Trong luận án, tác giả đã sử dụng phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử ở hầu hết các chương, như: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến TTLĐ được sắp xếp theo
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 3động có thể vận dụng vào phát triển thị trường lao động ở tỉnh
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
LAO ĐỘNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2020
124
4.1 Dự báo về thị trường lao động và phương hướng phát triển thị
trường lao động ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
124
4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường lao động ở
tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
Trang 4GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo HHSLĐ : Hàng hóa sức lao động KH&CN : Khoa học và công nghệ LLLĐ : Lực lượng lao động NSLĐ : Năng suất lao động SLĐ : Sức lao động SLĐTB&XH : Sở Lao động - Thương binh và Xã hội SXKD : Sản xuất kinh doanh
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TTLĐ : Thị trường lao động TTSLĐ : Thị trường sức lao động XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 5Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội ở tỉnh Thái Nguyên và các Tỉnh
phân theo ngành kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên
88
phân theo loại hình doanh nghiệp ở tỉnh Thái Nguyên
90
kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên
99
phân theo giới tính ở tỉnh Thái Nguyên
104
Trang 6Biểu đồ 3.1 Cơ cấu doanh nghiệp đang hoạt động phân theo ngành kinh
tế ở tỉnh Thái Nguyên
89
(tiền công) trên thị trường lao động
46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường lao động (TTLĐ) là một thị trường đặc biệt vì đối tượng mua bán
là hàng hoá sức lao động (HHSLĐ) Đây là một yếu tố "đầu vào" không thể thiếu được của quá trình sản xuất để tạo ra hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Hơn thế nữa, sức lao động (SLĐ) còn là một nguồn lực quan trọng quyết định đến năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) Vì vậy, các quốc gia phát triển đặc biệt quan tâm đến người lao động, tạo ra những điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi và mức tiền công cao để thu hút lao động, nhất là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật giỏi từ nước ngoài, làm xuất hiện tình trạng "chảy máu chất xám" ở các nước đang phát triển
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, mọi sản phẩm được làm ra đều do Nhà nước giao chỉ tiêu, quản lý và phân phối đến tận người dân, không thừa nhận quan hệ hàng hoá - tiền tệ, nghiêm cấm mọi hành vi trao đổi, mua bán hàng hoá trên thị trường Theo đó, SLĐ cũng không được coi là hàng hoá, TTLĐ không được hình thành, mọi quan hệ lao động đều thông qua hình thức tuyển dụng, sắp xếp vào biên chế nhà nước, tiền lương của người lao động được hưởng từ ngân sách nhà nước theo thang bậc lương quy định của nhà nước Hệ quả là làm người lao động không có động lực cố gắng làm việc chuyên tâm, sáng tạo mà dựa dẫm, trông chờ vào nhà nước, đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nền kinh tế trì trệ, suy thoái và khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta
Năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta diễn ra và đã hoạch định được đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện, sâu sắc và triệt để, chuyển đổi căn bản mô hình kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đến nay đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, trong
đó đã thừa nhận SLĐ là hàng hoá và TTLĐ được hình thành, từng bước phát triển, cầu về lao động ngày càng tăng, cung về lao động chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được nhu cầu TTLĐ
Trang 8Hiện nay, phát triển TTLĐ ở Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế,
đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng bằng những chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp Do đó, quá trình hình thành và phát triển TTLĐ nước ta đã mang lại những thành tựu đáng kể như: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, mở rộng SXKD, thu hút nhiều đầu tư nước ngoài, tạo nhiều việc làm, giải quyết lao động dư dôi, giảm tỷ lệ thất nghiệp, GD&ĐT từng bước hướng vào nhu cầu thực tế của TTLĐ, trình độ chuyên môn
kỹ thuật, kỹ năng của người lao động được nâng cao, tiền công, tiền lương và thu nhập ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần người lao động không ngừng được cải thiện
Tuy nhiên, thực trạng TTLĐ nước ta nói chung và TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng vẫn đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, còn nhiều bất cập, hạn chế như: sức cầu về lao động còn thấp; cung về lao động chưa đảm bảo chất lượng; mất cân đối giữa cung - cầu lao động; giá cả SLĐ thấp nên chưa đáp ứng được tái sản xuất SLĐ; hệ thống cơ chế, chính sách còn thiếu và chưa đồng bộ, bám sát thực tế; các trung gian TTLĐ hoạt động còn kém hiệu quả Đây là một nguyên nhân gây cản trở đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiềm ẩn những nhân tố bất ổn về chính trị -
xã hội Do đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài: "Thị trường lao động ở tỉnh
Thái Nguyên" làm luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị là cần
thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1.Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế và nguyên nhân của nó, đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về TTLĐ dưới góc độ kinh tế chính trị với các khía cạnh: Quan niệm về thị trường, TTLĐ; đặc điểm TTLĐ; vai trò TTLĐ đối với phát triển kinh tế - xã hội; các yếu tố cấu thành TTLĐ; nội dung phát triển TTLĐ
Trang 9Nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của một số tỉnh trong nước về phát triển TTLĐ, để tỉnh Thái Nguyên có thể tham khảo khi phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển và hoàn thiện thị trường này
Phân tích thực trạng TTLĐ tỉnh Thái Nguyên từ năm 2004 đến năm 2014; làm
rõ những kết quả đã đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên, tìm ra nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đó
Dự báo TTLĐ, đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên dưới góc độ kinh tế chính trị, bao gồm: Quan niệm về TTLĐ, hàng hoá sức lao động, giá cả sức lao động, đặc điểm, vai trò và các yếu tố cấu thành TTLĐ, nội dung phát triển TTLĐ, các chủ thể
và các trung gian TTLĐ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu TTLĐ trong khoảng thời gian từ năm
2004 - 2014, các số liệu đưa ra giới hạn trong giai đoạn 2004 - 2013, giải pháp đến năm 2020
- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1.Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin; đường lối chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên; kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu có liên quan đến TTLĐ Từ đó, xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
- Về phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học để phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 10nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng phương pháp logic kết hợp
với phương pháp lịch sử Đây là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch
sử dưới dạng tổng quát, từ đó vạch ra bản chất, khuynh hướng vận động của lịch sử Trong luận án, tác giả đã sử dụng phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch
sử ở hầu hết các chương, như: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến TTLĐ được sắp xếp theo trình tự thời gian, rút ra những nội dung phát triển TTLĐ (cầu về lao động, cung về lao động, mối quan hệ cung - cầu và giá cả SLĐ, vai trò của Nhà nước và các trung gian TTLĐ); Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TTLĐ, tác giả cũng theo logic nghiên cứu từ quan niệm về thị trường, TTLĐ của một số công trình tiêu biểu trong nước và nước ngoài, qua đó đưa ra được quan niệm về TTLĐ của tác giả… Chương 3: Thực trạng TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên, tác giả cũng đánh giá tình hình TTLĐ trên các nội dung ở phần lý luận đã trình bày và đưa ra các số liệu theo trình tự thời gian (2004-2013), qua đó chỉ ra hạn chế và nguyên nhân, một số vấn đề đặt ra cần được giải quyết ở chương 4, đó là cầu về lao động, cung về lao động, mối quan hệ cung - cầu và giá cả SLĐ, vai trò của Nhà nước và các trung gian TTLĐ
Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát thực tế Trong luận án, tác giả có sử dụng phương pháp này để thu thập, nắm bắt thông tin thực tế và lấy số liệu sơ cấp, kết hợp số liệu thứ cấp (Niên giám thống kê - Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Tổng Cục thống kê; Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên…) để phân tích, đánh giá thực trạng và dự báo TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
Xuất phát từ mục đích điều tra được trình bày trong phiếu khảo sát, tác giả xây dựng số lượng phiếu điều tra hai đối tượng là: người lao động (500 phiếu) và người sử dụng lao động, tức chủ doanh nghiệp (25 phiếu)
Phương pháp điều tra chọn mẫu đối với một số doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Căn cứ để điều tra chọn mẫu là: Dựa vào số lượng các doanh nghiệp; quy
mô, lĩnh vực hoạt động SXKD; ngành nghề SXKD (công nghiệp, nông nghiệp, dịch
Trang 11vụ); loại hình doanh nghiệp (nhà nước, tư nhân, cổ phần hoá, công ty TNHH, công
ty liên doanh); thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài); địa bàn hoạt động (thành thị, nông thôn)
Kết quả điều tra, sẽ được tác giả trình bày, phân tích trong phần thực trạng TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên Mẫu phiếu khảo sát người lao động, người sử dụng lao động (đơn vị sử dụng lao động) và tổng hợp kết quả khảo sát, tác giả sẽ trình bày ở phần phụ lục trong luận án
Bên cạnh đó, tác giả còn kế thừa có chọn lọc kết quả của một số công trình nghiên cứu trước đây về TTLĐ Đồng thời sẽ cập nhật, bổ sung những nội dung, thông tin mới về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên
5 Đóng góp mới của luận án
- Một là: Hệ thống hoá lý luận về HHSLĐ, thị trường và TTLĐ, các yếu tố cấu
thành TTLĐ, vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTLĐ
- Hai là: Đưa ra quan niệm về thị trường và TTLĐ của những công trình nghiên
cứu tiêu biểu Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra quan niệm về thị trường và TTLĐ
- Ba là: Chỉ ra nội dung phát triển TTLĐ và xu hướng vận động, phát triển
của TTLĐ trong những điều kiện mới
- Bốn là: Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm phát triển TTLĐ của một số
tỉnh Tác giả đã kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên
- Năm là: Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình hình thành và phát triển
TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2014 Nêu ra những kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Sáu là: Đưa ra dự báo TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn 2030
- Bảy là: Luận án đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái
Nguyên đến năm 2020
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về TTLĐ như: Khái niệm về thị trường và TTLĐ, đặc điểm, các yếu tố cấu thành, nội dung và xu hướng phát triển TTLĐ trong thời kỳ đẩy mạng công
Trang 12nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế Trên
cơ sở đó, luận án góp phần tạo ra cơ sở lý luận vững chắc về TTLĐ để các cơ quan quản lý của tỉnh Thái Nguyên xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách phù hợp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh
Về mặt thực tiễn, từ phân tích thực trạng TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2004 - 2014, luận án chỉ ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của những hạn chế đó, đề xuất các phương hướng giải pháp nhằm phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên Đây là những đánh giá và đề xuất có căn cứ lý luận và thực tiễn xác đáng và có tính khả thi Vì vậy, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho tỉnh Thái Nguyên nói chung và Sở Lao động – Thương binh và xã hội Tỉnh nói riêng để vận dụng vào phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên – một thị trường yếu tố đầu vào quan trọng bậc nhất, góp phần thúc đẩy việc hình thành đồng bộ các loại thị trường ở Thái nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung Đồng thời, luận án cũng là tài liệu có giá trị giúp cho các tỉnh khác có thể nghiên cứu, tham khảo và vận dụng những kinh nghiệm về phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên
7 Kết cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, mục lục, chữ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, phần
mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận án được kết cấu thành
4 chương, 10 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Thị trường lao động ở Việt Nam đã và đang trong giai đoạn hình thành, phát triển và bước đầu đáp ứng được yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về sức lao động, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
nghiên cứu về TTLĐ Dưới đây là một số công trình tiêu biểu đã được công bố
1.1.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới dạng cuốn sách
Nguyễn Thị Lan Hương, Thị trường lao động Việt Nam, định hướng và giải
pháp [29] Trong đó, đã trình bày bản chất TTLĐ là nơi diễn ra sự trao đổi SLĐ
giữa người lao động và người sử dụng lao động, nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động Phân tích cung về lao động và cầu về lao động, các yếu tố chi phối, kết quả của TTLĐ với ba chỉ số quan trọng đó là: Tổng mức việc làm; tiền lương và thất nghiệp Xác định rõ vai trò của Nhà nước trong điều tiết thúc đẩy TTLĐ phát triển là thiết lập thể chế, hệ thống quản lý lao động; chính sách tiền công, tiền lương; điều tiết cung - cầu lao động; giải quyết vấn đề thất nghiệp cũng như phát triển mạng lưới an sinh xã hội Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình hình thành
và phát triển TTLĐ Việt Nam trước thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1986 - 2000) Từ đó, đưa ra dự báo cung - cầu lao động 10 năm (2001-2010); các giải pháp định hướng phát triển TTLĐ Việt Nam
Tuy nhiên, cơ sở lý luận và thực tiễn về TTLĐ Việt Nam đến nay đã không còn phù hợp, hơn nữa tác giả cũng chưa đưa ra và phân tích được quan điểm của Mác - Lênin về TTLĐ một cách chính xác, có hệ thống, đồng thời chưa có quan niệm của riêng tác giả về TTLĐ Chưa xác định được những nội dung đánh giá TTLĐ; chưa dự báo về cung - cầu lao động, chưa nhấn mạnh nhu cầu về chất lượng lao động, kỹ năng làm việc của người lao động, các ngành nghề, lĩnh vực phù hợp với sự yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nước ta và trên thế giới Các giải pháp đưa
ra còn sơ sài, chưa chú trọng đến thị trường xuất khẩu lao động
Trang 14Phạm Quý Thọ, Thị trường lao động Việt Nam, thực trạng và các giải pháp
phát triển [68] Trước hết, tác giả cũng đã đưa ra khái niệm về TTLĐ của Tổ chức
Lao động quốc tế (viết tắt là ILO); Đại từ điển kinh tế thị trường; Giáo trình kinh tế lao động ở Liên bang Nga; Tiến sĩ Neva Goodwin Tuy nhiên với nhiều cách hiểu, mục đích, góc độ nghiên cứu khác nhau, nên khái niệm đưa ra cũng khác nhau, điển
hình: theo đại từ điển kinh tế thị trường đưa ra định nghĩa: "Thị trường lao động là
nơi mua, bán sức lao động của người lao động", ở đây nhấn mạnh đối tượng mua
bán trên thị trường là SLĐ Còn Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra định nghĩa: Thị
trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có làm việc của lao động, cũng như mức độ tiền công Định nghĩa này lại nhấn mạnh đối tượng mua bán trên thị trường không
phải là SLĐ, mà là dịch vụ lao động Chính vì vậy, tác giả cũng trình bày các ý kiến khác nhau xung quanh thuật ngữ "thị trường lao động" và "thị trường sức lao động" xuất phát từ lý luận HHSLĐ của C.Mác, khẳng định: sức lao động trở thành hàng hoá khi xuất hiện 2 điều kiện và HHSLĐ được mua bán trên thị trường, đó là thị trường SLĐ Sau đó, nêu ra năm đặc trưng của TTLĐ và phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố của TTLĐ; nghiên cứu kinh nghiệm của Singapore, Nhật Bản, Malayxia, Hàn Quốc về tổ chức và quản lý TTLĐ; đánh giá thực trạng cung - cầu lao động trên thị trường, tiền công, tiền lương, trợ cấp xã hội; nêu ra 6 hạn chế của TTLĐ Việt Nam Từ đó, đưa ra các nhóm giải pháp về cung - cầu lao động và cơ chế, chính sách pháp luật, tổ chức thực hiện
Phạm Đức Chính, Thị trường lao động - cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt
Nam [8] Trong đó, tác giả đã trình bày mối quan hệ giữa lao động, việc làm, thất
nghiệp, mối quan hệ giữa cung - cầu lao động và tiền lương; qua đó nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển TTLĐ, để có thể vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chưa tập trung phân tích, nghiên cứu sâu về đặc trưng của TTLĐ, mối quan hệ giữa chất lượng HHSLĐ với tiền công, giữa người lao động và người sử dụng lao động, sự tác động của kinh tế tri thức đối
với TTLĐ
Trang 15Nguyễn Thị Thơm, Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
[70] Cuốn sách này đã khái quát vấn đề cơ bản về TTLĐ Việt Nam Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận là kinh tế phát triển, cho nên tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố tác động nhằm thúc đẩy TTLĐ như chất lượng cung lao động, cải cách chính sách tiền công, tiền lương theo hướng thị trường, vai trò quản lý điều hành, giám sát của Nhà nước đối với TTLĐ
Nguyễn Thị Thơm, Phí Thị Hằng, Giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình đô thị hóa [71] Trong cuốn sách, tác giả đã tập trung nghiên
cứu và chỉ ra được những đặc điểm cơ bản nhất của lao động nông nghiệp nước ta
đó là: Cung về lao động nông nghiệp mang tính chất tự có do cung dân số quyết định, qua đó đã so sánh sự khác nhau giữa HHSLĐ với hàng hoá thông thường, thông qua mục đích, quy mô hàng hoá, nhân tố ảnh hưởng, tính chủ động trong sản xuất; cầu về lao động nông nghiệp có tính chất thời vụ do tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp; chất lượng lao động nông nghiệp thấp; hoạt động ở quy mô hộ gia đình; khả năng tự tạo việc làm còn hạn chế Đồng thời, tác giả cũng đưa ra khái
niệm: "Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm
và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội"
Xuất phát từ kinh nghiệm giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hoá của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Bắc Ninh, thành phố Hà Nội, tác giả lấy một tỉnh trọng điểm, tiêu biểu ở Đồng bằng sông Hồng là tỉnh Hải Dương để phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá của tỉnh, qua đó đã chỉ rõ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện Tác giả cũng đưa ra dự báo diện tích đất bị thu hồi và số lao động không có đất sản xuất mà phải chuyển nghề Từ đó, đưa ra 5 giải pháp về quy hoạch sử dụng đất đai, mở rộng cầu về lao động, nâng cao chất lượng cung về lao động, tổ chức thị trường sức lao động (TTSLĐ) và hoàn thiện cơ chế, chính sách giải quyết việc làm đối với lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá
Tóm lại, cuốn sách này đã nghiên cứu một vấn đề đang đặt ra hết sức cấp bách trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xong, chỉ
Trang 16dừng lại ở vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh Hải Dương Không nghiên cứu về TTLĐ, cung - cầu lao động, giá cả SLĐ, quá trình đào tạo và sử dụng lao động, cơ chế chính sách về tiền lương, tiền công, trợ cấp thất nghiệp, an sinh xã hội của Nhà nước, doanh nghiệp…
Lưu Văn Hưng, Xuất khẩu lao động Việt Nam thời đổi mới và hội nhập
Trong cuốn sách tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu là thị trường XKLĐ ở Việt Nam, qua phân tích đã đưa ra được khái niệm về xuất khẩu HHSLĐ như sau:
Xuất khẩu hàng hoá sức lao động là hoạt động cung ứng hàng hoá sức lao động từ một nước cho nhu cầu sử dụng ở các nước và vùng lãnh thổ theo cơ chế thị trường, trên cơ sở các thoả thuận mua bán hàng hoá sức lao động giữa người lao động trong nước với người sử dụng lao động
ở nước ngoài qua hoặc không qua các tổ chức môi giới, có sự quản lý
của Nhà nước nhằm các mục tiêu về kinh tế - xã hội [28, tr.34]
Bên cạnh những thành tựu XKLĐ, đã nêu rõ những hạn chế, khó khăn trong hoạt động XKLĐ như: Thị trường chưa ổn định và có nguy cơ thu hẹp; nguồn cung lao động thiếu hụt, cơ cấu ngành nghề chưa đa dạng; một số lao động vi phạm hợp đồng, bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài còn khá phổ biến; các doanh nghiệp XKLĐ khả năng cạnh tranh còn yếu, tình trạng vi phạm luật còn diễn ra ở nhiều địa phương; quyền lợi của người lao động còn bị vi phạm; đời sống gia đình người đi XKLĐ bị ảnh hưởng Hơn nữa, tác giả cũng đưa ra năm nguyên nhân dẫn đến hạn chế nêu trên đó là: Do công tác phối hợp quản lý, chỉ đạo hoạt động XKLĐ của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế; công tác giáo dục định hướng và đào tạo nghề còn nhiều bất cập; công tác quản lý, hỗ trợ, bảo vệ người lao động ở nước ngoài còn yếu, chưa được quan tâm đúng mức; phát triển thị trường chưa được đầu
tư đúng với tiềm năng; công tác thông tin, tuyên truyền còn yếu Điều đáng quan tâm trong cuốn sách này là phần dự báo của tác giả về thị trường XKLĐ Việt Nam,
cụ thể: Nhu cầu về lao động chất lượng cao và điều kiện tuyển dụng ngày càng chặt chẽ; nguồn cung về lao động cũng đa dạng; cạnh tranh trên thị trường XKLĐ tăng mạnh; các khu vực trên thế giới tuyển dụng lao động với đa dạng các hình thức,
Trang 17các ngành nghề, trình độ khác nhau Đây là điều kiện thuận lợi cho nước ta tăng cường hơn nữa các hoạt động XKLĐ, giải quyết việc làm, tiếp cận công nghệ tiên tiến, tăng thu nhập Để đạt được mục tiêu, tác giả cũng đưa ra các nhóm giải pháp
đó là: Mở rộng và phát triển thị trường XKLĐ; năng cao chất lượng lao động; phát triển các doanh nghiệp XKLĐ chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh trên thị trường; nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước; tăng cường thông tin, tuyên truyền cho người lao động về hoạt động XKLĐ
Bên cạnh những đóng góp của cuốn sách này, cũng bộc lộ một số hạn chế như: Chưa tập trung phân tích tìm ra những thế mạnh của Việt Nam đối với các thị trường XKLĐ ở một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malyxia, Indonexia… và một số thị trường mới nổi như Ả Rập Xêut, Ănggola, Dubai, Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ Chưa phân tích những lợi thế cơ bản về lao động, chính sách đối ngoại
đa phương, hợp tác kinh tế toàn diện dựa trên nguyên tắc đôi bên cũng có lợi, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, vị trí, tầm quan trọng của Việt Nam trong khu vực
và trên thế giới hiện nay
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu khái quát về TTLĐ, trình bày đặc điểm, yếu tố cấu thành TTLĐ, thực trạng và giải pháp thúc đẩy phát triển TTLĐ Tuy nhiên, với nhiều cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu khác nhau, cho nên chưa đưa ra được hệ thống những giải pháp thiết thực nhằm phát triển TTLĐ bền vững
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới dạng luận án
Đỗ Thị Xuân Phương, Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm
(qua thực tế ở Hà Nội) Xuất phát từ việc tác giả nghiên cứu và đưa ra các quan
niệm khác nhau về TTSLĐ và sự tất yếu ra đời, tồn tại, phát triển của TTSLĐ, về
thuật ngữ tác giả cũng đồng tình cho rằng: Thị trường sức lao động cũng chính là
thị trường lao động "Labour market" theo cách gọi của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), là thị trường trong đó biểu hiện cung - cầu về sức lao động, có sự mua bán (thuê mướn) sức lao động [49, tr.6]
Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển TTSLĐ được thể hiện trên hai mặt, thứ nhất:
Trang 18"Nhà nước như một nhân tố từ bên trong, trực tiếp tham gia vào việc hình thành và phát triển các loại thị trường, trực tiếp đầu tư vào thị trường này, hạn chế đầu tư vào thị trường khác", thứ hai: "nhà nước tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho các chủ thể sản xuất kinh doanh hàng hoá phát triển… Nhà nước có vai trò như "bà đỡ", không ra lệnh, không tác động trực tiếp… mà vận hành theo quy luật khách quan" [49, tr.32-33]
Về thực trạng TTSLĐ, tác giả tập trung phân tích, đánh giá quá trình giải quyết việc làm ở Hà Nội thông qua bảy hình thức biểu hiện của quan hệ lao động trong TTSLĐ, đó là: Tuyển và thi tuyển; hợp đồng lao động; quan hệ lao động theo hình thức thầu khoán; XKLĐ; chợ lao động; tuyển mộ công nhân; thuê làm nội trợ trong gia đình Trong đó, khẳng định thực tế việc quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước chưa chặt chẽ dẫn tới quyền lợi hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động bị vi phạm
Tác giả đưa ra quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, phát triển TTSLĐ ở Hà Nội, đó là: Tăng cầu SLĐ; nâng cao chất lượng lao động thông qua đào tạo; khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn vốn tạo việc làm; đổi mới
tổ chức hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm; xã hội hoá, huy động các nguồn lực cho giải quyết việc làm; quản lý di dân tự do đến Hà Nội; hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý lao động
Tóm lại, luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Xuân Phương cũng đã đưa ra và phân tích
được một số vấn đề về TTSLĐ Xong công trình nghiên cứu đã cách đây hơn 10 năm (2000-2013), do đó TTSLĐ ở Việt Nam nói chung đã có nhiều thay đổi, không chỉ ở giai đoạn hình thành, mà đang phát triển và từng bước hoàn thiện Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu ở Hà Nội dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế, không trình bày đặc điểm, vai trò, nội dung đánh giá TTSLĐ, đồng thời không phân tích sâu các yếu tố cung - cầu - giá cả SLĐ và mối quan hệ của nó Hơn nữa, chưa đưa ra được dự báo về tăng dân số và nhu cầu việc làm trên TTLĐ ở Việt Nam đến năm 2010-2020
Bùi Thị Xuyến, Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào
Trang 19thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong đó,
tác giả đã phân tích, khái quát toàn bộ lý luận HHSLĐ của C.Mác Từ đó, làm cơ
sở để phân tích TTLĐ Việt Nam từ khi hình thành và phát triển đến nay, sự tác động của toàn cầu hoá Đưa ra một số giải pháp nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), tiền công, tiền lương và cơ chế quản lý HHSLĐ trong điều kiện mới [93]
Nguyễn Văn Phúc, Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam hiện
nay Tác giả đã đi sâu nghiên cứu TTSLĐ trình độ cao ở Việt Nam, xuất phát từ
việc trình bày lý luận HHSLĐ của C.Mác, trên cơ sở đó phân tích TTSLĐ, việc làm
và thất nghiệp, cung - cầu SLĐ trình độ cao nói riêng, qua đó tác giả trình bày đặc điểm, vai trò, nội dung và tìm hiểu kinh nghiệm phát triển TTSLĐ trình độ cao ở một số nước như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Nghiên cứu thực trạng TTSLĐ trình độ cao, phương hướng và dự báo chỉ tiêu cơ bản về phát triển nhân lực đến năm 2020, đề xuất bảy giải pháp, bao gồm: Tăng cầu SLĐ trình độ cao; nâng cao chất lượng SLĐ; đẩy mạnh XKLĐ; hoàn thiện cơ chế chính sách điều chỉnh cung - cầu SLĐ trình độ cao; mở rộng đối tượng tham gia TTSLĐ trình độ cao; tiếp tục hoàn thiện hệ thống môi trường vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức trung gian; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước đối với TTSLĐ trình độ cao Trong đó,
tác giả nhấn mạnh: "Xác định cầu về sức lao động trình độ cao xuất phát từ yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế " [48, tr.145]
Nhìn chung, bên cạnh những kết quả nghiên cứu về TTSLĐ đã đạt được của tác giả, còn tồn tại một số hạn chế như: Đối tượng nghiên cứu chỉ tập trung vào TTSLĐ trình độ cao; chưa làm rõ mối quan hệ giữa các chủ thể TTLĐ; chưa phân tích cơ chế tác động giữa cung - cầu và giá cả SLĐ; chưa đưa ra dự báo xu hướng phát triển của TTLĐ đến năm 2020
Phạm Thị Ngọc Vân, Giải quyết việc làm cho lao động trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên [87] Đây là công trình nghiên cứu mới nhất
về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở tỉnh Thái Nguyên, tuy góc độ nghiên
Trang 20cứu khác nhau, nhưng cùng phạm vi nghiên cứu và có liên quan một phần đến đề tài nghiên cứu về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên Tác giả cũng đã phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên, vạch rõ những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế đó là: Tỉnh chưa xây dựng được kế hoạch tổng thể về giải quyết việc làm cho người lao động một cách chi tiết; chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh nhìn chung còn thấp; cơ chế, chính sách đối với vấn đề giải quyết việc làm chưa được quan tâm đúng mức; cung
về lao động không đáp ứng được cầu về lao động; trình độ quản lý lao động, việc làm của cán bộ tỉnh, huyện và cơ sở chưa tương xứng với nhiệm vụ; thiếu thông tin
về TTLĐ
Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số nhóm giải pháp đó là: Giải quyết việc làm gắn với phát triển kinh tế - xã hội; phát triển TTLĐ; tạo việc làm cho lao động thông qua XKLĐ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cơ chế chính sách khuyến khích đào tạo lao động; tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực
Nguyễn Văn Dũng, Thị trường sức lao động ở khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long [14] Trong luận án, tác giả tập trung chủ yếu vào mục tiêu nghiên cứu là hệ
thống hoá lý luận về TTSLĐ và làm cơ sở đánh giá TTSLĐ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển TTSLĐ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Kết quả đạt được của luận án là: Hệ thống hoá lý luận về thị trường TTSLĐ trên cơ sở kế thừa, tiếp thu học thuyết giá trị lao động của C.Mác, quan niệm của các nhà kinh tế học về TTLĐ, cơ chế vận hành, thể chế, các công cụ điều tiết TTSLĐ; kinh nghiệm của một số quốc gia tiêu biểu về phát triển TTSLĐ; đánh giá thực trạng và đề xuất năm nhóm giải pháp là: Nhóm giải pháp đối với cung SLĐ; nhóm giải pháp đối với cầu SLĐ; nhóm giải pháp kiểm soát giá cả SLĐ; nhóm giải pháp kết nối cung - cầu SLĐ; nhóm giải pháp điều tiết TTSLĐ [14]
Trên đây là một số luận án tiêu biểu nghiên cứu về TTLĐ Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh lý luận HHSLĐ của C.Mác, khẳng định vai trò của TTLĐ đối với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Hơn nữa, cũng phần nào phân tích thực trạng
Trang 21cung - cầu lao động và giá cả HHSLĐ trên thị trường Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên, cũng như khả năng dự báo
về TTLĐ và phương hướng phát triển TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020
1.1.3 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới dạng đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ đã nghiệm thu
Nguyễn Thị Thơm, Thị trường lao động Việt Nam: Thực trạng và giải pháp [69] Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu, với 22 bài viết cộng tác của
tập thể các nhà khoa học thuộc Khoa kinh tế phát triển Mục tiêu nghiên cứu chủ yếu là đánh giá thực trạng và đưa ra quan điểm, giải pháp phát triển TTLĐ Việt Nam Kết quả đạt được là: Khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về TTLĐ và kinh nghiệm phát triển TTLĐ ở một số nước; đánh giá thực trạng TTLĐ Việt Nam từ năm 1996 đến 2004 và lựa chọn TTLĐ ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương để phân tích cụ thể, từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp phát triển TTLĐ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế phát triển, đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu quá trình phát triển TTLĐ qua từng giai đoạn, mà chưa đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia TTLĐ; các nhân tố tác động đến cơ chế vận hành TTLĐ
Nguyễn Minh Quang, Thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao [50] Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu lý luận HHSLĐ, thị trường HHSLĐ của
C.Mác, qua đó nhấn mạnh HHSLĐ chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao cho TTLĐ trong và ngoài nước Xuất phát từ cơ sở lý luận, đề xuất những giải pháp phát triển cầu về TTLĐ, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể tham gia vào TTLĐ chất lượng cao nói riêng Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu còn chưa toàn diện, sâu sắc, chỉ nêu ra những vấn đề chung mà người lao động quan tâm, chưa đưa ra dự báo về những lĩnh vực, ngành nghề mà TTLĐ yêu cầu, chưa thống kê đầy đủ số lao động chất lượng cao, giải pháp nêu ra chưa
giải quyết được triệt để vấn đề mất cân đối cung - cầu SLĐ, giá cả SLĐ
1.1.4 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới dạng bài báo trên tạp chí
Hiện nay, thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tác giả luận án thấy có nhiều bài báo đăng trên các tạp chí khác nhau liên quan trực tiếp đến TTLĐ, có thể kể ra những bài viết tiêu biểu dưới đây
Trang 22Phạm Đức Chính, Thị trường lao động: vấn đề lý thuyết và thực trạng hình thành, phát triển ở Việt Nam [8]; Đinh Thị Thu Nga, Phát triển thị trường lao động Việt Nam thời kỳ hậu WTO [42]; Nguyễn Khắc Thanh, Một số vấn đề trong tư duy, nhận thức về phát triển thị trường sức lao động [66]; Nguyễn Quốc Tế, Nguồn nhân lực, thị trường lao động trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta [63]; Trần Ngọc Diễn, Một số giải pháp phát triển thị trường lao động ở Hà Nội [15]; Lê Thanh Hà, Các biện pháp phát triển thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay [22]; Nguyễn An Hoà, Thị trường lao động Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 [24]; Nguyễn Tiệp, Định hướng phát triển thị trường lao động chuyên môn kỹ thuật cao năm 2020 [76]; Nguyễn Thị Hải Vân, Thị trường lao động Việt Nam: Thực trạng và giải pháp [86]; Trịnh Thị Ái Hoa, Chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam -những vấn đề đặt ra và khuyến nghị [23]
Những bài viết trên chủ yếu bàn về TTLĐ dưới nhiều góc độ khác nhau tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Vai trò của Nhà nước, lao động chuyên môn kỹ thuật cao, hệ thống thông tin thị trường, chính sách tiền lương trong doanh nghiệp, cung - cầu trên TTLĐ, kinh nghiệm một số nước… Đồng thời, cũng nêu lên những khó khăn, hạn chế trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến TTLĐ Tất cả các tác giả này đều đưa ra những khuyến nghị, giải pháp để phát triển TTLĐ ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, nhìn chung các bài viết trên chưa đề cập một cách có hệ thống về TTLĐ, nhất là ở tỉnh Thái Nguyên
1.1.5 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến thị trường lao động ở tỉnh Thái Nguyên
Đến nay, tác giả đã tìm hiểu, thu thập tài liệu, số liệu thì chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên, mà chỉ có một số báo cáo chuyên đề, đề án về đào tạo nghề và giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động
Báo cáo chuyên đề, Thực trạng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên năm 2008, do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
(SLĐTB&XH) tỉnh Thái Nguyên thực hiện Trong báo cáo này, đã phân tích được tình hình lao động trên các mặt số lượng, chất lượng lao động gắn với thu nhập trong từng loại hình doanh nghiệp Thống kê thực tế về số lượng các doanh nghiệp trong ba
Trang 23loại hình doanh nghiệp trong Tỉnh (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và trong đó cũng xác định tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tại thời điểm 1/4/2008 Cụ thể, tổng số các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 1.132, với 55.056 lao động Trong đó, lao động đã qua đào tạo đạt 39.676 người (chiếm 72,02%) Trình độ chuyên môn: Đào tạo nghề là 23.362 người (chiếm 58,88%); Trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 8.955 người (chiếm 22,57%); Cao đẳng là 1.576 người (chiếm 3,97%); Đại học là 5.783 người (chiếm 14,58%) Về thu nhập bình quân một tháng đối với một người lao động làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước là 2.178.000đ; đối với một người lao động làm việc ở các doanh nghiệp dân doanh là 1.338.000đ và đạt 1.330.000đ/người /tháng [56] làm việc ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra thực trạng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay đang mất cân đối về cơ cấu trình độ, kỹ năng tay nghề lao động còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, thu nhập của người lao động còn thấp, không ổn định, nhất là lao động làm việc ở các doanh nghiệp dân doanh, nhìn chung tỷ trọng lao động nữ giới làm việc so với nam giới ở các doanh nghiệp còn hạn chế, tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động theo quy định còn thấp, không đảm bảo quyền lợi của người lao động
Báo cáo chuyên đề, Tình hình lao động, việc làm, mức sống dân cư tỉnh Thái
Nguyên Mục tiêu và giải pháp đến năm 2015 Đây là một báo cáo chi tiết về tình hình
lao động, việc làm, đói nghèo của tỉnh giai đoạn 2006-2009, đồng thời đưa ra mục tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển lao động, việc làm đến năm 2015 Cụ thể:
Về thực trạng tình hình lao động, việc làm của tỉnh: Đánh giá được quy mô, chất lượng cung lao động; đặc điểm tâm lý - xã hội (phong tục, tập quán, lối sống, văn hoá …); cơ cấu lao động theo nhóm ngành; cầu lao động; kết quả thực hiện các chương trình giải quyết việc làm; đánh giá những kết quả đã đạt được, đồng thời nêu ra một số hạn chế và nguyên nhân của nó
Về mức sống dân cư tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2009: Tỷ lệ hộ nghèo
đã giảm xuống từ 26,85% (2005) xuống còn 13,99% (2009) [60], từng bước thu hẹp khoảng cách thu nhập nhờ bước đầu thực hiện đồng bộ các chính sách xoá đói giảm
Trang 24nghèo, chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo, chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch sinh hoạt, dạy nghề, khuyến nông-lâm-ngư nghiệp cho người nghèo và người tàn tật Từ đó, đánh giá chung vấn đề đói nghèo và mức sống: Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm
Mục tiêu phát triển lao động, việc làm đến năm 2015 Trước hết, báo cáo đánh giá bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sự phát triển nhanh chóng của KH&CN và hình thành nền kinh tế tri thức đã và đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số
và tạo sức ép lớn về nguồn cung lao động ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng Mục tiêu đào tạo nguồn lao động đến năm 2010 đạt 38% - 40%/ tổng số LLLĐ và phấn đấu đến năm 2020 đạt 68% - 70%/ tổng số LLLĐ toàn tỉnh) [60]
Về phương hướng và giải pháp phát triển lao động, việc làm đến năm 2015 Báo cáo đã nêu ra bảy phương hướng chủ yếu là: Nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện, tiền đề cơ sở về trình độ học vấn để nâng cao chất lượng nguồn lao động; Đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng làm việc cho người lao động; nâng cao thể lực, thể trạng người lao động; giải quyết việc làm và tăng NSLĐ; tập trung đào tạo chuyên gia quản lý, công nhân chất lượng cao; tăng cường nguồn lực đầu tư trực tiếp cho chương trình giải quyết việc làm; tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đề ra Từ
đó, báo cáo nêu ra hai nhóm giải pháp phát triển lao động, việc làm đến năm 2015,
đó là: Nhóm giải pháp thực hiện chương trình giảm nghèo và nhóm giải pháp nâng cao mức sống dân cư [59]
Ngoài ra, tỉnh còn có đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 Đề án xuất khẩu lao động tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015 do SLĐTB&XH tỉnh Thái Nguyên thực hiện [56], [58]
Tóm lại, qua thực tế nghiên cứu về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên đến nay vẫn
chưa có một đề tài, công trình khoa học tổng thể, có hệ thống, liên quan trực tiếp về TTLĐ, các bài viết mới chỉ đề cập, nghiên cứu vào một lĩnh vực cụ thể, phạm vi hẹp Hơn nữa, dưới góc độ kinh tế chính trị, đề tài của luận án mà nghiên cứu sinh
Trang 25đã lựa chọn là mới, không trùng về tên gọi và nội dung so với các công trình khoa học đã công bố, đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên cho đến nay
1.2 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1.2.1 Những vấn đề liên quan đến thị trường lao động đã được nghiên cứu, giải quyết ở những mức độ khác nhau trong các công trình nghiên cứu trước đây
1.2.1.1 Đối với cầu về lao động
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã làm rõ về khái niệm và phân loại cầu
về lao động, theo đó, cầu về lao động là khả năng thuê mướn lao động trên TTLĐ trong một khoảng thời gian nhất định và được phân chia thành hai loại: Cầu lao động thực tế và cầu lao động tiềm năng
Cầu lao động thực tế là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng trong một thời điểm nhất định, thể hiện qua số lượng việc làm còn trống và chỗ việc làm mới
Cầu lao động tiềm năng là nhu cầu lao động trong tổng số việc làm có thể có được sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làm trong tương lai như vốn, công nghệ, đất đai, tư liệu sản xuất, điều kiện chính trị, xã hội…
Các nghiên cứu trước đây cũng đã đề cập đến những yếu tố tác động đến cầu
về lao động, như: Tăng trưởng kinh tế; năng suất lao động; giá cả sức lao động (tiền công, tiền lương); chất lượng lao động; sự thay đổi luật, chế độ, chính sách của Nhà nước đối với các doanh nghiệp SXKD và người lao động
1.2.1.2 Đối với cung về lao động
Trong các công trình nghiên cứu trước đây đều đã thừa nhận SLĐ là hàng
hoá và được tự do trao đổi, mua bán trên TTLĐ Hiện nay, đã có sự thống nhất
trong nhận thức lý luận của Đảng và Nhà nước ta thông qua Bộ Luật lao động, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư hướng dẫn Quá trình hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, trong đó có TTLĐ là một sự tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật chung mà tất cả các quốc gia đều phải trải qua, tuy nhiên ở những giai đoạn, mức độ, tính chất khác nhau
Trang 26Nhiều tác giả cũng đã phân tích ở những mức độ khác nhau về các yếu tố tác động đến cung về lao động, như: Dân số và tỷ lệ tham gia LLLĐ; di dân; phát triển GD&ĐT; KH&CN; chính sách tiền công, tiền lương; các hệ thống chính sách của Nhà nước (trợ cấp thất nghiệp, phúc lợi an sinh xã hội, thuế thu nhập cá nhân, chính sách bảo hiểm y tế, hệ thống chăm sóc sức khoẻ người lao động…)
1.2.1.3 Đối với quan hệ cung - cầu và giá cả sức lao động
Các nghiên cứu đều thấy được giữa cung - cầu và giá cả SLĐ có quan hệ biện chứng với nhau Trong một thời điểm nhất định, nếu cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì giá cả SLĐ sẽ giảm và ngược lại Giá cả SLĐ tăng sẽ tác động mạnh mẽ đến lượng cung về lao động và cầu về lao động có xu hướng giảm
Hầu hết các tác giả đều cho rằng, thực chất TTLĐ là thị trường SLĐ, phân biệt rõ các khái niệm về lao động, SLĐ, giá cả SLĐ Về thực chất, TTLĐ phải được
hiểu là TTSLĐ, tức người lao động chỉ bán SLĐ, tiền công là giá cả của HHSLĐ
Các nghiên cứu cũng đã thấy được đặc trưng của TTLĐ, bao gồm: Chất lượng SLĐ không đồng nhất; Người lao động chỉ bán quyền sử dụng SLĐ mà không bán quyền sở hữu SLĐ; SLĐ vừa là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, vừa quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra; TTLĐ bị giới hạn về địa lý, ngành nghề
Nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích được về phương diện lý thuyết, các yếu tố cấu thành TTLĐ, bao gồm: Cung về lao động; cầu về lao động; giá cả SLĐ (tiền công, tiền lương); hệ thống thể chế của Nhà nước; các hình thức giao dịch trên TTLĐ (hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm, trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm hướng nghiệp, đào tạo nghề)
1.2.1.4 Đối với vai trò của Nhà nước và các trung gian thị trường lao động
Các công trình nhiên cứu được trình bày ở trên đã trình bày vai trò điều tiết TTLĐ của nhà nước, thông qua: Hệ thống pháp luật (Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn; Luật Bảo hiểm…); hệ thống các chính sách (chính sách tiền lương tối thiểu;
chính sách xã hội; chính sách GD&ĐT lại người lao động…) Đồng thời, đã trình
bày các trung gian để kết nối giữa người lao động và người sử dụng lao động (hệ thống các cơ sở dạy nghề; trung tâm tư vấn và giới thiệu việc làm; dịch vụ việc làm; sàn giao dịch, chợ lao động, doanh nghiệp XKLĐ)
Trang 27Nhiều công trình nghiên cứu đã đã thấy được vai trò của hệ thống thông tin
về cung - cầu lao động trên TTLĐ, như: Chỗ làm việc còn trống; chỗ làm mới; chỗ làm đang dư thừa; chất lượng lao động; kỹ năng làm việc; độ tuổi, giới tính, sức khoẻ, kinh nghiệm làm việc, ngoại hình… và phân loại TTLĐ dựa trên những tiêu chí khác nhau: TTLĐ tập trung (tức là có sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền) và TTLĐ không tập trung (tức là không có tổ chức, không có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; quy mô nhỏ, tính chất phức tạp, số lượng lao động không ổn định, chất lượng lao động thấp, không gian hoạt động đa dạng)
1.2.2 Những vấn đề liên quan đến thị trường lao động ở Việt Nam nói chung
và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ thêm
Bên cạnh những kết quả đã được trong các công trình nghiên cứu trước đây, hiện nay về TTLĐ ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
- Cần phải hệ thống hoá và làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về TTLĐ, như: Quan niệm về thị trường, TTLĐ, các yếu tố cấu thành, đặc điểm, vai trò, nhân
tố ảnh hưởng, xu hướng và nội dung phát triển TTLĐ ở Việt Nam trong điều kiện, bối cảnh mới
- Vấn đề xác định giá cả SLĐ trên thị trường phải thông quan hệ cung - cầu lao động hay căn cứ vào giá trị SLĐ, vẫn chưa được làm sáng rõ Vì vậy, còn lúng túng, gặp khó khăn trong việc xác định tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế cho người lao động
- Lợi ích kinh tế - xã hội trong việc gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động chưa được chặt chẽ, quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan chưa được rõ ràng để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các cơ sở đào tạo dạy nghề, các trung tâm xúc tiến việc làm và người lao động Xây dựng cơ chế vận hành "ba bên" trên TTLĐ, được hiểu là cơ chế phối hợp hoạt động giữa Chính phủ, người lao động, người sử dụng lao động, các chủ thể đều độc lập và bình đẳng trong quá trình trao đổi, mua bán SLĐ, để đạt được mục đích đặt ra
Trang 28- Cần phải tiếp tục nghiên cứu lý luận HHSLĐ của C.Mác và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về TTLĐ Từ đó, làm cơ sở
để lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên cụ thể hoá, đưa vào kế hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thời gian tới Đồng thời, cần khảo sát nhu cầu về lao động và dự báo cung - cầu về lao động về số lượng, chất lượng, ngành nghề, lĩnh vực trong từng giai đoạn Qua đó, sẽ điều tiết, hạn chế tình trạng "lệch pha", mất cân đối giữa cung - cầu lao động như hiện nay
- Cần nâng cao chất lượng lao động, gắn bó chặt chẽ giữa quá trình tư vấn, tuyển dụng, đào tạo và sử dụng gắn với nhu cầu TTLĐ Từ đó, tạo ra sức cung về lao động có chất lượng cao và sức cầu về lao động với nhiều ngành nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật khác nhau
- Cần nâng cao chất lượng các trung gian TTLĐ như: Trung tâm giới thiệu việc làm, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp XKLĐ, hội chợ lao động, sàn giao dịch việc làm, thông tin quảng cáo nhu cầu về lao động - việc làm đối với từng ngành nghề cụ thể còn thiếu, hoạt động kém hiệu quả thấp, chưa đa dạng, linh hoạt
Đây là những vấn đề đặt ra mà tác giả sẽ dự định giải quyết trong luận án này
Trang 29Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
2.1 QUAN NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
2.1.1 Quan niệm về thị trường và thị trường lao động
2.1.1.1 Quan niệm về thị trường
Hiện nay, đã có nhiều rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu của các tác
giả trong nước và nước ngoài về "Thị trường", tuỳ theo góc độ, phương diện phân
tích mà có các quan niệm khác nhau về thị trường
Quan niệm về thị trường của một số nhà nghiên cứu nước ngoài
Theo C.Mác: "Thị trường là lĩnh vực trao đổi, hễ có sự trao đổi là có thị
trường, thị trường có trường cả kinh tế thị trường" [39, tr.876] Như vậy, sản xuất
hàng hoá gắn liền với thị trường Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế cạnh tranh với nhau để xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ và sản lượng Nói đến thị trường, trước hết là nói đến các nhân tố cơ bản cấu thành thị trường, đó là hàng và tiền, người mua và người bán Từ đó, hình thành các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, mua - bán, cung cầu và giá cả hàng hóa
Theo V.I.Lênin cho rằng: thị trường là lĩnh vực lưu thông hàng hoá và phản
ánh phân công lao động xã hội, Ông viết: Khái niệm "Thị trường" hoàn toàn không
thể tách rời khỏi phân công xã hội được, sự phân công này như Mác nói là "Cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hóa"… Hễ ở đâu và khi nào có phân công xã hội
và sản xuất hàng hóa thì ở đó và khi ấy có "Thị trường" [38, tr.114]
Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường của Trung Quốc, thị trường theo nghĩa rộng là chỉ các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hoá, cùng quan hệ kinh tế và mối liên hệ kinh tế giữa người với người,
do đó mà liên kết lại Nghĩa hẹp của thị trường là chỉ khu vực và không gian trao đổi hàng hoá Thị trường bao gồm ba yếu tố sau đây: Chủ thể thị trường; khách thể thị trường; giới trung gian thị trường
1 Chủ thể thị trường bao gồm: Các xí nghiệp, cá nhân và các đoàn thể xã hội
2 Khách thể thị trường là sản phẩm hữu hình và vô hình được đem ra trao đổi thông qua thị trường
Trang 303 Giới trung gian thị trường là môi giới, chiếc cầu hữu hình liên kết các chủ thể thị trường [91, tr.114]
Quan niệm về thị trường của một số nghiên cứu trong nước
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì "Thị trường là: 1 Hoạt động động mua bán,
trao đổi hàng hoá nói chung 2 Nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá" [Error!
Reference source not found., tr.1562] Nghĩa là trên thị trường tất cả các hàng hoá
nói chung, chúng thường xuyên được trao đổi, tiêu thụ giữa các chủ thể tham gia Trong hệ thống thị trường mọi thứ đều có giá cả và hoạt động như một tín hiệu đối với người sản xuất và tiêu dùng, mỗi người đều nhận được một khoản thu nhập tương xứng với cái mà họ đem bán và lại dùng thu nhập ấy để mua cái mà họ cần
Theo từ điển kinh tế chính trị học cho rằng:
Thị trường là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực trao đổi và tiêu thụ hàng hoá Trên thị trường cầu và cung về hàng hoá hình thành và vận động Tác động qua lại giữa cung và cầu về hàng hoá có ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi mức giá cả hàng hoá Đồng thời,
việc hạ giá hay tăng giá cũng tác động đến cung và cầu [30, tr.25]
Quan điểm này nhấn mạnh cơ chế thị trường tác động đến cung - cầu hàng hoá, từ đó xác định mức giá cân bằng trên thị trường
Theo Nguyễn Văn Ngọc, cho rằng: "Thị trường là cơ chế trao đổi tạo điều
kiện cho người bán và người mua một sản phẩm, nhân tố sản xuất hay chứng khoán tài chính gặp nhau để tiến hành các giao dịch… tức có hệ số co giãn chéo của nhu cầu cao" [31, tr.503] Khái niệm về thị trường này đã tiếp cận trên phương diện
phân ngành, một hệ thống phân loại sản phẩm theo nhu cầu của người mua và địa
Quan niệm về thị trường của tác giả luận án
Trên cơ sở nghiên cứu những quan niệm khác nhau về thị trường của các nhà
kinh tế trong nước và nước ngoài Theo tác giả, có thể hiểu, thị trường theo nghĩa
rộng là lĩnh vực trao đổi, mua - bán hàng hoá; còn theo nghĩa hẹp, thị trường là không gian, nơi trao đổi, mua - bán hàng hoá
Trang 312.1.1.2 Quan niệm về thị trường lao động
Quan niệm về thị trường lao động của một số nhà nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu lý luận kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó
học thuyết HHSLĐ đã luận giải về thuật ngữ "Thị trường sức lao động" để phân
tích, làm rõ bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng khi nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá tư bản chủ nghĩa, C.Mác dùng
"Thị trường lao động","Tại sao người lao động tự do ấy đứng đối diện với người chủ tiền trong lĩnh vực lưu thông, vấn đề ấy không làm bận tâm người chủ tiền là người đã tìm thấy thị trường lao động với tư cách là một chi nhánh đặc biệt của thị trường hàng hoá " [40, tr.253] Như vậy, thị trường lao động là cách gọi khác,
nhưng thực chất là TTSLĐ, nơi diễn ra quá trình trao đổi, mua bán SLĐ, giữa người bán SLĐ và người mua SLĐ, trên cơ sở thoả thuận các mối quan hệ lao động, thông qua một hợp đồng lao động
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (viết tắt là ILO) cho rằng: "Thị trường lao
động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua bán và thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ của tiền công" [77] Quan điểm này đã đề cao mức độ, khả năng lao động nhiều hay ít,
cường độ lao động cao hay thấp, để từ đó làm cơ sở xác định mức tiền công của người lao động
Theo Leo Maglen (chuyên gia tư vấn của Dự án Giáo dục kỹ thuật dạy nghề của Tổng Cục dạy nghề do Ngân hàng phát triển Chấu Á-ADB tài trợ) cho rằng:
"Thị trường lao động là một hệ thống trao đổi giữa những người có việc làm hoặc những người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động)" [75, tr.12]
Quan niệm này đề cập nhiều đến vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuê mướn lao động, trong đó nhu cầu của những người đang có việc làm nhưng mong muốn có việc làm mới với mức thu nhập cao hơn, điều kiện làm việc, môi trường cạnh tranh tốt hơn Bên cạnh đó, những người chưa có việc và mong muốn tìm được việc làm, mặt khác người sử dụng lao động có nhu cầu tuyển dụng những lao động đáp ứng đầy đủ điều kiện đặt ra
Trang 32Hai nhà khoa học Mỹ là Ronald Erenbegt và Robert Smith cho rằng: "Thị
trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường lao động Thị trường là một cơ chế mà với
sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ làm việc được điều tiết" [52, tr.32,37] Định nghĩa này nhấn mạnh đến vấn đề giải quyết việc làm, cung
về lao động thông qua cơ chế hỗ trợ, điều tiết, kết hợp nhiều lĩnh vực để tạo ra nhiều việc làm cho người lao động
Theo K.I.Mikylskovo cho rằng: "Thị trường lao động được hiểu như một hệ
thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động" [42, tr.13] Quan niệm
này nhấn mạnh yếu tố thể chế xã hội của TTLĐ, đảm bảo cho quá trình lao động và tái sản xuất SLĐ được diễn ra thường xuyên, liên tục
Theo Kostin Leonit Alecxeevich cho rằng: "Thị trường lao động đó là một
cơ chế hoạt động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau" [34, tr.18] Định nghĩa này nhấn mạnh cơ chế hoạt động giữa người mua
và người bán SLĐ, thể hiện mối quan hệ kinh tế gắn bó chặt chẽ, từ đó đã mang lại lợi ích kinh tế - xã hội, trên cơ sở pháp lý quy định
Quan niệm về thị trường lao động của một số công trình khoa học nghiên cứu trong nước
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường định nghĩa: "Thị trường lao động là nơi
mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động)" [91] Định nghĩa này cũng tương đồng với quan
niệm của Tiến sĩ Leo Maglen, theo đó đã nhấn mạnh, khẳng định hàng hoá được trao đổi trên TTLĐ là sức lao động
Theo Trần Xuân Cầu cho rằng: "Thị trường lao động là tập hợp các hoạt
động nhằm trao đổi, mua bán hàng hoá sức lao động giữa người sử dụng sức lao động và người lao động; thông qua đó, giá cả, điều kiện và các quan hệ hợp đồng lao động được xác định" [7, tr.131] Quan niệm này, nhìn chung đã nhấn mạnh vai
trò của cung và cầu lao động tác động lẫn nhau, trao đổi, mua bán SLĐ trên nguyên tắc ngang giá, thông qua hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý để hai bên phải có nghĩa vụ thực hiện
Trang 33Nguyễn Thị Lan Hương cho rằng: "Thị trường lao động biểu hiện mối quan
hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động, nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức phù lao tương ứng" [29, tr.17] Quan niệm này, tác giả nhấn mạnh chủ thể tham gia TTLĐ,
bên cung SLĐ là người lao động và bên cầu SLĐ là người sử dụng SLĐ, thông qua
cơ chế thị trường thực hiện các nội dung thoả thuận bằng miệng hay bản hợp đồng lao động quy định
Theo quan niệm của Nguyễn Tiệp:
Thị trường lao động là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thoả thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội ) trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác [75, tr.14] Đây là một quan niệm tương đối toàn diện, xác định điều kiện hình thành TTLĐ là cầu về lao động gặp cung về lao động để trao đổi về dịch vụ lao động, thống nhất giá cả SLĐ
Theo quan niệm của Nguyễn Văn Phúc:
Thị trường sức lao động (nghĩa rộng) là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau, hay là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung sức lao động) và người sử dụng lao động (cầu sức lao động); Thị trường sức lao động (nghĩa hẹp) là chỉ giới hạn trong khu vực có quan hệ lao động (thuê mướn lao động và làm công ăn lương) được hiểu là nơi diễn ra sự trao đổi theo nguyên tắc hoà thuận về các quan hệ lao động, việc làm, tiền công và các điều kiện làm việc khác giữa người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng hình thức hợp
Nguyễn Văn Dũng cho rằng:
Thị trường sức lao động (hoặc thị trường lao động) là nơi thực hiện quan hệ kinh tế, xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm
Trang 34thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác [76, tr.25] Hai quan niệm này, tác giả đã bao quát hơn về TTSLĐ với nghĩa rộng và nghĩa hẹp, nhưng nhìn chung vẫn khẳng định: TTSLĐ gồm cung - cầu lao động, nguyên tắc trao đổi và điều kiện ràng buộc, hình thức thoả thuận bằng miệng, văn bản
Quan niệm về thị trường lao động của tác giả luận án
Dựa trên cơ sở lý luận của C.Mác và những quan niệm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về TTLĐ, tác giả luận án cho rằng:
Thị trường lao động theo nghĩa rộng là lĩnh vực mua - bán sức lao động; theo nghĩa hẹp là nơi (không gian) diễn ra các quan hệ cung - cầu lao động, giữa người bán sức lao động và người mua sức lao động, dưới
sự tác động của cơ chế thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước, nhằm xác định giá cả sức lao động (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng,
hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác
2.1.2 Đặc điểm của thị trường lao động
2.1.2.1 Hàng hoá trên thị trường lao động là loại hàng hoá đặc biệt
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và các quan niệm, định nghĩa về TTLĐ đã được trình bày ở trên, đều khẳng định: Hàng hoá được trao đổi, mua bán trên TTLĐ là SLĐ Nhưng để nghiên cứu, tìm hiểu kỹ đặc điểm của TTLĐ, thì phải dựa trên lý luận HHSLĐ của C.Mác, từ đó sẽ làm cơ sở vận dụng vào phát triển TTLĐ Việt Nam nói chung và TTLĐ ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
Trước hết, cần làm rõ về thuật ngữ "Thị trường lao động" hay "Thị trường
sức lao động" Theo C.Mác: "Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống
và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" [40, tr.251] Như vậy, khái niệm này cho thấy, SLĐ bao hàm cả năng lực thể
Trang 35chất, được biểu hiện ở vóc dáng, chiều cao, cân nặng, khả năng vận động linh hoạt của con người Ngoài ra, SLĐ còn được biểu hiện ở năng lực tinh thần như năng lực chuyên môn, kỹ năng lao động, sở thích, niềm vui, thoả mái trong quá trình lao động của con người Các bộ phận này luôn tồn tại thống nhất trong một cơ thể sống, thực chất SLĐ mới chỉ thể hiện khả năng lao động tiềm ẩn bên trong của một con người, nó chỉ là khả năng lao động, chừng nào SLĐ này được mang tiêu dùng hay sử dụng vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội mới được gọi là quá trình lao động Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người, đồng thời chính quá trình lao động làm cho con người ngày càng được hoàn thiện hơn về mọi mặt, từ đó thúc đẩy con người và xã hội loài người phát triển
C.Mác viết:
Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi giữa họ và tự nhiên Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó,
và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính
của chính nó [40, tr.226]
Qua phân tích đã phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa lao động và SLĐ Lao động là hoạt động đặc biệt của con người, nó luôn hàm chứa mục đích, ý thức và khả năng sáng tạo của con người trong mỗi sản phẩm, quá trình lao động sản xuất vật chất Điều này sẽ giúp chúng ta phân biệt với hoạt động bản năng của con vật
Để chứng minh, so sánh quá trình lao động của con người với con vật, C.Mác cũng quan sát, nghiên cứu loài nhện, ong và chỉ rõ:
Con nhện làm những động tác giống như những động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng trong đầu óc của mình rồi [40, tr.266-267]
Trang 36Như vậy, có thể khẳng định: Hàng hoá được trao đổi, mua bán trên TTLĐ là SLĐ, chứ không thể mua bán hàng hoá lao động được Sở dĩ, C.Mác cũng sử dụng
cả hai thuật ngữ "Thị trường sức lao động" và "Thị trường lao động" khi nghiên
cứu phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa với lý do là:
Thứ nhất: Theo C.Mác nghiên cứu nhằm vạch rõ bản chất bên trong của quá
trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là nhà tư bản bóc lột SLĐ của công nhân làm thuê, chứ không phải bán lao động Người khẳng định, quá trình tiêu dùng SLĐ cũng chính là quá trình sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó, phần dôi ra ngoài giá trị SLĐ được gọi là giá trị thặng dư và bị nhà tư bản chiếm không, vì vậy
SLĐ là một hàng hoá đặc biệt Cho nên, C.Mác sử dụng thuật ngữ "Thị trường sức
lao động"
Thứ hai: Khi C.Mác nghiên cứu toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông Tư
bản Chủ nghĩa, Người lại sử dụng thuật ngữ "Thị trường lao động" để phân tích
biểu hiện bên ngoài quá trình lưu thông hàng hoá, tức là quá trình trao đổi, mua và bán giữa người lao động tự do với người chủ tiền
Tóm lại, xuất phát từ cơ sở lý luận của C.Mác thì thực chất phải được hiểu
chính xác là "Thị trường sức lao động" Nhưng trên thực tế quá trình trao đổi hàng
hoá, thì C.Mác, Tổ chức Lao động Quốc tế (viết tắt là ILO), Nghị quyết Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số nhà kinh tế nghiên cứu trong nước cũng thống
nhất cách gọi là "Thị trường lao động" (Tiếng Anh là Labour market) Do đó, trong luận án này, tác giả sử dụng thuật ngữ "Thị trường lao động" là cách gọi tắt của
"Thị trường sức lao động"
Sức lao động và điều kiện biến sức lao động thành hàng hoá
Trong lịch sử bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào thì SLĐ luôn là một "tài sản" vô giá của con người, đây là yếu tố cơ bản nhất cấu thành lực lượng sản xuất, nhân tố quyết định đến số lượng và chất lượng hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, bản thân SLĐ không thể trở thành hàng hoá trên TTLĐ, mà theo C.Mác cần phải có hai điều kiện nhất định thì SLĐ mới trở thành hàng hoá, đó là:
Điều kiện thứ nhất: Bản thân người có SLĐ đem bán trên thị trường có khả
năng chi phối được SLĐ của mình Vì vậy, người lao động phải được tự do sở hữu
Trang 37năng lực lao động của mình và bán nó dưới hình thức hàng hoá trong một khoảng thời gian nhất định và được bình đẳng như những người khác trước pháp luật Đây
là điều kiện cần thiết trước tiên mà bất cứ người lao động nào muốn bán SLĐ của mình đều phải có, bởi lẽ nếu không chi phối được SLĐ bản thân thì không thể tự do mang ra TTLĐ để bán quyền sử dụng SLĐ được Mặt khác, người lao động chỉ bán SLĐ của mình trong một thời gian nhất định, thời gian đó kéo dài bao nhiêu sẽ được người mua và người bán SLĐ thoả thuận trên thị trường và được thể hiện trong hợp đồng lao động theo quy định có tính pháp lý của nó
C.Mác đã viết:
Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể bán được với tư cách
là hàng hoá, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động
ấy, do đó, người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình Anh ta và người chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với tư cách là những người chủ hàng hoá bình đẳng với nhau, chỉ khác ở chỗ một người thì mua, còn người kia thì bán, và vì thế
cả hai đều là những người bình đẳng đẳng về mặt pháp lý Muốn duy trì mối quan hệ ấy, người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định thôi [40, tr.251-252]
Điều kiện thứ hai: Người chủ sở hữu SLĐ không có tư liệu sản xuất cần thiết
để tự bản thân tiến hành quá trình lao động Do đó, anh ta phải bán SLĐ, đi làm thuê để kiếm sống
C.Mác đã viết: "Để một người nào đó có khả năng bán những hàng hoá khác
với sức lao động của mình, thì tất nhiên anh ta phải có những tư liệu sản xuất, ví dụ như nguyên liệu, công cụ lao động anh ta không thể làm giày ống mà không có da thuộc" [40, tr.253]
Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng: Điều kiện người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết buộc phải bán SLĐ để kiếm sống là không còn phù hợp, đã có sự thay đổi Tức là một số công nhân làm việc cho nhà tư bản đã sở hữu tư liệu sản xuất
đủ để tự tiến hành sản xuất, nhưng vẫn lựa chọn công việc đi làm thuê cho nhà tư bản Trên thực tế, để tiến hành quá trình sản xuất hàng hoá nhằm đạt được lợi nhuận cao,
Trang 38nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thì không chỉ có tư liệu sản xuất và SLĐ là
đủ, mà còn rất cần các yếu tố khác như trình độ chuyên môn cao, trình độ quản lý sản xuất, các kỹ năng nắm bắt, phân tích thị trường, cạnh tranh phát triển mở rộng thị phần, tính toán chi phí cơ hội, mức độ rủi ro Chính vì vậy, ngày nay một số công nhân trong xã hội tư bản vẫn đi làm thuê cho các nhà tư bản, còn về cơ bản thì các công nhân vẫn bán SLĐ và sống chủ yếu phụ thuộc vào mức tiền công ít ỏi dành cho bù đắp chi phí cho nhu cầu tối thiểu cần thiết sinh hoạt bản thân và gia đình
Theo tác giả, hai điều kiện cơ bản để SLĐ trở thành hàng hoá mà C.Mác đã chỉ ra đến nay không những vẫn còn nguyên giá trị, mà còn có ý nghĩa quan trọng
về mặt phương pháp luận, cần nhận thức nền sản xuất hàng hoá Tư bản chủ nghĩa nói riêng phải dựa trên quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển
Khi xuất hiện đầy đủ hai điều kiện trên thì SLĐ mới trở thành hàng hoá và được trao đổi, mua bán trên TTLĐ C.Mác chỉ rõ:
Để chuyển tiền thành tư bản, người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng hoá, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa
là một con người tự do, chi phối được sức lao động của mình với tư cách
là một hàng hoá, và mặt khác, anh ta không còn một hàng hoá nào khác
để bán, nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có những vật cần thiết để thực hiện sức lao động của mình [40, tr.253]
Trên cơ sở học thuyết giá trị của C.Mác đã chỉ ra rằng: bất cứ một hàng hoá nào cũng tồn tại hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị Vì vậy, HHSLĐ cũng giống như các hàng hoá thông thường khác, nhưng SLĐ là một loại hàng hoá đặc biệt
Giá trị hàng hoá sức lao động
Giá trị HHSLĐ là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra SLĐ quyết định Tuy nhiên, SLĐ chỉ tồn tại trong cơ thể sống con người, muốn duy trì và tái sản xuất SLĐ thì người có SLĐ cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Vì vậy, lượng giá trị SLĐ được đo bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động
Giá trị HHSLĐ bao gồm ba bộ phận cấu thành chủ yếu, đó là: 1) Giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người lao động; 2) Giá trị
Trang 39những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho những người lao động thay thế; 3) Những khoản chi phí đào tạo của công nhân để đạt được một trình độ nhất định
Trong quá trình tiêu dùng SLĐ, người lao động phải hao phí một lượng nhất định về cơ bắp, thần kinh, bộ não của con người và nhất thiết phải được bù đắp lại bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống bản thân, lượng hao phí càng lớn thì phải bù đắp lại càng lớn, như đồ ăn, quần áo, nhà ở, chất đốt… Những nhu cầu thiết yếu này tuỳ thuộc vào trình độ văn minh, điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu sinh hoạt, văn hoá, phong tục tập quán… của mỗi dân tộc trên từng quốc gia, trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Những người lao động được thay thế đó chính là con cái của họ, khi người lao động tiêu dùng SLĐ đến một thời gian nhất định sẽ không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục tham gia sản xuất bình thường hoặc người lao động có thể chết đi, trong khi nhu cầu SLĐ của các nhà tư bản luôn cần đến để duy trì sự tồn tại với tư cách
là giai cấp tư sản, nên giá trị SLĐ còn phải tính đến những người thay thế họ trong tương lai
C.Mác viết:
Tổng số những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho việc sản xuất ra sức lao động bao gồm cả tư liệu sản xuất cho những người thay thế đó, tức là cho con cái của những người lao động, khiến cho cái giống những người chủ hàng hoá đặc biệt đó được duy trì vĩnh cửu ở trên thị trường hàng hoá… giống như mỗi một cá nhân đang sống đều làm cho mình trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh con đẻ cái [40, tr.257]
Ngoài ra, giá trị SLĐ còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Những nhu cầu này rất khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện địa lý, khí hậu, trình độ văn minh, văn hoá của mỗi quốc gia, từng vùng, miền
Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động
Giá trị sử dụng HHSLĐ được thể hiện trong quá trình tiêu dùng SLĐ Trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, nhà tư bản với tư cách là người mua giá trị
sử dụng SLĐ trên TTLĐ, cái mà nhà tư bản mong chờ, quan tâm ở đây là tính hữu ích của giá trị sử dụng Sự phục vụ đặc biệt và có ý nghĩa quyết định của SLĐ là ở
Trang 40chỗ nó sinh ra giá trị, nhưng mà giá trị lớn hơn giá trị bản thân dành cho người sử dụng nó Đây là đặc điểm khác biệt lớn nhất của HHSLĐ Đồng thời, giá trị sử dụng HHSLĐ được thực hiện trước, giá trị SLĐ được thực hiện sau khi người lao động thực hiện xong công việc hay thời gian lao động nhất định Đây cũng là đặc điểm khác so với các hàng hoá thông thường
C.Mác khẳng định:
Giá trị sử dụng của sức lao động mà người chủ tiền nhận được khi trao đổi, đến lượt nó, lại chỉ thể hiện ra trong quá trình sử dụng thật sự, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động… quá trình tiêu dùng sức lao động đồng thời cũng là quá trình sản xuất ra hàng hoá và giá trị thặng dư… Cái có ý nghĩa quyết định là giá trị sử dụng đặc biệt của thứ hàng hoá đó là cái đặc tính của nó, cái nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn chính bản thân nó Đó là sự phục vụ đặc biệt
mà nhà tư bản mong chờ [40, tr.262, 289-290]
2.1.2.2 Giá cả hàng hoá sức lao động được quyết định bởi quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường lao động
Lý luận tiền công trong Chủ nghĩa tư bản của C.Mác đã chỉ rõ: "Tiền công là
sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động" Tuy nhiên, trên bề mặt đời sống xã hội Tư bản chủ nghĩa cho thấy, người công nhân sau khi được nhà tư bản thuê trong một thời gian nhất định để sản xuất hàng hoá, sau khi đã hoàn thành công việc đảm bảo theo yêu cầu thoả thuận, người công nhân nhận được một số tiền nhất định gọi là tiền công Do đó, nếu chỉ nhìn thấy số tiền mà người công nhân nhận được sau khi đã kết thúc quá trình lao động
mà nhà tư bản trả thì sẽ lầm tưởng rằng, tiền công là giá cả của lao động Sự thật là không đúng, bởi vì, lao động không phải là hàng hoá, không thể có giá trị lao động,
mà phải là SLĐ Như đã trình bày ở phần trên, quá trình trao đổi mua bán trên TTLĐ là SLĐ, sau khi đã được người lao động và người sử dụng lao động ký kết thông qua hợp đồng lao động hoặc được thoả thuận bằng miệng hay các hình thức khác, thì quan hệ thị trường kết thúc và quá trình sản xuất được bắt đầu, từ đó SLĐ được tiêu dùng để sản xuất hàng hoá gọi là lao động Cho nên, nói lao động là hàng hoá là điều hết sức vô lý, được thể hiện cụ thể như sau: