Kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh vật học của S.suis phân lập được từ lợn mắc bệnh viêm khớp .... Mục đích nghiên cứu - Xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn S
Trang 1- -
LA THỊ HỒNG
Tên đề tài:
GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ÐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ÐỒ ÐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2- -
LA THỊ HỒNG
Tên đề tài:
GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ÐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ÐỒ ÐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành : Thú y Lớp: K43 Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Quốc Tuấn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiêm khoa Chăn nuôi thú y, cùng tất cả các thầy cô giáo đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức khoa học và những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Đỗ Quốc Tuấn đã tạo điều kiện tốt nhất, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin cảm ơn các cán bộ ở các xã, trạm thú y huyện Đồng Hỷ, các thầy
cô giáo ở Viện khoa học sự sống - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm hỗ trợ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện tốt khóa luận này
Dù đã cố gắng nhiều, xong khóa luận của em không thể không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015
Sinh viên
La Thị Hồng
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm khớp và chết tại một số xã (thị trấn) của
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 40 Bảng 4.2: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp qua các tháng tại huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 41 Bảng 4.3: Tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 42 Bảng 4.4: Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp ở các phương thức
chăn nuôi 43
Bảng 4.5: Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp theo tình
trạng vệ sinh 44 Bảng 4.6: Kết quả phân lập vi khuẩn S suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh
viêm khớp tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 46 Bảng 4.7: Kết quả xác định một số đặc điểm sinh vật, hóa học của các chủng vi
khuẩn S suis phân lập được 47
Bảng 4.8: Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các
chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48
Bảng 4.9: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc bệnh
viêm khớp 49
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình phân lập vi khuẩn Streptococcus suis 34
Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc bệnh viêm khớp và chết tại 5 xã ở huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 41 Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp qua các tháng tại huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 42 Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 43 Hình 4.4: Biểu đồ kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp theo tình trạng
vệ sinh 45
Trang 6DANH MỤC VÀ KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa của từ
BHI: Brain Heart Infusion
CPS: Capsular polysaccharide
EF: Extracellular factor
ELISA: Enzyme – Linked Immuno Sortbant Assay MRP: Muramidase - released protein
PCR: Polymerase Chain Reaction
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn: 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 4
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn 4
2.1.2 Hiểu biết về bệnh viêm khớp ở lợn 6
2.1.3 Hiểu biết về vi khuẩn Streptococcus suis 8
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNGNỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian tiến hành 27
3.3 Dụng cụ, môi trường, thiết bị 27
3.3.1 Dụng cụ 27
3.3.2 Môi trường, thuốc thử 27
3.3.3 Thiết bị 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.4.1 Ðiều tra tình hình lợn mắc viêm khớp tại địa điểm nghiên cứu 28
3.4.2 Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của chủng S suis phân lập được 28 3.4.3 Nghiên cứu biện pháp phòng trị 28
Trang 83.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 29
3.5.2 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm 31
3.5.3 Phương pháp nuôi cấy phân lập vi khuẩn 32
3.5.4 Phương pháp giám định các đặc tính sinh học của vi khuẩn 35
3.5.5 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được 38
3.5.6 Xây dựng phác đồ điều trị lợn mắc bệnh viêm khớp 39
3.6 Phương pháp tính toán và sử lý số liệu 39
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc viêm khớp và chết tại một số xã (thị trấn), huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 40
4.1.1 Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc viêm khớp và chết tại một số xã (thị trấn), huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 40
4.1.2 Kết quả điều tra lợn mắc bệnh và chết do viêm khớp qua các tháng tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên 41
4.1.3 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp ở các lứa tuổi 42
4.1.4 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp ở các phương thức chăn nuôi 43
4.1.5 Kết quả điều tra lợn mắc và chết do viêm khớp theo tình trạng vệ sinh 44
4.2 Kết quả phân lập và xác định một số đặc tính sinh vật học của S.suis phân lập được từ lợn mắc bệnh viêm khớp 45
4.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn S suis từ mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh viêm khớp 46
4.2.2 Kết quả xác định một số đặc điểm sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S suis phân lập được 46
Trang 94.2.3 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các
chủng vi khuẩn S suis phân lập được 48
4.3 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc bệnh viêm khớp 49
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 10sự liên kết trong chăn nuôi Thị trường cho sản phẩm chăn nuôi ngày càng được quan tâm, mở rộng
Cùng với sự phát triển về quy mô, tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi xảy ra ngày càng nhiều, lây lan nhanh, khó kiểm soát, mức độ thiệt hại mà dịch bệnh gây ra cho chăn nuôi ngày càng lớn Đó là những thách thức mà chúng ta phải đối mặt trong giai đoạn tới Dịch bệnh có thể do virus, vi khuẩn
gây ra Trong đó, có vi khuẩn Streptococcus suis Vi khuẩn Streptococcus suis
có mặt khắp nơi trong tự nhiên, trên cơ thể động vật và cả ở người Vi khuẩn
Streptococcus suis thường gây bệnh ho thở truyền nhiễm; bệnh đường ruột;
bệnh viêm hạch dưới hàm ở lợn; bệnh viêm màng não ở lợn cai sữa và lợn vỗ béo; bệnh viêm khí quản và phổi ở lợn con và môt bệnh mà chúng ta cần quan tâm đó là bệnh viêm khớp
Viêm khớp là yếu tố gây què ở lợn Các yếu tố khác gây què ở lợn gồm liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương ở
Trang 11chân do chấn thương, hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh làm lợn bị còi cọc, đi lại khó khăn; đồng thời bệnh làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn; ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng… gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho nghành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng
phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn S suis và khả năng
gây bệnh của chúng là một vấn đề cần thiết và cấp bách Các kết quả có được
từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ
đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động được các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình bệnh viêm khớp do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Streptococcus suis
gây bệnh viêm khớp ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm khớp ở lợn cho hiệu quả cao
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được tình hình lợn mắc bệnh viêm khớp xảy ra ở huyện Đồng
Trang 121.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
+ Là công trình nghiên cứu có hệ thống về tính sinh vật, hóa học của các
chủng vi khuẩn S suis gây viêm khớp ở lợn
+ Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, biến đổi lâm sàng, biến đổi bệnh lý của lợn mắc bệnh viêm khớp
+ Kết quả của đề tài góp phần đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiến sản xuất, đồng thời góp phần thêm tư liệu tham khảo cho nghiên cứu tiếp theo
+ Đáp ứng nhu cầu tiễn sản xuất, nâng cao năng suất đàn lợn, góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn ở các giai đoạn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều: Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn: Quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai + Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày
Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa kỳ I là bắt đầu từ khi thụ thai đến 84 ngày Lợn chửa kỳ II từ 84 ngày đến trước khi đẻ 1 tuần, giai đoạn này rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II
+ Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ.Tuy nhiên muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [14]
Trang 14Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật phát triển tốt ngay lúc đó còn là bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất giống sau này
Dựa vào đặc điểm sinh lý, quy luật sinh trưởng của lợn thịt mà chia quá trình nuôi lợn thịt ra 3 giai đoạn:
* Giai đoạn sau cai sữa: 2 - 3 tháng tuổi (1 - 2 tháng nuôi):
Đặc điểm giai đoạn này: Lợn chuyển từ sống theo mẹ, bằng sữa mẹ sang sống tự lập, chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc của con người Lợn có tốc độ phát triển nhanh (đặc biệt là tổ chức cơ bắp và xương cốt) Bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế Vì vậy thức ăn giai đoạn này đòi hỏi phải có phẩm chất tốt, tránh thức ăn ôi mốc, lên men Tỷ lệ thức ăn tinh chiếm 80 - 90%, thức ăn giàu đạm 15 - 18% trong khẩu phần thức Dùng đạm động vật để bổ sung Tỷ lệ xơ thô trong khẩu phần thấp (4-5%), khoáng và vitamin cao (bổ sung chúng dưới dạng premix khoáng, VTM 0,5 - 1% trong TĂ tinh) Có thể bổ sung thức ăn đậm đặc, kháng sinh thô trong khẩu phần để kích thích sinh trưởng và phòng bệnh cho lợn Ngoài ra, thức ăn giai đoạn này phải chế biến tốt để lợn dễ tiêu hoá, hấp thu dinh dưỡng
và tránh ỉa chảy Giai đoạn này lợn cần phải được vận động, tắm nắng tự do
* Giai đoạn lợn choai: 4 - 7 tháng tuổi (3 - 5 tháng nuôi):
Giai đoạn này lợn phát triển rất mạnh về xương, cơ bắp Bộ máy tiêu hoá
đã phát triển hoàn thiện nên lợn có khả năng tiêu hoá, hấp thu tốt các loại thức
ăn Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sống Vì vậy trong giai đoạn này ta
có thể dè xẻn thức ăn tinh (tiết kiệm thức ăn tinh), tăng thức ăn thô xanh để tận dụng nguồn thức ăn sẵn có ở nước ta Tỷ lệ thức ăn xanh có thể chiếm 30-40% (tính theo giá trị dinh dưỡng khẩu phần) Song để lợn phát triển tốt ngoại
Trang 15hình, tầm vóc, chú ý phải cung cấp đủ protein, khoáng, VTM và cho vận động, tắm nắng nhiều
* Giai đoạn nuôi kết thúc: 8 - 9 tháng tuổi (6 - 7 tháng nuôi):
Giai đoạn này lợn đã phát triển hoàn thiện, tích mỡ là chính Để thúc đẩy nhanh quá trình vỗ béo, cần tập trung thức ăn tinh, thức ăn giàu bột đường (tỷ
lệ thức ăn tinh giai đoạn này nên chiếm 85 - 90% trong khẩu phần), dè xẻn thức ăn giàu đạm (tỷ lệ thức ăn giàu đạm nên khoảng 10 - 12% trong khẩu phần), giảm thức ăn thô xanh (chỉ khoảng 10 - 15% trong khẩu phần) Đồng thời hạn chế vận động, tạo bóng tối, yên tĩnh cho lợn nghỉ ngơi, ngủ nhiều, chóng béo Rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi nông hộ ở các tỉnh miền Bắc
và miền Trung nước ta vì ở các khu vực này chủ yếu là lợn lai F1, dân nghèo, mức đầu tư không cao, tận dụng các phụ phế phẩm trong nông nghiệp, nhiều rau xanh
2.1.2 Hiểu biết về bệnh viêm khớp ở lợn
Viêm khớp là bệnh hay xảy ra trên đàn lợn, đó là một yếu tố gây què ở lợn Các yếu tố gây què ở lợn bao gồm liên quan đến mất cân bằng dinh dưỡng hoặc thiếu chất dinh dưỡng hoặc thiếu chất, những tổn thương do chấn thương, hình thành không đúng và thoái hóa xương và các thay đổi khớp Bệnh viêm khớp do nhiễm trùng khớp và các mô bao quanh bởi vi khuẩn
(Streptococcus suis, E coli, Staphylococcus…) và Mycoplasma
Chia làm 2 dạng viêm khớp ở lợn: Viêm khớp do thiếu canxi, photpho
Trang 16Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi
Từ những tác hại do vi khuẩn gây ra trong bệnh viêm khớp trên đàn lợn nuôi, tôi đã điều tra, nghiên cứu, tìm hiểu sâu về bệnh viêm khớp do vi khuẩn
S suis gây ra
Streptococcus suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi
Bệnh này thường gây ra cho lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như
một phần của hội chứng yếu khớp kết hợp với viêm rốn S suis có thể khu
chú ở amidan của gia súc khỏe, khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi như: lợn trong tình trạng stress, nhiệt độ môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức đề kháng lợn …lúc này dễ dàng phát bệnh Mầm bệnh được tiết ra từ dịch
âm hộ, dịch đường hô hấp và sữa lợn mẹ Các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể lợn con bằng đường rốn, vết thương ngoài da
Bệnh xảy ra lẻ tẻ, tỷ lệ mắc bệnh từ 10 - 20% Bệnh thường xảy ra ở lợn từ 1 - 6 tuần tuổi Bệnh xảy ra ở 3 thể: thể quá cấp tính; thể cấp tính và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: Gây chết lợn nhanh, lợn sốt rất cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy
yếu Lợn có triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què Lợn có thể bị mù, điếc, viêm màng não gây tụ máu não, màng não, dịch não tủy nhiều và có màu đục
- Thể cấp tính: Đặc trưng bởi sốt, long da sởn lên suy nhược và què Khi
bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to.Một hoặc vài khớp có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và chân sau, mắt cá chân thường sung phồng lên Bệnh làm cho lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế khả năng đi lại để bú của lợn con
Trang 17- Thể mãn tính: Lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mãn tính suốt đời
Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin) Các màng sung phông, mất màu, tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe) Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp Các bệnh tích cũng có thể thấy được trong sự phát triển của các khúc xương
2.1.3 Hiểu biết về vi khuẩn Streptococcus suis
2.1.3.1 Các đặc tính sinh học của vi khuẩn Streptococcus suis
S suis là những vi sinh vật hiện diện phổ biến trong cơ thể tất cả các loài
động vật bao gồm cả con người Chúng bao gồm nhiều chủng loài nhưng
không giới hạn cụ thể về vật chủ S suis phổ biến rộng rãi trong quần thể lợn
Nó gắn liền với một loạt các điều kiện bệnh lý bao gồm viêm màng não, nhiễm trùng máu, viêm niêm mạc của xoang bụng và ngực, viêm khớp, viêm nội tâm mạc và viêm phổi Nó cũng đã được phân lập từ các trường hợp viêm mũi và sảy thai Các mô hình và tầm quan trọng của những hội chứng khác
nhau là khác nhau ở các nước khác nhau
* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ
Lactobacillales, lớp Bacilli S suis là vi khuẩn Gram dương, hình cầu hoặc
hình trứng đường kính nhỏ hơn 1μm, chúng thường đứng riêng lẻ, xếp thành đôi hoặc thành từng chuỗi ngắn như chuỗi hạt, có độ dài ngắn không đều nhau Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường Vi khuẩn thuộc nhóm yếm khí tùy tiện, không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thành giáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy
có chứa huyết thanh Vi khuẩn được nuôi cấy sau 18 giờ chủ yếu là có dạng hình cầu, kích thước 0,5 - 1μm, đứng thành dạng chuỗi 5 - 10 tế bào Trong
Trang 18canh trùng già, sau 30 giờ nuôi cấy, vi khuẩn có thể thay đổi tính chất bắt màu, chuỗi cũng thấy dài hơn Đặc biệt, khi nuôi cấy trong môi trường dạng
lỏng, thái các chuỗi được nhìn thấy rõ nhất Vi khuẩn S suis là những vi
khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh thích hợp ở nhiệt độ 370C phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:
- Môi trường nước thịt: Vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những
bông, rồi lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống
có cặn
- Môi trường thạch thường: Vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng
S, khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám
- Trên môi trường đặc: Có thể quan sát thấy khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi
cấy với kích thước khoảng 1 - 2 mm Sau 72 giờ thì kích thước khuẩn lạc lớn nhất, có thể đạt tới 3 - 4 mm Nếu được nuôi trong điều kiện có 5 - 10% CO2thì khuẩn lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh, độ nhầy càng rõ và tăng nếu như vi khuẩn được nuôi cấy vài giờ vào môi trường nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch máu Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên môi trường có bổ sung dinh dưỡng
- Trên môi trường thạch máu: Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn,
hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy Có thể quan sát các kiểu dug huyết gồm:
+ Dung huyết kiểu : vùng dung huyết xung quanh khuẩn lạc thường có màu xanh( dung huyết từng phần hay dung huyết không hoàn toàn)
+ Dung huyết kiểu : Bao quanh khuẩn lạc là một vùng tan máu hoàn toàn, trong suốt, có bờ rõ rang do Hemoglobin được phân hủy hoàn toàn + Dung huyết kiểu (hay còn gọi là không dung huyết): Không làm biến đổi thạch máu
Trang 19- Trên môi trường Mac Conkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy,
hình thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2005) [8]
* Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn S suis có khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose,
inulin, trehalose, maltose, fructose
Vi khuẩn không lên men các loại đường ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose
Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âm tính (Trịnh Phú Ngọc, 2002) [11]
* Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn S suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp và có rất nhiều kháng nguyên đã được tìm thấy đó là:
Kháng nguyên thân (Somati antigen): Kháng nguyên thân có ý nghĩa
quan trọng trong việc quyết định độc lực của S suis Kháng nguyên thân nằm
ở thành vi khuẩn (Cell wall) và được cấu tạo bởi các phân tử peptidoglycan ở lớp trong cùng (N-acetylglucosamine và N-acetylmuramic acid), tiếp đến là lớp giữa gồm các polysaccharide (N-acetylglucosamine và rhamnose), lớp ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid, R và T protein
Kháng nguyên bám dính ( Fimbriae antigen): Vai trò của kháng nguyên
bám dính của S suis còn chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có ý
kiến cho rằng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn bám
dính vào tế bào biểu mô của vật chủ Vi khuẩn S suis là một trong số ít các
loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu trúc này So với các loại vi khuẩn
khác thì kháng nguyên bám dính của vi khuẩn S suis có cấu trúc mỏng, ngắn,
đường kính khoảng 2 nm, và dài có khi tới 200 nm (Jacques và cs, 1990) [23]
Trang 20Kháng nguyên giáp mô (Capsule antigen): Kháng nguyên giáp mô có
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, kháng lại khả năng thực bào
của cơ thể vật chủ Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các chủng S suis có
giáp mô thì có độc lực và có khả năng gây bệnh, còn các chủng không có giáp
mô thì không có khả năng này (Higgins và Gottschalk, 2002) [20]
Phân loại vi khuẩn S suis theo serotype: Trước đây, S suis được phân
loại huyết thanh học thành các nhóm theo ký hiệu S, R, RS và T Sau đó, các nhóm S, R và RS này lần lượt được thay thế bằng các serotype ký hiệu lần lượt là serotype 1; 2 và 1/2, còn nhóm T được thay thế bằng serotype 15 Các
chủng S suis được phân thành 35 serotype dựa trên cấu trúc kháng nguyên
polysaccharide của giáp mô (ký hiệu từ 1 đến 34 và 1/2) (Higgins và cs, 1995)
[21] Trong đó, đáng chú ý nhất là các chủng S suis thuộc serotype 2 phân lập
được thường xuyên nhất ở lợn và cũng là nguyên nhân gây ra các thể bệnh nguy hiểm khác nhau ở lợn và người (Higgins và Gottschalk, 2002) [20] Các chủng thuộc các serotype gây ra các thể bệnh khác nhau Thậm chí các chủng
vi khuẩn thuộc cùng một serotype cũng có thể gây ra các thể bệnh khác nhau
do vùng địa lý mà chúng phân bố Một số serotype không có độc lực và có thể được phân lập từ lợn khỏe mạnh, không có triệu chứng lâm sàng như các serotype 17; 18; 19 và 21 (Higgins và Gottschalk, 2002) [20] Đỗ Ngọc Thúy
và cs (2009) [16] khi xác định serotype trong 211 chủng S suis phân lập được
từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam cho biết số chủng thuộc serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 14/211 chủng (6,6%); serotype 9 có 10/211 chủng (4,7%); serotype 9, 31, 32 có 7/211 chủng (3,3%); các serotype 7, serotype 17
và serotype 21 có tỷ lệ tương đương là 1,4%; serotype 8 chiếm 0,9%
* Các yếu tố độc lực của vi khuẩn
Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn S suis còn rất hạn chế, phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc serotype
Trang 212 Các nhà khoa học đều có chung quan điểm là có sự tồn tại của chủng độc
và chủng không độc của vi khuẩn S suis serotype 2 Thành phần
polysaccharide của giáp mô (capsular polysaccharide - CPS) được xác định là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn này vì các chủng đột biến không có giáp mô đều thể hiện là không có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống tuần hoàn của lợn và chuột trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm Tuy vậy, không phải tất cả các chủng có giáp mô đều là chủng độc Các yếu tố độc lực khác ngoài polysaccharide của giáp mô (CPS) cũng đóng một vai trò sinh bệnh của vi khuẩn Một yếu tố gây dung huyết, hay còn
gọi là “suilysin”: có trọng lượng phân tử 65 kDa và có độ phóng xạ riêng là 0,7x106 Units/ mg do vi khuẩn S suis serotype 2 sinh ra đã được tìm thấy và
xác định rõ đặc diểm Suilysin (SLY) thuộc về nhóm độc tố với những đặc điểm chung là: dễ bị oxy hoá và bị hoạt hóa bởi một số hóa chất khử, dễ bị ức chế bởi cholesterol với nồng độ loãng, ức chế tính hoạt động của một số lượng ít, gốc N - của chuỗi amino acid của suilysin giống với perfringolysin
O, streptolysin O, listeriolysin O, alveolysin, pneumolysin Trong điều kiện invitro trên chuột và lợn đã được chứng minh là có khả năng tạo ra miễn dịch
khi được tiêm vaccine chứa suilysin để kháng lại vi khuẩn S suis serotype 2 gây bệnh Suilysin là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn S suis vì sự
trung hoà của yếu tố này đủ để bảo vệ chuột thí nghiệm chống lại các tác
động có hại của vi khuẩn S suis serotype 2 (Gottschalk và cs, 1998) [18]
Trong một thí nghiệm gây nhiễm chuột và lợn đã tạo ra miễn dịch khi
được tiêm vaccine chứa SLY để chống lại S suis serotype 2 gây bệnh SLY là
một yếu tố độc lực quan trọng và sự trung hòa của yếu tố này để bảo vệ chuột
khi làm thí nghiệm chống lại tác động có hại của S suis serotype 2
Với các chủng của vi khuẩn Streptococcus được phân lập từ Bắc Mỹ, yếu
tố gây dung huyết không được xem là độc lực của vi khuẩn, còn ở nhiều nước
Trang 22Châu Âu nhiều chủng S suis phân lập từ lợn gây bệnh lại có hoạt tính dung
huyết Với phương pháp hóa sinh và miễn dịch học không thể phân biệt được hoạt tính dung huyết của SLY, điều đó cho thấy suilysin có thể là yếu tố độc lực của tất cả các chủng Mặc dù sự có mặt của nó góp phần vào sự phát sinh
của bệnh, thì một số chủng S suis serotype 2 không gây dung huyết lại có độc
lực cao Khả năng gây dung huyết cũng là yếu tố độc lực của nhiều loại khác nhau trong bệnh truyền nhiễm, các nguyên nhân gây ra bệnh gồm có:
Clostridia, Escherichia coli, Streptococcus pneumonia, Pasteurella, Listeria monocytogenes và Actinobaccillus pleuropneumoniae (Trịnh Quang Hiệp và
cs, 2004) [4]
Theo Gottschalk và cs (1991)[18] một protein có trọng lượng phân tử 44- kDa không có mặt trong toàn bộ chủng đột biến nhưng có thể được coi là một yếu tố độc lực Hơn nữa, Vecht đã mô tả 2 loại protein giải phóng muramidase (Muramidase - released protein - MRP) có trọng lượng phân tử
136 kDa và protein giải phóng yếu tố ngoại bào (Extracellular factor - EF) 110- kDa đã được xác định là các yếu tố độc lực quan trọng trong sinh bệnh
học của S suis serotype 2 gây bệnh ở lợn và người Các nghiên cứu về gây
bệnh thực nghiệm trên lợn cũng đã cho thấy các chủng vi khuẩn có mang 2 yếu tố gây bệnh này (MRP+ và EF+) đã được phân lập từ các phủ tạng của lợn sau khi gây nhiễm với các triệu chứng điển hình của bệnh, trong khi đó các chủng không mang các yếu tố gây bệnh này (MRP- và EF-) có thể phân lập được thường xuyên trong amidan của lợn khỏe và không có khả năng gây bệnh cho lợn thí nghiệm Tuy nhiên, quy luật này lại không đúng với trường
hợp các chủng S suis serotype 2 phân lập được từ lợn và người bị bệnh tại
Canada và Bắc Mỹ vì hầu hết các chủng vi khuẩn này đều khác biệt hoàn toàn với các chủng phân lập được từ châu Âu, kể cả về cấu trúc di truyền (Gottschalk và cs, 1998) [18] Ở Việt Nam, theo Nguyễn Ngọc Nhiên và cs
Trang 23(1994) [12] tiêm 0,2 ml vi khuẩn S suis vào dưới da cho chuột bạch, chuột
chết sau 24 - 36 giờ, chỗ tiêm áp xe có mủ và đã phân lập lại được vi khuẩn từ
máu tim Đỗ Ngọc Thúy và cs (2009)[16] cho biết, trong 211 chủng S suis
phân lập được từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam có 7 tổ hợp gen mã hóa các yếu tố độc lực được xác định
* Sức đề kháng:
Vi khuẩn S suis serotype 2 có thể tồn tại trong nước 400C từ 1 - 2 tuần Trong rác chúng có khả năng sống ở 00C - 90C và 22 - 250C với các thời gian
tương ứng là 5,4,25 và 0 ngày S suis còn được tìm thấy trên xác con lợn đã
thối giữa, trong các trang trại , thời gian tồn tại là 6 tuần ở 40C và 12 ngày ở 22- 250C Khi tiến hành vệ sinh, làm sạch các trang trại có lợn nhiễm bệnh,
các chất sát trùng và tẩy rửa có thể giết S suis serotype chưa đến 1 phút
Vi khuẩn serotype 2 có thể sống trong phân, bụi ở 00C, sống trong phân
104 ngày và trong bụi 54 ngày Khi nhiệt độ 900C, vi khuẩn có khả năng tồn tại được 10 ngày trong phân và trong bụi là 25 ngày Các chất sát trùng thông
thường có thể làm chết vi khuẩn S suis nhanh chóng so với các vi khuẩn
thông thường khác (Trịnh Phú Ngọc, 2001) [10]
Vi khuẩn liên cầu lợn có sức đề kháng kém, chúng dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát khuẩn và tẩy uế thông thường như: Chloramin, nước Javel, nước vôi hoặc vôi bột… nên sẽ dễ dập dịch hơn và bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng kháng sinh
Các điều kiện để liên cầu khuẩn phát triển ở lợn: điều kiện chuồng trại kém, nhiễm phân, rác ở chuồng trại, không có thông khí, lợn được chăn nuôi tập trung, điều kiện chăm sóc kém
Khả năng đề kháng với kháng sinh: Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [11] khi kiểm tra khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn
Streptococcus phân lập được cho thấy số chủng mẫn cảm với Penicillin G
Trang 24biến động từ 59,09 - 63,63% Sau đó, Trương Quang Hải và cs (2012)[3] khi
xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn S suis mẫn cảm
cao với các loại kháng sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin
và có hiện tượng kháng lại mội số kháng sinh streptomycin, neomycin,
tetracycline, penicillin G Điều này đã thể hiện theo thời gian vi khuẩn S suis
đã có hiện tượng kháng thuốc với một số kháng sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
2.1.3.2 Phương thức truyền lây và cơ chế sinh bệnh của vi khuẩn S suis
* Sự xuất hiện bệnh
Bệnh gây ra do S suis gây bệnh ở mọi lứa tuổi, xảy ra ở những nơi nuôi
lợn trên khắp thế giới Nhưng thường xảy ra ở lợn từ 1 - 6 tuần tuổi và lợn con sau cai sữa khi được nhốt chung chuồng với nhau Nhiều trường hợp xảy
ra sau khi cai sữa liên quan đến yếu tố stress như vận chuyển, xáo trộn đàn,
mật độ quá cao, không đủ thông gió S suis serotype 2 gây ra nhiều ổ dịch
viêm màng não lợn con 10 - 14 ngày sau cai sữa Gần đây, bệnh hay xảy ra ở lợn sau cai sữa chăn nuôi tập trung với mật độ cao Hiện nay chưa có phản ứng nào để xác định lợn mang trùng Hơn nữa những biểu hiện của bệnh thường ở dạng cận lâm sàng Do đó, rất khó khăn với việc hạn chế nhập những đàn lợn mang trùng từ những đàn lợn bị bệnh
Vi khuẩn còn phân lập được ở bò, dê, cừu, ngựa khi viêm màng não
* Sự lưu hành vi khuẩn
Bằng nhiều phương pháp khác nhau người ta đã xác định được sự lưu hành của vi khuẩn trong đàn lợn như nuôi cấy phát hiện vi khuẩn từ các mô lấy từ lò giết mổ, từ lợn con theo mẹ các lứa tuổi và phản ứng huyết thanh học đối với lợn lớn Có thể phân lập được vi khuẩn ở nhiều mô khác nhau, trong
đó có cả ở đường sinh dục con cái, nhưng không thấy ở con đực Vi khuẩn có
Trang 25thể phân lập từ âm đạo con nái điều này làm cho con non bị nhiễm trong khi sinh Nhiễm từ môi trường bên ngoài cũng chiếm tỷ lệ cao
* Cách truyền lây
Vi khuẩn khu trú ở hạch amidan và mũi lợn khoẻ, vi khuẩn từ con khoẻ này truyền cho lợn không bị nhiễm có thể xảy ra trong vòng 5 ngày sau khi nhốt chung Việc đưa những con nái hậu bị từ đàn nhiễm bệnh có thể gây bệnh cho lợn con theo mẹ và lợn choai ở đàn tiếp nhận Có thể phát hiện tỷ lệ mang trùng ở lợn các lứa tuổi khác nhau từ 0 đến 80% và cao nhất ở nhóm tuổi sau cai sữa từ 4 đến 10 tuần tuổi Trong một đàn có thể có tới 80% số lợn nái là con mang trùng không thể hiện triệu chứng bệnh Những con mang trùng đã cai sữa sẽ truyền vi khuẩn cho những con không bị nhiễm khác khi nhập đàn Vi khuẩn tồn tại ở hạch amidan lợn mang trùng hơn 1 năm, ngay cả khi có các yếu tố thực bào, kháng thể và bổ sung kháng sinh phù hợp trong thức ăn Điều này cho thấy vi khuẩn mang tính địa phương ở một số đàn nhưng không thể hiện bệnh lâm sàng Ruồi nhà có thể mang vi khuẩn ít nhất 5 ngày có thể gây nhiễm vào thức ăn ít nhất 4 ngày
S suis còn được tìm thấy trong đường sinh dục và tiêu hóa của lợn con,
từ đó thấy rằng lợn con có thể mang mầm bệnh từ khi mới sinh ra và trong khi còn đang bú Ngoài ra việc nhập những con lợn khỏe mang trùng hoặc lợn
sinh ra ở những đàn bị bệnh sẽ lan truyền S suis cho lợn con Khi lợn con này
tách mẹ và được bổ sung vào chuồng sẽ làm nhiễm cho lợn khác (Lê Văn Tạo, 2006) [13]
S suis serotype 2 có thể phân lập được từ các mẫu thu thập ở đàn nhiễm
khuẩn tại các lò mổ lợn Trong một số điều tra ở lò mổ cho thấy tỷ lệ mang trùng từ 32 - 50% lợn từ 4 đến 6 tháng tuổi
S suis serotype 2 cũng được phát hiện từ lợn viêm phế quản phổi, như
vai trò thứ phát đối với bệnh suyễn, viêm khớp, viêm âm đạo, thai bị sẩy, lợn
Trang 26sơ sinh 1 - 2 ngày tuổi bị chết do nhiễm trùng huyết Ở Bắc Mỹ vi khuẩn phát hiện thấy nhiều hơn trong bệnh viêm phổi so với các nước khác
Ngoài ra bệnh còn có thể lây nhiễm từ trại này sang trại khác thông qua nhân tố trung gian là muỗi, ruồi Theo Higgins và cs (2002)[20] đã chứng minh rằng ruồi có thể mang serotype 2 ít nhất 5 ngày và còn có thể làm nhiễm mầm bệnh vào thức ăn ít nhất 4 ngày Sự tồn tại của sác chết mang vi khuẩn
S.suis trong chuồng nuôi cũng là một cách truyền S suis
Theo Trần Văn Bình (2008) [1] sau khi tiếp xúc với niêm mạc đường hô hấp hoặc đường tiêu hóa, liên cầu khuẩn nhanh chóng xâm nhập vào máu, ức chế đại thực bào và gây nhiễm trùng huyết cho lợn bệnh Chúng sinh ra ngoại độc tố phá hủy nội mô mạch máu làm cho hồng cầu vỡ, hậu quả gây xuất huyết nặng ở niêm mạc
* Yếu tố nguy cơ
Yếu tố vật chủ: làm cho lợn mắc bệnh lâm sàng còn chưa biết Người ta cho rằng các chủng S suis serotype 2 có khác nhau về khả năng gây bệnh,
đồng thời sự xuất hiện bệnh phụ thuộc vào sự phơi nhiễm với chủng gây bệnh
và những tác nhân bội nhiễm còn chưa xác định Lứa tuổi mắc cao nhất từ 5 đến 10 tuần tuổi, như vậy có thể các tác nhân stress của cai sữa đã làm cho tính mẫn cảm với bệnh tăng lên
Tác nhân môi trường: tỷ lệ mắc bệnh lâm sàng phụ thuộc vào tác nhân
môi trường như không đủ thông thoáng, mật độ đàn cao và các stress khác Việc xáo trộn và vận chuyển lợn cũng hay làm bệnh phát ra Sự lây lan được truyền trực tiếp từ con mẹ mang trùng cho lợn con, từ lợn con này lại truyền cho lợn con mẫn cảm khác
Yếu tố mầm bệnh: hiện được biết có ít nhất 28 serotype S suis Vi khuẩn
được chia ra thành các nhóm serotype đặc trưng bởi kháng nguyên vỏ bọc
Trang 27polysaccharide Ở Canada, 94% lợn con 4 - 8 tuần tuổi khoẻ mạnh về lâm sàng có chứa vi khuẩn ở xoang mũi
S suis serotype 2 có thể sống trong phân ở nhiệt độ 00C tới 104 ngày, 10 ngày ở 90
C, 8 ngày ở 22 - 250C; có thể sống ở bụi 25 ngày ở 90C, nhưng không phân lập được ở bụi nhiệt độ trong phòng (18 - 200
C) trong 24 giờ Vi khuẩn bị vô hoạt nhanh chóng bằng các thuốc sát trùng dùng phổ biến ở các trại chăn nuôi Nước xà phòng nồng độ 1/500 có thể diệt vi khuẩn trong vòng
1 phút Vi khuẩn có thể sống trong xác lợn chết ở 40
C trong 6 tuần, đây có thể
là nguồn lây nhiễm cho con người
Có sự khác nhau về khả năng gây bệnh giữa các serotype; ở Anh quốc, khả năng gây bệnh của serotype 1 và 2 khác nhau, serotype 1 gây bệnh ít trầm trọng ở lợn con, trong khi đó serotype 2 gây bệnh nặng hơn và gây bệnh
cấp tính ở lợn lớn hơn và lợn nuôi vỗ béo Sự phân biệt giữa các chủng của S
suis serotype 2 là về khả năng gây viêm màng não
Yếu tố độc lực của vi khuẩn bao gồm cấu trúc các protein hoạt hoá men muramidasa và thành phần mặt ngoài màng tế bào vi khuẩn Sự phân biệt độc lực giữa các chủng của cùng serotype dựa trên có hay không protein hoạt hoá men muramidase Chất liệu vỏ bọc của vi khuẩn tạo ra sự khác biệt giữa các serotip về hình thái học Một số chủng có đặc tính ngưng kết hồng cầu Liên cầu serotype 2 có yếu tố bám dính phát hiện ở phổi lợn Kỹ thuật phân tích nhân sử dụng để xác định cấu trúc gen vi khuẩn
Yếu tố độc lực của vi khuẩn S suis serotype 2 được xác định là do protein
có trọng lượng phân tử 44 kDa, sự có mặt của kháng thể chống lại protein này
có thể bảo vệ con vật chống lại bệnh
* Cơ chế sinh bệnh
Vi khuẩn khu trú ở các hốc của hạch amidan, sau đó xâm nhập vào hệ tuần hoàn gây ra bệnh ở một số lợn Lợn con thường bị chết do nhiễm trùng máu cấp tính, lợn lớn hơn vi khuẩn có thể khu trú ở các xoang hoạt dịch, nội
Trang 28tâm mạc, mắt, màng não Thời gian nhiễm khuẩn huyết là pha quan trọng
trong quá trình phát sinh viêm màng não do S suis serotype 2 Những mẫu vi khuẩn S suis serotype 2 gây bệnh phân lập được là loại có vỏ bọc và đề
kháng khá cao với thực bào Chúng có thể sống và nhân lên trong đại thực bào, vi khuẩn có thể xâm nhập vào dịch não tuỷ thông qua bạch cầu đơn nhân
di chuyển qua lưới mao mạch Cơ chế xâm nhập của vi khuẩn theo cách nội công cũng xảy ra ở một số virus gây bệnh ở hệ thần thần kinh trung ương Bệnh có thể gây thực nghiệm ở lợn bằng cách tiêm ven, nhỏ mũi
2.1.3.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh do Streptococcus suis gây ra
Viêm màng não và viêm khớp có thể xảy ra riêng rẽ hoặc kết hợp phổ biến ở lợn 2 - 6 tuần tuổi, lợn con bị nhiễm trong cùng một ổ mắc nặng hơn Viêm màng não với phản ứng toàn thân như sốt, biếng ăn và cơ thể suy sụp Bước đi cứng nhắc, lợn con đứng trên đầu ngón chân, phần sau thân đu đưa, tai xuôi ép về phía thân; có thể bị mù, co giật cơ, mất cân bằng, nằm nghiêng một bên, chân đạp bơi chèo rồi chết Một số trường hợp viêm rốn Viêm nội tâm mạc ở lợn thường thấy khi hôn mê hoặc chết không có biểu hiện triệu chứng trước đó
Trong các đợt dịch viêm màng não do S suis serotype 2, biểu hiện chết đột
ngột một hoặc nhiều con có thể là dấu hiệu đầu tiên, những con còn sống mất phối hợp sau đó nhanh chóng chuyển sang nằm phủ phục Có hiện tượng co giật nhãn cầu, đạp bơi chèo, rối loạn và chết dưới 4 giờ Thường sốt tới 410
C
Ở Anh viêm màng não hay gặp nhất ở lợn mới cai sữa, viêm khớp hay gặp ở lợn non hơn Ngoài ra còn thấy viêm van tim ở lợn 13 tuần tuổi nuôi vỗ
béo ở trại lợn có tiền sử mắc viêm màng não do S suis
Vi khuẩn có thể nuôi cấy từ dịch khớp, dịch não tuỷ, máu, mô não, phổi, mẫu swab từ hạch amidan lợn khoẻ
Lợn chết do S suis serotype 2, bệnh tích đại thể, vi thể bao gồm một
hoặc nhiều ổ viêm tương mạc hoá mủ, viêm phổi và màng phổi xuất huyết
Trang 29hoặc viêm tơ huyết, viêm màng não mủ, viêm cơ tim thoái hoá xuất huyết, viêm van tim hai lá Trong trường hợp viêm màng não, dịch não tuỷ bị đục, xung huyết và viêm màng não tích tụ thể trắng, ổ mủ ở vùng dưới nhện Hầu hết các trường hợp lưới võng mạc nội mô bị ảnh hưởng nặng, các mạch máu ở tâm thất, não và tuỷ sống bị tắc nghẽn do dịch thẩm xuất, nhiều khi gây ra phù não Mô thần kinh của tuỷ sống, tiểu não và cuống não có thể biểu hiện thoái hoá dạng lỏng Bao khớp bị sưng, trong khớp có chứa chất dịch hoặc đục (Cao Văn Hồng, 2002) [5]
Khi quan sát tổn thương vi thể không thấy có mối liên hệ với serotype (Henk J và cs, 2002) [19] Hiếm thấy trường hợp phổi xuất huyết và hoại tử
vách ngăn.Từ đó các nhà nghiên cứu cho rằng các chủng S suis là nguyên
nhân gây tổn thương thành mạch
* Sự nhiễm bệnh trên người
Bệnh do S suis gặp ở người gặp khắp nơi trên thế giới Những khu vực đẩy mạnh chăn nuôi lợn thì có khả năng gặp các trường hợp nhiễm S suis
cao, nhất là những nước đang phát triển
Người nhiễm phổ biến với S suis serotype 2 và thường xảy ra với người tiếp xúc với lợn hoặc sản phẩm tươi sống của chúng Ở Anh tỷ lệ nhiễm S
suis serotype 2 cao nhất là người bán thịt lợn và công nhân giết mổ lợn, lây
truyền chủ yếu qua vết thương xây sát trên da Biểu hiện lâm sàng ở người bao gồm viêm màng não, nhiễm trùng huyết kèm theo viêm khớp, nội võng mạc và viêm tắc mạch máu Viêm nội tâm mạc và viêm dạ dày ruột cấp tính cũng có thể xảy ra Ngoài ra có thể gây điếc, điếc là do vi khuẩn xâm nhập từ
bề mặt dưới lưới nhện vào phần dịch ở chỗ phân cách màng và xương búa của tai trong Lợn nhiễm khuẩn không thể hiện lâm sàng đưa vào lò giết mổ là nguồn lây nhiễm tiềm tàng cho công nhân giết mổ; những người xử lý nội tạng, cắt bỏ phổi
và thanh quản có nguy cơ cao hơn so với công nhân giết mổ khác
Trang 30Ở Hồng Kông, một nghiên cứu điều tra các mấu thịt lợn sống bán ở chợ
cho thấy có 6,1% các mẫu có S suis nhưng không phải serotype 2 Từ trường
hợp mắc trên người đầu tiên năm 1983 đến nay Hồng Kông đã có trên 50 trường hợp mắc trên người, trong đó ngoài viêm màng não chiếm ưu thế, còn
có các thể bệnh lâm sàng như viêm khớp, viêm phế quản phổi và viêm nội tâm mạc (Ip M và cs, 2007) [22]
2.1.3.4 Chẩn đoán bệnh do Streptococcus suis gây ra
Cơ sở chẩn đoán bệnh do S suis gây ra thường dựa vào các triệu chứng
lâm sàng, tuổi tác của gia súc và những bệnh tích đại thể, ngoài ra còn căn cứ vào tác nhân gây bệnh và bệnh tích vi thể của con vật gây bệnh
Các phản ứng huyết thanh học để nhận ra kháng thể chống lại vi khuẩn S suis
đã được đánh giá Phản ứng ELISA sử dụng kháng nguyên là giáp mô của S
suis được tinh chế là một phương pháp đặc trưng để chẩn đoán bệnh do S suis
gây ra Ngoài ra còn có phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm gồm có: nuôi cấy, phân lập và nhận biết các đặc tính của tác nhân gây bệnh, bệnh lí tiêu bản học, kỹ thuật kháng thể huỳnh quang trực tiếp (FA), hoặc kỹ thuật gen (PCR) (Henk J và cs, 2001) [19]
Các kỹ thuật sinh học phân tử là một công cụ hữu ích giúp phân biệt
được từng S suis phân lập được, hoặc tìm ra căn nguyên của bệnh nhiễm
trùng hoặc có sự đảm bảo đúng chủng gây bệnh khi sử dụng vaccine phòng bệnh, còn khi phân lập plasmid cho phép phân tích một số chủng thuộc
serotype 2 Từ đó giải thích được tính đa dạng tồn tại trong số các chủng S
suis phân lập được và thậm chí cả với những chủng S suis này thuộc cùng
một serotype
Ngoài ra cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh do vi khuẩn khác như đóng dấu lợn, phó thương hàn, Glasser…
Trang 312.1.3.5 Phòng bệnh do Streptococcus suis gây ra trên lợn và ở người
Chủ yếu là phương pháp phòng bệnh chung, phương pháp phòng bệnh
đặc hiệu chưa thật sự hiệu quả
Khi có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý đúng như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm: Cách ly lợn ốm để điều trị, lợn ốm chết phải chôn, đổ thuốc sát trùng hoặc tiêu huỷ, chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại Đối với vùng có lợn bệnh cần theo dõi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời cho đến khi khỏi hẳn bệnh mới cho nhập đàn Cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn tập trung khi có dịch bệnh ở lợn xảy ra
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Nội (1989) đã chế tạo được vaccine Salsco đa giá, vô hoạt, bổ trợ keo phèn, bao gồm các chủng vi khuẩn đường ruột là:
Salmonella, E coli và Streptococcus, tiêm cho lợn con 21 ngày tuổi để phòng
bệnh tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ bảo hộ đạt 70 - 80%, vaccine dùng rộng rãi trong cơ sở chăn nuôi
Khương Bích ngọc (1996)[12] qua ngiên cứu bệnh cầu khuẩn ở lợn đã chế tạo vaccine cầu khuẩn có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt bảo
hộ cao
Phòng bệnh bằng kháng sinh cũng đem lại hiệu quả Vi khuẩn S suis rất
mẫn cảm với các loại kháng sinh, nhưng cũng rất dễ kháng kháng sinh trong
Trang 32quá trình phòng bệnh và điều trị Vì vậy cần thận trọng khi dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh Khi dùng bằng cách cho ăn hoặc cho uống cần chú ý: hiệu lực, đường đi của thuốc…
Vi khuẩn có xu hướng kháng với các loại thuốc Tetracycline và Sulfonamide (Trịnh Phú ngọc, 2001) [10]
* Phòng bệnh lây sang người:
Cần tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng về bệnh liên cầu lợn để người dân tự nhận biết và phòng tránh, đặc biệt cần phổ biến cho nhóm những người
có nguy cơ mắc bệnh cao như nông dân nuôi lợn, công nhân ở trang trại lợn, thợ giết mổ lợn, người bán thịt lợn tươi sống và cả những người nội trợ…về những nội dung sau:
Không mua, bán lợn bệnh, không mua, bán, ăn thịt lợn không rõ nguồn gốc, không giết mổ lợn bệnh, không ăn thịt lợn tái, không ăn tiết canh, nội tạng lợn chưa nấu chín, không ăn thịt lợn ốm, chết
Nên chọn mua thịt đã qua kiểm định của cơ quan thú y, những người có vết thương hở phải đeo găng tay khi tiếp xúc với thịt lợn sống hoặc tái; phải rửa sạch tay và các dụng cụ chế biến sau khi tiếp xúc với thịt lợn, dùng riêng các dụng cụ chế biến thịt sống và thịt chín; giữ các dụng cụ chế biến ở nơi sạch sẽ và rửa tay sau khi chế biến thịt lợn
Người giết mổ, tiêu huỷ lợn bị bệnh phải có biện pháp đề phòng bệnh liêu cầu khuẩn lây sang người như sau: những người có tổn thương ở tay, chân, bệnh ngoài da không được giết mổ lợn Phải có trang bị bảo hộ tối thiểu khi giết mổ lợn như găng tay, khẩu trang Sau khi giết mổ lợn phải rửa chân, tay bằng nước xà phòng đề phòng bệnh lây sang người
Khi có các biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao đột ngột trên một người
có làm thịt lợn ốm, lợn chết…, cần phải đến khám ngay tại các cơ sở chuyên môn
và khai báo cho bác sĩ biết những yếu tố liên quan để điều trị kịp thời
Trang 33Các bệnh viện và cơ sở y tế cần lưu ý phát hiện sớm các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nhiễm trùng và có tiếp xúc gần với lợn bị bệnh, chẩn đoán
và điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ tử vong do biến chứng gây ra Tăng cường giám sát bệnh trên lợn, có biện pháp xử lý triệt để nguồn lợn bị bệnh, tránh lây lan sang người Hiện tại bệnh chưa có vắc xin phòng bệnh ở người Một vài nước đã nghiên cứu phát triển vaccine để phòng bệnh cho vật nuôi và người như các loại vắc xin sản xuất từ vi khuẩn bị làm chết, vi khuẩn còn sống giảm độc lực, vaccin điều chế từ protein của vi khuẩn tuy nhiên hiệu quả chưa được đánh giá đầy đủ
2.1.3.6 Điều trị bệnh do Streptococcus suis gây ra
Việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị bệnh do S suis gây ra phải
dựa trên một số tiêu chí như khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng
S suis phân lập được, dạng nhiễm trùng, serotype của vi khuẩn, đường đưa
thuốc Khả năng mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh là khác nhau
Trước hết là điều trị hỗ trợ với các biện pháp hồi sức tích cực, nhiễm Liên cầu lợn là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh vẫn là thuốc điều trị đặc hiệu, trong đó penicillin là thuốc được lựa chọn để điều trị bệnh này, có thể khỏi bệnh hoàn toàn và tránh được tử vong Tuy nhiên tình trạng kháng penicillin của vi khuẩn cũng đã được ghi nhận Trong trường hợp vi khuẩn đã kháng penicillin, các kháng sinh khác thuộc nhóm Beta Lactamin được điều trị thay thế cho lợn bệnh
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Vi khuẩn S suis được biết là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh lây lan ở
lợn Các bệnh thường gặp như: Viêm khớp, nhiễm trùng máu, viêm màng não, viêm ngoại tâm mạc, viêm nội tâm mạc, viêm thanh dịch, viêm phổi Đôi