Đây là các nguyên tố đa lượng cây cần nhiều nhất, nếu thiếu một chất nào cũng đều ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và năng suất của cây.. Đề nâng cao sự hiểu biết của mình về công tác
Trang 1THUC TAP CUOI KHOA
TRUONG DAI HOC HONG BUC
KHOA NONG LAM NG
Chuyén nghanh: Lam hoc
UU ANH HUONG CUA PH
TRUONG DAI HOC HONG BUC
x DEN SINH TR
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÒNG ĐỨC
KHOA NONG LAM NGU NGHIEP
BAO CAO
THUC TAP CUOI KHOA
Chuyén nghanh: Lam hoc
Dé tai: NGHIEN CUU ANH HUONG CUA PHAN BON NPK (3-6-1) DEN SINH TRUONG CUA LAT HOA (Chukrasia tabularis A.Juss)
GIAI DOAN 1-3 THANG TUOI TAI VUON UOM CO SỞ 3
TRUONG DAI HOC HONG DUC
Người thực hiện : Đào Thị Thắm
Khoa hoc : 2007 - 2011
Giáo viên hướng dẫn : Ths Bùi Thị Huyền
Trang 3MỤC
Chương I
1.1
1.2
1.3
1.4
1.4.1
1.4.2
Chuong II
2.1
2.2
2.3
2.4
2.4.1
2.4.2
2.4.3
2.4.4
Chuong III
3.1
3.1.1
Thanh Hoa, thang 05 nam 2011
MUC LUC
Lời lời cảm ơn cc cà 4
Tổng quan về tài liệu nghiên cứu -.‹ -‹ +: 6
Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 6
Cơ sở khoa học của việc bón phân 7
Những nghiên cứu trên thế giới - . 10
Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
Những nghiên cứu về phân bón . .-<- 11 Những nghiên cứu về cây Lát hoa - 12
Đối tượng, mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiêncứu 14 Đối tượng nghiên cứu - . -cc sec: 14 Mục tiêu nghiÊn cứu - 14
Nội dung nghiên cứu 14
Phương pháp nghiên cứu 14
Phương pháp bố trí thí nghiêm - - 14
Chỉ tiêu theo dõi - -c <<<- ló Phương pháp theo đõi chỉ tiêu 16
Phương pháp sử lý số liGU ee cece ec eeccecceeceeceeeeeueens 18 Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu 22
Đặc điểm khu vực và đối tượng nghiên cứu 22
Đặc điêm về điêu kiện tự nhiên 22
Trang 4Đặc điểm về điều kiện sản xuất -
Kết quá nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1)
ở các nông độ khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
CUA CAY Ø1€O ươm - Ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) đ ến chiều cao cây Ảnh hướng của phân bón NPK (3:6:1) đến đường kính cô
Ảnh hưởng của phân bón NPK (3:6:1) đến chiều dài lá
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng của
Đề xuất các giải pháp kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho CAY Ø1€O ƯƠI cccc << 222 Kết luận, tôn tại và kiến nghỊ Kết luận c-cc co CS nnnnn ng SH ng nhe Tổn tại - c CC QC C20 HH ng ng ng ng n vs ng re Kiến nghị - -c- CC QC ST nh nh nh hy cree Tài liệu tham khảo
Trang 5Đường kính cô rễ
Chiều dài lá
Lần nhắc
Trung bình Giá trị trung bình Ngưỡng so sánh
Sai số thí nghiệm
Xác xuât
Trang 6£09 cAm Ca
Được sự nhất trí của trường Đại học Hông Đức, Khoa Nông lâm ngư nghiệp, Bộ môn lâm nghiệp đã tiễn hành kỳ thực tập cuối khoá của mình tại vườn ươm cơ sở 3 trường ĐH Hồng Đức từ ngày 10/1 đến ngày 20/5/2010 với nội dung “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của L át hoa giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi tại vườn ƯƠI”
Để thực hiện được báo cáo này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Hông Đức, Ban chủ nhiệm khoa Khoa Nông lâm ngư nghiệp, các thấy cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp và cô giáo hướng dẫn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa nông lâm ngư nghiệp và cdc thay cô giáo trong bộ môn Lâm nghiệp đặc biệt là cô giáo hưởng dân Bùi Thị Huyền đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện để tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ, thời gian và kinh phí nên báo cáo không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ÿ kiến của các thấy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoa, thang 5 nam 2010
Sinh viên : Đào Thị Thắm
Trang 7MỞ ĐẦU
Lat hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) la cay gỗ lớn thuộc họ Xoan
(Meliaceae Juss), là cây gỗ lớn mọc khá nhanh Gỗ có màu hồng nhạt, có
ánh vân đẹp, cứng và nặng trung bình, dễ làm, ít co giãn, không bị mối mot,
thường dung để đóng đồ đạc, làm gỗ dán lạng hoặc trang sức bề mặt Dễ gây
trồng và có thể phát triển trên diện rộng của các tỉnh Bắc Trung Bộ [2]
Chất lượng cây con đem trồng rừng đóng một vai trò quan trọng
trong sản xuất lâm nghiệp Chất lượng cây con dem trồng rừng phụ thuộc
vào chất lượng hạt giống và kỹ thuật chăm sóc cây con, trong đó bón phân
và phân loại phân bón là một trong những nhân tố quyết định Bón đủ phân
và bón phân hợp lý sẽ phát huy hết tiềm năng của cây, cây con sẽ đủ tiêu chuẩn trồng rừng
Thực tế cho thấy bón phân có tác động rất lớn đến sinh trưởng và chất lượng cây con Một nguyên tắc quan trọng trong việc bón phân cho cây trồng là phải cân đối NPK Đây là các nguyên tố đa lượng cây cần nhiều nhất, nếu thiếu một chất nào cũng đều ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng
và năng suất của cây Ngược lại nếu bị thừa cũng không có lợi cho cây, lại tốn thêm chỉ phí Nhu cầu các chất NPK khác nhau tùy theo loại cây và giai đoạn sinh trưởng của cây
Phân bón NPK (3-6-1) là loại phân bón tổng hợp Trong đó thành
phần gồm các nguyên tố N, P, K, là 3 trong các nguyên tô có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực vật
Đề nâng cao sự hiểu biết của mình về công tác vườn ươm và góp phan nâng cao chất lượng cây con đem trồng rừng tôi thực hiện chuyên đề:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) đến sinh trưởng của Lát hoa ở giai đoạn l- 3 tháng tuôi tại vườn ươm cơ sở 3 trường Đại học Hồng
Trang 8Đức" Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất cây con lát hoa
CHƯƠNG I TONG QUAN VE TAI LIEU NGHIEN CUU
1.1 Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu
Lát hoa là cây gỗ lớn, cao 25 - 30m, đường kính 120 — 130cm Thân thăng, lá kép lông chim một lần chẵn Lá chét 7 — 10 đôi mọc cách, dài 10 —
12cm, rộng Š — 6cm, hình trải xoan hoặc mũi mác, đầu có mũi nhọn Hoa nở vào tháng 4 — 5, quả hình bầu dục có đầu nhọn đài 4 — 5cm, rộng 2 — 3cm, mỗi ô có nhiều hạt chất ngang thành 2 hàng, quả chín váo tháng 11 [2]
Lát hoa sống ở những vùng đá vôi hoặc thung lũng núi đá hoặc núi đất, mọc tới độ cao 800mưa sáng, mọc chậm, sống lâu, khi nhỏ ưa bóng, sinh trưởng nhanh Cây 10 tuổi trở lên có tốc độ sinh trưởng chậm hơn [2]
Ở Việt Nam Lát hoa phân bố nhiều ở các tỉnh phía bắc từ Hà Tĩnh trở ra
Thanh Hoá, Lang Son [2]
Gỗ nặng, màu hồng nhạt, lõi màu đỏ, có ánh đồng, van dep, tho min,
Ít co giãn, cong vênh, không bị mỗi mọt, thường được dùng đóng đồ ĐỖ cao cấp Lát hoa được dùng để cải tạo, phục hồi rừng hoặc trồng rừng phân tán
[2]
Kỹ thuật hạt giống: Quả chín từ thang 11 dén thang 1 nam sau Khi
chin chuyén tir mau xanh sang mau nau sam Hat luc chin cé màu cánh dán
Quả thu về rải đều phơi trong nắng nhẹ, rồi đập lẫy hạt Hạt phơi trong năng nhẹ sau 2 ngày kiểm tra hạt khô đem cất trữ băng cách cho hạt vào lọ sành, trên rắc một lớp tro mỏng, để nơi thoáng mát hoặc bảo quản lạnh bằng cách
Trang 9giữ nhiệt độ thường xuyên 0C, sau 10 tháng tý lệ nảy mầm giảm 5% so với
khi mới thu hái [3]
Kỹ thuật nhân giống bằng hạt Hạt tốt trước khi gieo phải xử lý bằng
cách ngâm nước âm 35 -40°C trong 3 — 5 giờ, vớt ra rửa chua rồi ngâm Hàng ngày rửa chua Khi hạt nứt nanh đem gieo Gieo vãi hạt sau đó lắp một lớp đất mỏng 0.3 — 0,5cm, trên phủ rơm rạ đã tây trừ sâu nắm đề giữ âm [3]
Kỹ thuật chăm sóc cây con trong vườn ươm [3] bao gồm:
- Tưới nước đủ âm để giữ âm cho đất sau khi cấy, tưới thường xuyên
và liên tục 2lần/ngày vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát trong 20 ngày đầu sau khi cấy, sau đó có thể giảm xuống 114n/ngay hoặc chỉ tưới khi đất
khô
- Che bóng cho cây sau khi cây
- Nhô cỏ phá váng định kỳ 10-15 ngày 1 lần, cỏ trên mặt luống phải
luôn sạch, kết hợp với dung que vót nhọn xới nhẹ lớp váng tạo trên mặt bầu
- Bón thúc định kỳ để thúc đây sinh trưởng của cây con Sau khi tưới
phân phải tưới rửa bằng nước lã Không được tưới nước vào những ngày nẵng gắt, vào lúc buổi trưa tốt nhất là nên bón vào những ngày râm mát
hoặc mưa phùn
1.2 Cơ sở khoa học của việc bón phan
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật nói chung và Lát hoa nói riêng Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển cơ thể thực vật
Theo nhiều tài liệu trên thế giới, chí sử dụng phân bón chiếm 30%
Việc kết hợp cân đối các nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, thế thống
canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả
Trang 10sư dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi
trường sinh thái bền vững
Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng được bón trực tiếp vào đất hoặc hoà lẫn vào
nược phun, xử lý hạt giống, rễ và cây con
Cây trồng cần cung cấp các chất đinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Các chất dinh dưỡng này bao gồm các nguyên tổ đa lượng, trung lượng, vi lượng và các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây, chúng đều có
trong đất và được cây tròng hấp thụ qua hệ thống rễ Tuy nhiên số lượng các
nguyên tố này đất không có khả năng cung cấp đủ cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó phải bón phân bồ sung Hiện tượng cây thiếu các
nguyên tố vi lượng vẫn xảy ra do trong đất quá nghèo hoặc bón không đủ
phân hữu cơ, nhu cầu dinh dưỡng của cây cao mà đất không cung cấp đủ
Viêc bón phân cho cây trồng phải tiến hành thường xuyên và được chú trọng
để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt và nâng cao sức sống cho cây trồng
Bon phan cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau,
thường không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào đó
mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Do đặc điểm của quá trình phản ứng dây
chuyên và quá trình tiếp nhận các tác động từ bên ngoài vào các hệ sinh thái
mà có thể có những tác động rất mạnh nhưng không gây ra hiệu quả gì đáng
kể, trong khi đó, có những tác động nhẹ nhàng, nhưng được nhân lên trong
phản ứng dây chuyên và tạo nên những hiệu quả rất lớn Bón phân hợp lý có
thể không cần sử dụng những lượng phân bón mà có thê đạt được hiệu quả rất cao [16]
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985)[6], để giúp cây con sinh trưởng và
phát triển tốt, vẫn đề bố sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của
Trang 11ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tô được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây
trồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất Thiếu nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọng câu tạo nên tất cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật Vai trò của protein đỗi với sự sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril, là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phân chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trong nhu amino axit, men, nhiéu loai vitamin
trong cây như BI, B2, Bó Nitơ thúc đây cây tăng trưởng, đâm nhiều chôi,
lá to và xanh, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đỗ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm vì điệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [10]; Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [II]; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000[12]; Thomas D Landis,
1985[7])
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đôi năng lượng Lân
có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đây sự phát triển của
hệ rễ Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủ
lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất
chua và kiêm
Trang 12Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phông
cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng
đạm Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu
hay đỏ Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừa lân không thấy tác
hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [10]; Viện thổ
nhưỡng nông hóa, 1998 [II|; Ekta Khurana and J.S Singh, 2000[12]; Thomas D Landis, 1985[7])
Kali (K) dong vai trò chủ yếu trong việc chuyên hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đây quá trình sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít
đỗ ngã, chống sâu bệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có
biểu hiện về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối,
sau chuyền sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) roi ru xuống (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [13]; Viện thô nhưỡng nông hóa, 1998 [9]) Các chất phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro trâu Chúng có tác dụng làm xốp đất, giữ âm, thoáng khí
Phân bón là l trong các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến
thường xuyên đem lại hiệu quả lớn Tuy nhiên bón phân cần phải cân đối để
cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ
thích hợp, thời gian bón hợp lý theo từng đối tượng cây trồng, từng loại đất
và mùa vụ cụ thể sẽ đảm bảo năng xuất cao, chất lượng tốt [17]
1.3 Những nghiên cứu trên thế giới
Dinh dưỡng khoáng và Nitơ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống thực vật, điều kiện dinh dưỡng khoáng và Nitơ là một trong những nhân tố
chỉ phối có hiệu quả nhất đến quá trình sinh trưởng và phát triển ở thực vật.
Trang 13Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan — Van Helmont (1629), ông đã
trồng cây liễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất Một năm sau cây liễu
nặng 66kg trong khi đất chi giảm 66g Tác giá kết luận: cây chỉ cần nước để
sống
Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thuyết Mùn do Thaer (1873)
đề xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống Đến thế kỷ XIX nhà hoá học
người Đức Liibig (1840) đã xây dựng thuyết chất khoáng Liibig cho rằng
độ màu mỡ của đất là do muối khoáng trong đất Ông nhẫn mạnh rằng việc bón phân hoá học cho cây sẽ làm tămg năng suất cây trồng Năm 1963,
Kinur và Chiber khẳng định việc bón phân vào đất cho từng thời kỳ khác nhau là khác nhau
Cũng năm đó, Turbitfki đã đưa ra quan điểm: “Các biện pháp bón
phân sẽ được hoàn thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu dinh dưỡng của cây, loại đất và phân bón”
Vào năm 1964 ông Prianitnikov đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn
dinh dưỡng bỗ xung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài
cây, từng tuôi cây cần có những nghiên cứu cụ thê tránh lãng phí phân bón
không cần thiết Việc bón phân thiếu hoặc thừa đều dẫn đến biểu hiện về chất lượng cây kém đi ,sinh trưởng chậm
Năm 1974, Polster, Fidler và Lir cũng đã kết luận: sinh trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng từ trong đất trong suốt quá
trình sinh trưởng Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ qua các thời kỳ
Trang 14rõ qua màu sắc của lá Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy
nhất để đo lường mức độ thiếu hụt đinh dưỡng của cây con
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Anh, Nhật, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chế phâm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất phẩm chất nông sản, không làm ô nhiễm môi
trường như: Atonik, Yogen (Nhat Ban), Cheer, Organic (Thai Lan),
Bloom Plus, Solu Spray, Spray — NGrow (Hoa Ky), Dac da thu, Dac Phong, Diép luc t6 (Trung Quốc) Nhiều chế phẩm đã được khảo nghiệm
và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
1.4 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu về phân bón
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến nguyễn Hữu Thước (1963), Nguyễn Ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985) các
tác giả đều đi đến kết luận chung rằng mỗi loại cây trồng có yêu câu về loại phân,
nông độ, phương thức bón, tý lệ hỗn hợp phân bón hoàn toàn khác nhau [4]
Để thăm đò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985)[4] va Hoang Cong Dang (2000) [2] da bon lót super lân, clorua kal1, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0- 6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 - 25% so với trọng lượng bầu Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước Tuy vậy,
đây là một vẫn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện nghiên cứu
cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985)[4]
Năm 1989, Trương Thị Thảo đã nghiên cứu về dinh dưỡng NPK đối
với Thông nhựa đã cho thấy dinh dưỡng không những ảnh hưởng đến sinh
trưởng của cây Thông nhựa mà còn ảnh hưởng đến khả năng nhiễm bệnh
Trang 15của cây Bón phân hợp lý làm tăng sức đề kháng của cây đối với bệnh phan
trắng
[ ]
Năm 2000, Hoàng Công Đãng trong luận văn tiến sỹ đã đề cập đến ảnh hưởng của một số nhân tô sinh thái đến sinh trưởng và sinh khối của loài cây bần chua, trong đó tác giả đã nghiên cứu tác động riêng lẽ của từng loại phân NPK đến sinh trưởng và chất lượng cây con bần chua [2]
Từ kết quả nghiên cứu của nhà bác học của nhiều nhà khoa học trong
nước cho thấy đối với từng loài, từng giai đoạn phát triển khác nhau thì yêu cầu về phân bón cũng khác nhau Các tác giả đã xác định chính xác định
lượng phân bón phù hợp để cây con của các loài cây đó sinh trưởng nhanh,
chất lượng tốt
1.4.2 Những nghiên cứu về Lát hoa
Ở nước ta theo ông Lê Xuân Ái, ở VN lát hoa được phân bỗ cực it tai
các tỉnh từ miền Trung trở ra Riêng miền Đông Nam bộ chỉ duy nhất vườn
quốc gia Côn Đảo có lát hoa [14]
Theo nghiên cứu của Lê Đình Khả, năm 2003 chỉ có một loài lát hoa duy nhất là C tabularis, bị khai thác kiệt quệ và hiện đã có tên trong Sách
Đỏ, cần được bảo tồn Cách đây 35 năm, cây lát hoa, với nguồn giống lấy tại
chỗ đã được trồng ở vùng núi Mộc Châu (Sơn La), Lang Chánh (Thanh
Hóa), Quy Hop (Nghệ An) Đến năm 1999, Trung tâm nghiên cứu giống cây
rừng (Viện khoa học Lâm nghiệp) thực hiện một đề tài thuần hóa lát hoa,
hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học Ô-xtrây-li-a và các nước khác
trong vùng, đã tập hợp được bộ giống 28 lô hạt của 28 xuất xứ (thuộc 9 nước
trong khu vực) [15]
Đưa trồng khảo nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan cho thấy, khi trồng
tập trung trên đất trỗng và đôi trọc lát hoa bị loài sâu đục nõn (Hypsipyla)
Trang 16pha hai rat nang né Chang han (theo tai liệu nghiên cứu Lê Dinh Kha, Ha
Huy Thịnh, Phan Thanh Hương, Mai Trung Kiên), lát hoa trồng tại Ba Vì
(Hà Tây), tỷ lệ cây (ở giai đoạn hai tuỗi) có giỗng xuất xứ ở Thanh Hóa bị
sâu 77,3%%; giống xuất xứ tại Hải Nam, Trung Quốc bị sâu 87,3%; giống xuất xứ tại Ma-lai-xi-a bị sâu tới 95,7% Điều tra tỷ lệ cây bị sâu đục nõn ở
các điều kiện lập địa khác nhau cho thấy: Lát hoa (một năm tuôi) trồng trên
đôi trọc (ở Ba Vì), nơi có độ cao 50 mét (so với mặt biển) bị sâu phá hại
nhiều nhất (47%-88%); còn tại Tú Sơn (Hòa Bình) và Ya Jun (Gia Lai) trồng
ở độ cao 100-400 mét, đất còn tính chất rung thi it bi sau (chi 2%-59% và
1%-20%) [15]
Thực tế đó, chứng tỏ không thê trồng lát hoa lẫy gỗ theo phương thức
trồng tập trung trên đất trống đôi núi trọc (đặc biệt là vùng đồi thấp) mà không có cây che bóng Vì thế, đã có một số lát hoa (kê trên) được thử
nghiệm trồng xen đồng thời với Keo lá tràm tại khu vực Đá Chông (Hà
Tây), nhằm hạn chế sự phá hại của sâu đục nõn Với biện pháp lâm sinh này,
tỷ lệ cây bị sâu có giảm (với trông tập trung thuần loài) nhưng vẫn còn cao,
khoảng 70-85% [15]
Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 V/v: Ban hành
Danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp [18] Lát hoa là 1 trong số cây được bố sung vào Danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất nhằm đáp ứng phát triển kinh tế
lâm nghiệp và nhu cầu sản xuất, kinh doanh Và được trồng chủ yếu ở 3
vung trong các tinh sau:
Vung Tay Bac (TB): Gém 4 tinh Lai Chau, Dién Bién, Son La, Hoa
Binh
Trang 17Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm 10 tỉnh: Hải phòng, Hải
Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Nam Định, Hà
Nam, Ninh Bình
Vùng Bắc Trung bộ (BTB) gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
Hiện nay có nhiều tài liệu hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm loài lát hoa như: Hướng dẫn kỹ thuật trồng Lát hoa của Dự án trồng rừng KFW4 tại các tỉnh Thanh
Hóa và Nghệ An [1], hướng dẫn kỹ thuật gieo ươm Lát hoa trong cuốn Số tay kỹ thuật gieo ươm một số giống cây rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà nội, 2007
của tác giả Phạm Văn Điền và Triệu Minh Đức [1] Những tài liệu này đã cung
cấp tương đối đây đủ kỹ thuật cho công tác gieo ươm loài cây này nhưng trong chăm sóc việc bón thúc không xác định rõ hàm lượng Vì vậy, để xác định một
cách chính xác hàm lượng phân bón thúc ở giai đoạn 1-3 tháng tuổi là cần thiết
CHƯƠNG II ĐÓI TƯỢNG, MỤC TIỂU, NOI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Lát hoa giai đoạn 1 - 3 tháng tuôi tại vườn ươm cơ sở 3, trường Đại học Hồng Đức
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định ảnh hưởng của phân bón NPK (3-6-1) ở các nông độ khác nhau đến sinh trưởng của cây Lát hoa ở độ tuôi 1 - 3 tháng, trên cơ sở đó đề
xuất biện pháp kĩ thuật chăm sóc hợp lý giai đoạn vườn ươm
2.3 Nội dung nghiên cứu
Trang 18-Nghiên cứu ảnh hướng của phân bón NPK (3:6:1) ở các nông độ khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây gieo ươm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng của cây con
- Xác định nồng độ phân bón thích hợp
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho cây Lát
hoa gieo wom
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bồ trí thí nghiệm:
- Loại thí nghiệm: ngoài thực dia
- Thành phân ruột bầu gồm: 88% đất mặt dưới tán rừng, 10% phân,
2% sufelân Lâm thao [1] Đất được xử lý bằng thuốc Penaec P (Pflanzen)
+ Số cay TN: 30cây/công thức/Ilần lặp
+ Tổng số cây TN: 360 cây
Công thức gồm: 4 công thức với 3 lần lặp/1 công thức TN : Được tưới thúc phân với các nông độ khác nhau
* CT I: Nông độ 0,1% (cứ 0,1kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước
sạch) thì lượng phân sử dụng được tính cho 30 bầu (30 cây) cho 1 công thức/1 lần lap 1a 2.04(g) hoa tan véi 2,04 lít nước
* CT II: Nông độ 0,3% (cứ 0,3kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước
sạch) thì lượng phân sử dụng được tính là 6.12(g) hoà tan với 2,04 lít nước
+ CT II: Nông độ 0,5% (cứ 0,5kg phân bón hoà tan trong 100 lít nước sạch) thì lượng phân sử dụng được tính là 10,2(g) hoa tan với 2,04 lít nước
* CT IV: Đối chứng (không tưới phân)
- Phương pháp bố trí: Phương pháp ô thí nghiệm ngẫu nhiên đây đủ (RCB)
Cac CT (I, UI, Il, IV) được bốc thăm ngẫu nhiên trong mỗi lần lặp (1, 2, 3)
Sơ đồ: Phương pháp bố trí thí nghiệm
Trang 19
Sô cây thí
Trang 20
+ Chiều cao cây + Chiều dài của lá
+ Sô lá của cây
2.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
Tiến hành thu thập số liệu đo d inh k ỳ 20 ngày/1 lần
- Chất lượng được đánh giá qua các cấp chất lượng: tốt, trung bình, xấu dựa trên quan sát đặc điểm hình thái kích thước, mức độ sinh trưởng:
+ Cây tốt: là những cây có các chỉ tiêu sinh trưởng vượt so với các chỉ tiêu trung bình, không bị sâu bệnh, lá xanh thẫm
+ Cây trung bình: là những cây có chỉ tiêu sinh trưởng ở mức trung bình, không sâu bệnh, phát triển bình thường
+ Cây xâu: là những cây sinh trưởng kém, cụt ngọn, 2 thân, bị sâu bệnh
hại
- Đếm số lá: (N¡) đếm toàn bộ số lá trên cây
- Đo chiều Hạụ là chiều dài từ gốc cây sát mặt đất đến đỉnh sinh trưởng
của cây Dụng cụ đo: thước thắng vạch đến mm Cách đo: dựng thước thắng đứng song song với thân cây và đọc số (ảnh 02)
Anh 02: Phương pháp thu thập
Trang 21- Đo kích thước lá kép (L¡): đo từ đầu cuống lá đến cuối lá (ảnh 03)
+ Dụng cụ đo: thước thăng vạch đến mm
- Do đường kính cô rễ (Dạ):
+ Dụng cụ đo: thước Palmer đọc đến 0,1 mm
+ Cách đo: đặt thước vuông góc với thân cây tại vị trí gốc cây sát mặt đất Thân cây được kẹp giữa chân thước có định và chân thước di động(ảnh 04)
+ Chuẩn bị giỗng cây con trong giai đoạn nghiên cứu
+ Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ để thực hiện TN từ khâu làm đất, đóng
bầu, cấy cây, chăm sóc cây như bình tưới nước,bình tưới phân cho đến các dụng cụ đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng
+ Cây thí nghiệm phải được chăm sóc đúng kỹ thuật của cây gieo
ươm đối với cây con Lát hoa ở giai đoạn 1-3 tháng tuôi như:
* Kỹ thuật cấy cây vào bầu ( cây con nhỗ đến đâu cây đó, không để cây con đã nhỗ sang ngày mai, cây con nhố phải được nhúng rễ trong bát
Trang 22nước để tránh rễ bị khô, héo ảnh hưởng đến cây thí nghiệm và kết quả thí
nghiệm)
* Cây con sau khi cây phải theo dõi chăm sóc như: tưới nước đủ âm, làm giàn che nếu trời nắng và đở bỏ khi hết nắng
Nếu trời nẵng nên phá váng buổi chiều tránh ánh nắng làm khô rễ cây
khi cây đang còn non yếu, đất quá khô thì phải tưới nước đủ âm để phá váng nếu không sẽ ảnh hưởng tới rễ cây con (không nên tưới quá ướt)
Các chỉ tiêu trên đo đếm trong mỗi lần thu thập số liệu Kết quả điều
tra được ghi vào biểu số liệu gốc Từ đó tổng hợp, lấy giá trị trung bình cho mỗi lần lặp và phân cấp chất lượng cây theo các cấp chất lượng cây
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê và sử dụng phân mềm Exel để tính toán, cụ thể như sau:
® Dùng phương pháp phân tích phương sai 1 nhân tố [19] để đánh giá ảnh
hưởng của các công thức phân bón khác nhau ở mỗi lần lặp đến sinh trưởng của cây con Lát hoa ở giai đoạn từ 1 - 3 tháng tuổi
+ Trong thí nghiệm: nhân tố thí nghiệm phân bón (nhân tố A) được
Trang 23nó không ngẫu nhiên nếu nó tác động một cách khác nhau lên kết quả thí
nghiệm
Biến động thí nghiệm có thể tìm được bằng công thức sau:
S7
N
So sanh F va Fos, néu F tinh lén hon Fos thi phân bón có ảnh hưởng tới sinh
trưởng của cây con
e Dùng Trình lệnh (T - D - A) để tính Fa bằng Excel qua các bước sau:
-B: Click Tools trén thanh thyc don Trong hộp thoại Tools chọn Data Analysis
- B,: Trong hép thoai Data Analysis chon ANOVA: Single Factor
- B3: Trong hép thoai ANOVA: Single Factor ké khai ving dtr ligu
dau vao (Input Range) Nếu số liệu các cấp của nhân tố A nạp vào bảng tính theo cột thì chọn COLUMNS, theo hang thì chọn ROW
Trang 24- Ba: kê khai vùng xuất kết quả (Output Range), chỉ cần 1 ô phía đưới
vùng dữ liệu đầu vào
- B;: click OK
Phuong pháp đánh giá sự ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng (Dùng
phương pháp so sánh các mẫu về chất) [19] cây ươm
Giả thuyết Hạ là nhân tố phân bón (nhân tô A) không ảnh hưởng đến chất lượng cây gieo ươm
+Néu x7a< y’os tra bang voi bac tu do k = (a-1)(b-1) thì giả thuyết
Hạ được chấp nhận, nghĩa là công thức khác nhau không ảnh hưởng đến số
cây tốt, cây trung bình, cây xấu
+ Nếu Xx'a> X o; tra bảng với bậc tự do k = (a-I)(b-1) thì giả thuyết
Hạ bị bác bỏ, nghĩa là công thức khác nhau ảnh hưởng đến số cây tốt, cây
trung bình, cây xấu
e Kiểm tra Hạ bằng chương trình Excel qua các bước sau:
- B¡: chon bảng tính điện tử 1 cột bất kỳ và ghi lần lượt Tạ, Tạ;, Tạm lặp
lại đủ a lần với việc dùng lệnh copy
- B;: Chọn 1 cột tiếp theo (cột 2) ghi liên tiếp a lần Tụ, a lần Tụạ, và a
lần Tụ; cũng dùng trình lệnh copy
- Bạ: ( Cột 3) ghi lần lượt các số liệu quan sát f của mỗi cấp chất lượng dung lệnh copy
Trang 25B,: Mở cửa số IRRISTAT kích chuột vào window chon Data Editor
B;: Vào file chọn new,cửa số mở được mở và ta nhập số liệu trực tiếp
vào bảng(cột 1 LN gồm 3 lần nhắc lại, cột 2 CT$ gồm 4 công thức, cột 3
chiêu cao cây hoặc đường kính cổ rễ hoặc chiều dài lá, khi nhập xong vào file chọn save as để lưu bảng số liệu đó, sau khi lưu xong ta tắt cửa số bảng
số liệu đó
B;: Vao Analysis chon ANOVA sau do click vao Balanced Anysis,
cửa sô hiện thì ghi tên file name đã lưu sau đó click open,ghi tén file name 1
lần nữa và click open cửa số mới mở
Ba: Kích vào add dưới hộp Analysis variable Chọn CT$ (công thức),
LN (nhắc lai) và kích vào add ở đưới factor, xong lại chọn CT$ ở trong hộp factor và kích vào add ở dưới ANOVA Model Specìy ở dưới chuyên sang bước 5
Bs: Chon option để hộp thoại Heading mở, ghi dòng chữ “thiết kế thí
nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn RCB” để sang bước 6
B¿: Từ đây kích chuột vào OK để chạy chương trình, và cho kết quả
Trang 26So sánh các giá trị trung bình các chỉ tiêu sinh trưởng của 3 lần lặp
của các công thức: công thức nào có X của các chỉ tiêu sinh trưởng lớn
nhất thì nồng độ bón phân của công thức đó là thích hợp nhất
3.1 Đặc điêm khu vực và đôi tượng nghiên cứu
CHUONG III
KET QUA VA PHAN TICH KET QUA NGHIEN CUU
3.1.1 Đặc điểm khí hậu khu vực nghiên cứu
Bảng 3.1: Diễn biến của các yếu tố khí hậu qua các tháng trong 3 năm
2008-2010 Tháng Lượng mưa (mm) Nhiệt độ (C) Độ âm (%)
Trang 27TB 119,3 | 157,5 | 171,9 23,4 24,3} 24,5} 83,5|) 82,9 83.7
(Neguén Tram khí tượng BắcTrung Bộ)
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng từ 23,4 đến 24,5°C, nhiệt độ trung
bình tháng cao nhất vào tháng 6 năm 2010 1a 30,6°C
- Lượng mưa hàng năm tương đối lớn từ 1431,5 đ ến 2060,9 (mm) Mùa
mưa thường kéo đài 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 11, lượng mưa lớn thường
tập trung vào tháng §, 9, 10, đạt tới 688,7 (mm) tháng 8 năm 2011
- Độ âm hàng năm khoảng từ 81,9% đến 83,7%
Nhìn chung khí hậu thời tiết khu vực nghiên cứu có nhiệt độ không quá
cao, lượng mưa lớn vừa phải thuận lợi cho việc sản xuất Lâm nghiệp nói
chung và chăm sóc cây giống nói riêng
Bảng 3.2: Bảng diễn biến của các yếu tố khí hậu 4 tháng đầu năm 2011
tại thành phố Thanh Hoá
trưởng và phát triển, tuy vây trong thời gian thí nghiêm thời tiết diễn biến
phức tạp: nhiệt độ thấp trong thời gian dài nên quá trình cây sinh trưởng
chậm lại và ảnh hưởng đến chất lượng cây con vì thế sẽ ảnh hưởng Ít nhiều
đến kết quả thí nghiệm
Trong 4 tháng đầu năm 2011 khí hậu diễn biễn phức tạp, nhiệt độ thấp
kéo dài trong 3 tháng 1, 2, 3 thấp nhất là tháng 1 ở 14C, tháng 2, 3 nhiệt độ