1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

TÌM HIỂU về tổ CHỨC THƯƠNG mại THẾ GIỚI WTO

24 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 262,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hình thành và phát triển của Tổ chức thương mại thế giới Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết của Hiệp định chung v

Trang 1

1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổ chức thương mại thế giới

Tổ chức thương mại thế giới WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT)

GATT ra đời sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trong trào lưu hình thành loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, mà điển hình Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế về việc làm, thương mại hàng hoá, khắc phục hạn chế và ràng buộc các hoạt động này phát triển 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia hội nghị về thương mại và việc làm dự thảo hiến chương Lahavana để thành lập tổ chức Thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn mới của Liên Hợp Quốc

Nhằm nhanh chóng đẩy mạnh tự do hoá thương mại sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

và sửa chữa những thiếu sót lớn về các biện pháp bảo hộ được duy trì từ đầu những năm 1930, các cuộc thương lượng về thuế của các bên ký kết đã được tiến hành giữa 23 thành viên sáng lập của GATT vào năm 1946 Vòng đàm phán đầu tiên đã đạt được kết quả đáng khích lệ Nó đã dẫn đến 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, gắn với 10 tỷ USD hàng hoá, chiếm khoảng 1/5 tổng giá trị thương mại toàn cầu

Công việc chuẩn bị cho hiến chương này đã được các quốc gia tiến hành trong năm 1946

và 1947 Từ tháng 4 đến tháng 10/1947, các nước đã tiến hành một hội nghị chuẩn bị toàn diện Tại hội nghị này, bên cạnh việc tiếp tục triển khai các công việc liên quan đến hiến chương thành lập ITO, các nước còn tiến hành đàm phán để giảm và ràng buộc thuế quan đa phương Trong vòng đàm phán đầu tiên, các nước đã đưa ra được 45.000 nhân nhượng thuế quan có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại giá trị khoảng 10 tỷ USD, tức là khoảng 1/5 tổng giá trị thương mại thế giới Các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và "tạm thời" một số quy tắc thương mại trong Dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân nhượng nói trên Kết quả trọn gói gồm các quy định thương mại và các nhân nhượng thuế quan được đưa ra trong Hiệp đinh chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Theo dự kiến, Hiệp định GATT sẽ là một hiệp định phụ trợ nằm trong Hiến chương ITO Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ tháng 11/1947 đến 3/1948 Nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập ITO đã không được thực hiện

Cũng do chiến tranh Thế giới II vừa kết thúc, các nước đều muốn sớm thúc đẩy tự do hoá thương mại, và bắt đầu khắc phục những hậu quả của các biện pháp bảo hộ còn sót lại từ đầu những năm 1930 Do vậy, ngày 23/10/1947, 23 nước đã ký "Nghị định thư về việc áp dụng tạm thời" (PPA), có hiệu lực từ 1/1/1948, thông qua nghị định thư này, Hiệp định GATT đã được chấp nhận và thực thi

Trong thời gian đó, Hiến chương ITO vẫn tiếp tục được thảo luận Cuối cùng, tháng 3/1948, Hiến chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị về Thương mại và Việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana Tuy nhiên, quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này Đặc biệt là Quốc hội Mỹ rất phản đối Hiến chương Havana, mặc dù Chính phủ Mỹ đã đóng vai trò rất tích cực trong việc nỗ lực thiết lập ITO Tháng 12/1950, Chính phủ Mỹ chính thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông qua Hiến chương Havana nữa, do vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác dụng Và mặc dù chỉ là tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời

Trang 2

Từ năm 1947 đến khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay năm 1994, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, do thương mại quốc tế không ngừng phát triển nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung vào nhiều lĩnh vực khác như: xây dựng các hiệp định thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền

sở hữu trí tuệ, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, cơ chế giải quyết tranh chấp…

Trong 8 vòng đàm phán đó của GATT có rất nhiều vòng đàm phán có ý nghĩa quan trọng như vòng đàm phán Kenedy, vòng đàm phán Tokyo, vòng đàm phán Uruguay để tiến tới thành lập tổ chức thương mại thế giới

Bảng 4.1 Các vòng đàm phán của Tổ chức thương mại thế giới

tha

m gia

1964 – 1967 Geneva Kennedy Vòng thuế và các biện pháp chống bán

phá giá

62

1973 – 1979 Geneva Tokyo Vòng thuế và các biện pháp phi thuế

quan và hiệp định khung

123

Những năm 1960 trở về trước, các vòng đàm phán của GATT tập trung vào giảm thuế quan cho từng sản phẩm Kết quả của vòng đàm phán đầu tiên thuế giảm 21% Tại vòng đàm phán Kenedy, đã chuyển từ đàm phán thuế quan đối với từng sản phẩm sang đàm phán thuế quan cho từng nhóm sản phẩm, điều đó đã làm tăng hiệu quả của đàm phán Sau vòng đàm phán Kenedy (1964 – 1967), thuế quan các mặt hàng công nghiệp giảm được 35% xuống còn trung bình 10,3% Mức thuế suất giảm xuống nhưng các rào cản phi thuế quan khác lại tăng lên, chính

vì thế vòng đàm phán Tokyo 1973 – 1979 các bên tham gia đã đồng ý ký kết giảm thuế tiếp cho các sản phẩm đã được đề ra tại vòng đàm phán Kenedy Thuế của các sản phẩm công nghiệp của

9 nước công ghiệp phát triển giảm tiếp từ 7% xuống còn 4,7% Mức giảm thuế cho các sản phẩm

đã hoàn thiện lớn hơn so với các sản phẩm là nguyên liệu và các bán thành phẩm, điều này giảm

đi mức leo thang về thuế sau vòng đàm phán Tokyo, mức thuế chung giữa các nước phát triển đã giảm mạnh và không còn nhiều rào cản trong thương mại giưã các nước Mặt khác, các nước đã đạt được thoả thuận cắt giảm các hàng rào phi thuế quan Thoả thuận đạt được ở sáu phạm vi: Giá trị hải quan; giấy phép nhập khẩu; lệ phí; các rào cản kỹ thuật; quy định về chống bán phá giá; mức thuế bù đắp

Mặc dù những nỗ lực tiến tới tự do hoá thương mại của vòng đàm phán Tokyo rất lớn nhưng các quốc gia trên thế giới vẫn nhận thấy rằng vai trò của GATT đang yếu đi Các nước

Trang 3

thành viên của GATT đang gia tăng sử dụng các hiệp định song phương và các biện pháp làm giảm biến dạng hoạt động thương mại khác như: trợ cấp xuất khẩu, các hình thức trợ cấp khác, được bắt nguồn từ chính sách bảo hộ sản phẩm trong nước Các nước đứng đầu thấy rằng GATT cần phải mở rộng sang một số lĩnh vực khác như thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, dịch

vụ và nông nghiệp Hơn nữa, các nước phát triển thấy rằng cần quan tâm hơn nữa đến nhóm các nước đang phát triển, đây là nhóm nước đang bị lu mờ trong các cuộc đàm phán trước đây của GATT

Những vấn đề trên đây đã được đề cập đến tại vòng đàm phán Uruguay từ năm 1986 dến

1993 Tại vòng đàm phán này, thuế của một số loại sản phẩm từ các nước phát triển giảm tới 40% Thuế giảm ở tất cả các ngành từ thép, thiết bị y tế, thiết bị xây dựng, dược phẩm đến giấy

Và cũng rất nhiều nước cam kết thực hiện ngay từ đầu một phần các mức cắt giảm này, loại bỏ khả năng sẽ đẩy thuế lên trong giai đoạn tới cao hơn mức quy định Một tiến bộ đáng kể trong vòng đàm phán Uruguay là đã giảm và loại bỏ được một số rào cản phi thuế quan Khoản thu của chính phủ được mở rộng ra đối với các nước tham gia ký kết Vòng đàm phán Uruguay cũng nỗ lực vào việc loại bỏ hạn ngạch đối với các sản phẩm nông nghiệp và yếu cầu các nước tiến hành việc sử dụng thuế nhập khẩu thay quota Đối với lĩnh vực hàng dệt may, các hiệp định song phương sẽ được loại bỏ vào năm 2005 Hiệp định bảo vệ cũng cấm sử dụng hình thức hạn chế xuất khẩu tự động Tại vòng đàm phán Uruguay, các nước kêu gọi chuyển đổi GATT sang một thể chế quốc tế vĩnh viễn và đó chính là mầm mống để Tổ chức thương mại thế giới ra đời, nhằm quản lý hoạt động thương mại và quan hệ thương mại giữa các nước thành viên

Vòng đàm phán Uruguay với những thành công đáng ghi nhận, nhưng còn nhiều vấn đề thương mại vẫn chưa được giải quyết Chẳng hạn, Hiệp định chưa nhấn mạnh vào những chính sách thương mại chung với môi trường, với mặt bằng lao động, hay tác động của thương mại đối với hoạt động trong nước như cạnh tranh, hay đầu tư

2 Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm 80, đầu 90, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình hình

- Thứ nhất, những thành công của GATT trong việc giảm và ràng buộc thuế quan ở mức thấp cộng với một loạt các cuộc suy thoái kinh tế trong những năm 70 và 80 đã thúc đẩy các nước tạo ra các loại hình bảo hộ phi quan thuế khác nhau để đối phó với hàng nhập khẩu; hoặc

ký kết các thoả thuận song phương dàn xếp thị trường giữa các chính phủ Tây Âu và Bắc Mỹ, đồng thời nhiều hình thức hỗ trợ và trợ cấp mới đã xuất hiện trong thời gian này Những biến đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị mà việc giảm thuế quan mang lại cho thương mại quốc tế Trong khi đó, phạm vi của GATT không cho phép đề cập một cách cụ thể và sâu rộng đến các vấn đề này

- Thứ hai, đến những năm 80, GATT đã không còn thích ứng với thực tiễn thương mại thế giới Khi GATT được thành lập năm 1948, Hiệp định này chủ yếu điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình Từ đó tới nay, thương mại quốc tế đã phát triển nhanh chóng, mở rộng sang cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, xây dựng, tư vấn và các loại hình thương mại dịch vụ này, cùng với các vấn đề thương mại trong đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đã phát triển nhanh chóng

và trở thành một bộ phận quan trọng của thương mại quốc tế

Trang 4

- Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá, GATT còn có những lỗ hổng cần phải được cải thiện Ví dụ, trong nông nghiệp và hàng dệt may, các cố gắng tự do hoá thương mại đã không đạt được thành công lớn Kết quả là còn rất nhiều ngoại lệ với các quy tắc chung trong hai lĩnh vực thương mại này.

- Thứ tư, về mặt cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng tỏ ra không thích ứng với tình hình thế giới GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia mang tính chất tuỳ ý Thương mại quốc tế ở những năm 80 và 90 đòi hỏi phải có một tổ chức thường trực, có nền tảng pháp lý vững chắc để đảm bảo thực thi các hiệp định, quy định chung của thương mại quốc tế

Về hệ thống giải quyết tranh chấp, GATT chưa có một cơ chế điều tiết thủ tục tố tụng chặt chẽ, không đưa ra một thời gian biểu nhất định, do đó, các vụ việc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ bị

bế tắc Để thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế một cách hiệu quả, rõ ràng hệ thống này cần phải được cải tiến

Những yếu tố trên, kết hợp với một số nhân tố khác đã thuyết phục các bên tham gia GATT cần phải có nỗ lực để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên Từ năm 1986 đến

1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới Hiệp định GATT 1947, cùng với các quyết định đi kèm và một vài biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994 Một số hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán lần này là, cuối Vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995

Ngày 1/1/1995, GATT đã được chuyển thành một tổ chức mới, đó là Tổ chức Thương mại thế giới WTO Việc chuyển đổi này dẫn tới GATT trở thành một tổ chức với các thành viên

tham gia có trách nhiệm quản lý các quan hệ thương mại giữa các nước thành viên Các nghĩa vụ của GATT vẫn là nội dung chính của WTO Tuy nhiên, các hiệp định của WTO đòi hỏi các thành viên phải tôn trọng triệt để, không chỉ các quy định của GATT, mà còn các hiệp ước đã được đàm phán trước đó Điều này dẫn đến rất nhiều nước được hưởng lợi, đặc biệt là các nước đang phát triển, do họ được hưởng lợi từ các hiệp định mới được thoả thuận, nhưng lại từ chối tham gia vào các hiệp định kể từ năm 1970 trở lại đây

Số nước tham gia đàm phán cũng ngày một tăng lên: từ 23 nước năm 1947 đến 123 nước năm 1994 Mặc dù vậy, vào đầu những năm 1980, người ta cũng thấy rõ ràng không lâu nữa, GATT sẽ không thể giữ được vai trò chi phối nền thương mại thế giới như trong thập kỷ 40, 50 Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng nên GATT với tư cách là một

sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp

Vòng dàm phán Uruguay (1986 – 1994) đã tạo ra bước ngoặt trong thương mại quốc tế Sau nhiều nỗ lực đàm phán, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh Marốc, kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký “Tuyên bố Marrakesh”, khẳng dịnh kết quả của vòng đàm phán này là “tăng cường nền kinh tế thế giới và thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng việc làm và thu nhập trên toàn thế giới” Đồng thời, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế

Trang 5

giới cũng được ký kết Theo đó, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995, có trụ sở tại Geneva Thuỵ Sỹ.

Tổ chức thương mại thế giới được thành lập nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT, mà là sự thay thế hoàn toàn tổ chức tiền thân của nó Kể từ khi thành lập, WTO ngày càng phát triển và có vai trò vô cùng quan trọng trong nền thương mại thế giới, chi phối các chính sách thương mại của khu vực và các quốc gia, chiếm tới 85% thương mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ thế giới, điều tiết cả 4 lĩnh vực: thương mại hàng hoá; 11 ngành và 155 phân ngành dịch vụ; đầu tư liên quan đến thương mại và sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại

Tổ chức thương mại thế giới là một trong ba trụ cột của nền kinh tế thế giới cùng với Ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Năm 2003, ngân sách của WTO là 154 triệu Franc Thuỵ Sỹ Số thành viên Ban thư ký là 550 người Đến tháng 3 năm2004, WTO có

147 thành viên chính thức và khoảng 30 quan sát viên Vào thời điểm này, có 29 nước xin gia nhập WTO, trong đó Việt Nam là một trong ba ứng cử viên quan trọng nhất của WTO bên cạnh Nga và A rập Và Việt Nam đã chính thức được kết nạp vào WTO ngày 1/10/2006

2 Mục tiêu hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới

2.1 Mục tiêu về kinh tế:

Hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới nhằm mục tiêu thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ, phát triển nền kinh tế thế giới bền vững, bảo vệ môi trường và thúc đẩy sự phát triển của các thể chế thị trường Mục tiêu này được thực hiện qua việc loại bỏ các rào cản thương mại, nâng cao trình độ nhận thức và hiểu biết của các chính phủ, các tổ chức các cá nhân về các quy định điều chỉnh quan hệ thương mại quốc tế, qua đó tạo ra được môi trường pháp lý, thương mại rõ ràng

2.2 Mục tiêu chính trị

Tổ chức thương mại thế giới là nơi giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các quốc gia thành viên, trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO, nhằm bảo đảm cho các quốc gia đang phát triển và các quốc gia kém phát triển nhất, được hưởng những lợi ích đích thực từ

sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia này

và khuyến khích các quốc gia ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế trong thương mại thế giới

2.3 Mục tiêu xã hội

Hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới còn nhằm mục tiêu lâu dài là nâng cao mức sống và tạo ra công ăn việc làm cho người lao động ở các quốc gia thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu phải được tôn trọng

3 Chức năng của Tổ chức Tổ chức thương mại thế giới

Theo Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, tổ chức này có năm chức năng cơ bản sau:

1- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại đa phương

đã được ký kết trong WTO, giám sát, tạo thuận lợi và trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của mình, đồng thời được hưởng các quyền lợi mang lại khi tham gia vào các hiệp định đa phương

2- Tổ chức các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ của WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng của WTO Mặt khác, WTO là diễn đàn để thông qua đó, các quốc gia thành viên tiến hành đàm phán về những nội dung được quy định trong các Hiệp định thương mại đa phương và về các vấn đề thương mại quốc tế nảy sinh

Trang 6

3- Tổ chức thương mại thế giới tiến hành giải quyết những tranh chấp giữa các quốc gia hành viên có liên quan đến thực hiện và giải thích các Hiệp định của WTO, và các hiệp định thương mại đa phương nhiều bên.

4- Tổ chức thương mại thế giới thiết lập cơ chế để nghiên cứu xem xét, kiểm tra, kiểm soát những chính sách thương mại của các quốc gia thành viên, nhằm đảm bảo thúc đẩy việc thực hiện tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO

5- Tổ chức thương mại thế giới thực hiện sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức kinh tế trong thương mại quốc tế khác như Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới trong hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế trong thương mại toàn cầu

4 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới

WTO hoạt động dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối phức tạp, bao gồm trên

60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế Tuy vậy, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở năm nguyên tắc cơ bản của WTO

4.1.Không phân biệt đối xử:

a Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (Most Favoured Nation – MFN)

Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO, được nêu trong Điều I - Hiệp định GATT, điều II - Hiệp định GATS và điều IV - Hiệp định TRIPS Nguyên tắc này được hiểu là nếu một quốc gia đã dành cho một quốc gia thành viên một sự đối

xử ưu đãi nào đó, thì quốc gia này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các quốc gia thành viên khác Trên cơ sở đã dành quy chế đãi ngộ tối huệ quốc cho một quốc gia nào đó, nếu quốc gia dành chế dộ đãi ngộ tối huệ quốc lại chấp nhận một mức thuế quan thấp hơn với một quốc gia khác, thì mức thuế thấp hơn đó cũng sẽ được áp dụng cho quốc gia đã được hưởng chế độ tối huệ quốc

Ví dụ, quốc gia A nhập khẩu sản phẩm X từ quốc gia B Nếu quốc gia A dành cho quốc

gia B chế độ đãi ngộ tối huệ quốc thì hàng nhập khẩu từ quốc gia B sẽ bị đánh mức thuế thấp nhất khi sản phẩm X đưa vào quốc gia A Sau khi đã dành chế độ đãi ngộ tối huệ quốc cho quốc gia B, nếu quốc gia A đánh một mức thuế thấp hơn đối với sản phẩm X nhập khẩu từ quốc gia C thì sản phẩm X nhập từ quốc gia B cũng đương nhiên được hưởng mức thuế thấp hơn đó Quốc gia A không cần phải đàm phán các mức thuế với quốc gia B, mà chỉ cần điều chỉnh biểu thuế của mình cho phù hợp

Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc thường được áp dụng trong các hiệp định thương mại song phương, song nếu nguyên tắc này được áp dụng đa phương cho tất cả các quốc gia thành viên của WTO, thì điều đó cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử,

vì tất cả các quốc gia sẽ dành cho nhau sự đối xử ưu đãi nhất Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc của WTO không mang tính áp dụng tuyệt đối, các quốc gia thành viên có quyền tuyên bố không

áp dụng tất cả các điều khoản trong hiệp định đối với một quốc gia thành viên nào đó Nguyên tắc này áp dụng trong cả thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và lĩnh vực sở hữu trí tuệ

b Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treament – NT)

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử thuận lợi như với hàng hoá cùng loại trong nước

Đối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc này là một nghĩa vụ chung, nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã nộp thuế hoặc được đăng ký bảo

Trang 7

hộ hợp pháp, phải được đối xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước như

về quy định thuế, về lệ phí đánh trong nội địa, về các quy định, mua, bán, phân phối và vận chuyển hàng hoá

Còn đối với các hàng hoá dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng cho những lĩnh vực, ngành nghề đã được các quốc gia đưa vào danh mục cam kết

Các quốc gia, về nguyên tắc không được áp dụng các hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ trường hợp các ngoại lệ đã được các hiệp định của WTO quy định cụ thể, đó là các trường hợp:

- Mất cân đối cán cân thanh toán (Điều 12 và 13b);

- Nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước (điều 18c);

- Bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia đó do xuất khẩu quá nhiều (điều 19);

- Vì lý do sức khoẻ và vệ sinh (điều 20)

- Vì lý do an ninh quốc gia (điều 21)

Các quốc gia cũng không thể áp dụng các biện pháp thuế quan, hoặc phi thuế quan của mình để xử lý các hàng hoá nhập khẩu khác biệt với hàng hoá nội địa khi các hàng hoá nhập khẩu đã được đưa vào quốc gia đó

Vi dụ, quốc gia A đánh thuế đối với sản phẩm X nhập khẩu từ quốc gia B Quốc gia A

yêu cầu các sản phẩm nhập khẩu từ quốc gia B để được tiêu thụ ở quốc gia A phải đáp ứng được các yêu cầu mà một nửa trong số các yêu cầu đó là nghiêm ngặt hơn so với các quy định đối với hàng hoá tiêu dùng trong nước, thì việc ban hành các quy định như vậy của quốc gia A là vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia

Một ngoại lệ khác của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là vấn đề trợ giá cho sản xuất hoặc cho xuất nhập khẩu hàng hoá Các nước vẫn có thể trợ giá cho sản xuất trong nước hoặc có những hình thức trợ cấp xuất khẩu để thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước

4.2.Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán (Nguyên tắc tiệp cận thị trường (Market Access)

Nguyên tắc tiếp cận thị trường, thực chất là việc mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài cho các quốc gia trong khối

Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các quốc gia tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở

Về mặt chính trị, nguyên tắc này thể hiện sự tự do hóa thương mại của WTO Các rào cản thương mại dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương Tuy nhiên, mức độ thực hiện việc tiếp cận thị trường của các quốc gia tương đối khác nhau

Về mặt pháp lý, nguyên tắc tiếp cận thị trường thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc, thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà các nước đã chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO

4.3 Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy chế thương mại

phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định

Với nguyên tắc này, một yêu cầu cần đặt ra cho các thành viên của WTO là họ phải có một hệ thống pháp luật minh bạch, có khả năng dự đoán được Trong nhiều hiệp định cuả WTO, các yêu cầu đảm bảo những điều kiện thương mại và đầu tư để có thể dự đoán trước được nhiều

Trang 8

hơn, được thực hiện bằng cách gây áp lực đối với các chính phủ thành viên trong việc thay đổi các điều lệ, quy định.

4.4 Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước thành viên

(Nguyên tắc cạnh tranh công bằng (Fair Competition)

Nguyên tắc cạnh tranh công bằng thể hiện ở sự tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau Nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp, hay dành một số đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định

4.5 Nguyên tắc dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi

Ngoài 4 nguyên tắc chủ yếu trên Tổ chức thương mại thế giới còn áp dụng nguyên tắc dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi Nguyên tắc này thể hiện qua việc cho phép các thành viên đang phát triển có một số quyền không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay

có thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách

5 Cơ cấu tổ chức của Tổ chức thương mại thế giới

Cơ cấu tổ chức của WTO là một cơ cấu bao gồm 3 cấp:

5.1 Hội nghị Bộ trưởng (Ministerial Conference):

Là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO, bao gồm tất cả các đại diện cấp bộ trưởng của các quốc gia thành viên, nhóm họp ít nhất 2 năm một lần

Điều IV.1 Hiệp định thành lập WTO quy định: Hôị nghị bộ trưởng WTO thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi biện pháp cần thiết để thực hiện các chức năng đó Hội nghị bộ trưởng cũng có quyền quyết định tất cả các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ hiệp định, thoả thuận đa phương nào của WTO

5.2 Đại hội đồng (General Council):

Là cơ quan thường trực của WTO trong thời gian giữa hai kỳ họp của hội nghị bộ trưởng của WTO

Đại hội đồng bao gồm các đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên, có chức năng thường trực báo cáo lên hội nghị bộ trưởng

Đại hội đồng đồng thời đóng vai trò là một cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan rà soát chính sách của WTO

Thành viên của Đại hội đồng là đại diện ở cấp Đại sứ của chính phủ các quốc gia thành viên

Đại hội đồng có quyền thành lập các Uỷ ban giúp việc là

+ Uỷ ban về thương mại và phát triển, giải quyết các vấn đề liên quan đến các quốc gia

đang phát triển và đặc biệt là các quốc gia kém phát triển

+ Uỷ ban về cán cân thanh toán, có trách nhiệm tư vấn cho các quốc gia thành viên của

Tổ chức thương mại thế giới và các quốc gia khác, áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại theo điều 12 và 18 của hiệp định chung về thuế quan và thương mại, để giải quyết các trở ngại về cán cân thanh toán

+ Uỷ ban về ngân sách tài chính và quản trị, giải quyết các vấn đề liên quan đến tài

chính và ngân sách của Tổ chức thương mại thế giới

+ Uỷ ban về các hiệp định thương mại khu vực

Uỷ ban về thương mại và phát triển, Uỷ ban về các hạn chế cán cân thanh toán, Uỷ ban

về ngân sách, tài chính và quản trị được thành lập theo hiệp định về thành lập WTO

Còn Uỷ ban về các hiệp định thương mại khu vực được thành lập vào tháng 2/1996 theo quyết định của của Đại hội đồng

Ngoài ra còn có Uỷ ban về mua sắm chính phủ và uỷ ban về hàng không dân dụng được thành lập theo quyết định của vòng đàm phán Tokyo Những uỷ ban này có nghĩa vụ thông báo thường xuyên về hoạt động của họ lên Đại hội đồng của WTO

5.3 Các cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương

Trang 9

Tổ chức thương mại thế giới có 3 hội đồng được thành lập để giám sát việc thực thi 3 hiệp định thương mại đa phương là:

+ Hội đồng về thương mại hàng hoá (GATT);

+ Hội đồng về thương mại dịch vụ (GATS);

+ Hội đồng về các vấn đề liên quan tới sở hữu trí tuệ (TRIPS)

Các hội đồng trên chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng

Hội đồng về thương mại hàng hoá có chức năng giám sát việc thực thi tất cả các hiệp định thương mại liên quan đến hàng hoá, mặc dù các hiệp định đó có các uỷ ban giám sát riêng

Hai hội đồng sau chịu trách nhiệm đối với các hiệp định riêng của WTO và có thể thành lập các nhóm làm việc dưới quyền mình nếu cần thiết

Ngoài ra, còn có các cơ quan được các hội đồng của WTO thành lập với tư cách là cơ quan trực thuộc để giúp các hội đồng này thực hiện các chức năng kỹ thuật như: Uỷ ban về trợ giá nông nghiệp, Uỷ ban về thâm nhập thị trường và các nhóm công tác được thành lập tạm thời

để giải quyết các vấn đề cụ thể Ví dụ như nhóm công tác về việc gia nhập WTO của một số quốc gia

 Tổng giám đốc và Ban thư ký của Tổ chức thương mại thế giới:

Khác với GATT năm 1947, WTO có một ban thư ký rất quy mô Ban thư ký của WTO gồm khoảng 500 viên chức và nhân viên có quốc tịch khác nhau, thuộc biên chế chính thức của WTO Đứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc và 4 phó tổng giám đốc Biên chế của Ban thư ký WTO do Tổng giám đốc quyết định Tổng giám đốc do hội nghị bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm

kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc

do Hội nghị bộ trưởng quyết định Tổng giám đốc và các thành viên Ban thư ký của WTO có quy chế tương tự như của viên chức các tổ chức quốc tế, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo các quyết định, tôn chỉ của WTO Họ được quyền ưu đãi, miễn trừ như viên chức của tổ chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc

6 Hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới

Việc thông qua các quyết định của WTO trên cơ sở sự đồng thuận, không phải bằng bỏ phiếu, mặc dù WTO có một số điều khoản quy định về việc bỏ phiếu Khi không đạt được được

sự nhất trí, Hiệp định của WTO cho phép bỏ phiếu Trong điều kiện như vậy, quyết định sẽ được

áp dụng nếu có đa số tán thành và trên cơ sở mỗi quốc gia thành viên có một lá phiếu

Để tránh việc thông qua các quyết định của WTO có thể bị trì hoãn, Hiệp định về WTO quy định một số trường hợp cần bỏ phiếu như sau:

- Trường hợp quyết định sửa đổi một số nguyên tắc nền tảng như nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia Trường hợp này phải được sự đồng ý của tất cả các quốc gia thành viên

- Trường hợp cần thông qua một sự giải thích bất kỳ của các hiệp định thương mại đa biên phải được 3/4 số quốc gia thành viên tán thành

- Trường hợp quyết định phủ quyết một sự từ bỏ nghĩa vụ của một thành viên cụ thể trong một hiệp định đa biên phải được 3/4 số quốc gia tán thành

- Trường hợp quyết định sửa đổi các điều khoản của hiệp định đa biên, chỉ có thể thông qua nếu được tất cả hay ít nhất 2/3 số quốc gia thành viên tán thành Tuy nhiên, những sửa đổi

đó chỉ có tác dụng đối với những quốc gia thành viên tán thành

- Trường hợp quyết định kết nạp thành viên mới, chỉ được thông qua nếu được 2/3 số quốc gia thành viên tán thành tại Hội nghị bộ trưởng

7 Các quy định của WTO

Trang 10

Có thể nói, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất điều chỉnh các quy tắc về thương mại giữa các quốc gia Cốt lõi của WTO là các hiệp định do các chính phủ thành viên đàm phán và ký kết Các hiệp định này tạo ra nền tảng pháp lý cho việc tiến hành hoạt động thương mại quốc tế, với mục tiêu thúc đẩy giao lưu thương mại hàng hoá, dịch vụ và hợp tác thương mại ngày càng sâu rộng và hiệu quả hơn Hệ thống WTO hiện nay bao gòm những hiệp định độc lập như:

- Các hiệp định đa phương về thương mại hàng hoá bao gồm Hiệp định GATT 1994 và các hiệp định đi kèm với nó;

- Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS);

- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

(1) Thương mại Hàng hoá

Hiệp định chủ chốt điều chỉnh lĩnh vực thương mại hàng hoá của WTO là GATT 1994

Nội dung cơ bản của GATT:

GATT đưa ra các nguyên tắc cơ bản để tiến hành thương mại hàng hoá giữa các nước thành viên, đó là nguyên tắc MFN, NT, không hạn chế số lượng, các hiệp định thương mại khu vực, các điều khoản ưu tiên và ưu đãi dành cho các nước đang và chậm phát triển, các quy tắc về đàm phán, ràng buộc thuế quan và đàm phán lại GATT cũng có các điều khoản cơ bản về các vấn đề chống bán phá giá, xác định trị giá hải quan, trợ cấp, tự vệ khẩn cấp tuy nhiên những điều khoản này chưa đầy đủ và chi tiết, sau này chúng đã được cụ thể hoá thành các hiệp định riêng biệt

Mục tiêu cơ bản của GATT là tạo cơ sở để tiến hành giảm thuế quan không ngừng và ràng buộc chúng Đến khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, các nước thành viên đã đưa ra các cam kết ràng buộc thuế đối với hầu hết các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu

Sau Vòng đàm phán Uruguay, các nước phát triển cam kết tiến hành cắt giảm thuế quan hàng công nghiệp từ 6,3% xuống còn trung bình là 3,8% trong vòng 5 năm, tính từ 1/1/1995 Giá trị hàng hoá nhập khẩu vào các nước này được miễn thuế hoàn toàn lên tới 44% (từ 20%) Số lượng các sản phẩm phải chịu thuế suất hải quan cao giảm xuống, số dòng thuế nhập khẩu từ tất

cả các nước phải chịu thuế suất trên 15% giảm từ 7% xuống còn 5% (riêng đối với các nước đang phát triển thì mức giảm này là từ 9% xuống 5%) Ngày 26/3/1997, 40 nước chiếm 92% thương mại thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã nhất trí miễn thuế và các loại phí khác cho tất cả các sản phẩm công nghệ thông tin nhập khẩu kể từ năm 2000 Số lượng các dòng thuế được ràng buộc cũng tăng nhanh Các nước phát triển cam kết ràng buộc 99% dòng thuế của họ (từ mức 77%), các nước đang phát triển ràng buộc 73% (từ 21%), các nền kinh tế chuyển đổi 98% từ (73%)

Như vậy, nội dung chủ yếu của GATT là giảm và ràng buộc thuế quan hàng công nghiệp Ngoài các danh mục ràng buộc thuế quan của các nước thành viên, GATT tạo cơ sở để tiếp tục tiến hành các cuộc đàm phán giảm thuế hơn nữa trong tương lai GATT còn bao gồm cả các cam kết mở cửa thị trường của các quốc gia Các cam kết này là một phần không thể tách rời của Hiệp định GATT Bên cạnh đó, GATT cũng quy định những thủ tục cần thiết như tham vấn, bồi

Trang 11

thường khi một nước muốn rút bỏ một ràng buộc thuế quan của mình, trong những trường hợp đặc biệt, cụ thể GATT cũng có các quy định về các vấn đề như định giá tính thuế, hạn chế số lượng, tự vệ khẩn cấp, trợ cấp, bảo vệ cán cân thanh toán, gia nhập, rút lui, miễn trừ Tuy vậy, trong khuôn khổ của GATT thì các vấn đề này chưa được đề cập chi tiết, cụ thể, theo kịp tình hình thương mại quốc tế Vì vậy, sau Vòng đàm phán Uruguay, các nước thành viên đã nhất trí đưa ra các hiệp định cụ thể về các vấn đề này, bao gồm:

- Hiệp định Nông nghiệp (AoA)

- Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh Dịch tễ (SPS)

- Hiệp định Dệt may (ATC)

- Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật Cản trở Thương mại (TBT)

- Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMs) (Phụ lục V)

- Hiệp định Chống Phá giá (Anti-dumping)

- Hiệp định Trị giá Hải quan (ACV)

- Hiệp định về Giám định Hàng hoá trước khi xuống tầu (PSI)

- Hiệp định về Quy tắc Xuất xứ (Rules of Origin)

- Hiệp định về Giấy phép Nhập khẩu (Import Licensing)

- Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng (SCM)

- Hiệp định về các Biện pháp Tự vệ (AoS)

Lĩnh vực nông nghiệp trong WTO:

Hiệp định GATT điều chỉnh thương mại hàng công nghiệp giữa các quốc gia Riêng hàng nông sản, do tính chất đặc biệt nhạy cảm của mình, từ trước đến nay vẫn được hưởng nhiều ngoại lệ Mặc dù chỉ chiếm không quá 10% thương mại thế giới và không quá 5% GDP của rất nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển, nhưng thương mại nông sản luôn là đối tượng đàm phán rất nhạy cảm trong đàm phán thương mại quốc tế

Thương mại nông sản là lĩnh vực được bảo hộ cao nhất trong chính sách thương mại của các nước thành viên Trong thời kỳ GATT, thương mại nông nghiệp hầu như vẫn chịu những quy chế riêng và chưa được đưa vào khuôn khổ của hệ thống đa biên Nói như vậy vì hàng nông sản chịu thuế quan cao nhất, là đối tượng của chính sách bảo đảm an ninh lương thực và nông nghiệp được các nước phát triển áp dụng mức trợ cấp nông nghiệp cao Nông nghiệp thường là lĩnh vực tranh chấp và thách thức giữa các nước thành viên

Nhằm tạo ra một khuôn khổ cho thương mại hàng nông sản thế giới và tăng cường trao

đổi mặt hàng này, cuối vòng đàm phán Uruguay, các nước đã cùng nhau ký Hiệp định Nông nghiệp Hiệp định Nông nghiệp đã đạt được những thoả thuận về mở cửa thị trường nông sản,

thuế hoá các biện pháp phi thuế và giảm trợ cấp cũng như mức hỗ trợ trong nước của các nước thành viên

+ Giảm trợ cấp xuất khẩu nông sản:

Các nước công nghiệp sẽ cắt giảm 36% nguồn ngân sách để trợ cấp dành cho xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm tính từ 1995; khối lượng hàng hoá được hưởng trợ cấp giảm 21%

Trang 12

cũng trong thời gian trên Trong giai đoạn thực thi 6 năm đó, các nước phát triển được phép sử dụng trợ cấp để giảm giá tiếp thị và vận chuyển hàng hoá xuất khẩu trong những trường hợp nhất định.

Các nước đang phát triển sẽ cắt giảm 24% nguồn ngân sách để trợ cấp dành cho xuất khẩu nông phẩm, khối lượng hàng hoá được hưởng trợ cấp sẽ được giảm 14% trong vòng 10 năm tính từ năm 1995

Tỷ lệ trên được tính trên mức trung bình hàng năm của thời kỳ cơ sở 1986-90 và bắt đầu

từ năm 1995 Các nước không được phép áp dụng thêm bất kỳ biện pháp trợ cấp xuất khẩu nào trước đây chưa tồn tại

Các nước chậm phát triển không phải đưa ra các cam kết cắt giảm

Các cam kết cắt giảm đó được coi là sẽ làm cho giá nông sản trên thế giới tăng lên

+ Mở cửa thị trường nông sản:

 - Thuế hoá các hàng rào phi thuế với nông sản Mức thuế hoá dựa trên việc tính toán tác động bảo hộ của biện pháp phi thuế đó nhằm đưa ra mức thuế quan có tác động bảo hộ tương đương

 - Các nước phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 36%, mức giảm tối thiểu với mỗi dòng thuế không ít hơn 15% và thực hiện trong 6 năm (1995-2000)

 - Các nước đang phát triển cam kết sẽ giảm thuế trung bình 24%, mức giảm tối thiểu với mỗi dòng thuế không ít hơn 10% và thực hiện trong 10 năm (1995-2004)

 Một vài nước có vấn đề an ninh lương thực đặc biệt nhạy cảm như Nhật, Hàn Quốc, Philippines và Israel được áp dụng ngoại lệ đặc biệt khi thuế hoá các biện pháp phi thuế và ngược lại họ có nghĩa vụ đẩy nhanh mức độ mở cửa thị trường cho hàng nhập khẩu Ví dụ, mức mở cửa thị trường với Nhật được bắt đầu là 4% và có thể lên 8% vào năm 2000

 - Các nước cũng cam kết giữ mức mở cửa thị trường tối thiểu không thấp hơn mức trung bình của thời kỳ 1986-90 và không đưa ra thêm hàng rào phi thuế

+ Trợ cấp trong nước với nông dân: Mức hỗ trợ tổng gộp trong nước (AMS) sẽ được cắt

giảm ít nhất 20% (và với các nước đang phát triển là 13,3%) trong thời kỳ thực thi nói trên (6 và

10 năm), tính theo mức trung bình thời kỳ 1986-88

+ Các biện pháp vệ sinh dịch tễ: các nước được phép tự mình đặt ra tiêu chuẩn vệ sinh

nhưng chúng phải dựa trên cơ sở khoa học (khuyến khích sử dụng những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi trên thế giới)

Tuy vậy, đến nay, các nước đang phát triển cho rằng trên thực tế, quyền lợi của họ không được đảm bảo vì Hiệp định Nông nghiệp còn nhiều bất bình đẳng và nhiều nước đã không tuân thủ đầy đủ Hiệp định Nông nghiệp Cụ thể là thị phần nông sản của các nước này không hề tăng

so với trước Vòng đàm phán Uruguay (40% tổng sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu thế giới, 43% tổng sản lượng sản phẩm nhập khẩu nông sản của các nước phát triển) Hỗ trợ nông nghiệp của

Ngày đăng: 30/11/2016, 20:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Các vòng đàm phán của Tổ chức thương mại thế giới - TÌM HIỂU về tổ CHỨC THƯƠNG mại THẾ GIỚI WTO
Bảng 4.1. Các vòng đàm phán của Tổ chức thương mại thế giới (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w