1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín từ góc nhìn ý thức hệ

65 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 639,92 KB
File đính kèm DIEN NGON TRANH TRAN TRUNG TIN.rar (631 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu vấn đề diễn ngôn dưới sự quy chiếu của ý thức hệ, chúng tôi đã nỗ lực cảm thấu những tầng diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín về nỗi buồn thời đại và nỗi cô đơn của người nghệ sĩ. Chúng tôi cũng cố gắng làm rõ vài trò tương hỗ của giữa các thành phần hội họa ( đề tài, chủ đề, màu sắc. bố cụ, đường nét, hình khối ). Mặt khác, chúng tôi cũng đặt tương quan những đề tài mà họa sĩ Trần Trung Tín lựa chọn để biểu hiện với những xu hướng chung của những họa sĩ khác cùng thời.Điều này cho thấy những nỗ lực trong việc hòa nhập xã hội của Trần Trung Tín, những nét độc đáo vào hiện đại của ông so với những nghệ sĩ khác.Vẫn biết rằng mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Khi đặt các sáng tác nghệ thuật trong quan hệ đối sáng, chúng tôi chỉ muốn làm nổi bật những nét cá tính, sáng tạo của Trần Trung Tín chứ không phủ định hay hạ bệ bất kỳ thành công nào của những họa sĩ khác. Khác với những nghệ sĩ cùng thời luôn đi theo những chuẩn mực của lý thuyết và gắn liền tư tưởng với những nhiệm vụ cấp bách của xã hội, Trần Trung Tín đã chọn riêng cho mình một ngã rẽ khác biệt. Đó là lý do mà tài năng của ông không được công nhận và bị chịu sự ghẻ lạnh của người đời. Chỉ mãi về sau này, khi những quan niệm nghệ thuật được mở rộng hơn và tầm đón nhận của công chúng cũng đã phát triển, tranh của ông mới có một vị trí xứng đáng.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 5

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU 7

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

6 CẤU TRÚC BÁO CÁO 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

1.1.1 Hội họa là gì? 9

1.1.2 Diễn ngôn và diễn ngôn ý thức hệ 11

1.1.2.1 Diễn ngôn là gì? 11

1.1.2.2 Diễn ngôn ý thức hệ là gì? 11

1.1.2.3 Diễn ngôn ý thức hệ trong hội họa 13

1.1.3 Vai trò và phong cách tác giả 14

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 15

1.2.1 Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX 15

1.2.2 Họa sĩ Trần Trung Tín ( 1933 – 2008 ) 19

CHƯƠNG 2: DIỄN NGÔN TRONG TRANH TRẦN TRUNG TÍN NHÌN TỪ Ý THỨC HỆ 22

2.1 Diễn ngôn về nỗi buồn thời đại 22

2.2 Diễn ngôn về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ 29

2.3 Vai trò của những yếu tố hội họa trong việc thể hiện diễn ngôn 35

Trang 2

2.3 1 Đề tài, chủ đề 35

2.3.1.1 Chất liệu 37

2.3.1.2 Màu sắc 39

2.3.1.3Bố cục 42

2.3.1.4 Đường nét, hình khối 44

CHƯƠNG 3: PHONG CÁCH TRANH TRẦN TRUNG TÍN TỪ DIỄN NGÔN Ý THỨC HỆ 49

3.1 Chủ nghĩa biểu hiện trong tranh Trần Trung Tín 49

3.2Tính hiện đại trong tranh Trần Trung Tín 52

3.3Yếu tố trực diện và bản năng trong những sáng tác của Trần Trung Tín 55

PHẦN KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong cuộc hành trình bất tận đi kiếm tìm cái đẹp và phản ánh đời sống con người, nghệ thuật đã hình thành và ngày càng đạt đến trình độ đáng ngạc nhiên trong sự phức hợp giữa cái hiện đại và truyền thống, giữa sự đa dạng của các loại hình Với bảy loại hình nghệ thuật (văn học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu và khiêu vũ, điện ảnh), nghệ thuật đã và đang xác lập được vị trí hàng đầu trong việc nuôi dưỡng con mắt mỹ cảm và làm giàu thế giới tâm hồn của con người.“Khó mà tìm thấy người nào lại không chịu ảnh hưởng ít nhiều từ nghệ thuật, mặc dù về nhận thức ngành nghệ thuật nào đó đối với người

Trang 3

ấy không phải là nhu cầu bức thiết.Khó mà tìm thấy người nào lại không muốn

tự mình tham gia hoạt động sáng tác nghệ thuật dưới một hình thức nào đó”[1;8] Bởi tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng là kết quả của hoạt động tinh thần,

là sự nhận thức của con người về những mặt nhất định của hiện thực, là sự biểuhiện ra ở sự vật ở thái độ tinh thần và ý nghĩ của con người đối với hiện thực.Nghệ thuật có nhiệm vụ tác động đến tình cảm, ý chí và tư tưởng của con ngườibằng sự hiểu biết nhất định về các hiện tượng của cuộc sống

Xét trong mối tương quan của bảy loại hình trên, hội họa là một bộ môn nghệthuật mang tính trừu tượng đặc thù và chưa nhận được sự quan tâm đúng mứccủa số đông khán giả như các loại hình khác.Nhưng không phải vì thế mà hộihọa không sinh sôi, nảy nở.Hội hoạ từ xưa đến nay vẫn tiếp tục phát triển chohết vòng quay và chu trình với đủ loại ngôn ngữ, phong cách cá nhân khácnhau Nếu văn chương ở nước ta, cũng như ở mọi nơi, ra đời và phát triển mộtcách tự nhiên, cùng với lịch sử ngàn năm của dân tộc, và mọi chuyển biến ởtrong nó, hôm qua và hôm nay, đều mang tính tự nhiên, nội tại, thì hội hoạ ViệtNam khởi thuỷ là thành qủa của một sự ươm trồng từ bên ngoài và trong vònghai thập kỷ nó tăng trưởng, thành hình dưới sự theo dõi, dìu dắt, hướng dẫn, củanhững nghệ sĩ tạo hình người Âu, cho nên nó không thể không chịu tác độngtrực tiếp của những quá trình diễn ra trong nghệ thuật Âu-Mỹ cùng thời Chođến hôm nay, việc Mỹ thuật Việt Nam hiện đại đã tự xé bỏ những rào cản, đổimới hoạt động, gia nhập một cách đàng hoàng, tự tin, có bản sắc vào làng mỹthuật thế giới

Khi thể nghiệm một vấn đề nào đó, dù mới hay cũ, những nhà nghệ thuật trongtừng lĩnh vực riêng của mình và bằng những chất liệu sáng tạo riêng, đều gửigắm vào trong tác phẩm tiếng nói chủ đề, tư tưởng tình cảm, thái độ cũng nhưcách ứng xử với đề tài, chất liệu Nói một cách ngắn gọn, những diễn ngôn từ đó

Trang 4

được hình thành Mỗi một họa sĩ đều có những diễn ngôn của riêng mình đốivới từng đề tài mà họ khám phá và thể hiện Từ những căn cứ rất thực tế trên,

chúng tôi đi đến việc tiếp nhận, xử lý đề tài Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín nhìn từ ý thức hệ Thông qua việc kết hợp nghiên cứu các phương diện hội

họa ( đề tài, chủ đề, bố cục, màu sắc, đường nét, hình khối ), nghiên cứu diễnngôn và diễn ngôn trong hội hoạ, và so sánh với những tác giả cùng lịch đại

Ở họa sĩ Trần Trung Tín, ta bắt gặp một tài năng mạnh mẽ, một cá tính sáng tạođặc biệt thông quan cảm hứng từ tâm thức thuần khiết Qua những nét vẽ hồnnhiên, trong sáng, người ta cảm những tư tưởng nhân sinh quan và đón nhậnnhững bức tranh của ông như đón nhận một “sự trần trụi cái thật hóa tượngtrưng của cái đẹp” Công chúng đến với thế giới tranh của họa sĩ Trần Trung Tín

và thâm nhập vào nó không gặp nhiều trở ngại so tranh của các họa sĩ khác bởitính đối thoại cao với độc giả trong tranh ông đã khiến cho người xem cảm thấygần gũi, thân thuộc

Chúng tôi lựa chọn đề tài Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín nhìn từ ý thức

hệ dựa trên cơ sở lý thuyết, cách hiểu của riêng người viết về diễn ngôn, diễn

ngôn trong hội họa cùng với cảm nhận mang tính chủ quan kết hợp với những ýkiến phản hồi của công chúng khi thưởng lãm tranh của ông Báo cáo này tậptrung làm rõ diễn ngôn ý thức hệ trong tranh Trần Trung Tín thông qua nhữngđặc trưng của hội họa, đồng thời so sánh với những tác giả cùng thời để làm nổibật chân dung người họa sĩ tài năng độc đáo, cá tính sáng tạo.Đây cũng là một

sự thử nghiệm mới mẻ khi áp dụng lý thuyết diễn ngôn của văn học để cảm nhậnnội dung, tư tưởng của hội họa

Báo cáo khoa học này của chúng tôi nghiên cứu về vấn đề Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín nhìn từ ý thức hệnên mảng tài liệu mà chúng tôi khảo sát

Trang 5

bám theo vấn đề này từ phạm vi rộng đến hẹp Cụ thể chúng tôi sẽ nghiên cứu –phê bình và các bài báo – tạp chí chuyên ngành về vấn đề hội họa nói chung vàtranh Trần Trung Tín cùng với những diễn ngôn trong sáng tác của ông

2.1 Các công trình nghiên cứu – phê bình về tranh Trần Trung Tín

Có thể nói, đối với giới nghệ thuật ngày nay, không ai còn xa lạ với cái tên TrầnTrung Tín.Nhưng ông chỉ thực sự biết tới sau thành công của cuộc triển lãm cánhân tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1989.Từ đó đến nay, ông đã tham gia hàngchục triển lãm cá nhân và tập thể trong và ngoài nước.Công trình nghiên cứu –phê bình duy nhất tại thời điểm này về tranh Trần Trung Tín là cuốn “TranTrung Tin painting and poems from Viet Nam” của Sherry Buchanan, Asia Ink,2002

Là người đọclời giới thiệu tranh của cố họa sĩ Trần Trung Tín trong lễ khai mạc

triển lãm cá nhân mang tên Bi kịch lạc quantại viện bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

cuối tháng 10/2013, bà Sherry Buchanan – một chuyên gia nghiên cứu về mỹthuật đương đại Châu Á có chia sẻ về cảm giác của mình khi lần đầu tiên biếtđến tranh của ông “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một bức tranh của Trần Trung Tíntrong căn hộ của một nhà sưu tập tại Hồng Kông vào đầu những năm 1990 Bức

tranh Cô gái và khẩu súng ông vẽ năm 1972 khiến tôi choáng váng bởi chưa bao

giờ gặp một sự thương cảm con người đến thế Khi biết tác giả bức tranh, tôilập tức sang Việt Nam tìm gặp ông”1

Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi không thể trực tiếp tiếp cận cuốnsách này Chúng tôi chỉ có thể dẫn chứng những nội dung của cuốn sách quanhững lời chia sẻ của chính tác giả trên các phương tiện thông tin đại chúng.Ngoài một công trình nghiên cứu về Trần Trung Tín của một học giả nước ngoài

1kich-lac-quan%E2%80%9D-tpp.html

Trang 6

http://www.tienphong.vn/van-nghe/651728/Doc-dao-trong-%E2%80%9CBi-như đã nói ở trên, hiện nay chưa có thêm nhà nghiên cứu – phê bình nào trong

và ngoài nước đi sâu cắt nghĩa, lý giải thế giới tranh của ông

2.2 Báo viết, báo mạng, truyền thông đại chúng về tranh Trần Trung Tín

Có nhiều trang báo mạng của Việt Nam và thế giới đã từng viết bài về họa sĩTrần Trung Tín Nhưng chỉ trước sau triển lãm “ Bi kịch lạc quan” của ông hồicuối tháng 10/2013 tại Hà Nội, các phương tiện thông tin đại chúng mới nhắcnhiều tới họa sĩ Trần Trung Tín và công chúng có thể dễ dàng tìm hiểu thêm vềông Nếu gõ cái tên họa sĩ Trần Trung Tín trên website tìm kiếmwww.google.com, ta sẽ nhận được khoảng 783.000 kết quả trong vòng 0,32giây Khoan hãy bàn đến việc chất lượng của các bài viết, nhưng phải côngnhận, một làn sóng tìm hiểu, phê bình về tranh của ông đã hình thành Tuynhiên, việc này chỉ dừng lại ở phê bình và cảm nhận tranh theo quan niệm cảmxúc của cá nhân mang tính chủ quan mà chưa được thực hiện như một công trìnhkhoa học đúng nghĩa Chưa có bài viết nào đi sâu tìm hiểu và phân tích thấu đáo

về nghệ thuật hay những vấn đề thuộc về lý thuyết chuyên môn Ngoài ra cũng

đã xuất hiện những luồng suy nghĩ trái chiều và những cảm xúc của cá nhânngười xem được đăng tải lẻ tẻ trên các trang báo mạng.Trong báo cáo này,chúng tôi muốn áp dụng diễn ngôn – một lý thuyết mới của văn học vào loạihình nghệ thuật này và đi sâu khai thác thế giới tranh Trần Trung Tín

Báo cáo tập trung nghiên cứu Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín nhìn từ phương diện ý thức xã hội Đối tượng nghiên cứu sẽ là một số tác phẩm tiêu biểu

ở hai giai đoạn biến động của cuộc đời họa sĩ: 1969 – 1975 và 1976 – 1984 Cácbức tranh được người viếtchọn lọc theo cùng một chủ đề nhất định Chúng tôi sẽ

đi sâu phân tích diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín; vai trò của các yếu tố cơ

Trang 7

bản của hội họa(đề tài, chủ đề, chất liệu, màu sắc, bố cục, đường nét, hình khối).Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát thái độ của công chúng, giớinghệ sĩ và giới chuyên môn đối với những tác phẩm hội họa của Trần Trung Tín,căn cứ vào đó đưa ra những nhận định về phong cách của ông.

Thông qua việc khai thác đề tài Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín nhìn từ phương diện ý thức hệ, báo cáo này nhằm hướng tới một số những mục tiêu cụ

Báo cáo này tập trung chủ yếu áp dung lý thuyết diễn ngôn (Discourse) đểnghiên cứu và làm sáng tỏ diễn ngôn trong thế giới tranh của Trần Trung Tín.Bên cạnh cách nhìn nhận theo phong cách tác giả, chúng tôi tiếp cận vấn đề trên

Trang 8

phương diện ý thức hệ và sử dụng những thao tác nghiên cứu cơ bản như: khảosát, phân tích – tổng hợp, nghiên cứu lịch sử - văn hóa, so sánh

Báo cáo được chia làm ba phần cơ bản: mở đầu, nội dung, kết luận Trong đó,phần nội dung gồm ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín trên phương diện ý thức

xã hội

Chương 3: Những nét nổi bật trong phong cách tranh Trần Trung Tín.

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Hội họa là gì?

Theo www.wikipedia.org,“hội họa được hiểu là một ngành nghệ thuật trong

đó con người sử dụng màu vẽtô lên một bề mặt như là giấy, hoặc vải, để thể hiệncác ý tưởng nghệ thuật” Nói cách khác, hội họa là một ngôn ngữ để truyền đạt ý

Trang 9

tưởng của người nghệ sĩ bằng các tác phẩm sử dụng kỹ thuật (nghệ) và phươngpháp (thuật) của họa sỹ.Còn với TS Nguyễn Văn Khang, ông định nghĩa:“Hộihoại là nghệ thuật của màu sắc, đường nét, sáng tối, được bố cục trong mộtkhông gian hai chiều” [2;169].Có thể thấy, cả hai cách giải thích này về cơ bản

là như nhau

Hội họa chọn cho cho riêng mình những yếu tố biểu đạt phức hợp của các gammàu nóng và lạnh, sự hòa điệu của các sắc thái đậm và nhạt vàsự tương phảnsáng tối trong không gian, cùng với những nhịp điệu ăn khớp của đường nét vàhình thái để tạo nên những sức mạnh biểu cảm khác nhau.Nó có ưu thế đặc biệttrong việc phản ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú, tinh tế Ánh sáng, bóngtối cùng sự kết hợp uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc với các thủ pháp

xa – gần (khoảng cách phù hợp) trong hội họa tạo ra cảm giác về không gian bachiều Bởi vậy trong tất cảbảy“anh em” nghệ thuật, “hội họa được xem là mộtloại hình phát triển một cách trực tiếp khả năng thưởng ngoạn tối đa của thị giác

và những cảm quan của người xem về những đối tượng, hiện vật mà họa sĩ thểhiện trong tranh” [2;169] Khi thưởng lãm một bức tranh, người xem phải huyđộng sự linh hoạt của thị giác, sự liên tưởng của tư duy và sự nhạy cảm của tâmhồn mới có thể cảm thấu những nhát cọ của người họa sĩ

Hội họa được chia làm hai loại: hội họa hoành tráng và hội họa giá vẽ Hội họahoành tráng có sự kết hợp với kiến trúc ở nơi công cộng, sử dụng những chấtliệu có độ bền vững cao như: đá màu, gốm, đồng, vàng, bạc, đá quý để tạo nênnhững bức tranh Một trong những ví dụ cho mảng hội họa hoàng tráng là nhữngbức tranh tường, bích họa với kích cỡ lớn, thường mô tả về các vị thần, thánh,các cuộc chiến hoặc đôi khi là cuộc sống của con người và vua chúa trong cácnhà thờ, lâu đài, cung điện,…thời kỳ trước Loại thứ hai là hội họa “giá vẽ” Đây

là tên gọi của những bức tranh thể hiện một khía cạnh nào đó của đời sống con

Trang 10

người trong xã hội đương thời với kích cỡ nhỏ hoặc vừa, được treo trên tườngtrong các căn phòng Loại này phổ biến và có tính ứng dụng cao hơn So với hộihọa hoành tráng, hội họa “giá vẽ” có phạm vi đề tài rộng lớn và phong phú, cáchọa sĩ cũng không tốn quá nhiều thời gian để tạo ra những bức tranh.Hơn nữa,

ưu thế loại hình hội họa này là người họa sĩ có thể bộc lộ cái tôi cá nhân và cátính sáng tạo riêng của bản thân.Chỉ tính riêng hội họa “giá vẽ”, người ta cònchia ra hàng trăm loại tùy theo: chất liệu (sơn dầu, sơn mài, tranh lụa, ); chủ đề( lịch sử, phong cảnh, tĩnh vật, cổ động, minh họa sách báo, );trường phái ( ấntượng, trừu tượng, dã thú, biểu hiện, );

Tuy chỉ ghi được một khoảnh khắc của hành động, song hội họa giá vẽ vẫn cókhả năng thể hiện được ý nghĩa qua cử chỉ, động tác của đối tượng trong tranh.Khi thưởng lãm một bức họa, chúng ta vẫn cảm nhận được chiều sâu, độ gần xa

về khoảng cách của bố cục theo tiêu điểm, diện về mặt đường nét, màu sắc phảnánh, thậm chí cả sự sống độn;g như thật của đối tượng Khả năng tạo hình củahội họa có ý nghĩa rất lớn Nó nói lên được tư tưởng và tình cảm của con người

ở mọi cung bậc và sắc thái Song hạn chế của trong việc biểu hiện của hội họa làchỉ gợi ra các biến cố trong phạm vi tích tắc mà nó thể hiện, chứ không miêu tảđược đầy đủ quá trình phát triển và diễn biến sinh động của hiện thực như vănchương, điện ảnh, hoặc sân khấu

1.1.2 Diễn ngôn và diễn ngôn trên phương diện ý thức xã hội

1.1.2.1 Diễn ngôn là gì?

Diễn ngôn ( Discourse ) là một thuật ngữ mới của phương Tây được hiểu theonhiều cách, tùy vào từng lĩnh vực khoa học khác nhau: giải trình ngôn ngữ, diễnngôn, ngôn bản, ngữ trình, diễn từ, lời nói, Khái niệm diễn ngôn được sử dụng

ở hầu hết các lĩnh vực khoa học như: văn học, điện ảnh, hội họa, âm nhạc, chính

Trang 11

trị, Tuy nhiên ở mỗi lĩnh vực lại có những cách hiểu diễn ngôn khác nhau.Chúng tôi xin đưa ra cách hiểu coi “ diễn ngôn” là sản phẩm tư tưởng của quátrình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể, cấu trúc và mục đích

Theo từ điển New Webster’s Dictionary, có hai cách để định nghĩa diễn

ngôn.Đó là sự giao tiếp bằng tiếng nói (trò chuyện, lời nói, bài phát biểu).Bên cạnh đó, nó còn là sự nghiên cứu tường minh, có hệ thống về một

đề tài nào đó (luận án, các sản phẩm của suy luận).Dù được giới thiệu sớm

nhất trong ngành ngôn ngữ học, nhưng cách hiểu về diễn ngôn vẫn chưa rõ ràng,những quan niệm đa số chỉ tập trung quanh việc phân biệt giữa hai thuật ngữ:

“diễn ngôn” và “văn bản” Phân tích diễn ngôn là tập trung vào cấu trúc củangôn ngữ nói, xuất hiện một cách tự nhiên như lời đàm thoại, phỏng vấn, bìnhluận và lời nói Còn phân tích văn bản là tập trung vào các cấu trúc của ngônngữ viết trong các văn bản như: tiểu luận, thông báo, biển chỉ đường và cácchương sách Dù vậy, cả hai nghĩa đó đều chỉ thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ, chưa

đề cập tới giao tiếp phi ngôn từ như: cử chỉ thân thể, sự mô phỏng động tác, sựthay đổi tư thế của thân thể, trang phục, nghi thức…

Diễn ngôn được biểu hiện ra bề ngoài thành hình thức ngôn ngữ, nhưng nókhông phải là ngôn ngữ thuần tuý, mà là một phương thức biểu đạt của tư tưởng

và lịch sử Một mặt diễn ngôn do thực tiễn tạo thành Mặt khác, thực tiễn cũnglàm thay đổi diễn ngôn.Diễn ngôn không phải là công cụ, không phải hình thứcngôn ngữ, mà là bản thân thực tiễn được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ “Mỗi lĩnh vực khoa học hay mỗi phạm vi tri thức đời sống có một mã ngôn ngữ

để diễn đạt, biểu hiện nó; mỗi mã gấy ứng với một kiểu loại diễn ngôn, chẳnghạn diễn ngôn khoa học, diễn ngôn văn học, diễn ngôn chính trị Diễn ngôn nàocũng có nguyên tắc cấu trúc, cách thức vận hành và chức năng riêng trong đờisống xã hội.Diễn ngôn ở những trường hợp đó được dùng gần với thuật ngữ thể

Trang 12

loại của phong cách ngôn ngữ chức năng Mặt khác, do mỗi cá nhân trong mộtcộng đồng ngôn ngữ có quy tắc, cách thức tổ chức hoạt động ngôn từ đặc trưngcho mình, của mình, có những cách diễn đạt ưa thích riêng - nói cách khác, lờinói của họ có ranh giới, giọng điệu, mục đích, trọng lượng riêng, thậm chỉ cảhình thức cũng mang ý nghĩa riêng” 2Thuật ngữ diễn ngôn có thể xác định làmột chỉnh thể trần thuật hình thành hệ thống đồng nhất.

1.1.2.2 Diễn ngôn trên phương diện ý thức xã hội là gì?

Ý thức hệ được coi là hoạt động nhận thức chủ yếu của con người nhằm phảnánh thực tế khách quan để thích nghi hoặc cải tạo Ý thức hệ có mối quan hệtương hỗ với những biến động của thế giới bên ngoài.Nó tác động tư duy nhậnthức, kích thích bộ não, từ đó sinh ra hành động và lời nói.Tùy vào từng tư duynhận thức khác nhau mà ý thức xã hội của mỗi người khác nhau.Có thể coi, ýthức hệ là kết quả của quá trình tự nhận thức và kiến tạo bản ngã riêng của cánhân

Diễn ngôn ý thức hệ có nghĩa làsự biểu đạttư tưởng của chủ thể phát ngôn dưới

sự tác động của những yếu tố bên ngoài như lịch sử, xã hội, Diễn ngôn ý thức

hệ cũng có thể hiểu là “cái ngôn ngữ được dùng trong quá trình biểu đạt thựctiễn xã hội khác với quan điểm cá nhân.” (Norman Fairklough ) Diễn ngôn ýthức hệ được hình thành dựa trên những việc quan sát trực quan thế giới của tácgiả và phụ thuộc nhiều quan điểm nhân sinh quan của mỗi cá nhân “Diễn ngônbiểu hiện ra bề ngoài thành hình thức ngôn ngữ, nhưng nó không phải là ngônngữ thuần tuý, mà là một phương thức biểu đạt của tư tưởng và lịch sử” (M

Foucault) Diễn ngôn ý thức hệ đôi khi được đạt trong thế đối sánh với những tư

2Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ, http://se.ctu.edu.vn/bmnv/index.php?

option=com_content&view=article&id= 233:b

Trang 13

c-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-tưởng khác nhằm khẳng định tính đúng đắn của tư c-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-tưởng diễn ngôn.Tuy nhiên,vẫn có những diễn ngôn phi ý thức hệ, chẳng hạn trong những bộ phim tư liệu

về chiến tranh mà đạo diễn không đứng hẳn về một phe nào, mà chỉ đơn thuầnmuốn quay lại khách quan toàn bộ hiện thực chiến tranh

1.1.2.3 Diễn ngôn ý thức hệ trong hội họa

Từ những dẫn giải trên có thể thấy hầu hết các tài liệu khoa học tập trung thựchành phân tích cắt nghĩa diễn ngôn trong ngôn ngữ, văn chương Tuy nhiên,trong báo cáo này, chúng tôi muốn nghiên cứu diễn ngôn trong tác phẩm hộihọa, cụ thể là những bức tranh của Trần Trung Tín ở hai thời kỳ: 1969 – 1975 và

1976 – 1984 Đây là giai đoạn Trần Trung Tín bắt đầu bước chân vào lĩnh vựchội họa và là thời gian biến động nhất khi ông bước sang trang khác của cuộcđời và trở lại quê hương sau hậu chiến

Có thể nói, mỗi một lĩnh vực khoa học, hay phạm vi tri thức đều có một mãngôn ngữ, lớp ngôn ngữ, dạng thức ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt biểu hiệndiễn ngôn Ngôn ngữ tác phẩm hội họa khác với ngôn ngữ tác phẩm văn học,càng khác biệt hơn nữa so với ngôn ngữ hình thể trên sân khấu.Cách thức tạo lậpdiễn ngôn hội họa, khác diễn ngôn văn học, triết học bởi nó chịu sự chi phối

của những nguyên tắc, cấu trúc, lý thuyết riêng biệt.Nhưng đó chưa phải là yếu

tố quan thiết hàng đầu.Với diễn ngôn, điều quan trọng nhất tạo nên sự khác biệt

dù cùng khai triển trên một đề tài là cảm quan, tư tưởng, “đôi mắt” của chủ thểdiễn ngôn – người tạo lập diễn ngôn mang đậm phong cách của cá nhân người

đó “Do chỗ con người sử dụng diễn ngôn để kiến tạo nghĩa về thế giới nóichung, thiết lập nghĩa về một hiện tượng, một vật thể nào đó nói riêng cho nênmuốn lý giải diễn ngôn cần phải đặt nó trong quan hệ với sự vật, và tìm hiểu

Trang 14

cách người ta nhìn sự vật, hiện tượng như thế nào”3 Nghiên cứu diễn ngôn rấtcần thiết trong việc chỉ ra diễn ngôn ấy được quy chiếu từ góc nhìn, từ cách tiếpcận nào Có rất nhiều những hướng tiếp cận, khai mở diễn ngôn như: ngôn ngữ,phong cách, tâm lý, xã hội, chính trị, triết học, lịch sử Có thể cùng một vấn đề,

đề tài nhưng khi quy chiếu, tiếp cận diễn ngôn từ những góc nhìn khác nhau lại

có những diễn ngôn khác nhau

Diễn ngôn hội họa cũng hàm chứa trong nó những nguyên tắc, cấu trúc, tínhchất và mục đích như chúng tôi kể trên Đồng thời diễn ngôn hội họa còn thểhiện rất rõ phong cách tác giả, dấu ấn họa sĩ, bản sắc ngôn ngữ hội họa (qua sựthể hiện bố cục, màu sắc, đường nét, hình khối ) Đối với tranh Trần Trung Tín,bên cạnh phương pháp tiếp cận theo phong cách tác giả, chúng tôi phải sử dụnglối tiếp cận ý thức hệ Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng khi nhìn nhậntranh Trần Trung Tín.“Tiếp cận ý thức hệ” khác với “diễn ngôn ý thức hệ” - diễnngôn mà họa sĩ thể hiện Mỗi một bức tranh đều chuyên chở những thông điệpmang tư tưởng rõ ràng về chính trị, xã hội, con người và cá nhân tác giả Nó ẩnchứa cảm nhận về xã hội và cuộc đời của người nghệ sĩ, gợi cho người xem suynghĩ về các vấn đề chính trị, thời cuộc.Tiếp cận tác phẩm nghệ thuật trênphương diện ý thức hệ chính là tìm hiểu những những ý nghĩa và thế giới quancũng như những giá trị xã hội mà tác phẩm truyền tải

Khi tiếp cận theo cách này, người viết chú ý đến cái nhìn thế giới, đến những hệgiá trị dưới con mắt chủ quan của người nghệ sĩ được thể hiện thông qua tácphẩm đó Những vấn đề xã hội, những tư tưởng mà tranh Trần Trung Tín thểhiện cần được phân tích một cách kỹ lưỡng bởi những bức tranh của ông không

3Trần Thiện Khanh, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ, http://se.ctu.edu.vn/bmnv/index.php?

option=com_content&view=article&id= 233:b

Trang 15

c-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-bao giờ là cái nhìn ngây thơ về thế giới mà c-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-bao giờ cũng thể hiện quan điểm, sựđánh giá, nhận xét của tác giả.

1.1.3 Vai trò và phong cách tác giả

Nghệ sĩ chuyên là người tham gia hoạt động, sáng tác hoặc biểu diễn một bộmônnghệ thuật nào đó Chức năng của họ không chỉ bó hẹp trong môi trường nghệthuật thông qua việc tạo ra những tác phẩm nghệ thuậtnói chung và tranh hộihọa nói riêng mà nó còn ở đời sống xã hội Bên cạnh việc làm giàu thêm sốlượng tác phẩm, đa dạng về thể loại, thúc đẩy và phát triển những trào lưu nghệthuật, người nghệ sĩ còn có những ảnh hưởng nhất định tới cộng đồng và hiệuứng thẩm mỹ của công chúng ở những mức độ và phạm vi khác nhau Khi đứacon tinh thần của người nghệ sĩ ra đời và “trình làng”, nó sẽ phải đón nhận nhiều

ý kiến phản hồi từ xã hội: có khen, có chê, có đồng tình, có phản đối và đôi khi

có những ý kiến trung lập, Tất cả những nhận định đó suy cho cùng bắt nguồn

từ nhận thức cá nhân của mỗi con người tùy vào từng góc độ mà họ nhìn nhận Bên cạnh những sáng tác của bản thân, ngay từ ban đầu, người nghệ sĩ phải địnhhình cho mình một lối đi riêng khác với những tác giả trước, hay còn gọi làphong cách cá nhân.Phong cách không chỉ thể hiện ở những đặc trưng mà tácgiả hay sử dụng, lối sáng tạo độc đáo mà nó còn thể hiện ở cá tính riêng và tưduy nhận thức của người nghệ sĩ Cái nhìn hay thế giới quan chính là yếu tốquan trọng tạo nên phong cách người nghệ sĩ.“Đối với người họa sĩ, không cótiếng nói hội họa của riêng mình tức cũng là không có gì hết Cuộc đấu tranhgian nan và dằng dặc suốt đời của người họa sĩ là tìm cho ra hình thức nghệthuật của riêng mình, cũng tức cách nhìn thế giới của riêng mình Hội họa tiếnlên bằng những đột phá về hình thức nghệ thuật”.Công chúng tìm đến nhữngsáng tác của anh ta như đón chờ một thứ gia vị lạ trong món ăn tinh thần củamình Phong cách chính là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ

Trang 16

thuật, có tính chất thống nhất và tương đối ổn định được lặp đi lặp lại trongnhiều tác phẩm.Có thể nói,“hạt nhân của phong cách nghệ thuật là tính chất độcđáo của một chủ thể nhất định” (Hegel).Vì vậy, phong cách tác giả là thứ duynhất dùng để phân biệt tác giả này với tác giả khác qua những gì mà họ thể hiện.

Ở họa sĩ Trần Trung Tín, ta bắt gặp một tài năng mạnh mẽ, một cá tính sáng tạođặc biệt thông quan cảm hứng từ tâm thức thuần khiết, qua những nét vẽ hồnnhiên, trong sáng Người ta cảm những tư tưởng nhân sinh quan và đón nhậnnhững bức tranh của ông như đón nhận một “sự trần trụi cái thật hóa tượngtrưng của cái đẹp”

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1Lịch sử hội họa thế kỷ XX

Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta đã tạo nênmột nền mỹ thuật phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc dù rằng sau mỗicuộc xâm lăng là một lần nền văn hóa của dân tộc bị thử thách và tàn phá Bằngcách này hay cách khác, kẻ thù luôn muốn đồng hóa nền văn hóa của chúng ta

để dễ bề cai trị Có thể nói, cho đến ngày nay nền nghệ thuật của chúng ta khôngnhững không bị đồng hóa mà những giá trị truyền thống của dân tộc ngày càngđược khẳng định hơn Vì đề tài báo cáo nghiên cứu trong một phạm vi nhất địnhnên chúng tôi xin phép chỉ đề cập ngắn gọn đến những giai đoạn cụ thể và trọngtâm: giai đoạn 1965-1975, 1975 - 1990

Giai đoạn từ 1965-1975, nước ta vẫn còn chìm trong những tháng ngày đen tốicủa các cuộc chiến chống đế quốc Mỹ Vào ngày 05/08/1964, Mỹ đã ngừng némbom bắn phá một số nơi như: Vinh, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nhưng đến ngày07/02/1965, chúng chính thức mở rộng phạm vi cuộc chiến tranh không quân vàhải quânlần đầu ở miền Bắc Dưới chế độ xã hội Chủ nghĩa, mỹ thuật miền Bắckhông được phát triển theo xu hướng ảnh hưởng mỹ thuật Tây Âu như những

Trang 17

năm trước 1945 Đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa được áp dụng triệt đểnhằm phục vụ công cuộc xây dựng một miền Bắc xã hội chủ nghĩa và cổ vũ chocuộc chiến tranh lật đổ chế độ Sài Gòn do Hoa Kỳ hậu thuẫn Công nhân “Chắctay súng, vững tay búa”, nông dân “Chắc tay súng, vững tày cày”, lao động cần

cù, hăng say chiến đấu, tri thức thực hiện “Ba quyết tâm”, thanh niên “Ba sẵnsàng ”, phụ nữ “Ba đảm đang”, “Tất cả cho tiền tuyến” những hiện thực mới

mẻ và sinh động đó được phản ánh trong tranh và tượng thời kỳ này Có thể nói,giai đoạn này nền mỹ thuật nước ta đã phát triển và đạt được những thành tựu

rực rỡ về cả số lượng, chất liệu và loại hình Các tác phẩm đều phản ánh chân thực cuộc sống đương thời và công cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc.

Dù chỉ đề cập tới một phần rất nhỏ của cuộc sống hiện thực nhưng tinh thầnchungtoát ra từ những tác phẩm là niềm vui, sự lạc quan tin tưởng, phấn khởicủa những người lao động mới đi theo Đảng, theo cách mạng Đây cũng chính lànhịp sống khẩn trương, hăng say của những người đang vươn lên làm chủ đấtnước, làm chủ vận mệnh Ngoài ra,yếu tố chiến tranh còn có mặt với tần suấtthường xuyên và liên tục trong tranh thời kỳ này qua nhiều bức ký họa, phácthảo, bố cục, Đối tượng vẫn là con người và cuộc sống hiện thực sôi nổi, sinhđộng Hình ảnh cây súng trong các sáng tác của các nghệ sĩ nhắc nhở chúng ta

về sự hiện diện của chiến tranh Cuộc chiến chống Mỹ là một “cuộc chiến toàndân, toàn diện” vì thế mà không phân biệt già trẻ, gái trai, ai ai cũng phải xôngpha chiến đấu Ở thời kỳ này, những sáng tác nghệ thuật đều cố gắng phản ánhchân thực cuộc sống đương thời và công cuộc chiến đấu hào hùng của dân tộc.Trong khi các nghệ sĩ cùng thời sáng tác phục vụ công nông binh nhằm cổ độngkháng chiến, khích lệ tinh thần của anh em chiến sĩ Mảng tranh này sinh động,chân thực và mang đậm sắc thái của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Con người,

sự hy sinh, lòng dũng cảm, cuộc sống kháng chiến gian khổ đã được các họa sĩ

Trang 18

đưa vào tranh với màu sắc nhẹ nhàng, cách vẽ thoáng đạt Các tác phẩm hầu hếtđều khắc họa chân dung các bà mẹ, dũng sĩ chống Mỹ, điển hình cho thế hệngười Việt Nam yêu nước, dũng cảm, kiên cường.Cảm động thay hình tượng lãodân quân Hoàng Trường trong tác phẩm của Lê Đình Quỳ (1968) sừng sững , uynghiêm như một tượng đài tôn vinh sự dũng cảm, bất kể tuổi tác.

Trong những năm tháng bom đạn, Bác đã từng gửi thư nhắc nhở những ngườigiới văn – nghệ sĩ:“văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến

sỹ trên mặt trận ấy” và nêu rõ nhiệm vụ của chiến sỹ nghệ thuật là phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự quân dân trước hết là công – nông

- binh lời của Bác thật sâu sắc, ấm tình người Do điều kiện làm việc còn nhiềukhó khăn, bất chấp sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, các nghệ sĩ vẫn làm việc

hăng say Họ ngày càng thấm nhuần tư tưởng của Đảng với khuynh hướng sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Lòng yêu nước và giác ngộ Cách mạng

một số họa sĩ như: Cố Tấn Long Châu, Trang Phượng, vừa cầm súng, vừa cầmbút cùng với một số tên tuổi: Huỳnh Phương Đông , Nguyễn Thanh Châu, đãdấy lên một phong trào sáng tác mỹ thuật thuộc dòng tranh ký họa chống Mỹ

Mĩ thuật thời kỳ này luôn theo sát lịch sử, phản ánh con người và cuộc sống ở cảchiều rộng và chiều sâu.Có thể nói, mọi mặt của hiện thực cuộc sống giai đoạnnày đều được những người nghệ sĩ khai thác và đưa vào tác phẩm một cáchtrung thực, sống động

Giai đoạn từ 1975-1990được coi là giai đoạn phát triển của nền mỹ thuật ViệtNam hiện đại sau khi miền Nam được giải phóng và hòa bình lập lại trên đấtnước Tháng 4 năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dântộc và mỹ thuật Việt Nam cũng bước sang một thời kỳ mới Những nội dung, đề

tài về cuộc sống hòa bình, lao động sản xuất, niềm hân hoan thống nhất

được đưa vào trong tranh một cách sống động với sự ra đời của rất nhiều tác

Trang 19

phẩm Bên cạnh đó, bằng những tác phẩm nghệ thuật các nghệ sĩ đã xây dựng

lên đài tưởng niệm, tôn vinh sự vĩ đại của các anh hùng, liệt sĩ TranhNgã ba Đồng Lộccủa họa sĩ Lê Huy Hòa đã giúp thế hệ sau ghi nhớ về những cô gái

dũng cảm, nhắc nhở mọi người về một thời oai hùng đã qua

Hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống mỹthuật Mặc dù vậy, nhiều nghệ sĩ vẫn âm thầm tìm tòi sáng tạo.Một bộ phận cáchọa sĩ đã khai thác những mảnh đất mới, nơi các nghệ sĩ đi trước chưa khaithác.Nội dung các sáng tác thời này có sự thay đổi dẫn đến sự biến chuyển của

hình thức thể hiện Trong tranh đã xuất hiện những chủ đề và nội dung mang

tính trừu tượng, triết lý về quy luật của cuộc đời như: Sự sống và cái chết

(Bửu Chỉ), Vũ điệu mặt trời (Trịnh Thanh Tùng – 1992), Cơn lốc cuộc đời (Nguyễn Thân – 1994), Màu của thời gian (Trương Bé – 1994), Cầu âm thanh(Anh Khánh), Có thế nói,“cái đẹp của hiện thực cuộc sống đi vào tác

phẩm đã mang một dáng vóc điển hình hơn, khái quát hơn song vẫn gần vớinguyên mẫu Nay các họa sĩ trẻ lại muốn dùng ngôn ngữ màu sắc, hình khối,đường nét, bố cục sắp xếp trong một tác phẩm để thể hiện một khái niệm, một

triết lý cuộc đời mang tính trừu tượng”[3;203] Họa sĩ cũng đã mở rộng tiếp cận với những lý thuyết hội họa phương Tây (siêu thực, ấn tượng, biểu hiện, ) dù

những thành quả ra đời từ sự “mở cửa” này còn xa lạ vớiquan niệm nghệ thuật

và tầm đón nhận của công chúng đương thời.Điều này chứng tỏ dù ít dù nhiều,

mĩ thuật của Việt Nam đã mở cửa và hòa nhập với thế giới.Mỹ thuật ở hai giaiđoạn này có lúc thăng lúc trầm tùy vào từng hoàn cảnh lịch sử nhưng nó đã thực

sự trưởng thành.Một nền mỹ thuật của cách mạng mang dáng dấp lớn lao vàhoàn thiện nhưng có cũng đón nhận và đổi mới để bắt kịp với thế giới

1.2.2Họa sĩ Trần Trung Tín ( 1933 – 2008 )

Trang 20

Sinh ra ở Chợ Lách trong vùng Châu thổ sông Cửu Long, Trần Trung Tín từng

là một chú lính trẻ trong chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) Ông tham giakhángchiến khi mới 12 tuổi và chiến đấu chống quân Pháp ở mặt trậnCampuchia.Khi chiến tranh kết thúc, Trần Trung Tín tập kết ra Hà Nội và đượctuyển vào trường Điện ảnh Việt Nam trong khoá đầu tiên.Sau đó, ông làm việcvới tư cách diễn viên và nhà biên kịch Thời gian cuộc chiến tranh Mỹ-Việtbùng nổ , ông luôn cố gắng tìm cách biểu đạt nỗi đau thương, mất mát trongnhững bộ phim tuyên truyền của dòng chủ lưu nhưng bị hạn chế về mặt nội dung

và hình thức Trong căn phòng dưới tầng hầm của mình ở Hà Nội, Trần TrungTín đã vẽ trên 1.000 bức màu dầu từ những năm 1969 đến 1975

Họa sĩ Trần Trung Tín vẽ ra những bức tranh như một nhu cầu giãi bày nỗiniềm chất chứa trong lòng ông Thời đó, tranh vẽ muốn được trưng dụng thìngười họa sĩ buộc phải hòa nhịp với thời đại, ca ngợi và cổ vũ tinh thần chochiến sĩ ngoài chiến trường Những góc khuất của nội tâm như: nỗi u buồn, sựmất mát,bi kịch xã hội, cảnh mẹ góa con côi, không được đề cập (thậm chícấm) trong các tác phẩm nghệ thuật để tránh gây sự bi lụy và hao hụt tinh thầnchiến đấu của chiến sĩ ngòai mặt trận Và Trần Trung Tín đã chọn cho mình lốithể hiện nghệ thuật không theo số đông đó Tranh của ông trong những nămtháng đất nước còn loạn lạc thường hướng về tâm tư, tình cảm của con ngườitrong thời chiến Ban đầu, tài năng của Trần Trung Tín không được công nhận

và tranh thường bị chế nhạo, ngay cả các bạn của ông cũng ái ngại và cảm thôngcho cái sự "điên" của họa sĩ

Sinh thời, Trần Trung Tín không qua bất cứ trường lớp đào tạo nào về mỹ thuật.Mọi thứ ông vẽ ra ban đầu không phải với mục đích hội họa, mà là một phươngtiện để tỏ lộ những ưu tư, triết lý và các cảm thức mang tính thơ ca của mình.Tuy nhiên, chính việc dùng màu, bố cục… không theo nguyên tắc, lý thuyết hội

Trang 21

họa đã tạo nên sự độc đáo trong tranh Trần Trung Tín.Khi còn ở Hà Nội, người

ta chỉ kêu tên ông là Trung Tín, sau khi ông qua đời tại TP Hồ Chí Minh, một số

tờ báo quốc tế đã ưu ái mệnh danh cho ông là Munch của Việt Nam (EdvardMunch là một họa sĩ người Na Uy thuộc trường phái tượng trưng, biểu hiện, tác

giả của bức tranh The Scream - Tiếng Thét)

Những năm 70 – 80 là giai đoạn Trần Trung Tín có sức sáng tạo mãnh liệt,mang nhiều tâm tư gắn với bối cảnh lịch sử đầy biến động của đất nước Ôngsống giữa Hà Nội những năm chiến tranh bom đạn ác liệt, về Nam khi hòa bìnhlập lại, để rồi đối diện với những nỗi khó khăn nhọc nhằn của con người và xãhội thời kỳ đầu hậu chiến Giữa những biến động ngoại cảnh, hội họa là phươngtiện để Tín tìm thấy mình và biểu đạt những xung động nội tâm Trong sựnghiệp hội họa của ông, giai đoạn lý thú nhất là 1969 - 1975, trong đó có chủđề: Em gái, súng và hoa; mẹ và con được vẽ trên giấy báo cũ Những thiếu nữngực để trần, khuôn mặt thanh tân, mờ ảo, vừa ôm súng AK vừa cầm đóa hoa làmột tạo hình táo bạo của thời đó Giai đoạn kế tiếp là những năm mới trở lạiTP.HCM (1976 - 1984), khi ông đi bước nữa với Trần Thị Huỳnh Nga, mộtthiếu phụ mất chồng trong chiến tranh, ông đi vào các chủ đề có tính cách triết

lý về thân phận, kiếp người với những nét buồn đặc trưng

Từ năm 1989 đến nay, Trần Trung Tín đã có khoảng 12 triển lãm cá nhân cả ởtrong nước và quốc tế Tác phẩm của ông được trưng bày tại nhiều bảo tàng mỹthuật lớn tại Singapore, Nhật, Anh, và có mặt trong nhiều bộ sưu tập lớn.“TrầnTrung Tín có triển lãm cá nhân đầu tiên tại Bảo tàng Mỹ thuật Singapore vàonăm 2001 Ông cũng là họa sĩ đầu tiên tham dự triển lãm tại Bảo tàng Anh tạiLondon năm 2002, sau đó là 2007”4 Tại Việt Nam, triển lãm cá nhân đầu tiên

4kich-lac-quan%E2%80%9D-tpp.html

Trang 22

http://www.tienphong.vn/van-nghe/651728/Doc-dao-trong-%E2%80%9CBi-về các tác phẩm Sài Gòn diễn ra ở Hội Mĩ thuật TP Hồ Chí Minh vào năm 1989

và triển lãm cá nhân đầu tiên về các tác phẩm Hà Nội diễn ra ở Hà Nội năm1994.Tác phẩm của ông hiện có trong những sưu tập của bảo tàng ở Singapore

và Anh

CHƯƠNG II: DIỄN NGÔN TRONG TRANH TRẦN TRUNG TÍN TRÊN PHƯƠNG DIỆN Ý THỨC HỆ

2.1 Diễn ngôn về nỗi buồn thời đại

Đầu thập kỷ 70 tới đầu thập kỷ 80 là giai đoạn Trần Trung Tín có sức sáng tạomãnh liệt hơn cả Tâm tư, tình cảm chịu ảnh hưởng từ những biến động của thờithế Ông sống giữa Hà Nội những năm chiến tranh bom đạn ác liệt, về Nam khihòa bình lập lại, để rồi đối diện với những nỗi khó khăn nhọc nhằn của conngười và xã hội thời kỳ đầu hậu chiến Hơn ai hết, ông thấu tường những gì màcuộc chiến tranh phi nghĩa gây ra và ám ảnh khôn xiết về những hệ quả mà nó

để lại Các sáng tác thời kỳ này của họa sĩ phản ánh sự vận động phong phútrong tư duy và sự nhạy cảm tong tâm hồn người họa sĩ Vì thế diễn ngôn trongnhững sáng tác ở thời kỳ này chủ yếu diễn tả thế giới nội tâm của con ngườitrước những biến động của thời cuộc Không khó để cảm nhận một nỗi buồnvương vất trong những sáng tác về người con gái, người mẹ thời chiến và nhữngvết tích trên gương mặt của em thơ trong tranh của ông

Giữa những biến động ngoại cảnh, hội họa như là phương tiện để Trần TrungTín tìm thấy bản thân và biểu đạt những xung động nội tâm Hiếm có họa sỹnào phản ánh sự hi sinh tuổi thanh xuân do chiến tranh một cách trực diện và sâu

thẳm như series Em gái, súng và hoanhững năm 70 Ông vẽ“ những tấm chân

dung thiếu nữ gương mặt xanh xao, ánh mắt nguyên sơ thuần phác đối diện với

Trang 23

thực tại khắc nghiệt” 5 Không phải

ngẫu nhiên mà cùng một cái tên và nội

dung mà ông vẽ ba bức như thế Bởi ở

mỗi nhân vật trong tác phẩm lại thể hiện

một diễn ngôn riêng có chủ ý của người

nghệ sĩ Hình ảnh người phụ nữ ngực

trần ôm súng đã trở thành cột mốc trong

suy tư và ẩn dụ về chiến tranh

Tác phẩm đầu tiên trong series này hiện

lên hình ảnh một cô gái mới gia nhập

chiến trường Phải chăng em gái chưa ý

thức được hết sự gian khổ của chiến

tranh nên gương mặt vẫn giữ vẹn

nguyên nụ cười vui vẻ và trong sáng?Những nét cử chỉ trên khuôn mặt thanh

tú của người thiếu nữ đã diễn tả mộtniềm háo hức, hồi hộp và đầy phấn khởikhi xung phong tiền tuyến.Và có lẽ, với

em, việc ra trận cũng giống như mộtcuộc dạo chơi để thám hiểm điều gì đóđầy mới mẻ và hấp dẫn

Ở bức thứ hai, vẫn là hình ảnh quênthuộc của người em gái ấy với bông hoanhỏ, vững trong tay cây súng nhưng thầnthái trên gương mặt lại có sự chuyển

5http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6912

Trang 24

biến rõ rệt so với bức đầu tiên Ở cô gái ấy không còn là sự vui tươi thuởđầu.Ánh mắtcô trở nên ngây dại, ngơ ngác không giấu nổi nỗi niềm băn khoănkhó tả.Đằng sau những nét xúc cảm

hiển hiện đó, người xem vẫn cảm

nhận được sự mềm mại của người

con gái, nét hồn nhiên, mơ mộng và

một chút ham chơi của tuổi mới lớn

Chùm ba bức tranh kết thúc bằng

chân dung người thiếu nữ gương mặt

xanh xao, ánh mắt nguyên sơ thuần

phác đối diện với thực tại khắc

nghiệt trong tư thế đang làm nhiệm

vụ Dường như sự tàn khốc của chiến

tranh đã thay đổi hoàn toàn người

con gái ấy Điều này có thể nhận

thấy qua những nét biểu cảm và hành

động của nhân vật trong tranh Sự thánh thiện trong con người cô gái ấy đãnhường chỗ cho lòng căm thù giặc và kiên quyết chiến đấy hết mình Cô khôngcòn là người con gái hồn nhiên thuở nào, không còn là sự ngơ ngác khi thấychiến tranh mà thay vào đó là người thiếu nữ với sự vững vàng với cây súng trênvai, sự nghiêm túc khi làm nhiệm vụ, sự quyết tâm chiến đấu vì Tổ Quốc

Ba bức tranh tuy cùng một đề tài là nhân vật và đối tượng thể hiện nhưng lại đạtđược hiệu quả thẩm mỹ nhất định.Bởi bản thân mỗi nhân vật và những nét thầnthái của họ trong tranh đã mang một thông điệp khác nhau Họa sĩ đã tái hiệnđược tâm trạng của con người trước và khi tham gia chiến trường qua sự thay

Trang 25

đổi không chỉ của hành động mà còn của thần thái, biểu cảm Ba bức tranh cónhiều điểm tương đồng nhưng chỉ một chút thay đổi xúc cảm trong gương mặtcủa nhân vật đã chứa đựng những lớp diễn ngôn khác nhau.Đó là diễn ngôn về

sự ngây thơ thánh thiện của em gái ngày đầu ra chiến trường; là nét ngô nghê,hồn nhiên; là sự dũng cảm, kiên cường khi tham gia chiến đấu.Tất cả đều đượcngười nghệ sĩ hình tượng hóa trong những bức tranh của mình.Điều này cũngchứng tỏ sự nhạy cảm và tinh tế của họa sĩ Trần Trung Tín

Có thể nói, ở trong những sáng tác chiến sự cùng thời với Trần Trung Tín,những biểu đạt cảm xúc ở hai thái cực đối lập của nhân vật trong tranh có xuấthiện những tần suất không nhiều Danh họa nổi tiếng Trần Văn Cẩn từng ngầm

thể hiện tâm tư của nhân vật trong bức tranh sơn dầu Nữ dân quân.miền biểncủa

mình.Bức tranh là thành quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quy luật của hộihọa cổ điển ở bố cục, màu sắc để biểu hiện nhất quán ý tưởng của tác giả - giữgìn biên cương Tổ Quốc

Trần Văn Cẩn, Nữ dân quân miền biển, sơn dầu, 1960

Trang 26

Hình ảnh người người con gái trong tranh ông mang những nét khái quát caocho những cô gái dân quân vùng biển với nước da bánh mật, khỏe khoắn, dẻodai, trần đầy sức sống So với những người em gái ngực trần xung trận độc đáocủa Trần Trung Tín, nữ dân quân của Trần Văn Cẩn mang chất cổ điển với dáng

vẻ dung dị, kín đáo, đầy chuẩn mựccủa người phụ nữ Việt Điểm chung ở sángtác của danh họa Trần Văn Cẩn và Trần Trung Tín ở những nét cảm xúc đốinghịch trên khuôn mặt của nhân vật Đằng sau sự bền chí, kiên gan người congái dân quân vùng biển là ánh mặt xa xăm đầy trĩu nặng Dường như trong cáinhìn ấy là một nỗi buồn man mác còn vương vất không rời.Dù khuôn mặt cô gái

ấy có bừng lên sức sống thanh xuân, hàokhí tuổi trẻ nhưng vẫn vướng bận nỗilòng mất nước Không chỉ có Trần VănCẩn, những cái tên khác như: Nguyễn Đỗ

Cung với Bài ca Nam tiến, Nữ du kích Tây Nguyên của Thế Vinh,… Các tác

phẩm đó đều là những người chiến sĩtrong tư thế cầm súng với những nét buồncòn vương vấn trên gương mặt

Bên cạnh ba bức tranh kể trên, Em không được đi học (1981) để lại tiếng tăm hơn

cả cho Trần Trung Tín Vẫn là đề tàichiến tranh nhưng họa sĩ lại nhìn nhậntrong một phạm vi thể hiện khác Ông đã

đề cập vấn đề hệ quả mà chiến tranh gây nên Chiến tranh không chỉ cướp đisinh mạng và cuộc sống của con người mà nó còn gây bao thiệt thòi cho những

em nhỏ Các em không được lớn lên trong bình yên, không được học những con

Trang 27

chữ, không được nuôi nấng những ước mơ chứ chưa nói gì đến việc thực hiện.Tuổi thơ của các em gắn liền với khói bụi của bom đạn, sự vang dội của súngrền Một tương lai tươi sáng và cuộc sống bình thường với các em ở thời kỳ nàydường như là một điều không tưởng Gương mặt buồn thất thần như tương lai đãsập cửa của em bé trong bức tranh cùng với ánh mắt sâu thẳm, trĩu nặng đếnchạnh lòng như một lời tố cáo chiến tranh và những hệ quả mà nó gây nên

Rõ ràng, hoàn cảnh xã hội với những biến động phức tạp đã tác động vào hệ tưduy nhận thức của họa sĩ Trần Trung Tín Có thể thấy, “chiến tranh không đượcông phản ánh bằng những bằng chứng tàn phá trực tiếp bề ngoài, mà gián tiếpqua những vết tích va đập và sự căng thẳng trong nội tâm” 6 Nét bút của TrầnTrung Tín như con dao sắc bén luồn lách, len lỏi vào từng ngóc ngách ẩn khuấtcủa tâm hồn để cảm nhận nhưng thay đổi mong manh nhất trong tâm tư của conngười Bất cứ điều gì khi đã trở thành nghệ thuật tranh Trần Trung Tín đềumang một nỗi ám ảnh nào đó buộc người xem phải ghi nhớ Một thoáng xúc cảmtrên gương mặt hay sự thay đổi ẩn sâu trong đôi mắt của nhân vật trong tranhcũng đã khiến người xem phải chạnh lòng, day dứt Nhưng Trần Trung Tínkhông “lột tả sức mạnh của con người thời chiến không phải qua những hànhđộng gay cấn quyết liệt, mà bằng những cử chỉ ấm áp, những điều giản dị và gầngũi nhất”7 Dĩ nhiên trong mỗi tác phẩm, sự thay đổi ở nội dung thể hiện, thôngđiệp phản ánh cũng đã đem đến những diễn ngôn khác nhau.Trong những bứctranh ở đề tài này chính, có những diễn ngôn nhuốm đầy màu sắc thương cảm,khơi gợi nỗi buồn về chiến tranh, nỗi buồn của những người con gái thờichiến.Người xem không thấy họ kêu gào vật vã, không thấy sự gồng mình gânguốc và cũng chẳng có những giọt nước mắt bi lụy.Tất cả những gì nhân vật thể

6http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6912

7 nt

Trang 28

hiện đều dịu dàng, nữ tính và ngây dại đến bất ngờ Với ánh mắt vô nhiễm không

hề chịu khuất phục, các nhân vật trong tranh Trần Trung Tín trở nên nội tâm, sâusắc và gây xúc động nhiều hơn rất nhiều

Nhìn trên góc độ của một người đã và đang tham gia chiến đấu, Trần Trung Tín

có những diễn ngôn sâu sắc mang tính thời sự Nó không chỉ phản ánh đauthương của con người mà còn mô tả trực tiếp nỗi niềm của người nghệ sĩ Tranhcủa ông chẳng phải là tiếng trống giục giã đoàn quân ra trận, hay là tiếng thétđau đớn về sự mất mát, hy sinh Nó chỉ có thể là tiếng thở dài dội ngược với thờicuộc và buồn nỗi buồn chung của nhân thế Vì vậy, diễn ngôn trong tranh TrầnTrung Tín không chỉ đề cập đến chiến tranh qua những nỗi đau đầy đọa thểxác Bằng trực giác tinh tế của mình, họa sĩ đã khắc họa thành công những nétbiến chuyển tinh vi của nội tâm con người Nỗi đau thể xác có thể lành lặnnhưng những vết cứa trong tâm hồn và tinh thần của con người khó có thể xóanhòa

Chiến tranh và những hệ quả của nó để lại không chỉ tác động trực tiếp đếnnhững người trực tiếp tham gia kháng chiến ở tiền tuyến mà ít nhiều nó còn ảnhhưởng tới những người thân ở lại quê nhà.Bóng dáng người phụ nữ mòn mỏichờ chồng, con trở về là một thực trạng chung của mọi gia đình thời đó.Hơn aihết, Trần Trung Tín thấu cảm nỗi lòng của những người mẹ, người vợ bởi bảnthân ông cũng từng tham gia chiến trường.Họa sĩ Trần Trung Tín dành sự quantâm của mình cho bức vẽ những về “Mẹ và con” ở những trạng thái và biểu cảmriêng

Trang 29

Bức tranh Mẹ và con sáng tác năm 1973 với bố cục căng đầy và những nét vẽ

nhẹ nhàng đã thế hiện sự đầm ấm, chan chứa tình cảm của người mẹ dành chođứa con thơ Hình ảnh người mẹ ôm đứa con vào lòng với ánh mắt đầy yêuthương đã lay động tâm hồn của người xem Đằng sau những cử chỉ thân thương

đó là nỗi buồn thấp thoáng trên đôi môi, khóe mắt chớm lệ của mẹ Những giọtnước mắt lăn trên gò má tương phản với nụ cười trìu mến của mẹ Tình yêuthương của người mẹ chính là ranh giới che chở cho đứa con thơ dại trướcnhững thảm khốc đang diễn ra của chiến tranh Phải chăng trong sâu thẳm tâm

tư của người mẹ bây giờ là sự lo lắng về tương lai của đứa con nhỏ? Bởi nhữngnhát cọ lấm tấm trên áo đứa trẻ đã làm dấy lên xúc cảm về sự đơn sơ, mongmanh, cần được che chở Ở tư thế ngồi trĩu nặng này, người mẹ như đang thuhết sức lực của mình để che chở cho con tội nghiệp, bé bỏng trước cả vũ trụ bao

la

Có thể thấy trong nhiều sáng tác , những dáng hình trần trụi của người phụ nữđược họa sĩ Trần Trung Tín khai thác như

một hình ảnh mang biểu tượng chứa đựng

nhiều lớp diễn ngôn khác nhau Có một

thời, người đàn bà trong khỏa thân trong

tranh của ông luôn hoan ca bản năng tình

ái và trần thế, được biểu tượng cho sự

phồn thực, đề cao những đòi hỏi tự do cá

nhân và hưởng thụ của con người Còn khi

chiến tranh vừa kết thúc, cuộc sống còn

nhiều khó khăn, người đàn bà khỏa thân lại

là chân thực nhất về sự đơn sơ, thiếu thốn

Trang 30

Tác phẩm Mẹ và con (1976)đã phản ánh sự thay đổi trong nội dung tư tưởng củahình ảnh biểu tượng đó Bức tranh hiện lên hình ảnh của người đàn bà ngực trần,bầu vú xệ gắng gượng trên vai đứa con bé bỏng Trước ánh mắt ngây thơ, trongsáng của đứa con nhỏ là nỗi băn khoăn, lo lắng của người mẹ Gương mặt đầythương tích của chiến tranh với đôi mắt thất thần của mẹ đang cố gắng giấu đinhững gánh nặng về miếng ăn, manh áo cho đứa con Tác phẩm này ra đời vàonăm xảy ra biến cố của người họa sĩ (1978) Sau nhiều năm cô đơn, ông gặp TrầnThị Huỳnh Nga, một quả phụ trẻ do chiến tranh Họ cưới nhau vào năm1977.Nếu như nỗi buồn vẫn có mặt bức tranh này của hoạ sĩ thì nó xuất phát từlòng thương cảm của ông với những người bất hạnh - những bà mẹ goá con côi.

Và có lẽ bởi vậy mà hình ảnh người đàn bà trần truồng cõng con luôn là một diễnngôn trữ tình trong tranh Trần Trung Tín

Có thể nói, trái ngược với tư tưởng hội họa là một lĩnh vực trừu tượng và khóhiểu đã định hình trong suy nghĩ của bao thế hệ, tranh của Trần Trung Tín đã

đem đến cho người xem những rungcảm sâu sắc nhất Ông đã đạt tới cáicảm giác đau đớn và đồng cảm vớinhững người đàn bà của mình.Trong sựdịu dàng và mềm mại của những hìnhthể tròn trịa là nhiều tầng diễn ngônngầm khác nhau.Đằng sau những hìnhthức được biểu hiện trong tranh là ánhmắt đầy cảm thương của người họa sĩkhi chứng kiến những cử chỉ của tìnhmẫu Người xem nhìn thấy trong tranhcủa ông những tình cảm thiêng liêng,

Trang 31

quý báu cùng với những hành động đầy yêu thương, trìu mến của mẹ dành chonhững đứa con để rồi rung lên sự biết ơn từ đáy lòng đối với những đấng sinhthành Hình ảnh gười đàn bà thời chiến này là những người mang trong mìnhthân phận của người mẹ, người lính, người trụ cột gia đình Người mẹ khôngnhững phải chịu đựng nỗi đau về thể xác mà còn phải gồng mình làm lá chắnche chở và bảo vệ cho đàn đứa con bé nhỏ

2.2 Diễn ngôn về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ

Nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng từ xưa đến nay không chỉ là sự thểhiện chân thực thế giới qua con mắt tinh nhạy của người nghệ sĩ mà nó còn làtiếng lòng thổn thức phản ánh nhân sinh quan của mỗi tác giả Nếu như vẽ làmột hoạt động giải phóng nỗi niềm của họa sĩ thì Trần Trung Tín sử dụng nhữngtác phẩm của mình như một cách ông đối thoại với đời qua những triết lý nhânsinh quan.Mỗi bức tranh là một thông điệp sống, là một cách cảm nhận thế giới

được họa sĩ ngầm gửi gắm qua những nhát cọ.Với Trần Trung Tín, nỗi cô đơncủa người nghệ sĩluôn luôn đeo đuổi và là một gánh nặng trong lòngông.

Họa sĩ đã phải tốn rất nhiều màu vẽ để diễn ngôn những nỗi niềm trống trải khikhông được công nhận tài năng, khi không hòa nhập được với xã hội, khi phảisống đơn độc và bị bè bạn né tránh

Tác phẩm Bi kịch lạc quan, sơn dầu trên giấy ảnh năm 1969 là bức tranh được

công chúng nhắc tới nhiều hơn cả.Bức tranh hiện lên với một chủ thể duy nhất làngười đàn ông cúi mặt ngồi bó gối trên thềm cửa Người đàn ông đã khép lòngmình không tìm kiếm được ngôn ngữ chung để giao tiếp với thế giới bên ngoài.Bức tranh được vẽ như một chân dung tự họa của chính người nghệ sĩ Mộtngười đàn ông trần truồng ôm đầu gục gối ngồi trên bậc tam cấp trong mộtkhông gian kín mít, che chắn bằng một khung cửa sổ thật to phía sau.Dángngười khòm khòm, cắm mặt xuống đất thể hiện một thái độ bất lực, không hòa

Trang 32

nhập được với cộng đồng của người họa sĩ Ta cũng bắt gặp tư thế này trongnhiều sáng tác của Trần Trung Tín.

Phải chăng trong tác phẩm này, họa sĩ đã lùi lại một bước, để cho người xem tự

cảm thụ nó theo cách riêng của mỗi người? Tính đến nay diễn ngôn về cái tênBi kịch lạc quan trong tranh vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều Bà Sherry

Buchanan nhận định trong cuốn sách của mình: “bằng hình ảnh, Trần Trung Tíndiễn tả một phong cách đương đại mà chưa bao giờ thấy ở Việt Nam trước đó,cái mà chính ông gọi là “chất lạc quan bi kịch” của thế kỷ 20 Những hình ảnh

ấy là nhật ký thị giác của người đàn ông đang vật lộn tìm lại sự sống và sự tựdiễn đạt giữa thời chiến, sự đói nghèo, một thế hệ nhiều lo lắng trong lịch sử gần

của đất nước”.Cái tên Bi kịch lạc quan liệu có phải diễn tả một kết thúc buồn

nhưng le lói hy vọng về tương lai? Đó còn là những lời tâm sự của đạo diễn TựHuy - bạn thân Trần Trung Tín: “chúng tôi thường đi uống bia với nhau, tôinghe những lời giải thích và bình luận nhiệt thành của một người nghệ sĩ đang

Ngày đăng: 30/11/2016, 10:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh người người con gái trong tranh ông mang những nét khái quát cao  cho những cô gái dân quân vùng biển với nước da bánh mật, khỏe khoắn, dẻo  dai, trần đầy sức sống - Diễn ngôn trong tranh Trần Trung Tín từ góc nhìn ý thức hệ
nh ảnh người người con gái trong tranh ông mang những nét khái quát cao cho những cô gái dân quân vùng biển với nước da bánh mật, khỏe khoắn, dẻo dai, trần đầy sức sống (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w