1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tham quan chuyên ngành kỹ thuật hạ tầng đô thị

36 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 5,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tham quan chuyên ngành Kỹ thuật Hạ tầng đô thị khóa 12D Trường Đại học Kiến trúc Hà NộiKm 10 Nguyễn Trãi Thanh Xuân Hà NộiTham quan Huế Đà Nẵng Hội AnQua chuyến đi tham quan tốt nghiệp Huế Đà Nẵng – Hội An, rút ra được nhiều điều: + Củng cố, nắm chắc phần lí thuyết để học trên lớp. + Bổ sung thêm những kiến thức mới và thực tiễn. + Hiểu hơn các công trình ngoài thực tế. + Hiểu rõ hơn bản chất vấn đề trong quá trình thi công

Trang 1

BỘ XÂY DỰNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

KHOA ĐÔ THỊ

****

BÁO CÁO THAM QUAN TỐT NGHIỆP

SVTH: NGUYỄN MINH HUỆLỚP: 2012D2

MSV: 1251050067

HÀ NỘI, 11/2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua chuyến đi tham quan tốt nghiệp Huế - Đà Nẵng – Hội An giúp chochúng em rút ra được nhiều điều:

+ Củng cố, nắm chắc phần lí thuyết để học trên lớp

+ Bổ sung thêm những kiến thức mới và thực tiễn

+ Hiểu hơn các công trình ngoài thực tế

+ Hiểu rõ hơn bản chất vấn đề trong quá trình thi công

+ Học và tiếp thu được những kinh nghiệm quý báu qua sự tìm hiểu vàhướng dẫn tận tình của thầy Ths.Thân Đình Vinh và thầy Ks.Lê Văn Chè ( giảngviên bộ môn Giao thông) trong suốt chuyến tham quan

+ Hiểu rõ hơn về ngành học của mình và làm quen với công việc của mìnhsau khi ra trường

Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Đô Thị, đặcbiệt là thầy Ths.Thân Đình Vinh và thầy Ks.Lê Văn Chè đã tận tình hướng dẫnchúng em trong thời gian chuyến tham quan

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 23 tháng 11 năm 2016

Sinh viên thực hiện

Hoàng Thế Sang

BÁO CÁO

Trang 3

THAM QUAN TỐT NGHIỆP

- Căn cứ vào kế hoạch học tập năm học 2016 – 2017, từ ngày 14 tháng 11năm 2016 đến ngày 19 tháng 11 năm 2016 lớp 12D2 có một đợt tham quan tốtnghiệp

- Căn cứ vào kế hoạch bố trí tham quan tốt nghiệp của Khoa Đô thị, trườngĐại học Kiến trúc Hà Nội

- Căn cứ vào hướng dẫn của cô giáo cố vấn học tập Nguyễn Thị Thanh Huyền– bộ môn Giao thông – Khoa Đô thị

Em - sinh viên Lớp 12D2 chuyên ngành Hạ tầng kỹ thuật Đô Thị có chuyếntham quan tốt nghiệp ở địa điểm TP Huế - Đà Nẵng – Hội An thời gian từ ngày14/11/2016 đến ngày 19/11/2016

Chuyến tham quan bắt đầu vào khoảng 20h ngày 14/11/2016, sau khi xuấtphát ở trường Đại học Kiến trúc Hà Nội theo đường Nguyễn Trãi qua đườngNguyễn Xiển lên đường cao tốc trên cao Mai Dịch – Pháp Vân - một trongnhững công trình trọng yếu của thủ đô và là tuyến đường thông xe trên cao đầutiên ở Việt Nam nó có chiều dài 15km có giải phân cách giữa và đường rộng24m với 4 làn xe

Trang 4

Cao tốc trên cao Mai Dịch – Pháp VânTrong gần 3 năm, tuyến đường trên cao đã hoàn thành kết nối với cầu cạnPháp Vân dài 6 km, tạo thành đường trên cao vành đai 3 dài 15km, nối với caotốc Pháp Vân – Cầu Giẽ và cầu Thanh Trì Kết nối xa hơn là quốc lộ 5 và đại

Lộ Thăng long, tạo thành tuyến giao thông liên hoàn hiện đại

Đường trên cao cũng vượt qua 3 nút giao có lưu lượng lớn tại phía tây nam

là nút Thanh Xuân – Khuất Duy Tiến, Khuất Duy Tiến – Lê Văn Lương và nútgiao Trung Hòa Gần mỗi nút giao này đều có các đoạn đường dẫn lên và xuốngcho các phương tiện Để hạn chế xung đột và tận dụng công năng của cầu cạn,tuyến này được dành riêng cho ô tô, xe máy và các loại xe thô xơ sẽ đi phíadưới cầu đã giảm thiểu tai nạn và ách tắc giao thông cho tuyến đường

Xe chạy qua tuyến quốc lộ 8B Phần từ điểm giao cắt với quốc lộ 1A ở địaphận phường Đậu Liêu, Hồng Lĩnh (thị xã) thị xã Hồng Lĩnh chạy về hướngĐông Bắc, ngay dưới chân núi Hồng Lĩnh và bờ phải của sông Lam, đến địaphận thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân lại gặp quốc lộ 1A, đi tiếp qua thị trấn

Trang 5

Nghi Xuân đến cảng Xuân Hải gọi là quốc lộ 8B Toàn tuyến dài 25 km, đườngcụt, trong đó đoạn tới thị trấn Nghi Xuân dài 17 km là đường cấp IV đồng bằng,đoạn còn lại là đường cấp III đảm bảo cho xe tải trọng lớn ra vào cảng Đây làtuyến đường nối thị xã Hồng Lĩnh với thị trấn huyện lỵ Nghi Xuân của huyệnNghi Xuân.

Đường quốc lộ AH1 đoạn qua 3 tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Nghệ An.Tuyến đường có tiêu chuẩn đường cấp 3 đồng bằng, có 4 làn xe cơ giới và 2 làn xethô sơ, bề rộng mặt đường 20 m

Trang 6

10h30 ngày 15/11/2016, Đoàn có mặt tại Huế

I Tham quan Kinh thành Huế: (15/11/2016)

Nằm giữa dải đất miền Trung khí hậu khô cằn, hè nắng dội, đông mưa dầm, làmột vùng non xanh nước biếc, phong cảnh kỳ tú trải dọc theo bờ con sông Hươngxuôi ra biển Đông Huế từ thời các chúa Nguyễn đã từng được chọn làm thủ phủ

xứ Đàng Trong: Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long năm1635-1687; Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát dời phủ về Phú Xuân trongnhững năm 1687-1712; 1739-1774 Huế còn là kinh đô triều vua Quang TrungNguyễn Huệ nhà Tây Sơn, rồi một lần nữa chính thức trở thành kinh đô của cảnước Việt Nam khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triềuNguyễn kéo dài suốt 143 năm Với bề dày lịch sử gắn liền với chín đời cha ôngnhà Nguyễn ở đây, không có gì khó hiểu khi vua Gia Long chọn mảnh đất nằm ởtrung độ đất nước để làm kinh đô cho triều đại mình

Trang 7

Khởi công xây dựng năm 1805, Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắcsông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha, có 10 cửachính gồm:

- Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành)

- Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây)

- Cửa Chính Tây

- Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành)

- Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binhkhí, lập thời Gia Long)

- Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây)

- Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài)

Trang 8

Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở gócĐông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn BìnhMôn

Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự

Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan

* Thăm quan khu quần thể Cung Đình Huế:

Kiến trúc cung đình Huế được định hình từ khi Huế là Kinh đô của ViệtNam thời phong kiến Là một trung tâm chính trị - văn hóa - kinh tế… của cả nước

Trang 9

suốt thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Kinh đô Huế có những công trình kiến trúc

mỹ thuật kỳ vĩ nhất đất nước, nay còn tồn tại với mật độ dày đặc

Xuất phát từ dịch lý và thuật phong thủy của Trung Hoa, kiến trúc truyềnthống Việt Nam và kiến trúc Kinh đô Huế hài hoà với thiên nhiên và con người.Ngoài thuyết Ngũ hành kết hợp thuyết Âm dương, Ngũ hành, Tam tài, quy luậtphát triển của vạn vật về bố cục của đồ án quy hoạch kinh đô Huế dựa trên cơ sởnghiên cứu định hình theo thuật Phong thủy và Dịch lý của các nhà Phong thủyPhương #ông cho những công trình kiến trúc kể cả âm phần dương cơ Khi xâydựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhàvua đã bố trí trục chính của công trình theo vị thế toa càn hướng tốn, tức là chạyhướng Tây Bắc - Đông Nam Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằngcủa kiến trúc cung đình tương ứng với ngũ phương Ngôn ngữ của kiến trúc là định

vị các công trình trong không gian sao cho hài hòa với thiên nhiên Như Điện TháiHòa là trung tâm của Kinh thành, chung quanh là Thanh Long (#ông), Bạch Hổ(Tây), Chu Tước (Nam), Huyền Vũ (Bắc) Hướng Kinh thành phải quay mặt vềphía Nam vì Kinh dịch viết "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" nghĩa là bậc

đế vương xoay mặt về hướng Nam để nghe (cai trị) thiên hạ

Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống Lý,Trần, Lê là tất yếu để chống sự đồng hoá và cũng chống sự lạc hậu nên đồng thờitiếp thu tinh hoa của mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa một cách

có ý thức dân tộc của các nghệ nhân từ các miền Nam Bắc quy tụ về xây dựngKinh đô, kể cả những người thợ gốc Minh Hương Trung Quốc và Chămpa Đặcbiệt đã được hiện đại hóa kỹ thuật của những công trình sư người Pháp phục vụdưới thời Gia Long, theo phương châm cơ bản tiếp thu có chọn lọc những kiến trúc

Trang 10

thích nghi với tâm hồn người Việt và Việt hóa dần để phù hợp với tâm lý bản địađem lại những đặc trưng bản sắc kiến trúc Huế.

* Đầu tiên là thăm Lầu Ngọ Môn:

Ngọ Môn là cổng chính của Hoàng Thành, một công trình kiến trúc có giá trịcao nhất trong toàn bộ quần thể kiến trúc triều Nguyễn hiện còn tồn tại.Lúc mớixây dựng, vua Gia Long cho đặt ở đó một cái đài gọi là “Nam khuyết” Năm 1883nhân việc chỉnh lý các công trình xây dựng cơ bản trong Hoàng Thành, vua MinhMạng cho dỡ bỏ để làm mới một hệ thống cửa ra vào với quy mô đồ sộ và NgọMôn ra đời từ đó

Ngọ Môn quay mặt về hướng Nam, nằm trên trục chính thần đạo, cấu trúctổng thể theo hình chữ U vuông góc, đáy nằm ở Hoàng Thành hai cánh vươn ra,cổng chính chia làm hai phần: nền đài và lầu Ngũ Phụng

Nền đài cao gần 5m, đáy dài 57,77m gần như là một sự tiếp nối của dãythành, nhưng chiều ngang được bố trí hơi phình to hơn, nhất là hai cánh ngoàiđược nhô ra tạo nên mặt bằng hình chữ U, cánh dài 27,06m Việc nhô ra đã tạo sự

Trang 11

bề thế, vóc dáng đồ sộ chung cho cả công trình, đồng thời giúp cho người lính canh

có thể kiểm soát được mặt thành ngoài một cách dễ dàng

Nền đài dày và cao, được cấu trúc theo kiểu “thượng thu hạ thách” với độdốc gần như thẳng đứng, tạo nên một thế đứng hơi choãi chân rất bền vững mà vẫngây được cảm giác sừng sững ở phần giữa của nền đài trổ ba cửa đi song song:Ngọ Môn, dành cho Vua đi, Tả Giáp môn (cửa bên trái) và Hữu Giáp môn (cửabên phải) dành cho các quan văn, võ theo hầu trong đoàn Ngự đạo ở trong lòngmỗi cánh chữ U còn trổ một lối đi như đường hầm chạy xuyên suốt từ trong rangoài, rồi bẻ thẳng góc vào phía đường Dũng đạo Hai lối này được gọi là Tả dịchmôn và Hữu dịch môn, dành cho lính tráng và voi ngựa theo hầu trong đoàn Ngựđạo ởphần trên của 5 cửa này đều xây cuốn thành vòm cao nhưng riêng ở hai đầu

ba cửa đi giữa thì có gia cố thêm hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau Cácđường xà này được bọc thêm một lớp đồng lá dát mỏng để tạo thẩm mỹ

* Tiếp theo phải kể đến Điện Thái Hòa: Điện Thái Hòa là công trình kiến trúc

quan trọng nhất trong Hoàng Cung triều Nguyễn Là nơi diễn ra các đại lễ và cáccuộc họp đại triều với sự tham gia của Vua, hoàng thân quốc thích và các đại thần.Tên Điện Thái Hòa lấy gốc từ Kinh Dịch Chữ “Hòa” có nghĩa là hòa hợp, hài hòa,

“Thái Hòa” là khí âm dương hội hợp mà dung hòa với nhau Vua trị vì thiên hạ cầnphải giữ cho được sự hòa hợp tốt đẹp giữa dương và âm, cương và nhu thì mới hữuích cho vạn vật

Trang 12

Công trình kiến trúc này được khởi công xây dựng ngày 21/2/1805 và hoànthành vào tháng 10/1805 Khi ấy Điện Thái Hòa nằm cách vị trí hiện nay khoảng45m về phía Tây Bắc Tháng 3 năm 1833 khi quy hoạch lại và hoàn chỉnh hệ thốngkiến trúc ở Đại Nội, vua Minh Mạng đã cho dời Điện Thái Hòa về phía Nam, xâydựng đồ sộ, nguy nga hơn Từ đó về sau ngôi điện này còn được tu bổ nhiều lần.

Điện Thái Hòa được xây dựng theo kiểu nhà kép gọi là “trùng thiềm điệpốc” hay “trùng thiềm trùng lương” (mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhau) Diệntích mặt bằng ngôi điện là 1.360m2.Nền điện cao hơn tầng sân chầu thứ nhất 1m

và cao hơn mặt đất 2,35m.Ngôi nhà chính ở phía sau là chính điện (hay chính

Trang 13

doanh) có 5 gian hai chái, ngôi nhà phía trước gọi là tiền điện (hay tiền doanh) cóbảy gian hai chái Hai nhà trước và sau được nối lại với nhau bằng một mái thừalưu hay còn gọi là mái vỏ cua.

Toàn bộ hệ thống sườn nhà của ngôi điện được làm bằng gỗ lim Các hàngcột gồm 80 cái đều sơn vẽ rồng thếp vàng uốn quanh Giữa tiền điện, gần trên máitreo tấm biển sơn son thếp vàng với ba chữ “Thái Hòa Điện” rất lớn, bên cạnh cóhàng chữ nhỏ ghi năm xây dựng đầu tiên (1805), năm làm lại (1883) và năm đại tu(1923) Phía trong cùng, ở gian giữa chính điện đặt ngai vua ba tầng bệ gỗ, bêntrên treo bửu tán bằng pháp lam ngũ sắc trang trí chín con rồng Ngai và bửu tánđều thếp vàng chói lọi rực rỡ.Các tuồng gỗ ở nhà trước được soi chỉ, chạm khắc vàsơn thếp rất đẹp Trên trần gỗ mỗi căn đều treo lồng đèn trang trí thơ văn và hìnhảnh cách điệu chạm trổ theo lối “nhất thi nhất họa”

Mái điện trước đây được lợp ngói hoàng lưu ly (ngói ống tráng men vàng)được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau gọi là mái chồng diêm hoặc trùng thiềm.Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt tòa nhà, được chia ratừng ô, hộc trang trí hình vẽ và thơ văn trên những miếng đồng tráng men nhiều

Trang 14

màu (pháp lam) theo lối nhất thi nhất họa Trên nóc điện, bờ mái đều chắp hìnhrồng theo kiểu lưỡng long triều nguyệt và hồi long Giữa nóc tiền điện trang trí bầurượu bằng pháp lam

Sân chầu còn được gọi là Bái đình hay Long trì (sân rồng), là sân phía trướcĐiện Thái Hòa, nơi các quan đại thần đứng sắp hàng theo phẩm trật quay mặt vàoĐiện Thái Hòa làm lễ đại triều ở trong Điện Thái Hòa chỉ có Vua ngự trên ngaivàng, các Hoàng thân và 4 vị đại thần cao nhất (tứ trụ) đứng chầu

Điện Thái Hòa là cung điện rộng lớn, uy nghi, tráng lệ nhất trong hệ thống kiếntrúc cung đình còn lại ở Huế Cùng với các di tích khác thuộc quần thể kiến trúctriều Nguyễn, Điện Thái Hòa được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới

* Kế đến không thể nhắc tới Cửu Đỉnh : Cửu Đỉnh (9 đỉnh) đặt tại sân Thế Miếu

trong Hoàng Thành Chín đỉnh này được đúc từ cuối năm 1835 đến đầu năm 1837thì hoàn thành.Ngày 4/3/1837 triều đình tổ chức lễ khánh thành rất lớn dưới sự chủtrì trực tiếp của vua Minh Mạng

Trang 15

Cửu Đỉnh biểu thị ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đình nhàNguyễn và sự giàu đẹp của đất nước.Điều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt têngọi cũng như tầm vóc và các họa tiết chạm nổi trên mỗi đỉnh.

Tên Đỉnh cũng chính là tên thụy của Vua sau khi mất được đưa vào thờ tạiThế Miếu: Cao Đỉnh (“Cao” miếu hiệu của vua Gia Long) được đặt ở chính giữarồi tiếp đến hai bên trái, phải là Nhân đỉnh (“Nhân” là miếu hiệu của vua MinhMạng), Chương Đỉnh (“Chương” là miếu hiệu của vua Thiệu Trị), Anh đỉnh(“Anh” là miếu hiệu của vua Tự Đức), Nghị đỉnh (“Nghị” là miếu hiệu của vuaKiến Phúc), Thuần Đỉnh (“Thuần” là miếu hiệu của vua Đồng khánh), Tuyên đỉnh(“Tuyên” là miếu hiệu của vua Khải Định); còn Dũ đỉnh và Huyền đỉnh chưa kịptượng trưng cho vua nào thì cách mạng tháng Tám đã xóa bỏ vĩnh viễn vương triềunhà Nguyễn

Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, mỗiđỉnh đều được đặt trên một phiến đá lớn rất vững vàng, nằm theo thứ tự đối diện

Trang 16

với các án thờ trong Thế Miếu Riêng Cao đỉnh được đặt nhích về phía trước 3mvới hàm ý để tôn vinh công lao to lớn của vị vua đầu tiên của triều đại.

Giá trị của Cửu đỉnh trước hết nằm ở tầm vóc to lớn và trình độ đúc đồngtinh xảo của những người thợ thủ công Phường Đúc, Huế.Chiếc cao nhất tới 2,5m,chiếc thấp nhất 2,3m Chu vi vòng lưng từ 4,64m tới 4,72m Trọng lượng chiếcnặng nhất 2061kg, chiếc nhẹ nhất 1935kg Các cặp quai trên miệng đỉnh khônghoàn toàn giống nhau, cặp đúc vuông, cặp đúc tròn, cặp xoắn theo kiểu dây thừng.Chân đỉnh cũng khác nhau, có bộ uốn theo kiểu chân quỳ, có bộ đúc thẳng

Về mỹ thuật, mỗi đỉnh có 17 bức hình chạm nổi chủ đề về trời biển, núisông, chim, cá, hoa, quả và binh khí (những danh thắng, sản vật nổi tiếng của ViệtNam) Tất cả 153 mảng hình trên Cửu đỉnh là 153 bức chạm độc lập, hoàn chỉnh,

là sự kết hợp điêu luyện gữa nghệ thuật đúc và chạm nổi đồ đồng nước ta hồi đầuthế kỷ XIX

Trang 17

Cửu Đỉnh thực sự là di sản văn hóa quý hiếm, có giá trị nhiều mặt của văn hóa Huếnói riêng, cả nước nói chung.

* Chùa Thiên Mụ (16/11/2016)

Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa cổ nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế (Việt Nam)

khoảng 5 km về phía tây Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu

(1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong

Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên - Nguyễn Hoàng

Dưới thời chúa Quốc -Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) theođà phát triển và hưng thịnh của Phật giáo xứĐàng Trong, chùa được xây dựng lại quy mô hơn Năm 1710, chúa Quốc cho đúc một chiếc chuông lớn,nặng tới trên hai tấn, gọi làĐại Hồng Chung, có khắc một bài minh trên đó Đến năm 1714, chúa Quốc lại cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô nhưđiện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền mà nhiều công trình trong sốđó ngày nay không còn nữa Chúa Quốc còn đích thân viết bài văn,khắc vào bia lớn (cao 2m60,rộng 1m2) nói về việc xây dựng các công trình kiến trúc ởđây,việc cho người sang Trung Quốc mua hơn 1000 bộ kinh Phật đưa vềđặt tại lầu Tàng Kinh, ca tụng triết lý của đạo Phật, ghi rõ sự tích Hòa thượng Thạch Liêm - người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn chấn hưng Phật giáo ởĐàng Trong Biađược đặt trên lưng một con rùa đá rất lớn, trang tríđơn sơ nhưng tuyệt đẹp

Trang 18

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy môđược mở rộng ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụđã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứĐàng Trong Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụđã từng được dùng làm đàn TếĐất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn.

Năm 1844, nhân dịp mừng lễ "bát thọ" của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (vợ vua Gia Long, bà nội của vua Thiệu Trị), vua Thiệu Trị kiến trúc lại ngôi chùa một cách quy mô hơn: xây thêm một ngôi tháp bát giác gọi là Từ Nhân (sau đổi là Phước Duyên), đình Hương Nguyện và dựng 2 tấm bia ghi lại việc dựng tháp, đình

và các bài thơ văn của nhà vua

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ Tháp cao 21 m, gồm 7 tầng, được xây dựng ở phía trước chùa vào năm 1844 Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng, nơi trước đây có thờ tượng Phật bằng vàng Phía trước tháp làđình Hương Nguyện, trên nóc đặt Pháp luân (bánh xe Phật pháp, biểu tượng Phật

giáo.Pháp luân đặt trên đình Hương Nguyện quay khi gió thổi)

Trận bão năm 1904 đã tàn phá chùa nặng nề Nhiều công trình bị hư hỏng, trong đó đình Hương Nguyện bị sụp đổ hoàn toàn (nay vẫn còn dấu tích) Năm

1907, vua Thành Thái cho xây dựng lại, nhưng chùa không còn được to lớn như trước nữa Hai bên tháp có hai nhà tứ giác, đặt hai tấm bia đời Thiệu Trị Sâu vào bên trong là hai nhà lục giác, một nhà để bia và một nhàđể quả chuông đúc đời chúa Nguyễn Phúc Chu

Ngày đăng: 30/11/2016, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w