1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc

32 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 182,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Khoa học Công nghệ Liên Hiệp các Hội Khoa học và Môi trường và Kỹ thuật Việt Nam Phát triển Nông thôn Việt Nam INCEDA Báo cáo kết quả Nhiệm vụ "Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy

Trang 1

Bộ Khoa học Công nghệ Liên Hiệp các Hội Khoa học

và Môi trường và Kỹ thuật Việt Nam

Phát triển Nông thôn Việt Nam (INCEDA)

Báo cáo kết quả

Nhiệm vụ

"Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy

hại trên địa bàn toàn quốc"

Cơ quan quản lý: Cục Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ

và Môi trường

Cơ quan thực hiện: Trung tâm Tư vấn Đầu tư Nghiên cứu

Phát triển Nông thôn Việt nam.

Chủ nhiệm: GS.TS Lê Doãn Diên Phó chủ nhiệm: PTS Nguyễn Văn Lâm

Thư ký: Lê Văn Hữu

Hà Nội, tháng 11-1999

Trang 2

cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

" Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc".

Thay mặt Ban Chủ nhiệm

GS.TS Lê Doãn Diên

Trang 3

Danh sách các thành viên tham gia đề tài

"Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các

cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc"

CNMT

CNMT

CNMT

CNMT

17 Nguyễn thị Thu Phương TC Kế toán trưởng Trung tâm INCEDA

Trang 4

KCN (IZ): Khu công nghiệp

KCX (EPZ): Khu chế xuất

SXCN: Sản xuất công nghiệp

HCBVTV: Hóa chất và các loại thuốc bảo vệ thực vật

KHCN và MT: Khoa học Công nghệ và Môi trường

ERM: Environmental Resources Management

SIC: Standard Industrial Classification, tiêu chuẩn phân

loại công nghiệp

Trang 5

Mở đầu

Trong lịch sử phát triển của x∙ hội loài người đ∙ và đang diễn ra nhiều cuộccách mạng khoa học, công nghệ và thông tin, trong đó có năm cuộc cách mạng lớnnhất, quan trọng nhất, đánh dấu năm nấc thang phát triển của nhân loại

Bằng cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và thông tin lần thứ ba, lần thứtư, x∙ hội loài người đ∙ biến từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh côngnghiệp và trong ba trăm năm dưới nền văn minh công nghiệp, x∙ hội loài ngườì đ∙phát triển với một tốc độ thần kỳ, đ∙ làm thay đổi hẳn bộ mặt của trái đất và cuộcsống của loài người

Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ của các tập đoàn tư bản côngnghiệp siêu quốc gia và do không có một chiến lược phát triển chung thích hợp chonên đồng thời cũng đ∙ gây nên những hậu quả tiêu cực, những mối nguy cơ khônlường cho tương lai của hành tinh và nhân loại

Các khu công nghiệp đ∙ xuất hiện ở các nước công nghiệp hoá ngay từ cuốithế kỷ thứ 19 như là một công cụ đắc lực để quản lý sự phát triển công nghiệp Đặcbiệt các khu công nghiệp đ∙ tăng lên một cách ồ ạt ở khắp nơi trên thế giới từnhững năm 70 của thế kỷ này, nhất là ở những nước đang diễn ra quá trình côngnghiệp hoá mạnh mẽ Tính đến nay, trên thế giới có khoảng 13.000-21.000 khucông nghiệp vốn đ∙ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng nhưng đồng thời cũng

đ∙ gây ra những hậu quả nặng nề về môi trường sống và về sức khoẻ của con người

Hầu hết các khu công nghiệp ở trên thế giới được xây dựng và vận hành đều

ít quan tâm đến môi trường và đang phá huỷ nghiêm trọng môi trường sống củanhiều khu vực

Các khu công nghiệp này đ∙ sản sinh ra một lượng các chất thải khổng lồbao gồm dạng khí, dạng lỏng và dạng rắn gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồnnước, ô nhiễm đất, phá huỷ môi trường sống, làm mất tính đa dạng sinh học vốn rấtphong phú của thiên nhiên và làm mất tính cân bằng của hệ sinh thái

Trong các loại chất thải, chất thải rắn nguy hại (hazardous wastes) có một ýnghĩa quan trọng đặc biệt Chính vì vậy cho nên trong những năm gần đây, các tổchức quốc tế và khu vực về môi trường đ∙ chú ý đến chất thải rắn nguy hại trongquá trình xây dựng chiến lược để quản lý các loại chất thải trong phạm vi quốc tế,trong phạm vi khu vực và ngay ở từng quốc gia riêng biệt

Đối với Việt Nam chúng ta, việc đầu tư cho sự phát triển công nghiệp nhằm

đấy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ∙ trở thành mục tiêu chiến lượccủa đất nước từ nay đến năm 2020 Sự phát triển công nghiệp, đặc biệt là các khucông nghiệp tập trung và các khu chế xuất có một ý nghĩa rất quan trọng trong quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 6

Dưới ánh sáng của đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, nước ta đ∙thành công trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang mộtnền kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng x∙ hội chủ nghĩa và nhờ đó tỷ lệphát triển công nghiệp đ∙ tăng lên đáng kể Trong khuôn khổ của chiến lược côngnghiệp hoá và hiện đại hoá mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 đ∙ đề ra, khu vựccông nghiệp của Việt Nam đ∙ và đang phát triển nhanh hơn so với nền kinh tế nóichung của cả nước Năm 1994, sản lượng công nghiệp tăng 12,9% so với nămtrước, trong khi GDP tăng 8,8% Tỷ trọng GDP từ khu vực công nghiệp dự kiến sẽtăng 22% của tổng GDP năm 1994 sẽ lên đến 35% năm 2010 Với dự kiến tăngtrưởng công nghiệp như vậy, sự ô nhiễm công nghiệp sẽ trở thành một vấn đề rất

đáng lo ngại Nếu không kịp thời có các biện pháp kiểm soát và ngăn chặn ô nhiễmcông nghiệp, cường độ độc hại trên quy mô toàn quốc dự tính sẽ tăng lên 3,8 lầnsau 10 năm (2000-2010) có nghĩa là tỷ lệ tăng hàng năm sẽ là 14%

Song song với các vấn đề ô nhiễm công nghiệp, việc xử lý và tiêu huỷ chấtthải nguy hại (hazardous waste) đang trở thành nhiệm vụ quan trọng mà nước ta sẽphải giải quyết Mặc dù không có số liệu chính xác, nhưng thông qua mức tăng dân

số và các hệ số phản ánh mức độ công nghiệp hoá và hiện trạng phát triển kinh x∙ hội, Liên hợp quốc đ∙ ước tính lượng chất thải nguy hại phát sinh ở Việt Nammỗi năm vào khoảng 280.000 đến 640.000 tấn Ngành công nghiệp phát triểnmạnh nhất trong những năm 1990-1998 là ngành công nghiệp hoá chất và đó cũng

tế-là một trong những nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải nguy hại Theo kế hoạch,

dự tính rằng tốc độ tăng trưởng của ngành hoá chất sẽ là 20% năm, duy trì trong 11năm tới (1999-2010); điều này sẽ dẫn đến một tỷ lệ gia tăng chất thải rắn nguy hạitương ứng

Trong năm 1997-1998, Cục Môi trường phối hợp với các chuyên gia ERM(Environmental Resources Management) đ∙ tiến hành kiểm kê chất thải nguy hạinhằm thu thập thông tin về khối lượng và bản chất của chất thải rắn nguy hại và dự

đoán khả năng phát sinh các chất thải rắn nguy hại cũng như nguồn phát sinh rachúng Theo kết quả dự đoán bằng phương pháp đánh giá nhanh, lượng chất thảirắn nguy hại ở Việt Nam vào khoảng 277.000 tấn/ năm, trong đó 30% ở miền Bắc,10% ở miền Trung và 60% ở miền Nam

Cần nhấn mạnh rằng việc thống kê, kiểm kê toàn bộ lượng chất thải rắn nguyhại trên toàn quốc cho đến nay chưa được tiến hành và ở nước ta cũng chưa có hệthống xử lý các chất thải này (kể cả xử lý sơ cấp) Điều đó đ∙ gây những khó khăntrong vấn đề quản lý môi trường Tình trạng tiêu huỷ chất thải nguy hại một cáchtuỳ tiện ở nước ta hiện nay cũng đang là một trong những nguy cơ gây ô nhiếmmôi trường Việc chôn lấp các chất thải rắn nguy hại lẫn với các chất thải rắn bìnhthường trong b∙i rác mở, cho bốc hơi các dung môi hữu cơ vào môi trường hoặc sửdụng các chất thải rắn nguy hại thành nguyên liệu thứ cấp khác đều là những thực

tế hết sức bức xúc đòi hỏi chúng ta phải giải quyết

Trang 7

Từ trước đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá cụ thểtổng lượng chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam để từ đó đề xuất các quy hoạch tổngthể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên phạm vi toàn quốc.

Chính vì vậy cho nên ngày 3 tháng 4 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đ∙ cóchỉ thị số 199/TTg về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thảirắn ở các đô thị và khu công nghiệp Gần đây, ngày 16/7/1999, Thủ tướng Chínhphủ lại ban hành " Quy chế quản lý chất thải nguy hại" nhằm ngăn ngừa và giảmtối đa việc phát sinh các chất thải rắn nguy hại đối với môi trường và sức khỏe conngười

Xuất phát từ những điều vừa trình bày ở trên, việc đề xuất và triển khai

nhiệm vụ về "Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc" là hết sức

cần thiết và mang tính cấp bách nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản nói trêncủa Thủ tướng Chính phủ

Nhiệm vụ này nhằm các mục tiêu trước mắt và lâu dài sau đây:

1 Mục tiêu trước mắt:

Đánh giá, thống kê và dự báo tổng lượng chất thải rắn nguy hại theo nguồn

và theo ngành sản xuất trên phạm vi toàn quốc Đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ

sở xử lý chất thải rắn nguy hại phù hợp với điều kiện Việt Nam

2 Mục tiêu lâu dài:

Tạo cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc xây dựng các chính sách và vănbản pháp quy trên quan điểm quản lý chất thải rắn nguy hại nhằm phát triển sảnxuất, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, góp phần bảo vệ môi trường và sức khoẻ conngười trong chiến lược hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước

Căn cứ vào hai mục tiêu nói trên, sau gần chín tháng thực hiện nhiệm vụ, tậpthể các nhà khoa học và cán bộ công nhân viên của Trung tâm Tư vấn Đầu tưNghiên cứu Phát triển Nông thôn Việt Nam với sự cộng tác của nhiều nhà khoa họccủa các cơ quan bạn đ∙ hoàn thành báo cáo khoa học này với các nội dung chínhsau đây:

Phần thứ nhất Tổng quan về chất thải rắn nguy hại và tình hình nghiên

cứu về chất thải rắn nguy hại trong và ngoài nước.

Phần thứ hai Triển khai và thực thi nhiệm vụ.

Phần thứ ba Kết quả và thảo luận.

Kết luận và kiến nghị.

Trang 8

Phần thứ nhất

Tổng quan về chất thải rắn nguy hại và tình hình

nghiên cứu về chất thải rắn nguy hại trong và ngoài nước.

Chương 1

Khái niệm về chất thải rắn nguy hại và sự phân loại

chất thải rắn nguy hại.

1.1 Khái niệm về chất thải rắn nguy hại:

Căn cứ theo các tài liệu do ERM (Environmental Resources Management) củaAnh, chất thải rắn nguy hại có thể định nghĩa một cách tóm tắt như sau:

"Chất thải rắn nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm ) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại cho môi trường và cho sức khoẻ con người".

Nói một cách khác chất thải nguy hại là chất:

• Có chứa một chất (hoặc các chất) có tính nguy hại và

• Vì có những chất đó mà có thể gây nguy hại trực tiếp cho sức khoẻ conngười hoặc cho môi trường như là kết quả của sự tương tác của chúng với conngười hoặc với môi trường

Các chất thải nguy hại được phát sinh ra từ:

• Công nghiệp

• Nông nghiệp

• Thương nghiệp

• Công sở, cửa hiệu, trường học

• Bệnh viện, các phòng khám và điều trị của bác sĩ, của nha sĩ

• Các hộ dân cư trong cộng đồng

Trên hình 1 đ∙ trình bày một cách tóm tắt quá trình phát sinh chất thải nguy hại

trong ngành công nghiệp

Trang 9

Từ hình 1 đ∙ minh họa một số điểm cơ bản sau đây:

• Sự phát sinh chất thải là kết quả không thể tránh khỏi của sản xuất côngnghiệp bởi vì không có một quá trình công nghiệp nào đạt hiệu suất 100%

• Bản chất của các chất thải phát sinh có liên quan đến các nguyên liệu đầuvào và bản chất quá trình trong đó chúng được sử dụng

• Lượng chất thải liên quan đến hiệu suất quá trình

• Trừ phi được phân lập hợp lý tại nguồn, các chất thải nguy hại lại là mộtphần của nước thải và của các chất thải rắn khác

• Việc ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải nguy hại phải là một bộ phận đồng

bộ trong quá trình công nghiệp

Để làm ví dụ minh hoạ, dưới đây chúng ta kể một số chất thải nguy hại điển hình:

• Axít và kiềm

• Dung dịch xianua và các hợp chất xianua

• Các chất ôxi hoá

• Dung dịch các ion kim loại nặng

• Các loại dung môi đ∙ được halogen-hoá hoặc không được halogen hoá

• Cặn dầu thải

• Amiăng

1.2 Sự phân loại chất thải rắn nguy hại.

Các hệ thống phân loại chất thải rắn nguy hại thường bao gồm một hoặc một

số thành tố như sau:

Bản chất của nguồn thải:

Đây là bản chất của vị trí, của địa điểm phát sinh ra nguồn thải

- "Hộ gia đình"

- "Công nghiệp"

- "Thương nghiệp"

- "Bệnh viện và nơi pha chế dược phẩm"

Các nguồn thải "phi đặc thù".

Thường thường, các hệ thống phân loại chất thải bao gồm sự phân loại đốivới cái gọi là nguồn thải "phi đặc thù" Sự phân loại này tập trung vào bản chất củacác đơn vị sản sinh ra chất thải, ví dụ như:

- Chất thải từ khâu sản xuất, từ khâu pha chế hoặc từ khâu phân phối và sửdụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp

- Chất thải từ các nhà sản xuất, pha chế dược phẩm trong ngành y tế

Chất thải công nghiệp.

Trang 10

Một số hệ thống phân loại chất thải dùng tiêu chuẩn phân loại công nghiệp(Standard Industrial Classification - SIC) làm một thành tố của hệ thống phân loạichất thải.

"Nguồn thải đặc thù".

Loại hệ thống phân loại này dựa trên cơ sở quá trình đặc thù của việc sảnsinh chất thải Nó cung cấp các thông tin đặc thù về chất thải hoặc cho phép đưa ranhững kết luận rất đặc thù về bản chất của chất thải Ví dụ như:

- "Cặn thải tại điểm sôi cao từ quá trình chưng cất Anilin"

- "Bộ phận cơ thể thải bỏ sau khi mổ xẻ hoặc phẫu thuật tử thi"

- "Chất thải sau khi xử lý nhiệt và tôi có chứa xianua"

Phân loại theo loại nguy hại.

Nhiều hệ thống phân loại chất thải nguy hại sử dụng loại nguy hại làm mộtphần của hệ thống phân loại, ví dụ:

• "Độc hại"

• "Dễ cháy"

• "Dễ ăn mòn"

• "Dễ nổ"

• "Dễ lây nhiễm" v.v

Phân loại theo mức độ nguy hại.

• Rất độc hại

• Độc hại

• ít độc hại

Phân loại theo nhóm Hoá học (hoặc vật chất).

Một thành tố thông thường của hệ thống phân loại chất thải là nhóm các hợpchất hoá học mà thành phần ban đầu của chất thải thuộc về các hợp chất đó, ví dụ:

• "Chất thải axít vô cơ"

• "Chất thải dung môi gốc halogen"

• "Tế bào, dịch hoặc bộ phận cơ thể người" v.v

Phân loại theo thành phần hoá học ban đầu.

Cách này chia nhỏ tiếp sự phân loại nói trên thành các nhóm nhỏ dựa trênthành phần hoá học ban đầu của chất thải Các ví dụ thường thấy là:

• "Chất thải axít clohydric"

• "Chất thải tricloethylen"

• "Thuỷ ngân hoặc hợp chất thuỷ ngân"

Phân loại theo tình trạng vật lý.

• "Rắn", "rắn vừa" ("bùn" hoặc "sệt"), "lỏng", "khí"

hoặc

Trang 11

• "R¾n nguyªn khèi", "r¾n d¹ng h¹t", "r¾n d¹ng bét" v.v

Theo sù ph©n lo¹i míi cña Bazel, c¸c lo¹i chÊt th¶i nguy h¹i ®­îc tr×nh bµy

trªn b¶ng 1 vµ b¶ng 2.

Trang 12

Chương 2

Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn

và chất thải rắn nguy hại trong và ngoài nước.

2.1 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại ở ngoài nước.

Dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển là những vấn đề được quan tâmnhiều nhất của x∙ hội loài người hiện nay Để đáp ứng được nhu cầu trong cuộcsống, con người luôn luôn mong muốn phát triển nền kinh tế của mình

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế, công nghiệp là một nhân tố quan trọng

Công nghiệp được định nghĩa là "Ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện

đại; công nghiệp bao gồm các xí nghiệp khai thác và chế biến nguyên vật liệu, nhiên liệu; chế tạo công cụ lao động, khai thác rừng, sông biển, chế biến các loại sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ".

X∙ hội càng phát triển đòi hỏi nền công nghiệp phải được phát triển cả vềquy mô và cả về chất lượng ở mức cao hơn Để làm được điều này, tài nguyên thiênnhiên sẽ bị khai thác ngày một m∙nh liệt hơn và quá trình chế biến cũng sẽ được

mở mang rộng với quy mô và cường độ cao hơn Đồng thời với sự phát triển côngnghiệp, lượng phế liệu, các loại chất thải, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại cũng sẽ

được tăng lên, đưa lại nhiều hậu quả nguy hiểm cho thiên nhiên và cho con người.Cùng với sự gia tăng dân số, kịch bản phát triển công nghiệp cũng sẽ ngày một gaycấn hơn

Hiện nay công nghiệp thế giới đ∙ phát triển đến một trình độ kỹ thuật cao vàx∙ hội đ∙ có một vốn tích luỹ lớn, con người cũng đ∙ ý thức được một sự phát triển

mang tính cộng đồng và lâu dài, "một sự phát triển lâu bền của xã hội" Đó chính

là cơ sở cho sự hình thành chiến lược bảo vệ môi trường và tiến tới hình thành kháiniệm về nền sản xuất sạch mà hướng trọng điểm của nó là sản xuất sạch trong công

nghiệp Sự chuyển nền công nghiệp từ vị trí "người gây ô nhiễm" thành vị trí

"người làm sạch và bảo vệ môi trường" là một bước tiến bộ mang tính chất cách

mạng của thời đại Nhiều công nghệ, nhiều giải pháp kỹ thuật, nhiều luật lệ mới đ∙

được ban hành trong mấy năm gần đây nhằm hạn chế sự tàn phá thiên nhiên vàgiảm thiểu ô nhiễm môi trường của công nghiệp, đặc biệt là ô nhiễm do chất thảirắn nguy hại gây ra

Càng ngày nhận thức chiến lược bảo vệ môi trường càng rõ ràng hơn Đó là

chiến lược "phòng ngừa ô nhiễm" và trong lĩnh vực công nghiệp, để làm sạch môi trường, kỹ thuật "xử lý cuối đường ống" cũng đ∙ được thay thế bằng một hệ thống

giảm thiểu, phòng ngừa ô nhiễm tổng quát và toàn diện hơn đi từ sự thay đổi nguồnnguyên liệu, công nghệ và các biện pháp xử lý

Xuất phát từ chiến lược tổng quát nói trên, việc nghiên cứu và việc kiểm kêcác loại chất thải rắn nguy hại về tổng lượng cũng như về bản chất của chúng đ∙

Trang 13

được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới Từ đó họ cũng đ∙ xây dựng kế hoạchquản lý chất thải rắn nguy hại, áp dụng các công nghệ thích hợp để xử lý chất thảirắn nguy hại và ban hành nhiều điều luật thuộc l∙nh vực này Nhật Bản, Mỹ, Anh,Canada, Pháp v.v là những nước đ∙ tiến hành nghiên cứu và đ∙ giải quyết tương

đối tốt vấn đề này

Hoạt động của ERM (Environmental Resonrces Management) ở Anh là một

ví dụ điển hình để minh họa cho l∙nh vực này trên phạm vi thế giới

Nhiều nước trong khu vực (Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia,Singapore, ấn độ, Hàn Quốc, Hồng Kông v.v ) cũng đ∙ tiến hành các công trìnhnghiên cứu về chất thải rắn nguy hại và đồng thời đ∙ đề xuất được các kế hoạch vàbiện pháp quản lý chất thải rắn nguy hại và việc xử lý các chất thải rắn nguy hạitránh được việc gây ô nhiễm môi trường sống

Tại Trung Quốc người ta đ∙ đề ra luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn

do chất thải rắn (1995), trong đó qui định các ngành công nghiệp phải đăng ký việcphát sinh chất thải, nước thải v.v đồng thời phải đăng ký việc chứa đựng, việc xử

lý và tiêu huỷ chất thải, việc liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt

là từ ngành công nghiệp hoá chất

Tại Hồng Kông, người ta đ∙ tiến hành nghiên cứu và đề xuất qui chế chung

về sự tiêu huỷ chất thải, đặc biệt là chất thải hoá học Hệ thống nghiền nhỏ để chônlắp, hệ thống kiểm soát việc phù lấp, kiểm soát nơi lưu giữ, thu gom, vận chuyển,

xử lý và tiêu huỷ chất thải, nhất là chất thải rắn đ∙ được đề cập đến một cách tỷ mỷtrong qui chế này

"Chất thải hoá học" đặc trưng cho các loại hoá chất độc, axit, kiềm, các chất

ăn mòn đ∙ được chú ý một cách đặc biệt

Trên bảng 3 đ∙ trình bày một cách tóm tắt các hoạt động trong quản lý và hệ

thống quản lý chất thải nguy hại của các nước trong khu vực

Trên bảng 4 đ∙ trình bày khối lượng phát thải chất thải rắn (CTR) bình quân

theo đầu người của một số nước

Trang 14

Bảng 3: Hệ thống quản lý và các hoạt động trong quản lý chất thải nguy hại

của các nước trong khu vực

Trung Quốc

Hồng Kông

(Nguồn: Quản lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển-Washington, DC: Urban Development,

Technical Report NO.5, June 1982)

Tên nước Đô thị Chất thải rắn/người ngày (kg)

Trang 15

Từ các số liệu trình bày trên bảng 4 ta thấy rằng New York (Mỹ) là thành

phố có khối lượng phát thải chất thải rắn bình quân theo đầu người/ngày là cao

nhất thế giới (1,8 kg/người/ngày) Đối với các nước đang phát triển, Singapore và

Hồng Kông đều có khối lượng phát thải chất thải rắn bình quân trên đầu

người/ngày là cao nhất (0,87 kg/người/ngày đối với Singapore và 0,85

kg/người/ngày đối với Hồng Kông)

Đối với thành phố khác, khối lượng phát thải chất thải rắn bình quân theo

đầu người/ngày biến thiên từ 0,46 kg/người/ngày (thành phố Kano, Nigeria) đến

0,6 kg/người/ngày (thành phố Jakarta, Indonesia)

Trên bảng 5 đ∙ trình bày thành phần chất thải rắn của một số nước ASEAN

Bảng 5: Thành phần chất thải rắn của một số nước ASEAN

(Nguồn: Quản lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển-Washington, DC: Urban Development,

Technical Report NO.5, June 1982)

Như ta đ∙ thấy từ các số liệu trình bày ở bảng 5, thành phần chất thải rắn ở

các nước trong khối ASEAN rất đa dạng và thành phần hữu cơ chiếm nhiều nhất,

biến thiên từ 37% (đối với Brunei) đến 82% (đối với Indonesia), sau đó đến các

loại giấy (28,3% đối với Singapore) và nhựa (13% đối với Brunei) Đặc biệt thành

phần chất trơ ở Việt Nam là cao nhất chiếm 30,27%, trong lúc đó ở Brunei chỉ có

2%

Trang 16

Trên bảng 6 đ∙ trình bày việc xử lý chất thải rắn đô thị ở một số nước trên

thế giới

Bảng 6: Xử lý chất thải rắn đô thị ở một số nước trên thế giới

(Nguồn: Waste to energy-Kvaemer enviropower 1992)

16 Bangkok (Thái Lan) Không rõ Không rõ 84 Không rõ

17 Moscơva (Nga) Không rõ 10 80 Không rõ

Cần nhấn mạnh rằng các nước trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiềuphương pháp để xử lý chất thải rắn Tỷ lệ xử lý chất thải rắn (%) bằng các phươngpháp đốt, chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý sinh học v.v đều rất khác nhau

Như chúng ta đ∙ thấy từ bảng 6, Nhật Bản là nước đ∙ sử dụng phương phápthu hồi chất thải rắn cao nhất thế giới (chiếm 38%), sau đó đến Thuỵ Sỹ (33%),trong lúc đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt chất thải rắn (100%) Pháp lànước đ∙ sử dụng phương pháp vi sinh nhiều nhất (30%) trong việc xử lý chất thảirắn đô thị

Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong việc

xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (Bangkok) (84%), Anh (83%),Liên bang Nga (Mascơva, 80%), Tây Ban Nha (80%)

Trên hình 2 đ∙ mô hình hoá hệ thống quản lý chất thải nói chung và chất

thải rắn nguy hại nói riêng của các nước trên thế giới

Việc phân loại và việc xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản đ∙ được trình bày trên hình 3 Như chúng ta đ∙ thấy rõ trên hình 3, việc phân loại và việc xử lý chất thải

rắn ở Nhật Bản rất hợp lý và có thể đây là một mô hình để chúng ta nghiên cứu vàvận dụng vào thực tế ở Việt Nam

Ngày đăng: 30/11/2016, 16:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Xây dựng, 1998, Chiến lược quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp Việt Nam 2020, Hà Nội 11,72 Khác
2. Bộ Y tế, 1991, Báo cáo sơ kết công tác y tế lao động 6 tháng đầu năm 1999, Hà Néi, 44 Khác
3. Bộ Y tế, 1999, Quy chế quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, 40 Khác
4. Cục Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 1997, Tình hình chung về quản lý và xử lý chất thải ở Việt Nam, Hội thải chất thải độc hại, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, 17-30 Khác
5. Cục Môi trường, 1997, Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Tập 1. Quản lý chất thải nguy hại: Tài liệu thảo luận về phạm vi và tầm bao quát của Quy chế Quản lý chất thải nguy hại cho Việt Nam (ERM) Environmental Resources Management Hà Nội, 250 Khác
6. Cục Môi trường, 1998; Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Tập 2: Các tài liệu hỗ trợ chiến lược, Environmental Resources Management (ERM), Hà Nội, 585 Khác
7. Cục Môi trường, 1998, Chiến lược quốc gia về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Tập 3: Báo cáo chính, Environmental Resources Management (ERM) Hà Néi, 192 Khác
8. Nguyễn Hoà Bình, 1997, Giới thiệu về Dự án quản lý chất thải nguy hại do Ngân hàng Phát triển Châu á tài trợ, Hội thảo Chất thải độc hại, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Hà Nội, 10-16 Khác
9. Nguyễn Hồng Thao, Nguyễn Hoài, 1997, Tổng quan thể chế tổ chức và pháp lý về quản lý chất thải độc hại ở Việt Nam, Hội thảo Chất thải độc hại, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Hà Nội,1-9 Khác
10. Đinh Văn Sâm, Nguyễn Hoa Toàn, 1993, Quản lý Môi trường Công nghiệp ở Việt Nam, Tuyển tập báo cáo tại Hội thảo quốc gia về Bảo vệ Môi trường bền vững, Hà Nội, 87-95 Khác
11. Lê Bích Thắng, Lê Bích Thuỷ, 1999, ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bảo vệ môi trường, 4, 2-5 Khác
12. Nguyễn Thế, 1994, Hiện trạng và triển vọng ngành than, Hội thảo Khoa học xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng Việt Nam đến năm 2020, Hà Néi, 13-25 Khác
13. Niên giám thống kê, 1997, Tổng Cục Thống kê, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Néi, 219 Khác
14. Niên giám Thống kê, 1998, Tổng Cục Thống kê, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Néi, 340 Khác
15. Các văn bản hiện có liên quan đến việc quản lý chất thải rắn và chất thải rắn nguy hại (đ∙ được trích dẫn ở chương IV báo cáo này) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4:      Khối lượng phát thải chất thải rắn bình quân theo đầu người - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
Bảng 4 Khối lượng phát thải chất thải rắn bình quân theo đầu người (Trang 14)
Bảng 3:   Hệ thống quản lý và các hoạt động trong quản lý chất thải nguy hại - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
Bảng 3 Hệ thống quản lý và các hoạt động trong quản lý chất thải nguy hại (Trang 14)
Bảng 5:   Thành phần chất thải rắn của một số nước ASEAN - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
Bảng 5 Thành phần chất thải rắn của một số nước ASEAN (Trang 15)
Bảng 6:    Xử lý chất thải rắn đô thị ở một số nước trên thế giới - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
Bảng 6 Xử lý chất thải rắn đô thị ở một số nước trên thế giới (Trang 16)
Hình  3:   Phân loại và xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
nh 3: Phân loại và xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản (Trang 17)
Hình 4:   Tổ chức quản lý chất thải rắn ở Nhật Bản - Thống kê và dự báo chất thải rắn nguy hại và đề xuất quy hoạch tổng thể các cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại trên địa bàn toàn quốc
Hình 4 Tổ chức quản lý chất thải rắn ở Nhật Bản (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w