74ha; khu vực trồng hoa, cây cảnh tại khu vực bắc sông Hoàng và phục hồi một phần diện tích mặt nước tạo lại một phần diện mạo cảnh quan xưa… Câu3 Trong cuộc kháng chiến chống thực dân P
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THPT
- -BÀI DỰ THI
EM YÊU LỊCH SỬ XỨ THANH
Họ và tên: Lớp:
, năm 2016
Trang 2Câu 1: Lê Thánh Tông tự là Tư Thành có tên huý là Hạo, con trai út của
Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Giao - con gái Thái Bảo Ngô Từ Lê Tư Thành sinh ra tại chùa Huy Văn - nay ở phía trong ngõ Văn Chương, phố Tôn Đức Thắng (Hàng Bột cũ), Hà Nội Sống giữa chốn dân gian từ nhỏ đến năm lên
4 tuổi Mẹ Nhân Tông khi đó đang buông rèm nghe chính sự, cho đón Tư Thành
về ở trong cung rồi phong làm Bình Nguyên vương hằng ngày cùng vua Nhân Tông và các vương hầu khác học tập tại toà Kính Diên Tư Thành chăm chỉ học tập, dáng dấp đoan chính, thông tuệ hơn người, được vua Nhân Tông rất yêu quý
Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất - 1442 Ngày 6 tháng 6 năm Canh Thìn - 1460, các quan đại thần phế truất Nghi Dân, rước Tư Thành - lúc đó 18 tuổi - lên ngôi vua
Lê Thánh Tông hết lòng chăm lo việc nước: mở khoa thi, kén chọn hiền tài, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, mở mang ngành nghề, mở rộng giao lưu buôn bán, ban hành chế độ quân điền, coi trọng việc bảo vệ biên giới quốc gia Bản đồ biên giới quốc gia Đại Việt được hoàn thành dưới triều Lê Thánh Tông
Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang niên hiệu vua Lê Thánh Tông còn lại cho đến nay là một trong những bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời phong kiến nước ta
Bộ Đại việt sử ký toàn thư do sử quan Ngô Sĩ Liên biên soạn năm Kỷ Hợi
- 1479 dưới sự chỉ đạo của vua Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông còn lập ra Hội Tao Đàn gồm 28 ông tiến sĩ giỏi văn thơ nhất nước thời đó gọi là "Tao Đàn nhị thập bát tú" do nhà vua làm nguyên suý
Năm 1497, Lê Thánh Tông mất, ở ngôi 37 năm, thọ 56 tuổi, táng ở Chiêu Lăng
Trang 3Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội, là kinh đô của nhà nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam thời đó), dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên và của nhà nước Vạn Xuân (tên nước Việt Nam thời đó) dưới thời Ngô Quyền thế kỷ X sau Công nguyên.
Nhắc đến Cổ Loa, người ta nghĩ ngay đến truyền thuyết về An Dương Vương được thần Kim Quy bày cho cách xây thành, về chiếc lẫy nỏ thần làm từ móng chân rùa thần và mối tình bi thương Mỵ Châu – Trọng Thủy Đằng sau những câu chuyện thiên về tâm linh ấy, thế hệ con cháu còn khám phá được những giá trị khảo cổ to lớn của Cổ Loa
Địa điểm Cổ Loa chính là đất Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân cư đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực
từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng
Thành được xây dựng kiểu vòng ốc (nên gọi là Loa thành) tương truyền
có tới 9 vòng, dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước thuyền bè đi lại được Ngày nay ở cổ Loa còn lại 3 vòng thành đất: Thành Ngoài (8km), Thành Giữa (hình đa giác, chu vi 6,5km) và Thành Trong (hình chữ nhật, chu vi 1,6km) Thân thành ngày nay còn có chiều cao trung bình từ 4-5m, có chỗ còn cao tới 12m, chân thành rộng tới 20-30m Các cửa của 3 vòng thành cũng được bố trí rất khéo; không hề nằm cùng trên một trục thẳng mà lệch chéo đi rất nhiều Do
đó đường nối hai cửa thành ở cùng một hướng đều là một đường quanh co, lại
có ụ phòng ngự ở hai bên nên gây rất nhiều trở ngại cho quân địch khi tiến đánh thành
Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy
Trang 4Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có năm cửa ở các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hồng
Thành ngoại cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000m, cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m)
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn Các vòng hào đều thông với nhau
và thông với sông Hoàng Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ
Qua các giai đoạn lịch sử, Cổ Loa có rất nhiều tên: Loa thành (thành ốc), thành Côn Lôn, thành Tư Long, Cửu thành, Thành Việt Vương, thành Khả Lũ,
Cổ Loa thành Đến thế kỷ thứ X, thời kỳ Ngô Quyền làm vua, Cổ Loa lại trở thành kinh đô lần thứ hai
Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn
để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn
bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè
Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc Các đoạn thành ven sông, ven
Trang 5đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới
2 km² Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m,
có chỗ cao đến 8 m-12 m Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối
Năm 1962, Cổ Loa được xếp hạng di tích lịch sử – văn hoá cấp nhà nước
Nó có đầy đủ các loại hình di tích: Đình, đền, chùa, am, miếu Trong đó hàm chứa biết bao giá trị văn hoá Việt Nam qua bao thế hệ
Trong khu vực Thành Nội còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật: Khu đền Thượng thờ An Dương Vương, khu đình Ngự triều di quy,
am thờ Mỵ Châu và chùa Bảo Sơn với hàng trăm pho tượng…
Các nhà khảo cổ học còn trưng bày ở đây rất nhiều hiện vật quý giá của người Việt cổ đã khai quật được trong lòng đất Cổ Loa: Trống đồng Cổ Loa, tiền đồng, rìu đồng, hàng nghìn mũi tên đồng, lưỡi cày, các vật dụng bằng gốm, đất nung,…
Hàng năm, lễ hội Cổ Loa tưởng nhớ vua An Dương Vương được tổ chức vào mùa xuân, ngày mồng 6 tháng giêng Có 8 làng trong xã Cổ Loa tổ chức rước kiệu truyền thống tụ về sân đình Cổ Loa, dâng lễ, thể hiện tấm lòng thành
Trang 6kính đối với vị vua có công lao to lớn trong việc dựng nước và giữ nước, chỉ đứng sau các vua Hùng
Hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (năm 2010), Cổ Loa đang từng bước được tu bổ, tôn tạo để xứng đáng với Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thành phố Hà Nội đã lập dự án “Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng di tích khu thành Cổ Loa”
Khu di tích Cổ Loa theo quy hoạch mới sẽ gồm:
khu di tích thành Cổ Loa, khu tưởng niệm An Dương Vương và các di tích lịch sử văn hoá khác, với tổng diện tích hơn 830 ha thuộc địa phận các xã
Cổ Loa, Việt Hùng, Dục Tú, Uy Nỗ Phía tây bắc giới hạn bởi đường quy hoạch nối khu đô thị 34 (dự kiến) đi khu công nghiệp Đông Anh, phía đông bắc được giới hạn bởi đường Cổ Loa – Yên Viên, phía nam và tây nam giới hạn bởi đường liên khu vực huyện Đông Anh
Quy hoạch khu di tích Cổ Loa sẽ được thực hiện đến năm 2020 với các khu quy hoạch chính:
Khu vực di tích thành: Các vòng thành bao gồm luỹ và hào được bảo vệ chống sự xâm phạm, vòng thành nội sẽ được tôn tạo lại toàn bộ với chiều dài hơn 1.700m Thành ngoại và thành trung sẽ tôn tạo lại một số đoạn đã xuống cấp để phục vụ việc khai thác di tích, các đoạn tôn tạo chủ yếu tập trung tại 8 cửa ra vào
Khu trung tâm di tích Cổ Loa bao gồm: khu vực sân tiếp đón đặt tại phía nam của thành nội; khu vực trung tâm thành nội sẽ hình thành một không gian tập trung của toàn bộ khu di tích với quy mô 5 ha để có thể bố trí các công trình bảo tàng trưng bày các di chỉ khảo cổ, tổ chức các hoạt động lễ hội văn hoá làm sống lại các phong tục tập quán của người Việt…
Khu vực các di tích kiến trúc như: đình, chùa, mộ Mỵ Châu… được đầu
tư để tôn tạo Khu vực các di chỉ khảo cổ chính Đồng Vông, Bãi Mèn và Đường Mây sẽ được xây dựng thành các bảo tàng tàng… Khu vực sẽ phát triển mới để
hỗ trợ khu di tích gồm: Công viên tại phía nam khu vực di tích với quy mô hơn
Trang 774ha; khu vực trồng hoa, cây cảnh tại khu vực bắc sông Hoàng và phục hồi một phần diện tích mặt nước tạo lại một phần diện mạo cảnh quan xưa…
Câu3
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa
là tỉnh đất rộng, người đông, cùng với 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành hậu phương Thanh – Nghệ - Tĩnh, trong đó Thanh Hóa là tỉnh địa đầu của miền Trung, là hậu phương trực tiếp của chiến trường Liên khu III, Bắc Bộ và Tây Bắc.
Mùa hè năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang năm thứ
8 Cục diện chiến trường Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng Tại chiến trường Bắc Bộ, Tây Bắc, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch lớn Mọi nhu cầu bảo đảm cho cuộc kháng chiến đòi hỏi rất lớn ở hậu phương
Những tháng cuối năm 1953, hậu phương Thanh Hóa vừa phải ra sức đẩy mạnh mọi mặt công tác xây dựng và bảo vệ hậu phương, vừa tích cực động viên sức người, sức của cho tiền tuyến đánh thắng Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, từ năm 1951-1953, quân và dân Thanh Hóa liên tiếp bổ sung lực lượng, phục vụ 5 chiến dịch lớn: Trung Du, Quang Trung, Hòa Bình, Tây Bắc và Thượng Lào Đặc biệt chiến dịch Thượng Lào tháng 5-1953, Thanh Hóa bảo đảm tới 76% nhu cầu của cả chiến dịch
Thực hiện nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953 - 1954, ngày 6-12-1953,
Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chiến dịch này là chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà
cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế Vì vậy, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải tập trung hoàn thành cho kỳ được” (Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12 -1953)
Quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu diệt toàn
bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã trở thành ý chí, hành động
cụ thể của quân và dân ta
Trang 8Thực hiện kế hoạch của Bộ Chính trị, các binh đoàn chủ lực của ta lần lượt rời hậu phương Thanh Hóa để dồn sức cho chiến dịch Các Đại đoàn 304,
320, 316 và một số trung đoàn của bộ đang đứng chân tác chiến bảo vệ Thanh Hóa và vùng tự do Liên khu III lần lượt hành quân lên Tây Bắc, sang Lào chuẩn
bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ Bảo vệ Thanh Hóa lúc này do lực lượng vũ trang trong tỉnh đảm nhiệm
Từ trung tuần năm 1953 đến đầu năm 1954, khi biết quân và dân ta đang chuẩn bị mở các chiến dịch lớn tại Lai Châu, Tây Bắc, Thượng Lào và đang ráo riết tập trung cho chiến dịch Điện Biên Phủ, thực dân Pháp vừa tăng cường đối phó với ta ở chiến trường Tây Bắc, vừa cho máy bay, tàu chiến bắn phá, càn quét dữ dội vào Thanh Hóa nhằm buộc ta chi phối lực lượng và chia cắt hậu phương Thanh – Nghệ - Tĩnh với chiến trường chính Tây Bắc và Lào Ngày 15
và 16-10-1953, Na-va mở cuộc hành binh Hải Âu đánh ra Tây Nam Ninh Bình
và cuộc hành binh “con bồ nông” đánh vào vùng biển Thanh Hóa 6 tháng cuối năm 1953 và những tháng đầu năm 1954, thực dân Pháp cho quân đổ bộ, càn quét hơn 10 lần vào các huyện Nga Sơn, Hà Trung, Hoằng Hóa, Quảng Xương
và Tĩnh Gia Trận càn ít nhất là 100 tên, nhiều nhất là hơn 3.000 tên
Để phân tán lực lượng của địch hỗ trợ cho chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện chia lửa với chiến trường Bắc Bộ, Tây Bắc, quân, dân Thanh Hóa tổ chức những trận tập kích vào các đồn bốt ở Chính Đại, Mai An Tiêm, Vân Hải thuộc các xã phía bắc huyện Nga Sơn để kìm chân địch không để chúng ra ứng cứu cho chiến trường Bắc Bộ và Tây Bắc Tại các huyện Hà Trung, Quảng Xương, Tĩnh Gia, các đại đội bộ đội địa phương đã cùng dân quân du kích tổ chức lực lượng chống càn quét bảo vệ địa phương
Đầu tháng 12-1953, công cuộc chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ được tiến hành ráo riết Lực lượng vũ trang Thanh Hóa một mặt phải tổ chức chiến đấu bảo vệ địa phương, mặt khác phải tích cực chi viện cho chiến trường thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” Công tác tuyển quân không chỉ một năm 1 đợt, 2 đợt mà có năm lên tới 3, 4 đợt, lúc nào
Trang 9tiền tuyến cần, lúc đó có hậu phương chi viện Năm 1953 và 6 tháng đầu năm
1954, Thanh Hóa có 18.890 thanh niên nhập ngũ, bằng quân số nhập ngũ 7 năm
về trước (1946-1953)
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng thông qua quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ và cũng bắt đầu huy động lực lượng dồn sức cho Điện Biên Phủ Đáp ứng cho chiến dịch, Thanh Hóa đã nhanh chóng củng cố nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, nhất là lực lượng bộ đội địa phương để kịp thời chi viện cho chiến trường Điện Biên Phủ Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa
đã bổ sung nhiều đơn vị ra chiến trường như Tiểu đoàn 275 bộ đội địa phương tỉnh cho Trung đoàn 53, các Đại đội 150, 160 cho Tiểu đoàn 541 phòng không,
2 trung đội trinh sát cho Đại đoàn 304 Ngoài ra Thanh Hóa còn điều động hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 128 bộ đội huyện Bá Thước, 112 bộ đội huyện Tĩnh Gia, các đơn vị của Hoằng Hóa, Hà Trung, Quảng Xương, Thạch Thành cho các đơn vị tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ
Ngày 13-3-1954, bộ đội ta bắt đầu nổ súng tiêu diệt cứ điểm Him Lam và Độc Lập, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ
Phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ, tại Nga Sơn, quân và dân Thanh Hóa ra sức đẩy mạnh tiến công quân sự để kìm chân địch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch Mặt khác các tổ dân vận, địch vận vẫn tăng cường tuyên truyền hoạt động khuyếch trương chiến thắng của ta trên chiến trường Điện Biên, làm lung lay tinh thần và làm tan rã hàng ngũ địch
Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tin chiến thắng nhanh chóng đến với quân và dân Thanh Hóa, lực lượng vũ trang tỉnh tích cực khuyếch trương chiến thắng, các tổ dân vận, địch vận đẩy mạnh công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nói rõ âm mưu thủ đoạn của địch, kêu gọi binh lính địch đóng tại các đồn Điền Hộ, Mai An Tiêm hạ vũ khí đầu hàng Đồng thời, các đại đội bộ đội địa phương tổ chức các đợt tấn công truy quét, buộc địch phải đầu hàng
Trang 10Thất bại trên chiến trường chính Điện Biên Phủ, buộc địch phải rút khỏi Nga Sơn, bị tiêu diệt nặng trong các trận càn quét vào bờ biển phía nam Thanh Hóa, âm mưu phá hậu phương Thanh Hóa bị thất bại hoàn toàn Ngày 7-8-1954, thực dân Pháp phải rút khỏi đảo Hòn Mê, chấm dứt sự có mặt của quân Pháp ở Thanh Hóa
Sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một số lượng lớn sinh lực địch
và phương tiện chiến tranh, giải phóng vùng đất đai có ý nghĩa chiến lược
Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh ngoại giao của ta đi tới kết thúc cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Chiến thắng Điện Biên Phủ
đã trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân thế giới
Chiến thắng Điện Biên Phủ là nguồn cổ vũ, động viên quân và dân Thanh Hóa chiến đấu bảo vệ địa phương, dồn sức chi viện cho chiến trường Trong chiến dịch, Thanh Hóa đã thể hiện rõ vai trò hậu phương chiến lược quan trọng của Điện Biên Phủ Lực lượng vũ trang Thanh Hóa đã bổ sung 1 tiểu đoàn, 2 đại đội, 2 trung đội và hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tham gia chiến đấu Tinh thần xả thân chiến đấu ngoan cường của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Thanh Hóa trên mặt trận là biểu tượng tốt đẹp rực sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Thanh Hóa có
5 đồng chí được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đó là: Anh hùng liệt sĩ Trần Đức, xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia; anh hùng liệt sĩ Lê Công Khai, xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hóa; anh hùng liệt sĩ Trương Công Man, xã Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy; anh hùng Lò Văn Bường, xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân; tiêu biểu là anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện, Tiểu đội trưởng Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo cao
xạ 367, quê xã Nông Trường, huyện Nông Cống đã lấy thân mình cứu pháo