bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ v bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ v bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ v bỘ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC TẬP CHÍNH TRỊ
Trang 1Câu 1: Trình bày đối tượng ,ý nghĩa học tập môn :Học tập chính trị Liên hệ 1.Khái niệm: Chính trị học là kh nghiên cứu đời sống chính trị của xh với tư
cách là một chỉnh thểnhằm làm sangs tỏ những qui luật và tính qui luật chung nhất của chính trị; nghien cứu cơ chế tác động và những phương thức, thủ thuật chính trị để hiện thực hoá tính qui luật và những qui luật đó trong xh được tổ chức thành nhà nước
Theo Lênin: cái quan trọng nhất trong chính trị là “ tổ chức cơ quan nhà nước ” Chính trị là: + Sự tham gia của nhân dân vào các việc của nhà nước, các định hướng của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nhân dân hoạt động của nhà nước
+Bất kỳ vấn đề xh nào cũng mang tính chính trị vì việc giải quyết nó trực tiếp hoặc gián tiếp điiêù gắn với lợi ích của giai cấp, với vấn đề quyền lực
Vậy quan điểm trên đòi hỏi ta phải tiếp cận chính trị với tư cách:
-Là một hình thức hoạt đông xh đặc biệt
+Mối quan hệ giữa các giai cấp ( thực chất là quan hệ về lợi ích chính trị mà các giai cấp theo đuổi)
+Hệ thống Đảng chính trị, mối quan hệ qua lại giữa chúng dẫn đến hình thành: lý luận chung chính trị cộng kinh nghiệm hoạt động và biệc vận dụng những kinh nghiệm đó vào việc xác định Đ’
+Nhà nước và tính chất nhà nước; cơ cấu và cơ chế sử dụng quyền lực nhà nước +Nhà nước quan hệ dân tộc và các tầng lớp xh khác nhau ( hình thành lý luận dân tộc và vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc )
+Việc lựa chọn và sử dụng con người thích hợp để giải quyết những nghĩa vụ chính trị cụ thể
Trang 2+Quan hệ giữa các quốc gia ( hình thành học thuyết chính trị quốc tế )
*Liên hệ:
1.Chức năng và nhiệm vụ chung:
-Là phục vụ cuộc sống của con người ở VN là phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH, góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, các quan điểm của Đ’ chính sách của nhà nước XHCN, và ứng dụng thực tiễn để tăng cường lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước, góp phần phát triển và hình thành VH chính trị, nhân cách chính trị cho mỗi cá nhân trong xh
2.Nhiệm vụ cụ thể:
-Với tư cách là một khoa học, chính trị học góp phần phá đúng đắn những tính qui luật và những qui luật cơ bản nhất của đời sống chính trị trong khuôn khổ một nước cũng như trên qui mô quốc tế
Trên cơ sở đó hình thành những lý luận, cơ sở khoa học về tổ chức chính trị, cải cách mô hình, cơ chế thực thị quyền lực , lý giải mói quan hệ giữa các chủ quyền chính trị
-Chính trị học góp phần luận chứng và hình thành cơ sở khoa học cho các hoạt động chính trị, cho việc hoạch định mục tiêu, chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và nhà nước, công cụ cơ sở khoa học để hình thành các chính sách và quyết định chính trị của đảng và nhà nước, cá nhân Thẩm định các quyết định chính trị từ phương diện khoa học ( đây là nhiệm vụ quan trọng nhất vì khi đã
có cơ sở khoa học để đánh giá các chính sách của Đảng, nhà nước là đúng đắn sẽ hình thành lòng tin, thể hiện tự giác của nhân dân ).\
-Nghiên cứu để xuất cơ chế, phương thức để thực thi các chính sách và quyết định chính trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra
-Góp phần xác định một hệ thống các quan điểm là cơ sở trong công cuộc đổi mới
( VN xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa trên chính sách khoa học nào? quyền lực nhà nước thống nhất dựa trên chính sách khoa học nào? ) -Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, các nhà lãnh đạo chính trị để thực thi những mục tiêu đề ra, phấn đấu cho sự phát triển của đảng và nhà nước ta
( Chính trị học là khoa học chân thực sẽ cung cấp cho các nhà lãnh đạo những tư chất: chạy bán chính trị, có sáng kiến và khả năng tìm tòi, có năng lực đàm thoại chính trị để lãnh đạo những con người, tổ chức có những tâm lý, tính chất, nhu cầu khác nhau Ngoài ra chính trị học và các khoa học khác cũng cung cấp cho những cán bộ chính trị những tri thức thực tiễn chính trị, khoa học và nghệ thuật chính trị)
Câu 2:Phân tích định nghĩa vật chất của Lê-nin.Giá trị khoa học và phương pháp luận
Đáp.Câu trả lời gồm 2 ý lớn
1) Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trang 3Những nội dung cơ bản của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
a) Vật chất là gì? +) Vật chất là phạm trù triết học nên vừa có tính trừu tượng vừa có tính cụ thể *) Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc tính chung, bản chất nhất của vật chất- đó là đặc tính tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và đây cũng là tiêu chí duy nhất để phân biệt cái gì là vật chất và cái
gì không phải là vật chất *) Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan của con người; chỉ có thể nhận thức được vật chất thông qua việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng vật chất cụ thể +) Vật chất là thực tại khách quan có đặc tính cơ bản là tồn tại không phụ thuộc vào các giác quan của con người +) Vật chất có tính khách thể- con người có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan
b) Ý thức là gì? ý thức là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại thực tại khách quan bằng các giác quan Nhờ đó, con người trức tiếp hoặc gián tiếp nhận thức được thực tại khách quan Chỉ có những sự vật, hiện tượng của thực tại khách quan chưa được con người nhận biết biết chứ không thể không biết
c) Nội dung thứ ba được suy ra từ hai nội dung trên để xác định mối quan hệ biện chứng giữa thực tại khách quan (vật chất) với cảm giác (ý thức) Vật chất (cái thứ nhất) là cái có trước, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức và quy định ý thức Ý thức (cái thứ hai) là cái có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất và như vậy, vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh Tuy nhiên, ý thức tồn tại độc lập tương đối so với vật chất và có tác động, thậm chí chuyển thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng và được quần chúng vận dụng
2) Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của định nghĩa đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn
a) Định nghĩa đưa lại thế giới quan duy vật biện chứng về vấn đề cơ bản của triết học Về mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, định nghĩa khẳng định vật chất
có trước, ý thức có sau; vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức (khắc phục quan điểm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cổ và cận đại về vật chất) Về mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, định nghĩa khẳng định ý thức con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất (chống lại thuyết không thể biết và hoài nghi luận) Thế giới quan duy vật biện chứng xác định được vật chất trong lĩnh vực xã hội; đó là tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội, kinh tế quy định chính trị v.v và tạo cơ sở lý luận cho các nhà khoa học tự nhiên, đặc biệt là các nhà vật lý vững tâm nghiên cứu thế giới vật chất
b) Định nghĩa đưa lại phương pháp luận biện chứng duy vậtcủa mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức Theo đó, vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc
và quy định ý thức nên trong mọi hoạt động cần xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng các quy luật vốn có của sự vật, hiện tượng; đồng thời cần thấy được tính năng động, tích cực của ý thức để phát huy tính năng động chủ quan nhưng tránh chủ quan duy ý chí mà biểu hiện là tuyệt đối hoá vai trò, tác dụng của ý thức, cho rằng con người có thể làm được tất cả mà không cần đến sự tác động của các quy luật khách quan, các điều kiện vật chất cần thiết
Câu 3: Trình bày 2 nguyên lí của phép biện chứng duy vật Ý nghĩa ,phương pháp luận
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu
Trang 4thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau
- Khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: Là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau
b Tính chất của mối liên hệ
Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người Chẳng hạn, Hêghen đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “Ý niệm tuyệt đối là nền tảng của mối liên hệ”, còn George Berkeley người theo lập trường duy tâm chủ quan cho rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”.Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao gồm: Tính khách quan, tính phổ biến và tính
đa dạng
- Tính khách quan của mối liên hệ
Mối liên hệ mang tính khách quan Bởi các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới
đa dạng, phong phú, khác nahu Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật chất Và tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ Nhờ có tính thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà trong sự tác động qua lại chuyển hóa lẫn nhau
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua
sự vận động, tác động qua lại lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện
tượng khác
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực : Tự nhiên, xã hội, tư duy
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tùy theo điều kiện nhất định Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất
.- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau :
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến
Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ Vì vậy, trong sự vật có nhiều mối liên hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ
Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau
Trang 5giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật
Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối liên hệ này nhìn chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật Và nếu có nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới thực hiện được
Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau Đương nhiên mỗi cặp liên hệ có đặc trưng riêng Tuy nhiên, vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ có một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
c Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận cuả quan điểm toàn diện
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định
- Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự tồn tại và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của các sự vật, hiện tượng
- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện Quan điểm phiến diện
là cách xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ, đa dạng của sự vật
2 Nguyên lý về sự phát triển
a Khái niệm “phát triển”
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Như vậy, phát triển không phải là bản thân sự vận động, phát triển chỉ là khuynh hướng tất yếu của sự vận động, phát triển nó chỉ khái quát những sự vận động đi lên, đó là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ, về kết cấu phức tạp của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định cao hơn về chất
Nói cách khác, phát triển là quá trình làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái cũ, cái lạc hậu
b Nội dung của nguyên lý phát triển
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, đổi mới là quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người
+ Trong giới hữu sinh sự phát triển biểu hiện ở khả năng tăng cường thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính mình, ở khả năng hoàn thiện về quá trình trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường
+ Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên
và xã hội theo quy luật thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Trang 6+ Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên, xã hội và nhận thức chính bản thân con người
- Phép biện chứng duy vật khẳng định, phát triển là khuynh hướng chung của các
sự vật, hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tiếp mà nó quanh co, phức tạp theo hình “xoáy ốc”, trong đó có thể có những bước thụt lùi tương đối
- Ngược lại, quan điểm siêu hình xem xét sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi tương đối, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật Những người theo quan điểm siêu hình còn coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong quá trình tồn tại của chúng Sự vật ra đời với những tính chất như thế nào thì toàn bộ quá trình tồn tại của nó vẫn được giữ nguyên hoặc nếu có thay đổi nhất định về chất thì cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín Họ cũng coi sự phát triển cũng chỉ là sự thay đổi về mặt lượng của từng loại mà sự vật đang có, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới Như vậy, sự phát triển được xem như một quá trình tiến lên liên tục, không có những bước thụt lùi, quanh co, phức tạp
- Về nguồn gốc của sự phát triển, theo quan điểm duy tâm là từ những lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức của con người Hêghen cho rằng, sự phatys triển của giới tự nhiên, của xã hội đều đã được thiết định trước từ sự vận động của ý niệm tuyệt đối
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong của sự vật quy định Do đó, phát triển là tự thân phát triển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật Phát triển là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, đồng thời kế thừa nhũng giá trị của cái cũ, tạo ra vòng khâu liên hệ giữa cái cũ
và cái mới, tạo ra khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc, nghĩa là trong quá trình phát triển dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát nhưng trên một
cơ sở cao hơn
c Những tính chất cơ bản của sự phát triển
- Sự phát triển mang tính khách quan Bởi vì nguốn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản sự vật, do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn trong bản thân sự vật Sự phát triển như vậy không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn luôn phát triển theo khuynh hướng chung của thế giới vật chất
- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến ở đây được hiểu là nó diễn ra trong mọi lĩnh vực: Tự nhiên, xã hội và tư duy Ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan
- Sự phát triển còn mang tính đa dạng, phong phú Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng Song mỗi sự vật, hiện tượng lại
có quá trình phát triển khác nhau, tồn tại ở không gian và thời gian khác nhau, sự phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của các điều kiện có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí có thể làm sự vật thụt lùi
d Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu về sự phát triển giúp chúng ta rút ra được phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
Trang 7- Giới tự nhiên, xã hội và tư duy đều trong quá trình vận động và phát triển
không ngừng Bản chất khách quan của các quá trình hiện thực đòi hỏi nhận thức muốn phản ánh đúng hiện thực khách quan thì cần phải có quan điểm phát triển
- Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng
- Quan điểm phát triển đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, việc tuyệt đối hóa tri thức là kết quả của sự nhận thức về sự vật trong một hoàn cảnh cụ thể và xem xét nó như là tri thức đúng cho cả quá trình phát triển của sự vật
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thực
tế, và xem đó là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do đó, hoạt động thực tiễn
là quá trình tìm ra mâu thuẫn, phân tích mâu thuẫn và tìm ra giải pháp để giải quyết mâu thuẫn Chỉ bằng cách đó chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển
- Quan điểm phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng : cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi ; cái mới, cái tiến bộ sẽ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu Phải có thái độ lạc quan tin tưởng ở sự tất thắng của cái mới, cái tiến bộ
Câu 4:Trình bày ND quy luật thống nhất các mặt đấu tranh.Ý nghĩa
phương pháp luận
* Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
a) Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
- Mâu thuẫn: Là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
- Quan điểm siêu hình thì ngược lại Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là các mặt đối lập.Mặt đối lập là gì? Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành mâu thuẫn
* Tính chất chung của mâu thuẫn
- Tính khách quan, phổ biến
- Tính đa dạng, phong phú
Phép biện chứng duy vật khẳng định, mâu thuẫn tồn tại khách quan phổ biến và
đa dạng, phong phú trong tự nhiên, xã hội và tư duy và không chịu sự chi phối của ý thức con người
Trong tự nhiên, đó là mâu thuẫn giữa điện tích dương và điện tích âm; giữa sức hút và sức đẩy; đồng hóa và dị hóa; giống đực và giống cái; sống và chết
Trong xã hội, mâu thuẫn giữa giai cấp bị bốc lột với giai cấp bốc lột; giữa thiện
và ác; giữa tiến bộ và lạc hậu; giữa hòa bình và chiến tranh
Trong tư duy, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa biện chứng và siêu hình; vô thần và hữu thần; chân lý và sai lầm
b) Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
- Thống nhất giữa các mặt đối lập là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền
đề tồn tại cho nhau, quy định lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập
- Đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ gạt bỏ, phủ định, chống đối nhau của các mặt đối lập
Trang 8+ Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt
- Chuyển hóa giữa các mặt đối lập không phải là sự thay đổi vị trí của các mặt đối lập một cách giản đơn Chuyển hóa giữa các mặt đối lập ở đây là sự chuyển hóa về chất
*Mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển
- Đấu tranh giữa các mặt đối lập dẫn đến mâu thuẫn được giải quyết, khi mâu thuẫn được giải quyết sẽ làm cho sự vật không ngừng được đổi mới Mâu thuẫn
cơ bản của sự vật được giải quyết sẽ tạo ra bước nhảy của sự vật: sự vật cũ mất
đi, sự vật mới ra đời
- Thông qua đấu tranh của các mặt đối lập, những gì lạc hậu, lỗi thời sẽ bị loại
bỏ, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu
Như vậy, mâu thuãn và việc giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển
* Nội dung quy luật mâu thuẫn:
Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới
c) Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định tính khách quan của mâu thuẫn, phép biện chứng duy vật yêu cầu chúng ta muốn tìm hiểu mâu thuẫn thì phải tìm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng đó và muốn tìm bản chất của sự vật, hiện tượng thì phải phân đôi cái thống nhất và nhận thức từng bộ phận của nó Muốn tìm bản chất của sự vật thì chúng
ta phải xem xét các mặt đối lập bên trong bản thân mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó
- Sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình sẽ có các mâu thuẫn khác nhau, do vậy, cần phải có những phương pháp cụ thể, phù hợp để giải quyết từng loại mâu thuẫn
- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn đó là phương pháp đấu tranh
- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn xã hội là phải đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, phương pháp nhận thức là phương pháp duy vật biện chứng, chú ý đến mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể
Câu 5:Trình bày quan điểm chủ nghĩa Mác-Lê nin về thực tiễn.Vai trò thực tiễn với nhận thức Ý nghĩa phương pháp luận
Triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng con người tự làm ra mình và lịch sử của mình bằng hoạt động thực tiễn (thực tiễn) Đó là cách hiểu về vai trò của thực tiễn với tư cách là điểm xuất phát của quan niệm duy vật về lịch sử và cũng
là điểm xuất phát của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
1) Thực tiễn là gì
a) Định nghĩa Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang
Trang 9tính lịch sử-xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội Thực tiễn là hoạt động khi con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình Là hoạt động đặc trưng của bản chất con người, thực tiễn không ngừng phát triển bởi các thế hệ của loài người qua các quá trình lịch sử
b) Các hình thức của thực tiễn Thực tiễn bao gồm những hình thức hoạt động khác nhau của xã hội như a) Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản, quan trọng nhất của thực tiễn; là cơ sở vật chất cho các loại hoạt động khác của con người; là hoạt động đã đưa con người từ trạng thái thú vật lên trạng thái con người; là hoạt động đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người nói riêng
và xã hội loài người nói chung b) Hoạt động cải tạo xã hội là hoạt động nhằm cải tạo hiện thực xã hội, cải biến những quan hệ xã hội nên hoạt động cải tạo xã hội có tác dụng trực tiếp đối với sự phát triển xã hội
c) Thực nghiệm là hình thức đặc biệt của thực tiễn Thực nghiệm bao gồm thực nghiệm sản xuất, thực nghiệm khoa học và thực nghiệm xã hội v.v được tiến hành trong điều kiện nhân tạo nhằm rút ngắn thời gian của các quá trình biến đổi
để dựa trên cơ sở đó nhận thức thế giới, chứng minh tính chân thực của nhận thức
d) Các hoạt động thực tiễn không cơ bản như giáo dục, pháp luật, đạo đức v.v được mở rộng và có vai trò ngày càng tăng đối với sự phát triển của xã hội
2) Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
+) Thực tiễn là cơ sở của nhận thức Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc; tính chất và các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng Hoạt động thực tiễn bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính nhu cầu giải thích, nhận thức
và cải tạo thế giới buộc con người tác động trực tiếp vào đối tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Chính sự tác động đó đã làm cho các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và các quan hệ khác nhau giữa chúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho con người nhận thức được các quy luật vận động và phát triển của thế giới Trên cơ sở đó hình thành các lý thuyết khoa học
+) Thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhận thức không chỉ thoả mãn nhu cầu hiểu biết mà còn đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực hoạt động để đưa lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người Thực tiễn luôn vận động, phát triển nhờ đó, thực tiễn thúc đẩy nhận thức vận động, phát triển theo Thực tiễn đặt ra những vấn đề mà lý luận cần giải quyết
+) Thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của nhận thức Hoạt động thực tiễn góp phần hoàn thiện các giác quan, tạo ra khả năng phản ánh nhạy bén, chính xác, nhanh hơn; tạo ra các công cụ, phương tiện để tăng năng lực phản ánh của con người đối với tự nhiên Những tri thức được áp dụng vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quá trình nhận thức tiếp theo
+) Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Trong thực tiễn con người chứng minh chân lý Mọi sự biến đổi của nhận thường xuyên chịu sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn Thực tiễn có vai trò là tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được, đồng thời thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển
và hoàn thiện nhận thức
Như vậy, thực tiễn vừa là yếu tố đóng vai trò quy định đối với sự hình thành và
Trang 10phát triển của nhận thức, mà còn là nơi nhận thức phải luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình Vì thế, thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, vừa là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức
*Ý nghĩa phương pháp luận
+ Vai trò của thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn
Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn
+ Không được tuyệt đối hóa một trong hai mặt lý luận và thực tiễn Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu
Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa
Câu 6:
Trình bày quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ LLSX Sự vận dụng quy luật này lên XHCN
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ của LLSX:
LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, có mối liên hệ biện chứng lẫn nhau hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX Quy luật nàu vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX vào sự phát triển của LLSX Đến lượt mình, QHSX tác động trở lại đối với LLSX Khuynh hướng chung của SX là không nhừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của LLSX, trước hết là CCLĐ
Trình độ của LLSX là trình độ phát triển của CCLĐ, của ký thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng của người lao động, quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động… Trình độ của LLSX gắn với tính chất của LLSX Tính chất của LLSX : Khi SX còn trình độ thấp kém thì LLSX có tính chất cá nhân, khi SX đạt tới trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì LLSX có tính xã hội hóa Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con người luôn luôn tìm cách cải thiện, hoàn thiện công cụ lao động
và chế tạo ra những công cụ lao động mới, tinh xảo hơn, đồng thời kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ theo
Như vậy, sự thay đổi của xã hội bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi LLSX Cùng với sự phát triển của LLSX, QHSX cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX Sự phù hợp đólà động lực làm cho LLSX phát triển mạnh mẽ
QHSX phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp tối ưu giữa TLSX và người lao động Mở ra điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật chất, tinh thần đối với người lao động Nhưng LLSX luôn luôn phát triển còn QHSX có xu hướng tương đối ổn định Khi LLSX phát triển lên một trình độ mới, QHSX không còn phù hợp nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của nó sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của PTSX Sự phát triển khách đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ QHSX cũ, thay thế bằng một QHSX mới phù hợp với tính chất và trình độ mới của LLSX, mở đường cho LLSX phát triển Việc xóa
bỏ QHSX cũ, thay thế bằng QHSX mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một PTSX lỗi thời và sự ra đời của PTSX mới Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa LLSX mới và QHSX lỗi thời là cơ sở khách quan của cuộc đấu
Trang 11tranh giai cấp, đồng thời là tiền đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội Đây là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại “Quy luật QHSX phù hợp với trình độ PT của LLSX” QHSX phù hợp với trình độ của LLSX lại trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho LLSX phát triển QHSX không phù hợp với trình độ của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX Song tác động kìm hãm đó cũng chỉ có tính chất tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuối cùng QH cũng se phải thay đổi cho phù hợp với tính chất
và trình độ của LLSX Sở dĩ QHSX có tác động trở lại mạnh mẽ với LLSX là vì
nó qui định: Mục đích của SX, hệ thống quản lý của SX và quản lý xã hội, Phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Từ đó, nó sẽ tạo ra những điều kiện để kích thích việc cải tiến lao động
và kỹ thuật sản xuất, thúc đẩy LLSX phát triển Thực tiễn đã cho thấy LLSX chỉ
có thể phát triển khi có một QHSX hợp lý, đồng bộ, phù hợp với nó QHSX lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũnhg sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là quy luật chung nhất của sự phát triển XH Sự tác động cảu quy luật này đã đưa
xã hội loài ngưòi trải qua các PTSX khác nhau Tuy nhiên không phải bất cứ nước nào cũng nhất thiết phải tuần tự trải qua các PTSX, một số nước có thể bỏ qua hợc một số các PTSX để tiến lên PTSX mới cao hơn
*Kết hợp giữa LLSX với xây dựng QHSX trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam
- Trong khi khẳng định vai trò của LLSX, lý luận hình thái kt-xh còn chỉ ra,
sự phát triển của LLSX phải gắn liền với việc thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, Đảng ta khẳng định “Phát triển LLSX gắn liền với QHSX mới phù hợp trên cả 3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối
- Phù hợp với sự phát triển của LLSX ở nước ta, đảng ta chủ trương sử dụng
“nhiều hình thức sở hữa về TLSX, nhiều thành phần kinh tế” đồng thời thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại Nó là kết quả của sự phát triển LLSX đến một trình độ nhất định, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội và đa dạng hóa các hình thức sở hữu Đến lượt nó, kinh tế thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy LLSX phát triển Xây dựng
và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của LLSX ở nước ta, với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta khẳng định: “Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển LLSX, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật của CNXH nâng cao đời sống của nhân dân
Câu 7 :Trình bày nguồn gốc,bản chất nhà nước Đặc điểm nhà nước XHCN
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giải thích đúng đắn nguồn gốc xuất hiện nhà nước Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã chứng minh nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất biến Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển, tiêu vong Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất
Trang 12định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất
đi
1 Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc và quyền lực xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ cộng sản nguyên thuỷ
là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người Trong xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước Nhưng trong xã hội này lại chứa đựng những nguyên nhân làm xuất hiện nhà nước Bởi vậy, việc nghiên cứu những đặc điểm của xã hội cộng sản nguyên thuỷ làm tiền đề cần thiết cho việc lý giải nguyên nhân xuất hiện của nhà nước và hiểu rõ bản chất của nó là hết sức cần thiết
Nghiên cứu đặc điểm của xã hội cộng sản nguyên thuỷ phải xuất phát từ cơ
sở kinh tế của nó Xã hội cộng sản nguyên thuỷ được xây dựng trên nền tảng của phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ mà đặc trưng là chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém, công cụ lao động còn thô sơ, sự hiểu biết về thế giới tự nhiên của người lao động còn lạc hậu,
vì thế con người để kiếm sống và bảo vệ mình phải dựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thành quả của lao động chung Trong điều kiện
đó nên không ai có tài sản riêng, không có người giàu, người nghèo, xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp
Từ chế độ kinh tế như vậy đã quyết định tổ chức xã hội của xã hội cộng sản nguyên thuỷ Hình thức tổ chức xã hội và cách thức quản lý của xã hội cộng sản nguyên thuỷ rất đơn giản Tế bào của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc Thị tộc là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của xã hội loài người, được xuất hiện khi xã hội đã phát triển tới một trình độ nhất định Với tư cách là hình thức tổ chức và quản lý xã hội, thị tộc là một tổ chức lao động và sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội Thị tộc được tổ chức trên cơ sở huyết thống, ở giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế, hôn nhân chi phối, vì thế thị tộc được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Dần dần cùng với sự phát triển của kinh tế, sự thay đổi của xã hội
và hôn nhân, chế độ mẫu hệ được thay thế bởi chế độ phụ hệ
Trong thị tộc mọi thành viên đều tự do, bình đẳng, không một ai có đặc quyền, đặc lợi gì Mặc dù trong xã hội cũng đã có sự phân chia lao động nhưng
đó là sự phân chia trên cơ sở tự nhiên, theo giới tính hoặc lứa tuổi chứ chưa mang tính xã hội
Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên trong xã hội Để tổ chức và điều hành hoạt động chung của xã hội, thị tộc cũng đã có quyền lực và một hệ thống quản
lý công việc của thị tộc Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ mới chỉ là quyền lực xã hội do toà xã hội tổ chức ra và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng
Hệ thống quản lý các công việc của thị tộc bao gồm:
Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc gồm những thành viên lớn tuổi của thị tộc Hội đồng thị tộc quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, giải quyết các tranh chấp nội bộ, tiến hành chiến tranh Những quyết định của Hội đồng thị tộc là bắt buộc đối với tất cả mọi người
Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân
sự để thực hiện quyền lực, quản lý các công việc chung Những người đứng đầu