Nhận thức được điều đó, Đảng và nhà nước đang đẩy mạnh các chính sách kích thích phát triển Công nghệ Thông tin, kinh tế thông tin tri thức; ngày một hoàn thiện thể chế pháp lý cho nó.Vậ
Trang 1KINH TẾ THÔNG TIN
Đề tài:
Các công cụ trong nền kinh tế thông tin ở Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thanh Huệ
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 2KINH TẾ THÔNG TIN
Đề tài:
Các công cụ trong nền kinh tế thông tin ở Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: Lê Thanh Huệ
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………5
Trang 4Đó là xu thế phát triển tất yếu khách quan, xu thế ấy lôi cuốn tất cả các quốc gia, không loại trừ ai Như vậy, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển công nghệ thông tin là phương thức xây dựng một đất nước công nghiệp mới trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, của xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ Nhận thức được điều đó, Đảng và nhà nước đang đẩy mạnh các chính sách kích thích phát triển Công nghệ Thông tin, kinh tế thông tin tri thức; ngày một hoàn thiện thể chế pháp lý cho nó.
Vậy để Công nghệ Thông tin nói chung và nền kinh tế thông tin ở nước ta nói riêng có thể tồn tại và phát triển, đem lại hiệu quả cao trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội thì chúng cần những gì? Đó chính là nền tảng, là phương pháp, hay công cụ mà nền kinh tế thông tin và các công cụ đó là gì? Vai trò của nó ra sao? Trong bài tìm hiểu sau đây chúng tôi sẽ giải đáp các vến đề trên cho các bạn có một cái nhìn tổng quan nhất
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1 Khái niệm thông tin
Thông tin (inform)là tập hợp các dữ liệu đã được xử lý nhằm đưa ra mục đích thông báo tin tức, là tất cả những gì mang lại hiểu biết cho con người.Thông tin giúp làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định Thông tin có thể gồm nhiều giá trị dữ liệu được tổ chức sao cho nó mang lại một ý nghĩa cho một đối tượng cụ thể, trong một ngữ cảnh cụ thể
1.1.2 Khái niệm kinh tế thông tin
Nền kinh tế “hậu công nghiệp” hiện được nhiều học giả của các trường phái khoa học xã hội gọi là “nền kinh tế tri thức”, còn các học giả của các trường phái khoa học tự nhiên, Công nghệ Thông tin gọi là “nền kinh tế thông tin – kinh tế số” Các khái niệm "kinh tế tri thức", "kinh tế thông tin" hay "kinh tế số" hiện được dùng với nghĩa gần tương đương, chúng đều nhấn mạnh và khẳng định vai trò động lực phát triển kinh tế toàn cầu của thông tin, tri thức, Công nghệ Thông tin (CNTT) và truyền thông
Khái niệm này hiện được định nghĩa chưa thật chặt chẽ, được dùng để đặc trưng cho một nền kinh tế với vai trò tăng trưởng của các hoạt động thông tin và công nghiệp thông tin.
Trong nền kinh tế thông tin, tri thức đóng vai trò chủ đạo bên cạnh các thành
tố truyền thống khác của nền kinh tế; các sản phẩm của nền kinh tế đó chứa đựng hàm lượng tri thức cao hơn hẳn so với trước đây Khái niệm kinh tế thông tin đã chỉ ra sự khác biệt giữa 2 lĩnh vực (domain): lĩnh vực vật chất và năng lượng, và lĩnh vực thông tin, trong đó lĩnh vực đầu tiên bao gồm các khu vực nông nghiệp và công nghiệp, trong khi lĩnh vực thứ 2 tương ứng với khu vực thông tin và quan tâm đến sự biến đổi thông tin từ “dạng này sang dạng khác”
Có hai điểm quan trọng còn chưa rõ trong khái niệm kinh tế thông tin Thứ nhất là chưa rõ tiêu chuẩn nào để đánh giá một nền kinh tế có phải là nền kinh
tế thông tin hay không và thứ hai là hiện đang có quá nhiều cách quản lý khác nhau đối với các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến thông tin
Trang 6Nếu đối với vấn đề thứ nhất người ta mới tập trung vào nghiên cứu, đánh giá
sự tăng trưởng của các hoạt động thông tin hơn là vào mức độ đạt được của nó,
và hiện có rất ít những nghiên cứu nhằm xác định rõ mức độ thông tin hóa nền kinh tế để nó trở thành nền kinh tế thông tin thì đối với vấn đề thứ hai lại được quan tâm nghiên cứu và thảo luận rộng rãi, cộng đồng quốc tế hiện đã khá thống nhất về hệ thống chỉ tiêu hạt nhân để đo nền kinh tế thông tin
Thực chất của phát triển KTTT là quá trình không ngừng khai thác, phân phối, sử dụng thông tin, tri thức trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trên cơ sở nền giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ hiện đại Trong nền kinh tế thông tin, tri thức sẽ trở thành đối tượng chủ yếu của sản xuất, phân phối, tiêu thụ và là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được chuyển hoá từ mô hình dựa trên tiêu hao nguồn tài nguyên vật chất sang loại hình dựa trên tri thức và kỹ thuật
1.2 VAI TRÒ
Nhờ có các dịch vụ thông tin mà các doanh nghiệp, các ngành, các khu vực của nền kinh tế không ngừng phát triển Và như vậy, nó có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như trong quá trình thực hiện CNH- HĐH đất nước, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, với sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường và cạnh tranh ngày càng gay gắt khốc liệt thì vai trò của dịch vụ thông tin thương mại lại càng trở nên quan trọng và cụ thể hơn
Dịch vụ thông tin kinh tế nâng cao hiệu quả kinh doanh do mở rộng được quy mô kinh doanh, tiết kiệm được chi phí Ở tầm vĩ mô, vai trò này được thể hiện là nhờ có những thông tin về thị trường, về nhu cầu mà hoạt động kinh doanh của toàn xã hội đạt kết quả tốt hơn tiết kiệm chi phí hơn, thị trường được mở rộng cả trong nước và Quốc tế Từ đó hiệu quả và quy mô tổng thể nền kinh tế được nâng lên và mở rộng Dưới góc độ vĩ mô, thì nhờ
có dịch vụ này mà doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thực tế của người tiêu dùng từ đó có biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn, thị trường thị phần được mở rộng và quy mô kinh doanh ngày một lớn hơn
Dịch vụ thông tin kinh tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự cách mạng hoá trong lưu thông
Trang 7 Dịch vụ thông tin kinh tế thu hút một lượng lao động lớn Ở tầm vĩ mô, đây là sự chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành dịch vụ tạo nên cơ cấu lao động hợp lý Còn ở tầm vi mô, thì đây là một ngành dịch
vụ thu hút lớn lượng lao động sống rất lớn Và sản phẩm của dịch vụ này chủ yếu phụ thuộc vào con người
Dịch vụ thông tin nâng cao chất lượng phục vụ người tiêu dùng
Dịch vụ thông tin phục vụ cho quản lý Nhà nước về kinh tế và thương mại được tốt hơn Nhờ có các thông tin mà các cấp quản lý đề ra những quyết định kịp thời chính xác và có hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về kinh tế
Dịch vụ thông tin góp phần thu hút đầu tư cho nền kinh tế Nhờ sự cung cấp các thông tin mà các nhà đầu tư có thể tìm hiểu được chính sách, luật pháp và cơ hội đầu tư ở nước ta; từ đó họ sẽ đầu tư vào nước ta Ngoài ra, dịch vụ thông tin còn có các vai trò như đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ, hình thành các loại dịch vụ mới, hình thành các thị trường trọng yếu trong nền kinh tế thị trường
Cùng với sự phát triển hướng về kinh tế thông tin, cơ cấu nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia cũng đang có sự dịch chuyển về khu vực Thông tin - Dịch vụ với nhiều ngành, nghề mới được hình thành Trong số 500 nghề hàng đầu ở những năm cuối thế kỷ trước đã có gần 400 nghề chưa từng xuất hiện ở thời điểm giữa thế kỷ này, riêng trong lĩnh vực CNTT đã có khoảng 40 ngành nghề khác nhau
Các ứng dụng của kinh tế thông tin :
Quản lí điều hành trong cơ quan chính phủ, các bộ ban ngành
Quản lí điều hành doanh nghiệp, tập đoàn, cộng đồng xã hội, tổng công ty
Đưa ra các thông tin chính xác về tình hình của một quốc gia, doanh nghiệp
và người dân
Trang 8CHƯƠNG 2: CÔNG CỤ TRONG KINH TẾ THÔNG TIN
2.1 KHÁI NIỆM
2.1.1 Công cụ
Là phương tiện được sử dụng để tiến hành, thực hiện cho một mục đích cụ thể.Một công cụ có thể là một đối tượng vật lý như các công cụ cơ khí bao gồm cưa và búa hoặc một đối tượng kỹ thuật như một công cụ web authoring hoặc chương trình phần mềm Hơn nữa, một khái niệm cũng có thể được coi là một công cụ
2.1.2 Công cụ trong kinh tế thông tin
Là những công cụ được sử dụng, được dùng làm cơ sở, phương pháp, cách thức để kinh tế thông tin có thể hình thành, hoạt động, phát triển và làm tròn vai trò của mình
Có vai trò dặc biệt quan trọng ảnh hưởng trược tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế thông tin
2.2 CÁC CÔNG CỤ CHÍNH
Để biết được nền kinh tế thông tin cần có những công cụ nào, và những công
cụ nào là phục vụ cho nền kinh tế này thì chúng ta cần nhắc lại khái niệm tổng quát của thông tin và kinh tế thông tin
Như bên trên ta có Thông tin = Dữ liệu + Xử lý dữ liệu + Công bố Từ đây ta thấy để có được một thông tin trước tiên ta cần phải có dữ liệu đã được sử lý và được truyền thông điều này dẫn đến việc cần phải có cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin và sự phát triển của Công nghệ Thông tin để quản lý, và sử lý dữ liệu, thuyền phát dữ liệu; và hơn hết chúng ta cần phải có những con người có hiểu biết
về những lĩnh vực này để có thể vận hành, quản lý một cách chính xác nhất, đưa ra
Trang 9Bên cạnh đó việc quản lý của nhà nước cũng là điều không thể thiếu; không có một lĩnh vực kinh tế - xã hội nào muốn tồn tại và phát triển lại không cần đến những chủ chương, chính sách phát triển của nhà nước và đặc biệt là pháp luật về lĩnh vực kinh tế - xã hội đó Có thể nối đây là cơ sở cho những người muốn làm kinh tế thông tin thực hiện
Như vậy các công cụ chính của nền kinh tế thông tin gồm có:
1. Dữ liệu và Hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
2. Cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin và sự phát triển của Công nghệ Thông tin.
3. Sự phát triển của thương mại điện tử.
4. Con người.
5. Chính sách của nhà nước.
Trang 10CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
3.1.TỔNG QUAN
3.1.1 Dữ liệu
Theo điều 4 Luật Giao dịch điện tử ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005,
Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký hiệu,chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự.
Theo nghĩa rộng, dữ liệu thô là các số, ký tự, hình ảnh hay các kết quả khác của các thiết bị chuyển đổi các lượng vật lý thành các ký hiệu Các dữ liệu thuộc loại này thường được xử lý tiếp bởi người hoặc đưa vào máy tính Trong máy tính, dữ liệu được lưu trữ và xử lý tại đó hoặc được chuyển (output) cho một người hoặc một máy tính khác Dữ liệu thô là một thuật ngữ tương đối; việc xử lý dữ liệu thường được thực hiện theo từng bước, và "dữ liệu đã được xử lý" tại bước này có thể được coi là "dữ liệu thô" cho bước tiếp theo
Các thiết bị tính toán được phân loại theo phương tiện mà chúng sử dụng để biểu diễn dữ liệu Một máy tính tương tự (analog computer) biểu diễn dữ liệu bằng hiệu điện thế, khoảng cách, vị trí hoặc các định lượng vật lý khác Một máy tính số (digital computer) biểu diễn dữ liệu bằng chuỗi các ký hiệu rút ra từ một bảng chữ cái cố định Các máy tính số phổ biến nhất sử dụng bảng chữ cái nhị phân, nghĩa
là, một bảng chữ cái gồm hai chữ cái, thường được ký hiệu là "0" và "1" Các biểu diễn quen thuộc hơn, chẳng hạn các số và chữ, sẽ được xây dựng từ bảng chữ cái nhị phân
Có một số dạng dữ liệu đặc biệt Một chương trình máy tính là một tập hợp dữ liệu được hiểu là các lệnh Hầu hết các ngôn ngữ máy tính phân biệt giữa các chương trình và các dữ liệu khác mà chương trình đó làm việc với Nhưng trong một số ngôn ngữ, chẳng hạn LISP và các ngôn ngữ tương tự, các chương trình về bản chất là không thể phân biệt với các dữ liệu khác Ngoài ra, còn có một dạng dữ liệu đặc biệt khác là metadata dữ liệu mêta, nghĩa là một mô tả về dữ liệu khác Một ví dụ về dữ liệu mêta là danh mục tài liệu tại thư viện, đây là một mô tả về nội dung của các cuốn sách
Trang 113.1.2 Cơ sở dữ liệu
Một cơ sở dữ liệu là một tập hợp dữ liệu liên kết với nhau một cách logic và mang một ý nghĩa cố hữu nào đó Một cơ sở dữ liệu không phải là một tập hợp tuỳ tiện.
Một cơ sở dữ liệu biểu thị một khía cạnh nào đó của thế giới thực như hoạt động của một công ty, một nhà trường, một ngân hàng… Những thay đổi của thế giới thực phải được phản ánh một cách trung thực vào trong cơ sở dữ liệu Những thông tin được đưa vào trong cơ sở dữ liệu tạo thành một không gian cơ sở dữ liệu hoặc là một “thế giới nhỏ” (miniworld)
Một cơ sở dữ liệu được thiết kế và được phổ biến cho một mục đích riêng Nó
có một nhóm người sử dụng có chủ định và có một số ứng dụng được xác định phù hợp với mối quan tâm của người sử dụng Nói cách khác, một cơ sở dữ liệu có một nguồn cung cấp dữ liệu, một mức độ tương tác với các sự kiện trong thế giới thực
và một nhóm người quan tâm tích cực đến các nội dung của nó
Một cơ sở dữ liệu có thể có cỡ tuỳ ý và có độ phức tạp thay đổi Có những cơ
sở dữ liệu chỉ gồm vài trăm bản ghi (như cơ sở dữ liệu phục vụ việc quản lý lương
ở một cơ quan nhỏ), và có những cơ sở dữ liệu có dung lượng rất lớn (như các cơ
sở dữ liệu phục vụ cho việc tính cước điện thoại, quản lý nhân sự trên một phạm vi lớn) Các cơ sở dữ liệu phải được tổ chức quản lý sao cho những người sử dụng có thể tìm kiếm dữ liệu, cập nhật dữ liệu và lấy dữ liệu ra khi cần thiết Một cơ sở dữ liệu có thể được tạo ra và duy trì một cách thủ công và cũng có thể được tin học hoá Một cơ sở dữ liệu tin học hoá được tạo ra và duy trì bằng bằng một nhóm chương trình ứng dụng hoặc bằng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu
3.1.3 Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (tiếng Anh: Database Management System - HQTCSDL), là phần mềm hay hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở
dữ liệu Cụ thể, các chương trình thuộc loại này hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xóa và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu (CSDL).
Một hệ quản trị cơ sở dữ liệu là một tập hợp chương trình giúp cho người sử dụng tạo ra, duy trì và khai thác một cơ sở dữ liệu Nó là một hệ thống phần mềm phổ
Trang 12dụng, làm cho quá trình định nghĩa, xây dựng và thao tác cơ sở dữ liệu trở nên dễ dàng cho các ứng dụng khác nhau.
Chức năng của hệ quản trị cơ sở dữ liệu:
Lưu trữ các định nghĩa, các mối liên kết dữ liệu (gọi là siêu dữ liệu) vào một từ điển dữ liệu Các chương trình truy cập đến cơ sở dữ liệu làm việc thông qua hệ quản trị cơ sở dữ liệu Hệ quản trị cơ sở dữ liệu sử dụng dữ liệu trong từ điển dữ liệu để tìm kiếm các cấu trúc thành phần dữ liệu và các mối liên kết được yêu cầu Mọi sự thay đổi trong các tệp cơ sở dữ liệu sẽ được tự động ghi lại vào từ điển dữ liệu Như vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu giải phóng người sử dụng khỏi việc lập trình cho các mối liên kết phức tạp trong mỗi chương trình, việc sửa đổi các chương trình truy cập đến tệp cơ sở dữ liệu đã bị sửa đổi Nói cách khác, hệ quản trị cơ sở dữ liệu loại bỏ sự phụ thuộc giữa dữ liệu và cấu trúc ra khỏi hệ thống
Tạo ra các cấu trúc phức tạp theo yêu cầu để lưu trữ dữ liệu Nó giúp người sử dụng làm nhiệm vụ khó khăn là định nghĩa và lập trình cho các đặc trưng vật lý
của dữ liệu.
Biến đổi các dữ liệu được nhập vào để phù hợp với các cấu trúc dữ liệu ở điểm
2 Như vậy, hệ quản trị cơ sở dữ liệu giúp người sử dụng phân biệt dạng logic
và dạng vật lý của dữ liệu Bằng việc duy trì sự độc lập dữ liệu, hệ quản trị cơ
sở dữ liệu chuyển các yêu cầu logic thành các lệnh định vị một cách vật lý và lấy ra các dữ liệu yêu cầu Điều đó cũng có nghĩa là hệ quản trị cơ sở dữ liệu tạo khuôn dạng cho các dữ liệu được lấy ra để làm cho nó phù hợp với mong
muốn logic của người sử dụng.
Tạo ra một hệ thống bảo mật và áp đặt tính bảo mật và riêng tư trong cơ sở dữ liệu
Tạo ra các cấu trúc phức tạp cho phép nhiều người sử dụng truy cập đến dữ liệu
Cung cấp các thủ tục sao lưu và phục hồi dữ lieu để đảm bảo sự an toàn và toàn vẹn dữ liệu
Xúc tiến và áp đặt các quy tắc an toàn để loại bỏ vấn đề toàn vẹn dữ liệu Điều
đó cho phép ta làm tối thiểu sự dư thừa dữ liệu và làm tối đa tính nhất quán dữ liệu
Trang 13 Cung cấp việc truy cập dữ liệu thông qua một ngôn ngữ truy vấn Một ngôn ngữ truy vấn là một ngôn ngữ phi thủ tục cho phép người sử dụng chỉ ra cái gì cần phải làm mà không cần phải chỉ ra nó được làm như thế nào Các hệ quản trị cơ
sở dữ liệu cũng cung cấp việc truy cập dữ liệu cho những người lập trình thông qua các ngôn ngữ thủ tục
Ưu , nhược điểm của hệ quản trị cơ sở dữ liệu
Ưu điểm của HQTCSDL:
Quản lý được dữ liệu dư thừa
Đảm báo tính nhất quán cho dữ liệu
Tạo khả năng chia sẻ dữ liệu nhiều hơn
Cải tiến tính toàn vẹn cho dữ liệu
Nhược điểm:
HQTCSDL tốt thì khá phức tạp
HQTCSDL tốt thường rất lớn chiếm nhiều dung lượng bộ nhớ
Giá cả khác nhau tùy theo môi trường và chức năng
HQTCSDL được viết tổng quát cho nhiều người dùng thì thường chậm
Một số loại hệ quản trị cơ sở dữ liệu:
Có rất nhiều loại hệ quản trị CSDL khác nhau: từ phần mềm nhỏ chạy trên máy tính cá nhân cho đến những hệ quản trị phức tạp chạy trên một hoặc nhiều siêu máy tính Tuy nhiên, đa số hệ quản trị CSDL trên thị trường đều có một đặc điểm chung là sử dụng ngôn ngữ truy vấn theo cấu trúc mà tiếng Anh gọi là Structured Query Language (SQL) Các hệ quản trị CSDL phổ biến được nhiều người biết đến là MySQL, Oracle, PostgreSQL, SQL Server, DB2, Infomix, v.v Phần lớn các hệ quản trị CSDL kể trên hoạt động tốt trên nhiều hệ điều hành khác nhau như Linux, Unix và MacOS ngoại trừ SQL Server của Microsoft chỉ chạy trên hệ điều hành Windows
3.2 VAI TRÒ – TẦM QUAN TRỌNG
Vậy tầm quan trọng của dữ liệu đối với kinh tế thông tin là gì?
Đối tượng chính của nền kinh tế thông tin là thông tin Thông tin bao gồm tập hợp các dữ liệu đã được xử lý hay nói cách khác để có thông tin cần phải có các dữ
Trang 14liệu thô.Chính vì thế nếu không có dữ liệu , thông tin không thể được sinh ra và nền kinh tế thông tin không thể hình thành.
Vai trò của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu:
Thông tin ngày một được tạo ra nhiều hơn cả về số lượng lẫn chủng loại; điều này đòi hỏi vấn đề phải có công cụ lưu trữ, quản lý chúng một cách khoa học nhất, tối ưu nhất Đó cũng chính là nhiệm vụ của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu; HQTCSDL
có nhiệm vụ quản lý dữ liệu một cách tối ưu nhất (dữ liệu đầy đủ mà không bị dư thừa, giữa các dữ liệu có các quan hệ khác nhau …); việc tìm kiếm một thông tin hay một dữ liệu nào đó phải là dễ dàng nhất (tốc độ tìm kiếm nhanh, từ khóa đơn giản, có thể tìm bàng nhiều từ khóa liên quan …) và phải có tính chính xác cao (không tìm sai thông tin, nhầm thông tin)
Sử dụng HQTCSDL để quản lý dữ liệu có rất nhiều lợi ích:
Độc lập dữ liệu: Những chương trình ứng dụng nên được độc lập tối đa
có thể đối với việc biểu diễn và lưu trữ dữ liệu HQTCSDL có thể cung cấp các khung nhìn trừu tượng trên dữ liệu cách ly với lưu trữ vật lý của
dữ liệu
Truy cập dữ liệu hiệu quả: Hàng loạt những tính năng của HQTCSDL có thể giúp lưu trữ và truy cập cơ sở dữ liệu hiệu quả Những tính năng này đặc biệt quan trọng nếu dữ liệu được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ ngoài
Toàn vẹn và an toàn dữ liệu: Nếu dữ liệu luôn luôn được truy cập thông qua HQTCSDL, thì HQTCSDL có thể thiết đặt các ràng buộc toàn vẹn trên dữ liệu Ví dụ, trước khi thêm thông tin về lương của một nhân viên, HQTCSDL có thể kiểm tra số lương đó không vượt quá số tiền hiện có của phòng Hoặc, HQTCSDL có thể thiết đặt các quyền truy cập để giới hạn các đối tượng người dùng khác nhau đối với các phần bên trong cơ
sở dữ liệu
Quản trị dữ liệu: Khi một vài người dùng chia sẻ dữ liệu, người quản trị
hệ thống có thể đưa ra những đề xuất mang lại hiệu quả đáng kể Những chuyên gia có kinh nghiệm hiểu rõ dữ liệu đang được quản lý như thế nào
và những nhóm người sử dụng nào có thể sử dụng từng phần trong cơ sở
dữ liệu, từ đó họ có thể đưa ra được cách thức tổ chức dữ liệu để giảm được tối đa dư thừa và truy cập trở nên hiệu quả
Trang 15 Truy cập đồng thời và khôi phục dữ liệu: HQTCSDL lập lịch cho việc truy cập đồng thời đến dữ liệu để người sử dụng có cảm giác rằng chỉ có một người đang sử dụng dữ liệu trong một khoảng thời gian Thêm vào
đó, HQTCSDL bảo vệ người sử dụng tránh những ảnh hưởng khi hệ thống gặp sự cố
Giảm thời gian phát triển ứng dụng: HQTCSDL hỗ trợ rất nhiều các tính năng quan trọng được sử dụng trong rất nhiều các ứng dụng truy cập tới
dữ liệu được lưu trữ trong HQTCSDL Thông qua lược đồ mức cao (high-level interface), những ứng dụng được phát triển nhanh chóng và
dễ dàng hơn vì rất nhiều những công việc đã được HQTCSDL hỗ trợ thay
vì bạn phải xây dựng trong chương trình ứng dụng
Chính vì những lợi ích trên, có thể nói, HQTCSDL là thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế thông tin
Tóm lại,dữ liệu hay cơ sở dữ liệu có vai trò là nguyên liệu đầu vào để sản sinh ra thông tin – hàng hóa cho nền kinh tế thông tin, nếu không có dữ liệu thì kinh tế thông tin không thể hình thành Hệ quản trị cơ sở dữ liệu có vai trò quản lý các dữ liệu trên một cách khoa học và tối ưu nhất; nhờ có Hệ quản trị cơ sở dữ liệu mà nền kinh tế thông tin có thể dễ dàng hơn trong quá trình hoạt động khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả; làm thúc đẩy tốc độ phát triển lên cao nhất có thể.
3.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
-Thống kê cho thấy, trong hai năm qua, khối lượng dữ liệu trên toàn cầu đã chiếm đến 90% lượng dữ liệu số được tạo ra kể từ khi công nghệ số hóa ra đời
-Các nguồn dữ liệu không chỉ đơn thuần được xử lý, lưu trữ bằng các công cụ xử
lý dữ liệu truyền thống mà đòi hỏi yêu cầu cao hơn.Và công nghệ Big data ra đời
-Theo tài liệu của Intel vào tháng 9/2013, hiện nay thế giới đang tạo ra 1 petabyte
dữ liệu trong mỗi 11 giây và nó tương đương với một đoạn video HD dài 13 năm Bản thân các công ty, doanh nghiệp cũng đang sở hữu Big Data của riêng mình, chẳng hạn như trang bán hàng trực tuyến eBay thì sử dụng hai trung tâm dữ liệu với dung lượng lên đến 40 petabyte để chứa những truy vấn, tìm kiếm, đề xuất cho khách hàng cũng như thông tin về hàng hóa của mình
Trang 16-Nhà bán lẻ online Amazon.com thì phải xử lí hàng triệu hoạt động mỗi ngày cũng như những yêu cầu từ khoảng nửa triệu đối tác bán hàng Amazon sử dụng một hệ thống Linux và hồi năm 2005, họ từng sở hữu ba cơ sở dữ liệu Linux lớn nhất thế giới với dung lượng là 7,8TB, 18,5TB và 24,7TB Tương tự, Facebook cũng phải quản lí 50 tỉ bức ảnh từ người dùng tải lên, YouTube hay Google thì phải lưu lại hết các lượt truy vấn và video của người dùng cùng nhiều loại thông tin khác có liên quan.
…
Tất cả điều trên cho thấy sự phát triển khủng khiếp của dữ liệu
Trang 17CHƯƠNG 4: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ CƠ SỞ HẠ TẦNG
4.1 KHÁI NIỆM
4.1.1 Công nghệ Thông tin
Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin
Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ Thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"
Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là Công nghệ Thông tin (Information Technology
4.1.2 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
Cơ sở hạ tầng ở đây được hiểu là cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng trong
đời sống như điện, đường, trường, trạm…
Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản
xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
Trang 18Hạ tầng công nghệ thông tin là một hệ thống hết sức quan trọng, hiểu
được sự quan trọng đó mới giúp cho sự phát triển của CNTT tại Việt Nam mới nhanh chóng lớn mạnh Bên cạnh sự đầu tư có bài bản cho hệ thống hạ tầng cong nghệ thông tin của mình ở các Cty kinh doanh về lãnh vực CNTT hoặc các Cty nước ngoài, thì đa phần các doanh nghiệp kinh doanh về các lĩnh vực khác không quan tâm hoặc đầu tư rất nhỏ cho hệ thống hạ tầng và
từ đó tốn rất nhiều chi phí cho việc bảo hành, phát triển hệ thống về sau
Một hệ thống hạ tầng CNTT được đầu tư hoàn chỉnh phải mang các yếu tố sau:
- Dễ quản lý: Hệ thống được thiết kế trên tiêu chuẩn dễ quản lý, thuận tiện cho công tác kiểm tra và vận hành hệ thống
- Dễ dàng mở rộng: Hệ thống cho phép dễ dàng thi công mở rộng khi
có nhu cầu để đáp ứng cho công việc Tối ưu hóa chi
- phí đầu tư ban đầu
- Dễ dàng lắp đặt, vận hành và sửa chữa: hệ thống phải cho phép dễ dàng và thuận tiện cho thi công và trong trường hợp có sự cố thì phải thuận tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa
- Đáp ứng tốt các yêu cầu của công nghệ: hệ thống đáp ứng tốt các nhu cầu kỹ thuật hiện tại và các nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong tương lai 15 năm
- Đáp ứng tốt các nhu cầu trong hoạt động kinh doanh và thương mại của công trình
- Hệ thống có tính linh hoạt và sẵn sàng cao, sử dụng vật tư thiết bị của các hãng sản xuất có uy tín, chất lượng trên thị trường và có đối tác tại Việt Nam
4.2 VAI TRÒ
CNTT là một trong những động lực quan trọng bậc nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại Việc ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta đã góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập
Trang 19kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Hạ tầng cơ sở hệ thống thông tin là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động và các ứng dụng liên quan đến công nghệ thông tin của một doanh nghiệp Một hệ thống không ổn định hoặc bị ngắt quãng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hiệu quả
và hiệu suất kinh doanh của doanh nghiệp
Hạ tầng công nghệ thông tin là một hệ thống hết sức quan trọng, hiểu được
sự quan trọng đó mới giúp cho sự phát triển của CNTT tại Việt Nam mới nhanh chóng lớn mạnh Bên cạnh sự đầu tư có bài bản cho hệ thống hạ tầng cong nghệ thông tin của mình ở các Cty kinh doanh về lãnh vực CNTT hoặc các Cty nước ngoài, thì đa phần các doanh nghiệp kinh doanh về các lĩnh vực khác không quan tâm hoặc đầu tư rất nhỏ cho hệ thống hạ tầng và từ đó tốn rất nhiều chi phí…
4.3 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
Nhìn chung CNTT ở nước ta hiện nay đang được đặc biết quan tâm, chú trọng thúc đẩy phát triển minh chứng cho điều này là hàng loạt chủ trương chính sách của chính phủ đã được ban hành trong các kì họp với nội dung chính là phát triển CNTT, đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khác, các ngành khác; đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giáo dục – đào tạo… chú trọng việc phát triển đạt được kết quả cả về số lượng lẫn chất lượng
Nhờ những cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp( DN), hiệp hội, trong 5 năm qua ngành CNPM của chúng
ta đã có nhiều khởi sắc Suốt từ năm 2000 đến nay CNPM luôn giữ mức tăng trưởng với tốc độ khá cao, trung bình khoảng 35% năm, gần gấp 3 lần tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành công nghiệp Thống kê của hội tin học TP Hồ Chí Minh (HCA) cho thấy đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm (DNPM) đang thực sự hoạt động, thu hút được hơn 20.000 lao động phần mềm chuyên nghiệp Tổng doanh thu của các DNPM năm 2005 ước đạt khoảng 250 triệu USD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu Như vậy quy mô ngành CNPM nước ta cả về lực lượng lao động lẫn tổng doanh thu hiện nay đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000, đó thực sự là một bước phát triển tốt với một ngành công nghiệp mới ở Việt Nam Hơn nữa, một số chuyên gia còn cho rằng phương pháp thống kê nói trên chưa đầy đủ , còn bỏ sót một số lĩnh vực như chưa tính lực lượng làm phần mềm bán chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị không chuyên
Trang 20CNTT Lực lượng này cũng khá đông, hàng năm sản xuất, cung cấp không ít các sản phẩm, dịch vụ phần mềm "in house" theo kiểu tự cung tự cấp để phục vụ cho hoạt động của cơ quan, đơn vị mình Theo các chuyên gia này, nếu tính hết quy mô ngành phần mềm Việt Nam hiện đã có hơn 30.000 lao động, với doanh số quy đổi lên tới trên 350 triệu USD.
Hình :Độ tuổi của người sử dụng Internet so với tổng dân số.
Hình :Tổng quan về Internet ở việt nam
Trang 21Hình :Mức sử dụng và mức tăng trưởng Internet so sánh trong khu vực
Hiện 100% xã trên toàn quốc có máy điện thoại
100% các nhà cung cấp dịch vụ mạng lớn như Viettel; FPT hay VNPT … đều đã triển khai áp dụng dịch vụ cáp quang băng thông lớn Tính đến nay cả nước đã có 4 tuyến cáp quang biển vớ đường truyền lên tới 320Gbps - 2Terabit/s
Năm 2015, công nghiệp CNTT trở thành ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh, bền vững, doanh thu cao, có giá trị xuất khẩu lớn Việt Nam đủ khả năng phát triển, sản xuất các sản phẩm, dịch vụ CNTT đáp ứng tốt nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, tạo nền tảng để phát triển kinh tế tri thức, góp phần làm chủ các hệ thống thông tin, bảo đảm an toàn thông tin và chủ quyền số quốc gia Trong điều kiện nền kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn và phục hồi chậm nhưng nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn tiếp tục đầu tư, mở rộng sản xuất tại Việt Nam như: Samsung, LG, Panasonic, Canon, Intel Các doanh nghiệp phần mềm tiếp tục giữ vững thị trường xuất khẩu, dịch vụ CNTT phát triển khá, đa dạng các loại hình dịch vụ Tổng doanh thu công nghiệp CNTT tiếp tục đạt mức cao, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng GDP cũng như xuất khẩu của cả nước
Về ứng dụng CNTT, 100% cơ quan nhà nước có Trang/Cổng thông tin điện tử, cung cấp hơn 100.000 dịch vụ công trực tuyến các loại phục vụ người dân và doanh nghiệp Hệ thống đào tạo nhân lực CNTT tiếp tục được duy trì ổn định với khoảng 290 cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và gần 150 cơ sở đào tạo nghề về CNTT-TT