu tố:
1 Diện tích dòng phụt ngược
2 Đáp ứng thất phải
3 Áp lực tâm trương giữa động mạch phổi phải và thất phải
4 Thời gian tâm trương
Không giống như trong hở van động mạch chủ, áp lực giữa động mạch phổi và thất phải trong thời kỳ tâm trương là nhỏ Vì vậy, lưu lượng hở van động mạch phổi lớn được quyết định bởi những yếu tố như: đường kính của dòng phụt ngược (điển hình sau khi sửa chữa tứ chứng Fallot), kích thước động mạch phổi, và thời gian tâm trương (liên quan đến nhịp tim) Những yếu tố khác như hẹp van động mạch phổi và chức năng thất phải cũng có thể ảnh hưởng đến mức độ hở phổi Tại thời điểm phẫu thuật tứ chứng Fallot, thất phải
bị phì đại , đường kính của thân động mạch phổi là nhỏ hoặc giảm sản, nhịp tim là khá cao và điều này dẫn đến làm ngắn thời gian tâm trương Kết hợp với
hở van 3 lá sau phẫu thuật tứ chứng Fallot đã ảnh hưởng tới mức độ hở phổi Tuy nhiên, qua thời gian, sự gia tăng của lưu lượng tâm thất phải đã dẫn tới gia tăng dần dần kích thước và khả năng của các động mạch phổi chính và dẫn đến dãn thất phải Với sự kết hợp của các yếu tố tuổi, giảm tần số tim và kéo dài thời gian tâm trương đã dẫn đến làm gia tăng mức độ hở van động mạch phổi theo sơ đồ 1.1 [59]
Trang 20Sơ đồ 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hở van động mạch phổi
sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot [59]
1.3.2 Tăng gánh thể tích tâm thất phải mạn tính
Với những kinh nghiệm lâm sàng và những bằng chứng thực nghiệm là những điểm nhấn mạnh vào sự giống nhau về sự đáp ứng sinh lý bệnh giữa thất phải và thất trái đối với quá trình tăng gánh thể tích nghiêm trọng Kết hợp với những nghiên cứu invitro đã cho thấy có những đặc tính nội tại tương
tự nhau của sợi cơ tim ở bên thất phải và thất trái, bao gồm cả những đáp ứng của cả hai thất đối với tình trạng áp lực và quá tải thể tích Bởi vì sinh lý bệnh học của sự đáp ứng thất trái đối với hở van chủ mạn tính đã được nghiên cứu nhiều và nó rất có giá trị trong việc đánh giá lại các yếu tố ở đây [59] Một số tác giả đã chia sự đáp ứng của thất trái đối với hở van động mạch chủ nặng theo 4 giai đoạn diễn biến theo thời gian:
Trang 21- Giai đoạn còn bù được đặc trưng bởi sự gia tăng về thể tích và sự kết hợp của sự phì đại đồng tâm và lệch tâm Giai đoạn này có thể kéo dài trong nhiều năm hoặc lâu hơn
- Suy giảm cơ chế bù trừ Giai đoạn này đặc trưng bởi quá trình giãn thất trái tiếp diễn nhưng tỷ lệ khối lượng thể tích giảm (sự phì đại không đầy đủ) và gia tăng hậu gánh (áp lực lên cuối tâm trương) Kết quả là tỷ lệ và cường độ của các sợi cơ tim bị rút ngắn lại Giai đoạn này được thể hiện bằng cách suy giảm chức năng tâm thu trong khi sự co bóp nội tại ở cơ tim vẫn còn gần như bình thường
- Sự co bóp cơ tim giảm nhưng còn hồi phục Qua một thời gian ngắn,
sự suy giảm cơ tim này có thể phục hồi và vấn đề loại bỏ sự quá tải thể tích có thể dẫn đến sự hồi phục chức năng co bóp của tim
- Những vết thương ở cơ tim không thể hồi phục có liên quan với sự xơ hóa và gia tăng collagen ở mô kẽ Mặc dù, thay van động mạch chủ cho kết quả tốt nhưng những tổn thương chức năng về cơ tim vẫn tồn tại [59]
Nếu không được điều trị, sự quá tải thể tích tâm thất phải tiếp diễn kết hợp thêm với sự xuất hiện các triệu chứng nhanh chóng và sự phục hồi chức năng không hoàn toàn của chức năng tâm thu và tâm trương thất phải [59]
1.3.3 Sự thay đổi huyết động thất phải sau phẫu thuật tứ chứng Fallot
Mặc dù cơ chế sinh lý bệnh của tái cấu trúc thất phải trong việc đáp ứng
sự thay đổi huyết động sau phẫu thuật tứ chứng Fallot là rất giống với đáp ứng của thất phải đối với quá tải thể tích mạn tính Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng vẫn tồn tại như hình thái các buồng tim, cấu trúc của sợi cơ tim, vị trí của hệ thống dẫn truyền và sự phụ thuộc vào kích thước và chức năng của thất trái, giải phẫu động mạch vành và huyết động [59] Thất phải bao gồm hai thành phần riêng biệt về mô phôi học: là phần xoang và phần phễu với hình dạng phức tạp Cơ tim bao gồm một lớp mỏng tương đối nhỏ gọn và một
Trang 22lớp nổi bật của những bè cơ xen kẽ với các hốc sâu Đối lập với thất trái, xu hướng của sợi cơ tim thất phải là ngang hơn và co lại hơn là chủ yếu từ đáy đến đỉnh (theo chiều dọc) với mức độ thấp hơn của chuyển động góc (xoắn)
Cơ tim được cung cấp bởi một động mạch vành duy nhất với gần 50% của dòng chảy xảy ra trong thời gian tâm trương dưới điều kiện bình thường đối lập gần 90% so với thất trái
Hệ thống dẫn truyền trong thất phải bao gồm 1 bó dẫn truyền duy nhất với một quá trình hoạt động kéo dài và chậm dẫn truyền trong việc kích hoạt giữa vùng đáy thất phải và vùng phễu, dẫn tới xung động lan truyền như chuyển động [59] Mặc dù chức năng thất phải tác động đến chức năng thất trái, nhưng điều trái ngược thật sự rõ ràng là có đến 63% sự gia tăng áp lực thất phải là do thất trái co bóp Sau phẫu thuật sửa chữa tứ chứng Fallot, các yếu tố bổ sung liên quan đến phẫu thuật tác động vào sinh lý bệnh: giải phóng đường ra thất phải thường liên quan đến vết rạch của thành tự do thất phải, cắt bỏ các bó cơ tắc nghẽn, sự rối loạn của van động mạch phổi với cắt
bỏ một phần hoặc hoàn toàn, và vị trí của miếng vá thường kéo dài trên mặt phẳng của van động mạch phổi vào động mạch phổi chính Trong một số bệnh nhân, một đường dẫn nối giữa thất phải và các động mạch phổi là cần thiết để cung cấp áp lực cho lưu lượng phổi Lỗ thông liên thất được đóng lại với một miếng vá tự thân, một thủ thuật có thể làm giảm chức năng của van
ba lá Ngoài sự xuất hiện của hở phổi (đã trình bày ở trên), các thủ thuật này thường dẫn đến mất vận động hoặc loạn vận động đường ra thất phải, giãn miếng vá đường ra thất phải, xơ hóa của thành tự do thất phải, và sự chậm dẫn truyền [122]
Thời gian dẫn truyền kéo dài và mất tái đồng bộ thất phải có thể tiếp tục góp phần vào rối loạn chức năng thất phải Một bệnh nhân lớn tuổi phẫu thuật sửa chữa là một yếu tố nguy cơ độc lập cho kết quả bất lợi ở những
Trang 23bệnh nhân này [71], [58] Tương tự như diễn tiến tự nhiên của hở van động mạch chủ nặng, trong đó tổn thương cơ tim không thể phục hồi sau một thời gian hồi phục của mất tái động bộ thất, thường xảy ra muộn sau phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot [59]
1.4 DIỄN TIẾN BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN TỨ CHỨNG FALLOT
Tỷ lệ sống còn đối với bệnh nhân tứ chứng Fallot ở giai đoạn đầu là rất tuyệt vời với tỷ lệ tử vong dưới 1% [51] Hai nghiên cứu thuần tập lớn đối với các bệnh nhân tứ chứng Fallot sửa chữa hoàn toàn đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống còn tiếp tục ở mức 90% trong hai thập kỷ đầu tiên của cuộc sống [86], [90] Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong tăng gấp ba lần sau 30 năm Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến chứng muộn sau tứ chứng Fallot bệnh nhân sửa chữa đó là suy giảm khả năng gắng sức, suy tim, loạn nhịp tim và tử vong [59] Ngoài ra, bệnh lý ở các cơ quan khác như: phổi, thận, gan, cơ xương thường làm phức tạp quá trình lâm sàng ở những bệnh nhân này
Vấn đề đáng chú ý từ các tài liệu về phân tầng nguy cơ các biến chứng muộn (tử vong, nhịp nhanh thất, và suy tim) sau khi sửa chữa tứ chứng Fallot
là gồm 3 vấn đề:
1) Tiền sử (ngất xỉu, tuổi sửa chữa)
2) Dấu hiệu điện tim (thời gian QRS kéo dài, nhịp nhanh thất bền bỉ) 3) Rối loạn huyết động do hở van động mạch phổi nặng (thất phải dãn, rối loạn chức năng tâm thất và rối loạn vận động vùng)
1.5 RỐI LOẠN NHỊP TIM SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HOÀN TOÀN
- Rối loạn dẫn truyền
Bloc nhánh phải hoàn toàn là phổ biến gần như toàn bộ ở các bệnh nhân tứ chứng Fallot đã phẫu thuật có cắt cơ thất phải Đặc trưng của bloc này
đó là phức bộ QRS với phần đầu tiên là ngắn và hẹp, phần thứ hai là cao và rộng hơn [27]
Trang 24Bloc nhánh phải kết hợp với bloc phân nhánh trái trước gọi là bloc hai nhánh, khá phổ biến (xảy ra khoảng 15% bệnh nhân tứ chứng Fallot sau phẫu thuật) Bloc hai nhánh thường đơn độc hiếm khi có thể dẫn đến bloc hoàn toàn nhĩ thất (trừ khi đã có bloc nhĩ thất thoáng qua sau khi phẫu thuật) và cũng không có liên quan đến khả năng đột tử Tuy nhiên, có những báo cáo cho thấy bloc hai nhánh kết hợp với khoảng PR kéo dài có thể dẫn đến bloc nhĩ thất cao độ Ở những bệnh nhân này cần phải theo dõi và nếu cần thì đặt máy tạo nhịp tim Đặt máy tạo nhịp là bắt buộc trong trường hợp có bloc nhĩ thất cấp 3 và bloc 3 nhánh hoàn toàn được xác định bởi điện sinh lý ở bệnh nhân sau phẫu thuật Đối với phần lớn bệnh nhân phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn giai đoạn sớm, tỷ lệ bloc nhĩ thất hoàn toàn là hiếm [27]
- Rối loạn nhịp trên thất
Rung nhĩ và cuồng nhĩ thường xảy ra khá phổ biến ở những bệnh nhân
tứ chứng Fallot đã phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn ở giai đoạn sớm Rối loạn nhịp nhanh nhĩ chiếm đến 1/3 bệnh nhân lớn tuổi và góp phần vào nguyên nhân gây ra các biến chứng và tử vong [101] Rung nhĩ và cuồng nhĩ thường xuất hiện ở những bệnh nhân có luồng thông động mạch chủ - phổi kéo dài
do đó gây ra tình trạng quá tải thể tích kéo dài Thời điểm phẫu thuật lớn tuổi,
hở van ba lá từ vừa đến nặng đã được chứng minh là yếu tố dự báo rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ theo một nghiên cứu đa trung tâm Như vậy sự đan xen giữa rối loạn nhịp nhanh nhĩ và nhịp nhanh thất đã làm tổn thương nặng thêm huyết động học ở tâm thất phải thường do quá trình hở van động mạch phổi
và dãn thất phải tiến triển
Rối loạn nhịp nhanh nhĩ thường biểu hiện trên lâm sàng là đánh trống ngực Đôi khi, bệnh nhân có thể biểu hiện với dọa ngất hoặc ngất, và cuồng nhĩ đã được mặc nhiên công nhận như là một nguyên nhân có thể gây đột tử, bởi vì những bệnh nhân lớn tuổi có khả năng gây ra dẫn truyền nhĩ thất 1:1
Trang 25Bệnh nhân có biểu hiện cuồng nhĩ và / hoặc rung nhĩ phải trải qua đánh giá
kỹ lưỡng về huyết động và cần phải phục hồi tổn thương huyết động còn lại Việc đốt các ổ rối loạn nhịp bằng sóng vô tuyến cao tần cho kết quả tốt hơn
so với các phương pháp khác Thuốc điều trị rối loạn nhịp tim và máy tạo nhịp tim điều trị nhịp nhanh nhĩ thế hệ mới là những phương pháp điều trị hữu ích được khuyến cáo [27]
- Rối loạn nhịp thất
+ Rối loạn nhịp thất không bền bỉ
Rối loạn nhịp thất không bền bỉ được theo dõi trên Holter điện tim là rất phổ biến (lên đến 60%) sau khi sửa chữa tứ chứng Fallot Ngoại tâm thu thất lớn hơn cấp II theo tiêu chuẩn Lown sửa đổi (> 30 NTT thất đơn dạng trong một giờ bất kỳ) xuất hiện có liên quan với tăng nguy cơ đột tử do tim Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy đột tử có mối liên quan sau khi sửa chữa tứ chứng Fallot là tương đối không phổ biến Do đó, cần dự phòng chống rối loạn nhịp thất [27], [56]
+ Nhịp nhanh thất đơn dạng bền bỉ
Rối loạn nhịp nhanh thất đơn dạng bền bỉ là ít tương đối phổ biến.Vòng vào lại là cơ chế sinh lý bệnh học phổ biến nhất, và nhiều yếu tố đã được liên quan cho bệnh sinh của nó Ổ phát rối loạn nhịp tim thông thường trên bệnh nhân tứ chứng Fallot đã phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn là đường ra thất phải, trong khu vực của cắt phần hẹp phễu, đóng lỗ thông liên thất Trong khoảng 20% các trường hợp ổ vòng vào lại có thể có nhiều liên quan đến phần thân của tâm thất phải Thất phải giãn nở và bị kéo căng làm quá trình hoạt động tâm thất chậm lại, cũng đóng góp đến việc tạo ra các vòng vào lại trong tâm thất phải, rối loạn huyết động đóng vai trò để duy trì nhịp nhanh thất: một khi
đã xảy ra Thời gian phức bộ QRS đo từ điện tim bề mặt tiêu chuẩn có tương quan chặt chẽ với kích thước thất phải [56] Ở những bệnh nhân có thời gian
Trang 26phức bộ QRS tối đa 180 ms hoặc nhiều hơn là một yếu tố rất nhạy cảm, và khá đặc hiệu cho nhịp nhanh thất bền bỉ và đột tử ở bệnh nhân người lớn sửa chữa hoàn toàn tứ chứng Fallot Thời gian phức bộ QRS kéo dài ở những bệnh nhân này phản ánh:
(1) Tổn thương đầu tiên ở nhánh dẫn truyền trong thời gian sửa chữa tứ chứng Fallot (cắt cơ thất phải, giải phóng cơ gây hẹp động mạch phổi và vị trí đóng lỗ thông liên thất) Phức bộ QRS kéo dài tiến triển là do giãn nở thất phải và hở van động mạch phổi Trong một nghiên cứu đa trung tâm đã chỉ
ra rằng thời gian phức bộ QRS thay đổi có thể là một yếu tố dự báo nhạy cảm hơn và đặc hiệu hơn ở bệnh nhân có nguy cơ cao Giá trị thời gian phức
bộ QRS có thể tiên đoán cho nhịp nhanh thất bền bỉ sẽ được yêu cầu cho các bệnh nhân sửa chữa tứ chứng Fallot Từ những năm 1980, bệnh nhân đã phẫu thuật đường nhĩ phải và không cắt cơ thất phải do đó thời gian phức bộ QRS sau khi sửa chữa ngắn hơn đáng kể [27]
Phân tán QT (sự khác biệt giữa khoảng QT ngắn nhất và dài nhất trong bất kỳ của 12 đạo trình điện tim bề mặt tiêu chuẩn), một dấu hiệu của
sự tái cực không đồng nhất, cũng đã được thể hiện được dự báo duy trì nhịp tim nhanh tâm thất đơn dạng cuối sau khi sửa chữa tứ chứng Fallot Một phân tán QT lớn hơn 60 ms kết hợp với một thời gian phức bộ QRS lớn hơn 180 ms là phân tầng nguy cơ hơn nữa cho nhịp nhanh thất bền bỉ cho bệnh nhân người lớn Báo cáo gần đây thể hiện giảm các chỉ số biến thiên nhịp tim và sự nhạy cảm baroreflex cho rằng hệ thống thần kinh tự động cũng có thể được tham gia vào quá trình rối loạn nhịp tim [42] Bất thường huyết động thất phải, chủ yếu là thất phải giãn nở do hở van động mạch phổi có hoặc không có hẹp động mạch phổi, rất phổ biến ở những bệnh nhân có nhịp nhanh thất bền bỉ [27]
Trang 27Hình 1.3 Thời gian QRS dự đoán nhịp nhanh thất và đột tử do tim
Đây là điện tim 12 chuyển đạo bề mặt của bệnh nhân đã phẫu thuật 20 năm có nhịp nhanh thất đơn dạng bền bỉ Trong đó thời gian phức bộ QRS ở V1 là 200ms [27]
1.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỆN TIM KHÔNG XÂM NHẬP
1.6.1 Điện tim bề mặt
Các thông số điện tim bề mặt dùng để xác định nguy cơ rối loạn nhịp thất và đột tử đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu hồi cứu Giả định đằng sau rất nhiều những nghiên cứu này là có một mối quan hệ nguyên nhân và kết quả giữa rối loạn nhịp thất và đột tử
Theo tác giả Deanfield và cộng sự, ngoại tâm thu thất là phổ biến, xảy
ra khoảng 19% ở điện tim cơ bản trên bệnh nhân tứ chứng Fallot sửa chữa hoàn toàn, và có liên quan với sự gia tăng tỷ lệ đột tử so với những người không có ngoại tâm thu thất [44] Trong một nghiên cứu trên tổng số 233 bệnh nhân theo dõi trung bình là 5,2 năm, 38% những người có ngoại tâm thu thất là chết, so với 2% của những người không có ngoại tâm thu thất (ngoại tâm thu thất đã có mặt trong tất cả những người đột tử) Thời gian phức bộ QRS > 180 ms có độ nhạy 100% cho nhịp nhanh thất bền bỉ và đột tử, trong khi đó một thời gian QRS <180 ms có một giá trị tiên đoán âm tính 100% cho các yếu tố: rối loạn nhịp thất và đột tử Thời gian phức bộ QRS kéo dài có liên quan đến hở van động mạch phổi và phì đại thất phải, đây là yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của vấn đề đột tử [111]
Trang 281.6.2 Điện thế muộn
1.6.2.1 Lịch sử điện thế muộn
Lịch sử của điện thế muộn bắt đầu từ năm 1973 với ghi nhận điện thế ở
bó His.Kỹ thuật điện tim có độ phân giải cao là một kỹ thuật rất đặc biệt của điện tim bề mặt dùng để phân tích các phân đoạn QRS của một điện tim tiêu chuẩn để phát hiện bất thường, gọi là điện thế muộn ở thất mà trên điện tim thông thường bị che khuất bởi hoạt động của cơ xương và độ nhiễu Thuật ngữ "điện tim trung bình dấu hiệu " thường xuyên được sử dụng đồng nghĩa với điện tim có độ phân giải cao, đề cập đến một trong những kỹ thuật xử lý tín hiệu tăng cường phát hiện tín hiệu điện tim biên độ thấp Độ nhiễu trong phạm vi điện tim thông thường từ 8-10 μv và được tạo ra chủ yếu bởi hoạt động cơ xương Mức độ nhiễu trong điện tim trung bình dấu hiệu được giảm xuống dưới mức 1,0 μv [81]
Năm 1977, El Sherif chỉ ra mối liên hệ giữa điện thế muộn và cơ chế vào lại trong nhịp nhanh thất trên thực nghiệm ở động vật
Năm 1978, Berbari và cộng sự đã thành công trong việc sử dụng kỹ thuật điện tim đồ trung bình để ghi lại điện thế muộn ở thất [74]
Năm 1981, Simson đã mở rộng kỹ thuật và ngày nay đã được chấp nhận mã hóa dấu hiệu lọc 2 chiều, nghiên cứu vectơ thu được từ 3 hướng trực giao X, Y, Z [34]
1.6.2.2 Điện thế muộn tim
Một trong những ứng dụng chính của điện tim độ phân giải cao là để phát hiện điện thế muộn thất Đây là những sóng có biên độ thấp, tín hiệu tần số cao hiện diện ở phần cuối của phức bộ QRS, kéo dài vào đoạn ST Điện thế muộn không thể được phát hiện bởi điện tim 12 chuyển đạo tiêu chuẩn vì bị che khuất bởi hoạt động cơ xương khớp Chúng tương ứng với hoạt động điện không liên tục ghi nhận trong nội mạc và đại diện cho các khu vực dẫn truyền ngược hướng qua các khu vực có chứa bó cơ tim còn
Trang 29sống xen kẽ với xơ hóa Điện thế muộn là phương tiện chẩn đoán không xâm lấn cho các vùng dẫn truyền chậm trễ, đó là cơ sở cho rối loạn nhịp nhanh thất có vòng vào lại [81]
1.6.2.3 Nguyên lý hoạt động của điện tim độ phân giải cao
Điện tim thông thường chỉ có khả năng thu nhận những tín hiệu tạo ra bởi sự hoạt động của cơ nhĩ và cơ thất, nút xoang, nút nhĩ thất, bó His và các nhánh của nó vẫn câm lặng trên điện tim thông thường, những điện thế mà chúng sinh ra quá nhỏ để nhận ra được Trong khi sự tồn tại của chúng có thể hiện quá rõ trên thực nghiệm khi thăm dò trong buồng tim hoặc trước tim, đã thôi thúc sự phát triển những kỹ thuật mới cho phép ghi được (mà không xâm nhập) những điện thế có cường độ thấp với sự trợ giúp của những điện cực trên bề mặt cơ thể Ngoài ra, sự phát hiện ra điện thế muộn đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của điện tim khuếch đại và những kỹ thuật tổng hợp dấu hiệu quan trọng [8] Những máy điện tim thông thường trên lâm sàng có
hệ số khuếch đại 103, một sự thay đổi điện thế 1mV tương ứng với 1cm trên giấy Với điện tim khuếch đại cao, sự khuếch đại có thể lên đến 106 do đó có thể nhận ra được biểu hiện của điện thế có biên độ thấp, nó tăng lên theo tỷ lệ
độ nhiễu được hình thành bởi sự giao thoa điện tử của môi trường cũng như hoạt động điện của cơ ngực và cơ hô hấp
Mục đích của điện tim trung bình là để giảm mức độ nhiễu từ các nguồn khác nhau mà nguồn gây nhiễu đến các tín hiệu điện tim là đáng quan tâm Các nguyên nhân chính của yếu tố nhiễu là điện thế từ cơ xương, diện tiếp xúc điện cực- da, tần số điện từ xung quanh thiết bị điện, và cường độ tiếng
ồn Với trang thiết bị hiện đại, hai yếu tố nhiễu cuối cùng là không đáng kể so với hai yếu tố nhiễu đầu Các biện pháp để cố gắng giảm độ nhiễu sinh lý này
có tầm quan trọng lớn để ghi điện tim trung bình tốt Các hoạt động không đồng bộ của sự vận động cơ xương ở phần trên cơ thể thường là nguyên nhân
Trang 30chính gây nhiễu Điều quan trọng là bệnh nhân được thư giãn và nằm thoải mái trong quá trình ghi nhằm giảm mức độ nhiễu Yếu tố nhiễu từ vùng tiếp xúc giữa các điện cực và da có thể giảm bằng cách làm sạch triệt để vùng da của bệnh nhân với rượu hoặc một dung môi để giảm trở kháng điện từ Việc
sử dụng miếng dán điện cực bạc clorua với gel điện giúp trở kháng điện từ thấp Hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng hệ thống ba chuyển đạo trực giao cho việc ghi điện thế muộn [74]
Trước khi quá trình ghi điện tim trung bình, một nhịp tạm thời được thiết lập Nhịp đập ghi được so sánh với mẫu nhịp tạm thời, và các nhịp ngoại lai hoặc mức độ nhiễu lớn bị từ chối Các nhịp được thu thập và tổng hợp Sự liên kết của các tín hiệu là rất quan trọng cho quá trình tổng hợp điện tim trung bình và được thực hiện bằng cách lấy một điểm mốc ở phức bộ QRS Giảm mức độ nhiễu thường đòi hỏi phải từ 200 đến 250 nhịp tim
Phương pháp thứ hai để giảm độ nhiễu là bằng bộ lọc Bởi vì các tín hiệu quan tâm và tiếng ồn xuất hiện có chứa chủ yếu là tần số mà không chồng chéo lên nhau, việc sử dụng các kỹ thuật lọc khác nhau đã làm cho nó có thể loại bỏ nhiều tiếng ồn còn lại Các bộ lọc thường được sử dụng chuyển đổi các tín hiệu vào thành phần tần số và loại bỏ các phần bên dưới hoặc trên tần
số nhất định Một bộ lọc tần số cao ngăn chặn các tín hiệu dưới một tần số nhất định trong khi đi qua các tín hiệu so với giá trị giới hạn, trong khi một bộ lọc tần số thấp làm ngược lại Phổ biến nhất là một bộ lọc băng thông rộng (sự kết hợp của hai bộ lọc) được sử dụng Điểm cắt tần số thấp là quan trọng nhất,
và hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng các bộ lọc để ngăn chặn tần số <25 hoặc 40 Hz Điểm cắt tần số cao là ít quan trọng và thường được đặt ở mức
250 Hz [74]
Thời gian qua nhiều hệ thống ghi đã được cải tiến và nhiều loại đang được thịnh hành trên thị trường
Trang 311.6.2.4 Cấu tạo máy đo điện tim có độ phân giải cao
Máy đo điện tim độ phân giải cao được chia làm 2 thành phần chính:
- Bộ phận tiếp nhận tín hiệu đầu vào
- Bộ phận xử lý tín hiệu bằng vi tính
Các cấu hình chi tiết của từng bộ phận sẽ được trình bày dưới đây:
Bộ khuyếch đại
Bộ phận lọc băng thông
Bộ phận chuyển tín hiệu sóng thành tín hiệu số
Bộ phận xử lý điện tim độ phân giải cao bao gồm bốn thành phần sau:
- Bộ trung bình tín hiệu
- Bộ phận lọc băng thông hai chiều
- Bộ lọc khuyếch đại vector
- Bộ xác định số lượng điện tim trung bình Ngoài ra, thiết bị này còn có thêm
7 chuyển đạo Các chuyển đạo này là lưỡng cực, những điện cực trực giao bao gồm X+, X-, Y+, Y-, Z+, Z- và điện cực tiếp đất đặt trên vị trị đặc biệt cơ thể Những điện cực này được xem là chuyển đạo XYZ [14], [89]
Hình 1.4 Cấu hình của máy điện tim có độ phân giải cao [14], [89]
Điện tim có độ phân giải cao là nhằm xác định điện thế muộn, nó thể hiện bằng biểu đồ độ lớn vector lọc của những chuyển đạo XYZ
Trang 32Bảng 1.1 Đặc điểm khác nhau giữa điện tim tiêu chuẩn và điện tim có độ
phân giải cao [14], [89]
Độ phân giải tín hiệu thấp Độ phân giải tín hiệu cao
Điện tim có tần số thấp 0-80/100Hz Điện tim có tần số rộng 0,05-300Hz Tín hiệu điện tim được làm mẫu ở tốc độ
thấp 300Hz
Tín hiệu điện tim được làm mẫu ở tốc độ rất cao ≥1Hz
Chuyển tín hiệu sóng sang tín hiệu số có
độ phân giải thấp: 8 bit
Chuyển tín hiệu sóng sang tín hiệu số có
độ phân giải cao: 12 bit
Không thể phát hiện điện thế muộn Phát hiện điện thế muộn sau xỷ lý tín
hiệu số Phần trọng tâm là diễn giải tất cả các
phần của điện tim
Phần trọng tâm là diễn giải phần cuối QRS và những vùng ở xa
Khoảng PR, QRS, ST chênh lên/xuống
là những thông số cần phân tích
Thời gian QRS, RMS 40, LAS40 là những thông số chính cần phân tích
1.6.2.5 Mô tả và phân tích kỹ thuật ghi điện thế muộn thất
* Trung bình dấu hiệu
Sóng tạp ghi trong điện tim thay đổi từ 8 đến 10µV, được sinh ra bởi hoạt động cơ xương Tính đặc trưng về mặt thời gian và quang phổ của điện tim để xác định những bệnh nhân nhịp nhanh thất bị che lấp bởi sóng tạp này Mục đích của trung bình dấu hiệu là cải tiến tỷ lệ dấu hiệu / sóng tạp để dễ dàng cho việc phát hiện các điện thế sinh học biên độ thấp Dấu hiệu có thể được trung bình về mặt không gian và thời gian Những hệ thống hiện nay được sử dụng trung bình về mặt thời gian làm giảm các sóng tạp bằng cách căn bậc hai của số sóng được trung bình về mặt thời gian thực hiện:
- Dấu hiệu được trung bình phải lặp đi lặp lại và không biến đổi Những dấu hiệu thay đổi về thời gian như ngoại tâm thu được loại bỏ trước khi trung bình bằng cách so sánh những dấu hiệu thu vào ngược với khuôn mẫu được thiết lập trước với kỹ thuật tìm mối tương quan ngang
Trang 33- Dấu hiệu trung bình cần phải được định vị với một điểm mốc như đỉnh của phức bộ QRS, điều này làm dễ dàng phát hiện và phục vụ cho tính toán thời điểm của thuật toán trung bình Nếu dấu hiệu không có mối liên quan về mặt thời gian với điểm mốc thì dấu hiệu trung bình sẽ được lọc
- Dấu hiệu được trung bình và sóng tạp phải độc lập và vẫn còn độ tập trung trong quá trình trung bình Các hệ thống hiện nay đều làm giảm sóng tạp nhỏ hơn 1,0 µV [34]
* Phân tích về mặt thời gian
Phần lớn hệ thống xử lý sử dụng phân tích về mặt thời gian để phát hiện điện thế muộn ở phần cuối phức bộ QRS Việc phát hiện những sóng mức µV này đòi hỏi phải khuếch đại cao và hệ thống lọc kỹ thuật số đặc biệt loại bỏ những tần số thấp gắn liền với pha cao nguyên và pha tái cực của điện thế hoạt động, đoạn ST và sóng T Điều này cho phép phát hiện những sóng có tần số cao liên quan đến hoạt động thất Phần lớn, hệ thống sử dụng hệ thống lọc hai chiều [34]
Việc phân tích điện thế muộn đòi hỏi thành lập ba thông số:
(1) HFQRSd: Thời gian phức bộ QRS tần số cao được lọc (tính bằng ms)
(2) LAHFd (LAS): Thời gian của phần cuối QRS tần số cao mà biên độ
ra bloc nhĩ thất hoặc rối loạn dẫn truyền vách liên thất Mặc khác, nút xoang
ở vị trí khá xa nên hiếm khi bị tổn thương Bệnh nhân có cắt cơ thất phải,
Trang 34vết sẹo được hình thành chịu trách nhiệm về bloc nhánh phải nhưng cũng
có thể trở thành một vòng vào lại và gây loạn nhịp thất Ngoài ra, xơ hóa ở vùng phễu do diễn tiến tự nhiên là một chất nền có thể xảy ra vòng vào lại
ở thất Điều này giải thích lý do tại sao loạn nhịp thất thường xảy ra ở những bệnh nhân tứ chứng Fallot không phẫu thuật ở bệnh nhân lớn tuổi [49] Sự ghi nhận điện thế giữa tế bào cơ tim bình thường và bất thường đã tạo nên điện thế muộn tế bào cơ tim
Ảnh hưởng của phì đại khối cơ tim dẫn đến thiếu oxy cấp ở cơ tim và những can thiệp tim mạch như vá lỗ thông liên thất, loại bỏ tắc nghẽn phần phễu động mạch phổi có thể dẫn đến tổn thương cơ tim ở tứ chứng Fallot và chính những tổn thương này có thể tạo ra những vùng xơ hoá cục bộ và làm mất cân bằng dẫn truyền của thất điều đó dẫn đến xuất hiện những rối loạn nhịp thất Những bất thường mô học này là nguyên nhân làm chậm dẫn truyền
và dẫn đến vòng vào lại rối loạn nhịp thất hoặt làm gia tăng tính tự động của tâm thất làm chậm và gián đoạn các hoạt động điện thế Vấn đề này đã được phát hiện ở thất phải của bệnh nhân tứ chứng Fallot bằng cách ghi họa đồ tim
ở nội tâm mạc và ngoại tâm mạc [8]
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả phân tích điện thế muộn liên quan đến sự chính xác xuất hiện loạn nhịp thất Dựa vào kết quả nghiên cứu, phân tích điện thế muộn có độ nhạy từ 71% đến 100%, độ đặc hiệu từ 60% đến 86%, giá trị tiên lượng âm tính từ 94% đến 100% và giá trị tiên lượng dương tính từ 25% đến 45% [8]
1.6.3 Biến thiên nhịp tim / Holter điện tim 24 giờ
Năm 1965, Hon và Lee lần đầu tiên đánh giá BTNT trong lâm sàng bằng phát hiện thay đổi thời khoảng giữa các nhịp xảy ra trước bất kỳ một thay đổi nào của nhịp tim trong suy tim thai [7]
Đến 1976, Ewing và cộng sự thử nghiệm lâm sàng về sự khác biệt RR ngắn hạn để phát hiện bệnh thần kinh tự động ở bệnh nhân đái đường
Wolf và cs (1977) công bố giảm BTNT phối hợp với nguy cơ tử vong cao sau nhồi máu cơ tim Akselrod và cộng sự (1981), giới thiệu phân tích phổ toàn bộ của BTNT để lượng giá phân tầng nguy cơ tim mạch [7]
Trang 35Biến thiên nhịp tim là một phương pháp không xâm nhập phản ánh hoạt động thần kinh giao cảm và phế vị của hệ thần kinh tự động trên nút xoang của tim Nó thể hiện tổng số các biến đổi tức thì của nhịp tim và khoảng RR (khoảng thời gian giữa phức hợp QRS của quá trình khử cực nhịp xoang bình thường) [113] Do đó, phân tích biến thiên nhịp tim cơ bản là đánh giá chức năng thần kinh tự động Ở trái tim bình thường với một hệ thần kinh tự động nguyên vẹn, sẽ có sự thay đổi sinh lý liên tục của chu kỳ xoang phản ánh một trạng thái cân bằng giao cảm -phó giao cảm và biến thiến nhịp tim bình thường [113]
Đánh giá biến thiên nhịp tim bao gồm sự thay đổi chu kỳ của các phức hợp tim kế cận hay sự thay đổi của các tần số tim nhất thời kế tiếp nhau Các
yếu tố sinh lý có thể ảnh hưởng đến biến thiên nhịp tim như giới tính, tuổi, nhịp sinh học, hô hấp và tư thế cơ thể Phương pháp đánh giá biến thiên nhịp tim là không xâm lấn và có thể dùng nhiều lần Biến thiên nhịp tim thường được thực hiện trên Holter điện tim 24 giờ hoặc trên khoảng thời gian ngắn từ 0,5 đến 5 phút đặc biệt là trong lĩnh vực điện tim động [113]
Năm 1996, một ủy ban đặc biệt gồm các thành viên của hiệp hội Tim mạch châu Âu và hiệp hội tạo nhịp và điện sinh lý Hoa Kỳ đã đưa ra các hướng dẫn cần thiết để so sánh đánh giá các mô hình khác nhau của BTNT Các phương pháp đánh giá BTNT được chia thành hai loại: phương pháp đo lường theo thời gian và phương pháp đo lường theo tần số [126] Theo đó dữ liệu thu được từ phương pháp ghi ngắn hạn (5 phút) nên được xử lý bằng các phương pháp đo lường theo tần số, trong khi phân tích miền thời gian nên thực hiện ở phương pháp ghi 24 giờ Cả hai phương pháp ghi đều có một số hạn chế Phương pháp ghi ngắn hạn có thể không phát hiện dao động tần số rất thấp, trong khi dữ liệu từ các phương pháp ghi dài dễ bị bị ảnh hưởng bởi xen kẽ điều kiện môi trường bên ngoài Hơn nữa, các thông số biến thiên nhịp tim phản ánh hoạt động của hệ thống thần kinh tự động trên nút xoang, các
Trang 36trường hợp nhịp tim bất thường và yếu tố nhiễu được loại trừ khỏi ghi điện tim để đạt được kết quả đáng tin cậy hơn [126]
1.6.3.1 Phương pháp đo lường theo thời gian
Phân tích biến thiên nhịp tim theo phương pháp thời gian là đo những thay đổi trong nhịp tim theo thời gian và khoảng thời gian giữa chu kỳ tim bình thường liên tiếp [113] từ một máy điện tim ghi nhịp tim liên tục (Holter), thường là 24 giờ, mỗi phức hợp QRS được phát hiện và các khoảng RR bình thường (khoảng NN), do khử cực xoang, hoặc nhịp tim tức thời sau đó được xác định Các biến theo phương pháp thời gian có thể được tính toán đơn giản, chẳng hạn như khoảng thời gian RR trung bình, nhịp tim trung bình, sự khác biệt giữa dài nhất và ngắn nhất khoảng thời gian RR và sự khác biệt giữa ngày và đêm nhịp tim, hoặc phức tạp hơn dựa trên các phép đo thống kê Hiện nay, những thông số miền thời gian được chia thành hai loại, bao gồm cả khoảng thời gian các nhịp tim hoặc các biến có nguồn gốc trực tiếp từ khoảng thời gian hoặc tần số tim tức thời và khoảng thời gian bắt nguồn từ sự khác biệt giữa các khoảng NN liền kề
Bảng 1.2 Các thông số biến thiên nhịp tim phổ thời gian [113]
các phức hợp QRS bình thường trong toàn bộ Holter điện tim 24 giờ
mỗi 5 phút trong toàn bộ Holter điện tim 24 giờ
khác biệt giữa các thời khoảng NN
thường
Trang 37SDNN là một chỉ số đại diện của BTNT và phản ánh tất cả các thành phần lâu dài và nhịp sinh học chịu trách nhiệm về sự thay đổi trong giai đoạn ghi nhịp tim SDANN là một chỉ số của sự thay đổi của mức trung bình khoảng 5 phút trong 24 giờ Do đó, nó cung cấp thông tin dài hạn và đây là một chỉ số nhạy cảm của tần số thấp như hoạt động thể chất, thay đổi vị trí, nhịp sinh học SD thường được coi là phản ánh ngày / đêm thay đổi của biến thiên nhịp tim rMSSD và pNN50 là các thông số phổ biến nhất dựa trên sự khác biệt khoảng thời gian Các phép đo tương ứng với những thay đổi BTNT ngắn hạn và không phụ thuộc vào ngày / đêm biến đổi [113] Chúng phản ánh những thay đổi hệ thần kinh tự động chủ yếu là giao cảm So với pNN50, rMSSD có vẻ là ổn định hơn và nên được ưa thích sử dụng lâm sàng rMSSD
là thông số thường được sử dụng hầu hết bắt nguồn từ sự khác biệt khoảng thời gian Chỉ số này sử dụng sai phân đầu tiên theo lý thuyết toán thống kê
và hoạt động như một bộ lọc tần số cao, do đó loại bỏ xu hướng biến đổi các tần số biến thiên nhịp tim một cách chậm và kéo dài hơn từ các tín hiệu Do đặc tính tần số của những ảnh hưởng thần kinh tự động trên tim như vậy mà ảnh hưởng phế vị bao gồm toàn bộ các dải tần số và ảnh hưởng giao cảm là chủ yếu giới hạn trong các tần số thấp hơn, rMSSD phản ánh ảnh hưởng của phế vị [114]
Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật toán học đơn giản để đo lượng thay đổi hiện tại trong một khoảng thời gian xác định trong một điện tim liên tục [98] Sau khi chỉnh sửa để loại bỏ các yếu tố nhiễu, còn lại khoảng thời gian R-R thông thường được đo và phân tích thống kê đơn giản Kỹ thuật này thường được sử dụng nhất là vẽ một biểu đồ của thời gian khoảng R-R so với
số lượng khoảng R-R trong một khoảng thời gian 24 giờ và sau đó để tính toán độ lệch chuẩn của phân phối tần số (SDNN) Một phương pháp khác là
sử dụng một kỹ thuật dựa trên phân tích hình học của 24 giờ R-R khoảng thời gian biểu đồ (chỉ số St George hoặc chỉ số BTNT ) [98] Những phương pháp
Trang 38này liên quan chặt chẽ đến chỉ số SDNN, nhưng có lợi thế là ít phụ thuộc vào phân loại chính xác của từng nhịp đập, và do đó làm giảm chỉnh sửa nhiều ở Holter điện tim Tất cả các chỉ số định lượng toàn bộ biến thiên nhịp tim trong Holter điện tim 24 giờ, và bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong hoạt động giao cảm và phó giao cảm, do đó đây là các phương pháp khá đặc hiệu đánh giá sự cân bằng giao cảm-phế vị Đó là những công cụ hữu ích lâm sàng để phát hiện những bất thường của hoạt động tự động, nhưng không thể được sử dụng để đánh giá hoạt động thay đổi cụ thể của thần kinh giao cảm hoặc đối giao cảm
Có một số kỹ thuật để đo biến đổi nhịp tim ở những thay đổi khoảng thời gian R-R, các phép đo thay thế cho nhau trong hoạt động đối giao cảm Một cách tiếp cận là để đo liên tiếp biến đổi nhịp tim sự khác nhau khoảng thời gian R-R, và tính toán một chỉ số thể hiện sự phân bố của những khác nhau này như chỉ số rMSSD, dựa trên độ lệch chuẩn của sự khác nhau liên tiếp Một kỹ thuật khác là để đếm số lượng lớn các biến đổi nhịp tim vượt quá một ngưỡng xác định trong một bản ghi điện tim Nếu những biến đổi nhịp tim vượt quá 50 ms (chỉ số pNN50), một chỉ số phân cách rõ ràng cá nhân bình thường từ những người có rối loạn chức năng phó giao cảm thu được Các chỉ số này cung cấp chỉ số nhạy cảm và tính đặc hiệu của hoạt động giao cảm, dễ dàng để đo điện tim trong lâm sàng [98]
1.6.3.2 Phương pháp phổ tần số
Phân tích theo phương pháp phổ tần số cung cấp thông tin về số lượng của sự dao động hoặc năng lượng (phổ) đối với nhịp tim hoặc chuỗi thời gian hoạt động của tim bằng dao động định kỳ ở tần số khác nhau Phân tích quang phổ của chuỗi thời gian cung cấp thông tin cơ bản về số lượng của sự dao động hoặc năng lượng (phổ) như một chức năng của tần số Thông thường, bốn dải tần số có thể được phân biệt trên Holter điện tim 24 giờ và hai dải tần số có thể được phân biệt đáng tin cậy trong các bản ghi điện tim ngắn hạn Đây là những
Trang 39tần số cao (HF: 0,15-0,4 Hz), tần số thấp (LF: 0,04-0,15 Hz), tần số rất thấp (VLF: 0,003-0,04 Hz), và tần số siêu thấp (ULF: 0.003 Hz) [114]
- HF, ms2 - độ lớn biến thiên nhịp tim ở dãy tần số cao, nằm trong khoảng 0.15 -0.4 Hz, độ dài chu kỳ 2.5-6 giây: biểu hiện hoạt động thần kinh phó giao cảm trong điều hoà hô hấp [126]
- LF, ms2- độ lớn biến thiên nhịp tim ở dãy tần số thấp, nằm trong khoảng 0.04 -0.15 Hz, độ dài chu kỳ > 6 giây: biểu hiện hoạt động thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm Tuy vậy, khi tăng LF, người ta thường thấy sự thay đổi hoạt tính giao cảm Vùng này cũng biểu hiện kết quả tác động của phản xạ thụ thể áp lực và quá trình điều hoà huyết áp
- VLF, ms2- độ lớn biến thiên nhịp tim ở dãy tần số rất thấp, nằm trong khoảng 0.003 - 0.04 Hz, độ dài chu kỳ > 25 giây Vùng này biểu hiện cơ chế điều hoà của thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm lên quá trình điều hoà thân nhiệt, hệ renin - angiotensin và các yếu tố thể dịch khác [126]
- ULF, ms2 - độ lớn biến thiên nhịp tim ở dãy tần số cực thấp, nằm trong khoảng 0 - 0.003 Hz, độ dài chu kỳ > 5 giờ Vùng này có lẽ biểu hiện đến mức tiêu thụ oxy trong hoạt động thể lực
- Tỷ số LF/HF Đặc trưng cho trương lực hoạt động thần kinh giao cảm Độ lớn của tỷ số có giá trị trong đánh giá cân bằng hoạt động giao cảm
và phó giao cảm
- TF, ms2 - Tổng độ lớn biến thiên nhịp tim trên các dãi tần số, từ 0 - 0.4 Hz [126]
1.6.3.3 So sánh hai phương pháp phổ thời gian và phổ tần số
Phương pháp thời gian và tần số đo biến thiên nhịp tim có mối liên quan chặt chẽ với nhau [98] Chỉ số đo lường biến đổi nhịp tim của phó giao cảm (rMSSD, pNN50 và HF) và các thông số của tổng số biến thiên nhịp tim tức thời trong một bản ghi dài hạn, chẳng hạn như SDNN và tổng công
Trang 40suất quang phổ, liên quan chặt chẽ với nhau Những chỉ số của phương pháp thời gian và tần số do đó có thể được sử dụng thay thế cho nhau Kỹ thuật đo biến thiên nhịp tim chọn một phương pháp cụ thể sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Kỹ thuật theo phương pháp phổ tần số tạo thuận lợi cho việc đánh giá chính xác hơn về hướng và độ lớn của sự thay đổi trong cân bằng giao cảm-phế vị hơn là với phương pháp theo thời gian Đánh giá chính xác hoạt động tự động bằng các kỹ thuật miền tần số yêu cầu dữ liệu nhịp tim không có các yếu tố nhiễu và tuân theo các tiêu chuẩn toán học chặt chẽ, điều kiện mà chỉ có thể chắc chắn thu được khi đối tượng được nghiên cứu trong điều kiện có kiểm soát [98] Các kỹ thuật theo phương pháp thời gian không có yêu cầu nghiêm ngặt như vậy, dễ dàng hơn để áp dụng cho việc nghiên cứu lâm sàng điện tim chuẩn chất lượng Một hạn chế tiềm ẩn của BTNT dựa trên Holter điện tim 24 giờ là nó không thể chuẩn hóa các điều kiện cho việc kiểm tra Điều này có thể đặc biệt quan trọng, vì các nghiên cứu gần đây cho thấy hoạt động thể chất là có ảnh hưởng lớn đến các thành phần tần số thấp nhất của BTNT [98]
Trong suốt thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả
và độ tin cậy của trắc nghiệm gắng sức, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như chẩn đoán thiếu máu cơ tim ở bệnh nhân đau ngực, đánh giá thể hình và năng lực của vận động viên, đánh giá rối loạn nhịp tim