TTCK phát triển ở một trình độ cao là tiền đề để hoạt động môi giới cóthể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài chính.Ngược lại, trong một môi trường Tài chính còn
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới của Công ty TNHH Chứng khoán ACB
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S CAO MINH TIẾN
SINH VIÊN : NGÔ QUANG HOÀN
LỚP : CQ48.17.02
SĐT : 0987892138
Gmail: quanghoan1368.hvtc@gmail.com
ĐƠN VỊ THỰC TẬP: CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB
Địa chỉ : số 29 Huỳnh Thúc Kháng, Quận Đống Đa, Hà Nội
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tếcủa đơn vị thực tập
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Ngô Quang Hoàn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của công ty 34
2.2.2.Đánh giá lợi nhuận hoạt động môi giới 45
2.2.3 Đánh giá doanh thu hoạt động môi giới 51
2.2.4 Đánh giá chi phí hoạt động môi giới 55
KẾT LUẬN 75
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTCK Công ty chứng khoán
TTCK Thị trường chứng khoán
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
HĐKD Hoạt động kinh doanh
UBCK Ủy ban chứng khoán
NVMG-TVĐT Nhân viên môi giới tư vấn đầu tư
HĐQT Hội đồng quản trị
TGĐ Tổng giám đốc
M&A Mua bán và sát nhập
ACBS Công ty TNHH chứng khoán ACB
SSI Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn
FPTS Công ty cổ phần chứng khoán FPT
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HSX, HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
Bảng 2.1: kết quả hoạt động kinh doanh của ACBS từ 2011-2013 40
Bảng 2.2: Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của ACBS từ 2011-2013 41
Trang 5Bảng 2.3: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm
2012-2013 trên sàn HOSE 43Bảng 2.4: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm 2012-
2013 trên sàn Hà Nội 43Bảng 2.5: Doanh thu thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ năm 2010-
2011 trên sàn HOSE 44Bảng 2.6: Lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán của 3 CTCK 46Bảng 2.7: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán trên tổng lợi nhuận gộp của 3 CTCK 47Bảng 2.8: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môi giới của ACBS qua các năm 49Bảng 2.9: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môi giới của 3 CTCK 50Bảng 2.10: Tình hình tăng trưởng tỷ trọng doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán của ACBS 53Bảng 2.11: Tỷ trọng doanh thu môi giới trên tổng doanh thu hoạt động kinh doanh qua các năm của 3 CTCK 54Bảng 2.12: Tốc độ tăng trưởng doanh thu và chi phí của ACBS qua các năm 55
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1:Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH chứng khoán ACB…… … 34Hình 2.2: Thị phần môi giới cổ phiếu và chứng chỉ quỹ của ACBS trên HOSEqua các năm……….45Hình 2.3: Lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán của 3 CTCK……….46Hình 2.4: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới chứng khoán trên tổng lợinhuận gộp của 3 CTCK………48Hình 2.5: Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môigiới của 3 CTCK………50Hình 2.6: Doanh thu hoạt động môi giới qua các năm của 3 CTCK………51
Trang 6Hình 2.7: Doanh thu hoạt động môi giới của ACBS qua các năm………… 52Hình 2.8: Tình hình tăng trưởng tỷ trọng doanh thu hoạt động môi giới chứngkhoán của ACBS……….….53Hình 2.9: Tỷ trọng doanh thu môi giới trên tổng doanh thu hoạt động kinhdoanh qua các năm của 3 CTCK……… ….54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để tài
Thị trường chứng khoán là một phần cơ bản của nền kinh tế thị trườnghiện đại, nó đang được phát triển rộng khắp trên thế giới Trong quá trình hoạtđộng lâu dài, thị trường chứng khoán ngày càng thể hiện vai trò quan trọng: làkênh dẫn vốn hấp dẫn, hiệu quả cho nền kinh tế, đồng thời là nơi cung cấp cácsản phẩm tài chính đa dạng cho các nhà đầu tư
TTCK phát triển ở một trình độ cao là tiền đề để hoạt động môi giới cóthể đảm nhận tốt chức năng cung cấp các dịch vụ và sản phẩm tài chính.Ngược lại, trong một môi trường Tài chính còn thô sơ, sự xuất hiện và pháttriển hoạt động môi giới Chứng khoán sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phát triển vàhoàn thiện thị trường Chứng khoán nói riêng và thị trường Tài chính nóichung trên thế giới
Ở Việt Nam, Thị trường chứng khoán còn là một lĩnh vực khá mới mẻđối với công chúng Làm thế nào để công chúng đầu tư có thể tiếp cận mộtcách dễ dàng và hiệu quả với Thị trường chứng khoán, góp phần thu hút ngàycàng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tư phát triển Trải quahơn 13 năm vận hành an toàn, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có nhiềudấu hiệu chuyển biến tích cực, quy mô của thị trường được mở rộng, lòng tincủa nhà đầu tư gia tăng Thị trường phát triển tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũngkhông ít những thách thức đối với các thành viên tham gia Các thành viêntham gia, mà chủ chốt là các Công ty chứng khoán luôn cần hòa nhịp với thịtrường Năm 2013, Theo số liệu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các chỉ sốgiá chứng khoán đều tăng so với cuối năm 2012 Tại ngày 24/12, Vn-Indextăng 22,2% trong khi HNX-Index là 19,32%.Sự gia tăng của các chỉ số chứngkhoán trong năm 2013 đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có
độ phục hồi mạnh nhất thế giới Mức vốn hoá thị trường năm nay cũng tăng
Trang 8gần 200.000 tỷ đồng so với một năm trước, đạt khoảng 964.000 tỷ, tươngđương 31% GDP.Năm 2013, thị trường từng được dự báo phải chứng kiến sựthoái lui của nhà đầu tư nước ngoài Nhưng trên thực tế, tổng dòng vốn nướcngoài luân chuyển năm qua vẫn tăng 54% và giá trị danh mục cao hơn 3,8 tỷUSD so với cuối năm 2012 Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,27triệu, trong đó khối ngoại tăng 55%.
Năm 2014, Thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng hơn 100Công ty chứng khoán đang hoạt động Việc gia tăng số lượng các Công tychứng khoán càng tạo thêm những áp lực cạnh tranh đối với các thành viêntrên thị trường Để đảm bảo có thể cạnh tranh, các Công ty chứng khoán phảitạo dựng được vị thế của mình trên thị trường và phải nâng cao được tiềm lựctài chính Hoạt động môi giới chứng khoán (MGCK) là một trong những hoạtđộng quan trọng nhất đối với một Công ty chứng khoán
Vì lý do đó, việc tìm hiểu hiệu quả của hoạt động môi giới Chứng khoán làrất cần thiết Cùng với nhận thức trên, sau một thời gian thực tập tại công ty
TNHH chứng khoán ACB, em đã chọn đề tài nghiên cứu là: " giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới của Công ty TNHH Chứng khoán ACB " làm chuyên đề tốt nghiệp.
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu với 3 mục tiêu cơ bản :
Thứ nhất, mục tiêu đề tài nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận vềhoạt động kinh doanh của CTCK, hoạt động môi giới chứng khoán
Thứ hai, khái quát quá trình hình thành và phát triển của công tyTNHH chứng khoán ACB Phân tích, đánh giá về hiệu quả hoạt động môigiới chứng khoán của công ty
Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động môigiới chứng khoán của Công ty TNHH Chứng Khoán ACB
Trang 93.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động môi giới của Công tyTNHH Chứng Khoán ACB và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngmôi giới chứng khoán của công ty
Phạm vi nghiên cứu là hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công tyTNHH Chứng Khoán ACB từ năm 2011 – 2013 từ nhiều nguồn
4.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này dựa trên các phương pháp nghiên cứu như: Phươngpháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,phương pháp so sánh - tổng hợp
Trang 10CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) hoạt động nhằm huy động nhữngnguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợcho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất,tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư Thị trường chứng khoán là nơidiễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bánđược tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp do vậy thị trường chứngkhoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, mộtyếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thịtrường Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là tạo nên kênhhuy động vốn dài hạn cho nền kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loạichứng khoán Thị trường chứng khoán không giống như các thị trường hànghóa thông thường khác vì hàng hóa của thị trường là các loại chứng khoán-một loại hàng hóa đặc biệt Với loại hàng hóa này người mua bán không trựctiếp có thể mua bán do chứng khoán chỉ là loại hàng hóa có giá trị chứ không
có giá trị sử dụng nên không thể đánh giá cũng như nhận xét được loại hànghóa này có thực sự là tốt hay xấu Do vậy công ty chứng khoán ra đời làmtrung gian mua bán giữa người mua và người bán Để thúc đẩy thị trườngchứng khoán phát triển, hoạt động có hiệu quả, trật tự và công bằng thì phải
có công ty chứng khoán
Vậy, ‘ Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thịtrường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt độngchủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để
Trang 11hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn đầu tư và quản
lý quỹ đầu tư’
1.1.2 Mô hình và hình thức pháp lý của công ty chứng khoán
1.1.2.1 Mô hình công ty chứng khoán
Hiện nay trên thế giới tồn tại 2 mô hình tổ chức của công ty chứng khoán:
Mô hình công ty chứng khoán đa năng
Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau:
Loại đa năng một phần:theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ Mô hình này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu Anh
Loại đa năng hoàn toàn:các ngân hàng được phép trực tiếp kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng nhưcác dịch vụ tài chính khác Mô hình này còn được gọi là mô hình ngânhàng kiểu Đức
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnhvực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăngkhả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trườngtài chính Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổchức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ vềkhách hàng cũng nhưcác doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tíndụng và tài trợ dự án
Trang 12Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức tín dụng là vừa là tổ chức kinh doanh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên môn không sâu nhưcác công ty chứng khoán chuyên doanh Điều này sẽ làm cho thị trường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện cácnghiệp vụ của thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứngkhoán, tư vấn đầu tưchứng khoán, quản lý danh mục đầu tư.
Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt độngkinh doanh chứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lànhmạnh, các ngân hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đócác biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanhtiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính.Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên cácngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cưđể đầu tư chứngkhoán, và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tácđộng tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mấtkhả năng chi trả Do những hạn chế nhưvậy, nên sau khi khủng hoảng thịtrường tài chính 1929-1933, các nước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh,chỉ có một số thị trường (như Đức) vẫn còn áp dụng mô hình này
Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công
ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển Mô hình này
Trang 13được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ, Nhật và các thị trườngmới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan…vv
Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiềulĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành các công
ty mẹ, công ty con và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tươngđối độc lập với nhau
1.1.2.2 Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán , đólà: công ty hợp danh; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần
Công ty hợp danh
Loại hình kinh doanh: từ 2 chủ sở hữu trở nên
Thành viên của công ty chứng khoán hợp danh bao gồm: thành viêngóp vốn và thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu tráchnhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Cácthành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty, họ chỉ phải chịu tráchnhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ củacông ty.Công ty hợp danh thông thường không được phép phát hành bất cứmột loại chứng khoán nào
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty
là các cổ đông Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công
ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra côngchúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 14Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kếtgóp vào doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phépphát hành cổ phiếu.
Do các ưu điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty trách nhiệmhữu hạn so với công ty hợp danh, vì vậy, hiện nay chủ yếu các công ty chứngkhoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty
cổ phần
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán
Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán
Đối với các tổ chức phát hành. Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục
vụ các nhà phát hành
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán
Đối với các nhà đầu tư.Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn
đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí
Trang 15cho người mua và người bán Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao
sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
Đối với thị trường chứng khoán. Đối với thị trường chứng khoán,công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính:
(1) Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứngkhoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuốicùng, người mua và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì
họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các công tychứng khoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phầntạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, cáccông ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên.Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự thamgia định giá của các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường
(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tínhthanh khoản của các tài sản tài chính Nhưng các công ty chứng khoánmới là người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chếgiao dịch trên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạtđộng như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán
Trang 16không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanhcho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tàichính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bángiao dịch trên thị trường cấp 2 Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yêntâm cho người đầu tư Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịchmua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứngkhoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động đó có thể làm tăngtính thanh khoản của những tài sản tài chính.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường.
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứngkhoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó Các công
ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnhphát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán
và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầu của thịtrường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sựgiám sát của các cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa làquy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công
ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khaitrong hoạt động Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồmthông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu.trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tưv.v .Nhờ cácthông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống cáchiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu
tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị
Trang 17trường chứng khoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán.
1.1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.
Môi giới chứng khoán
Môi giới là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứngkhoán đứng ra làm đại diện cho khách hàng thực hiện giao dịch thông qua cơchế giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC
Đây là nghiệp vụ chủ yếu của công ty chứng khoán, nghiệp vụ này baogồm thực hiện lệnh giao dịch mua bán chứng khoán cho khách hàng, thanhtoán và quyết toán các giao dịch Để thực hiện nghiệp vụ môi giới đòi hỏicông ty chứng khoán phải có tín nhiệm, phải được khách hàng tin cậy, phải cónăng lực kinh nghiệm nghề nghiệp, phải có khả năng phân tích tài chínhdoanh nghiệp để tư vấn cho các nhà đầu tư
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán thu phí môigiới từ khách hàng Phí môi giới thường được tính theo tỷ lệ phần trăm củatổng giá trị giao dịch
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là cam kết giữa tổ chức bảo lãnh pháthành và tổ chức phát hành về việc sẽ bán hết hoặc bán một phần số lượngchứng khoán dự định phát hành
Nghiệp vụ được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia giỏi về chứng khoán,
am hiểu thị trường và có năng lực tài chính.vì vậy, thông qua tổ chức bảolãnh phát hành, rủi ro đợt phát hành sẽ giảm Các công việc cần làm như: tưvấn tài chính cho nhà phát hành, giúp nhà phát hành thực hiện các thủ tụctrước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và bình
ổn giá chứng khoán trong thời gian đầu sau đợt phát hành chứng khoán Tổchức bảo lãnh chịu trách nhiệm mua và chào bán chứng khoán của tổ chức
Trang 18phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng phí bảo lãnhphát hành hay một tỷ lệ hoa hồng trên số tiền thu được Phí bảo lãnh là mứcchênh lệch giữa giá bán chứng khoán cho người đầu tư và số tiền tổ chứcphát hành nhận được.
Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh mà công ty chứngkhoán tự mua bán chứng khoán cho chính mình để hưởng lợi nhuận từ việcđầu tư chứng khoán mang lại như chênh lệch giá chứng khoán, cổ tức, cácquyền khác kèm theo việc sở hữu chứng khoán
Ở nghiệp vụ này công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà đầu tư trênthị trường phải tự gánh chịu những rủi ro từ quyết định mua bán chứngkhoán của mình Đối với một số thị trường hoạt động tự doanh của công tychứng khoán được gắn liền với hoạt động tạo lập thị trường Các công tychứng khoán được thực hiện nghiệp vụ tự doanh thông qua việc mua bántrên thị trường có vai trò định hướng và điều tiết hoạt động của thị trường,
góp phần bình ổn giá cả trên thị trường.
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu
về lĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng
Hoạt động này đòi hỏi phải có chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vựcnày để có thể phân tích, dự báo, đưa ra những lời khuyên cho khách hàng đểkhách hàng tham khảo và đưa ra quyết định đầu tư của mình Nhà tư vấnkhông chịu trách nhiệm về hậu quả các quyết định của nhà đầu tư Tùy vàotừng loại hình tư vấn và thông tin mà nhà tư vấn cung cấp cho khách hàng màkhách hàng có thể phải trả các khoản phí
Các hoạt động phụ trợ:
Trang 19Lưu ký chứng khoán: là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứngkhoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sởhữu chứng khoán.
Quản lý thu nhập khách hàng (quản lý cổ tức): xuất phát từ việc lưu kýchứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi tình hình thulãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tứccho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
Tín dụng(giao dich mua bán chịu): tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính
1.2.
KHOÁN
1.2.1 Khái niệm về môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoáncho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận các lệnh mua lệnh bánchứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh mua lệnh bán đó vào Sở giaodịch chứng khoán và hưởng hoa hồng môi giới
1.2.3 Vai trò của môi giới chứng khoán
Trong nền kinh tế hiện nay, hoạt động môi giới chứng khoán có vaitrò rất to lớn Nghề môi giới chứng khoán vừa là kết quả của quá trình pháttriển của nền kinh tế thị trường, vừa thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
và cải thiện môi trường kinh doanh Như vậy vai trò của môi giới chứngkhoán thể hiện ở các khía cạnh sau:
Vai trò trung gian huy động vốn, tham gia tạo kênh huy động vốnhiệu quả cho đầu tư và phát triển nền kinh tế
Thị trường chứng khoán là trung gian tài chính hoạt động trên thịtrường tài chính và nhằm huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Vớivai trò là tổ chức trung gian tài chính, công ty chứng khoán giúp cho hoạtđộng của thị trường chứng khoán được hoạt động một cách hiệu quả và ổn
Trang 20định Để thực hiện tốt vai trò này công ty chứng khoán thực hiện chức năngchủ yếu sau: tạo cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối giữa những người cónăng lực tài chính, người có nhu cầu đầu tư với những người có nhu cầu huyđộng vốn Các công ty chứng khoán thực hiện chức năng này thông qua hoạtđộng bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán; cung cấp cơ chế xác địnhgiá cho các khoản đầu tư, can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giáchứng khoán; cung cấp cơ chế chuyển các khoản đầu tư thành tiền cho cácnhà đầu tư, giảm thiểu thiệt hại cho các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứngkhoán trên thị trường chứng khoán.
Giảm chi phí giao dịch
Do lợi thế của việc chuyên môn hóa, môi giới chứng khoán giúp giảmthiểu chi phí giao dịch, chi phí tìm kiếm đối tác khi những người mua vàngười bán có thể gặp nhau trên thị trường mà không cần phải tìm kiếm, tìmhiểu thông tin về sản phẩm…
Cung cấp các thông tin và tư vấn cho khách hàng
Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới công ty chứng khoán và nhân viênmôi giới phải cung cấp cho khách hàng đầy đủ các thông tin về chứng khoán,
tư vấn thời điểm thích hợp mua bán chứng khoán… để khách hàng có thể lựachọn sản phẩm và dịch vụ phù hợp, và ra quyết định đầu tư
1.2.4 Quy trình nghiệp vụ môi giới.
Quy trình nghiệp vụ môi giới gồm 4 bước sau:
Bước 1: Mở tài khoản
Để thực hiện giao dịch mua và bán chứng khoán cho khách hàng, công
ty chứng khoán phải làm thủ tục mở tài khoản giao dịch cho từng khách hàngtrên cơ sở Giấy đề nghị mở tài khoản của khách hàng và hợp đồng ký vớikhách hàng có nội dung quy định tại các mẫu mà công ty chứng khoán soạnsẵn cho khách hàng
Trang 21Sau khi khách hàng đã ký hợp đồng mở tài khoản, nhân viên môi giớicần hướng dẫn khách hàng ký quỹ giao dịch.
Đối với những khách hàng đang sở hữu các chứng khoán mà chưa làmthủ tục lưu ký, khi muốn tiến hành giao dịch các chứng khoán này, kháchhàng cần ký hợp đồng lưu ký chứng khoán để CTCK mở tài khoản lưu ký chokhách hàng
Bước 2: Nhận lệnh của khách hàng
Lệnh giao dịch là chỉ thị của khách hàng cho công ty chứng khoán Lệnh giao dịch phải bao gồm đầy đủ các nội dung quy định theo mẫu củaCTCK Đối với mỗi lần giao dịch, khách hàng có thể đưa ra lệnh mua/ bánchứng khoán bằng cách điền vào phiếu lệnh theo mẫu in sẵn hoặc đặt lệnhtrên hệ thống giao dịch trực tuyến trên internet của CTCK hoặc đặt lệnh quađiện thoại, fax…
Bước 3: Thực hiện lệnh
Trước khi nhập lệnh vào hệ thống, CTCK cần kiểm tra lại các mục dokhách hàng điền, khi có sự tẩy xóa nhất thiết phải có sự xác nhận của kháchhàng Các phiếu lệnh cần kiểm tra đầy đủ các thông tin của một phiếu lệnh,tính hợp lệ của chữ ký, kiểm tra tính hợp lệ của lệnh về đơn vị giao dịch, đơn
vị yết giá, biên độ giao động giá,…Nhân viên môi giới cần kiểm tra xem số
dư tài khoản lưu ký chứng khoán có đủ số chứng khoán mà khách hàng đặtbán đối với các lệnh bán hoặc số dư tài khoản tiền có đủ 100% giá trị chứngkhoán đặt mua đối với các lệnh mua
Sau khi kiểm tra tính chính xác hợp lệ của phiếu lệnh, nhân viên môigiới sẽ chuyển lệnh của khách hàng vào hệ thống giao dịch của Sở giao dịchchứng khoán
Các lệnh của nhà đầu tư sau khi được nhập vào hệ thống giao dịch của
Sở sẽ được so khớp một cách tự động theo các nguyên tắc ưu tiên khi khớp
Trang 22lệnh Hệ thống giao dịch của Sở sẽ thông báo tức thời kết quả khớp lệnh đếncông ty chứng khoán khi lệnh được thực hiện CTCK sẽ xác nhận lại kết quảvới khách hàng.
Đối với các giao dịch cổ phiếu, chứng chỉ quỹ lô lớn hoặc lô lẻ và tất cảcác giao dịch trái phiếu: CTCK không áp dụng phương thức giao dịch khớplệnh mà thực hiện phương thức giao dịch thỏa thuận
Bước 4: Thanh quyết toán với khách hàng
Sau khi kết thúc ngày giao dịch, toàn bộ dữ liệu về kết quả giaodịch chứng khoán của các Sở giao dịch chứng khoán được chuyển sangTrung tâm lưu ký để tiến hành bù trừ và thanh toán Việc bù trừ thanhtoán chứng khoán tại trung tâm lưu ký sẽ được thực hiện cho từng thànhviên, theo từng thị trường
Đến ngày thanh toán, CTCK sẽ nhận được kết quả thanh toán bù trừgiao dịch chứng khoán do TTLK gửi đến, CTCK sẽ thực hiện việc thanhquyết toán với khách hàng Thanh quyết toán với khách hàng là việc thanhtoán giá trị giao dịch chứng khoán, phí giao dịch chứng khoán (gồm phí môigiới, phí môi giới lập giá, thuế giao dịch chứng khoán)
Sau đó, đối với lệnh mua, CTCK gửi cho khách hàng thông báo xácnhận về quyền sở hữu chứng khoán trên tài khoản chứng khoán của kháchhàng tại CTCK; đối với lệnh bán, CTCK gửi cho khách hàng thông báo xácnhận tiền bán CK đã được chuyển về tài khoản tiền của khách hàng tại ngânhàng chỉ định thanh toán
1.2.5 Đạo đức và kỹ năng trong nghề môi giới.
Môi giới là hoạt động yêu cầu phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức rấtchặt chẽ và người môi giới cũng cần phải có các kỹ năng để thự hiện tốt côngviệc Vì đây là bộ phận vừa đại diện cho công ty lại vừa đại diện cho kháchhàng và phải đảm bảo lợi ích cho khách hàng tránh xung đột lợi ích
Trang 23 Nội dung đạo đức nghề nghiệp đối với nhà môi giới chứng khoánNgười môi giới chứng khoán là người trực tiếp làm việc với kháchhàng, vì vậy việc đánh giá đạo đức nghề nghiệp của họ được thực hiệnthông qua thái độ ứng xử với khách hàng:
Tính tin cậy, trung thực, công bằng
Nhân viên môi giới phải cư xử với khách hàng một cách công bằngtrong việc hướng dẫn và thực hiện cho khách hàng một các bình đẳng, khôngphân biệt đối xử, sao cho khách hàng có thể sử dụng lợi ích từ thông tin củathị trường một cách đồng đều
Tính chuyên nghiệp
Nhà phân tích cần có những lời hướng dẫn rõ ràng, dựa trên cơ sởthông tin đầy đủ và công khai, phù hợp với mục tiêu đầu tư của kháchhàng Nhà môi giới phải thực hiện lệnh theo yêu cầu của khách hàng, phảithực hiện lệnh của khách hàng trước tiên
Nhà môi giới không được sử dụng tài sản hay tài khoản giao dịch củakhách hàng để mua bán chứng khoán khác thông qua tài khoản của kháchhàng Nhân viên môi giới không được có lợi ích gì lien quan đến lỗ hay lãicủa khách hàng
Trong trường hợp có xung đột lợi ích, nhân viên môi giới phải công
bố rõ ràng các thông tin liên quan đến xung đột lợi ích giữa công ty vàkhách hàng, giữa nhân viên môi giới và khách hàng
Trang 24 Tính tuân thủ
Khi thực hiện nhiệm vụ của mình người môi giới phải tuân thủ theođúng các quy định pháp luật, các quy định của công ty đã đề ra để đảm bảo thịtrường hoạt động theo nguyên tắc của pháp luật, diễn ra trôi chảy hơn tránhxảy ra những tiêu cực trong hoạt động môi giới mà các nhà môi giới lợi dụngkhe hở của pháp luật nhằm thu lợi riêng cho mình
Tính bảo mật
Trong hoạt động môi giới, nhân viên môi giới phải đảm bảo cácthông tin của khách hàng được bảo mật Không được cung cấp bất kỳ mộtthông tin nào có liên quan đến tình hình tài chính, giao dịch chứng khoáncủa khách hàng cho người khác biết trừ khi khách hàng đồng ý hoặc cơquan có thẩm quyền yêu cầu thì người môi giới mới có quyền cung cấpthông tin của khách hàng
Kỹ năng của người môi giới
Người môi giới thành công không chỉ thể hiện ở đạo đức nghề nghiệp,trình độ chuyên môn mà còn đòi hỏi phải có các kỹ năng trong quá trình làmviệc Các kỹ năng đó là:
Kỹ năng truyền đạt thông tin
Người môi giới thường xuyên và liên tục trao đổi với khách hàng củamình về những thông tin thị trường cập nhật được Khi truyền đạt thông tinmỗi khách hàng có thể tiếp nhận thông tin đó với những mức độ khác nhau
Do đó người môi giới cần phải có kỹ thuật truyền đạt thông tin tới khách hàngnhư thế nào cho họ hiểu được Đồng thời người môi giới cũng phải nắm được
kỹ thuật giao tiếp khiến cho khách hàng cảm nhận được sự hài hòa, đồng cảm
và từ đó sẽ tạo được niềm tin, sự tin cậy từ phía khách hàng đối với người môigiới Người môi giới có kỹ năng giao tiếp tốt thì mới tìm kiếm được khách
Trang 25hàng nhiều và có được sự tin tưởng của khách hàng thì mới có thể thành côngđược trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay.
Kỹ năng tìm kiếm khách hàng
Để tìm kiếm được khách hàng người môi giới có thể có nhiều cách nhưqua công ty chứng khoán, các tài khoản chuyển nhượng lại, do khách hànggiới thiệu, qua các chiến dịch viết thư, hội thảo, gọi điện
Kỹ năng khai thác thông tin
Người môi giới phải hiểu khách hàng, nắm được khả năng tài chính vàkhả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng, qua đó mà phục vụ khách hàng tốthơn và có chiến lược khách hàng thích hợp
Tuy nhiên trong hoạt động môi giới thì mọi quyết định là do kháchhàng, người môi giới chỉ có thể đưa ra lời khuyên cho khách hàng và ngườimôi giới phải thực hiện theo lệnh của khách hàng mà không được đưa raquyết định thay cho khách hàng
1.3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN.
1.3.1 Hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán.
Hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán thể hiện ở những lợi ích mà
nó mang lại cho công ty chứng khoán khi bỏ tiền ra đầu tư để thực hiện hoạtđộng này Vì vậy, hoạt động môi giới chứng khoán hiệu quả khi:
Làm tăng vị thế và uy tín của công ty đồng thời mở rộng quan hệ vớikhách hàng trong và ngoài nước
Đem lại khoản thu lớn thường xuyên và ổn định cho công ty
Muốn đạt được điều đó, CTCK phải cung cấp các dịch vụ môi giớinhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, có sức cạnh tranhsong vẫn đảm bảo tính an toàn và sinh lợi đồng thời vẫn tuân thủ đúng phápluật và các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 261.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động môi giới chứng Khoán.
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới của công ty chứng khoán lànhằm hoàn thiện và phát triển cho công ty Vì vậy công ty không chỉ đánh giánhững lợi ích hiện tại của hoạt động môi giới đem lại mà còn đánh giá tiềmnăng phát triển của nó trong tương lai Điều đó có nghĩa là công ty phải quantâm đến khả năng làm thỏa mãn lợi ích cho khách hàng của hoạt động nàycũng như vai trò của nó đối với nền kinh tế Do đó hệ thống các chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả hoạt động môi giới bao gồm những chỉ tiêu xét trên lợi ích màcông ty đạt được từ hoạt động môi giới mà còn bao gồm cả những chỉ tiêuphản ánh lợi ích của hoạt động môi giới mang lại trong tương lai
Để đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tại các công ty chứng khoán
có thể dựa vào các chỉ tiêu sau:
• Mức độ chuẩn xác trong các hoạt động giao dịch và tư vấn cho kháchhàng
Đây là tiêu chuẩn đánh giá năng lực làm việc của các nhà môi giới.Hoạt động môi giới chứng khoán được coi là hiệu quả nếu chất lượng cácdịch vụ cung cấp thỏa mãn được các yêu cầu về sự chính xác trong thực hiện
Trang 27các nghiệp vụ giao dịch chứng khoán cho khách hàng, tránh được các sai sót
kỹ thuật trong quá trình trao đổi nhập lệnh Ngoài ra sự đúng đắn trong cácsản phẩm tư vấn cũng thể hiện được hiệu quả của hoạt động môi giới chứngkhoán Môi giới chứng khoán với hàm lượng chất xám cao mới có thể đưa rasản phẩm tư vấn có giá trị, đưa ra những lời khuyên đúng đắn phù hợp vớichiến lược kinh doanh của khách hàng, được khách hàng trọng dụng Để đạtđược điều này thì nhân viên môi giới phải là những người có kiến thứcchuyên môn sâu và nghiệp vụ vững
• Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng môi giới chứng khoán củaCTCK
Sự hài lòng, tín nhiệm của khách hàng luôn là mục tiêu mà các công tychứng khoán hướng tới trong các hoạt động của mình Thông qua chỉ tiêu này
có thể nắm bắt được hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán đang ở mức độnào Mức độ hiệu quả của hoạt động môi giới sẽ được phản ánh thông quathái độ của khách hàng đối với công ty Nếu như số lượng các nhà đầu tư mớiđến với công ty ngày càng tăng đồng thời công ty luôn duy trì được một độingũ đông đảo khách hàng lâu năm, không xảy ra việc khách hàng rời bỏ công
ty, chứng tỏ hoạt động môi giới chứng khoán ở đây đã đạt được thành quảnhất định, chiếm được lòng tin của nhà đầu tư
• Tỷ suất lợi nhuận hoạt động môi giới trên doanh thu hoạt động môigiới
Trang 28Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
=100%x
Lợi nhuận hoạt động môi giớiDoanh thu hoạt động môigiới
Chỉ tiêu này cho biết cứ trong một đồng doanhthu hoạt động môi giới
mà công ty thực hiện trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suấtnày càng cao thì hoạt động môi giới càng hiệu quả và ngược lại
• Doanh thu môi giới chứng khoán
Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán là khoản phí giao dịch màcông ty chứng khoán thu được từ hoạt động cung cấp dịch vụ Khoản phí nàyđược tính theo một tỷ lệ phần trăm giá trị chứng khoán giao dịch Doanh thuhoạt động môi giới cao chứng tỏ công ty có nhiều khách hàng giao dịch, hoặccông ty có những khách hàng lớn Doanh thu hoạt động môi giới của CTCK
là cao hay thấp phải so sánh với doanh thu môi giới của các CTCK khác cùngngành Doanh thu môi giới cao cho thấy hoạt động môi giới của công ty hiệuquả Ngược lại một công ty có doanh thu hoạt động môi giới không cao chứng
tỏ công ty chưa có nhiều khách hàng, chất lượng dịch vụ môi giới có thể chưatốt, chưa thuyết phục được khách hàng ở lại công ty… Tuy nhiên hoạt độngmôi giới của CTCK được đánh giá là hiệu quả không chỉ có quy mô doanhthu môi giới cao hơn so với các CTCK cùng ngành mà còn phải có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao, ổn định qua các năm
trước Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc
Trang 295 năm gần nhất Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốntính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần
Khi xem xét chỉ tiêu doanh thu môi giới cũng cần phải xem xét tỷ trọng doanhthu hoạt động môi giới trong tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của CTCK
Tỷ trọng doanh thu môi giới =100%x Doanh thu hoạt động môi giới
Tổng Doanh thu hoạt động kinh doanhNếu doanh thu hoạt động môi giới của công ty chiếm tỷ trọng cao trongtổng doanh thu hoạt động kinh doanh của CTCK chứng tỏ môi giới là hoạtđộng chủ đạo mang lại thu nhập cho công ty
• Chi phí cho hoạt động môi giới chứng khoán
Chi phí hoạt động môi giới chứng khoán của các CTCK bao gồmkhoản phí mà các CTCK phải trả cho các Sở giao dịch chứng khoán, Trungtâm lưu ký chứng khoán và các khoản chi phí hoạt động bao gồm: lương trảcho nhân viên môi giới, các chi phí khấu hao về máy móc thiết bị, phần mềm,chi phí thuê mặt bằng, và một số chi phí khác
Để hoạt động môi giới đạt hiệu quả thì việc quản lý chi phí hoạt động làmột vấn đề quan trọng Nếu CTCK tiêt kiệm được chi phí hoạt động thì sẽ tạođiều kiện giảm phí giao dịch cho khách hàng, gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên,việc tiết kiệm chi phí không có nghĩa là làm cho chi phí hoạt động năm saugiảm đi so với năm trước Quản lý chi phí hiệu quả là cần làm sao điều chỉnhđược tỷ lệ tăng trưởng chi phí ở mức hợp lý, tăng trưởng chi phí phải làm chodoanh thu, lợi nhuận cũng tăng trưởng theo với một tỷ lệ cao hơn tốc độ tăngtrưởng chi phí
• Tốc độ tăng trưởng doanh thu trên tốc độ tăng trưởng chi phí(H)
H = Tốc độ tăng trưởng doanh thu
tốc độ tăng trưởng chi phíChỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động môi giới chứng khoán củaCTCK Nếu tỷ lệ tăng trưởng doanh thu lớn hơn tỷ lệ tăng trưởng chi phí cho
Trang 30thấy công ty kinh doanh có hiệu quả, hoạt động môi giới phát triển tốt Ngượclại, nếu tỷ lệ tăng trưởng chi phí lại lớn hơn tỷ lệ tăng trưởng doanh thu chứng
tỏ việc quản lý doanh thu, chi phí của CTCK còn chưa tốt, hoạt động môi giớichứng khoán có thể có doanh thu cao, có lợi nhuận nhưng chưa chắc đã hoạtđộng hiệu quả
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CỦA CTCK
1.4.1 Các nhân tố chủ quan
1.4.1.1 Mục tiêu phát triển công ty
Công ty chứng khoán có rất nhiều các hoạt động liên quan đến chứngkhoán và thị trường chứng khoán Vì vậy bất kỳ sự phát triển của hoạt độngnào đều phải phụ thuộc vào chính sách và mục tiêu của công ty về mảng hoạtđộng đó Vì tiềm lực tài chính của công ty là có hạn nên các công ty khôngthể đồng thời cùng đẩy mạnh phát triển tất cả các loại nghiệp vụ kinh doanh
mà chỉ tập trung vào hoạt động là thế mạnh của công ty Nếu mục tiêu đặt racủa một công ty chứng khoán là vươn lên nhóm dẫn đầu thị trường về hoạt
Trang 31động môi giới chứng khoán thì hoạt động này sẽ được công ty chú trọng, bỏnguồn lực đầu tư phát triển Ngược lại, nếu mục tiêu công ty hướng đến mảnghoạt động khác thì có thể việc phát triển nghiệp vụ môi giới sẽ ít được công tyquan tâm hơn.
1.4.1.2.Vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết khi bất kỳ một công ty nào muốn tham giahoạt động trên thị trường chứng khoán Điều kiện về vốn được đảm bảo trêntừng hoạt động dịch vụ mà công ty tham gia cung cấp trên thị trường Do đây
là một lĩnh vực có nhiều rủi ro nên các công ty chứng khoán có vốn hoạt độngcàng lớn sẽ càng đứng vững trên thị trường Hơn nữa một công ty chứngkhoán khi hoạt động trên thị trường với một lượng vốn lớn thì có thể tham giacung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho khách hàng của mìnhmột cách chu đáo, thỏa mãn tối đa trong mức có thể nhu cầu của họ Đâycũng là một yếu tố để tăng niềm tin cho các nhà đầu tư khi tham gia giao dịchvới công ty chứng khoán, tạo ra ưu thế cạnh tranh đối với các công ty kháctrong ngành, thể hiện sức mạnh và quy mô của công ty
1.4.1.3.Yếu tố con người
Đối với tất cả các công ty, yếu tố con người là rất quan trọng vàkhông thể thiếu Đội ngũ nhân viên phải là những người có chuyên môn,tinh thần trách nhiệm trong công việc Tức là phải đủ về số lượng và chấtlượng thì công ty mới hoạt động có hiệu quả và phát huy được các lợi thếsẵn có của mình
Đặc biệt trong lĩnh vực hoạt động môi giới thì yếu tố con người lạicàng quan trọng hơn Sự thành công trong lĩnh vực môi giới chủ yếu phụthuộc vào chính năng lực của người môi giới, công việc này đòi hỏi họ phải
có kiến thức chuyên môn, hiểu biết xã hội, kỹ năng làm việc, tư cách về đạođức…không những thế họ cần phải có sự đam mê chứng khoán Có như thế
Trang 32thì họ mới có đủ khả năng để tư vấn cho khách hàng, đảm bảo cho các khoảnđầu tư của khách hàng sinh lời và thực hiện công việc của mình theo đúngtrách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.
1.4.1.4.Cơ sở vật chất phục vụ hoạt đông môi giới
Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động đòi hỏi phải có hệ thốngcông nghệ thông tin hiện đại như máy tính, hệ thống phuc vụ cho giao dịch,nghiên cứu và phân tích Yếu tố này quyết định tính chính xác, kịp thời củacác giao dịch
Công ty áp dụng những khoa học công nghệ hiện đại sẽ giúp cho lệnhcủa khách hàng được truyền đi nhanh hơn, thông tin thị trường cũng sẽ được
xử lý nhanh hơn và nhà đầu tư cũng nhận được các thông tin nhanh và chínhxác hơn, từ đó đưa ra quyết định cho các khoản đầu tư của mình hiệu quả hơn
1.4.1.5 Sự phát triển của các hoạt động khác
Tại công ty chứng khoán thì hoạt động của các phòng ban bộ phận có
sự tương tác với nhau, sự phát triển của hoạt động này là động lực, tiền đề cho
sự phát triển của các hoạt động khác Công ty chứng khoán có hoạt độngmarketing tốt thì hình ảnh công ty trở nên quen thuộc với khách hàng Thuhút khách hàng đến với công ty với sự tin tưởng cao, làm tăng khối lượng vàchất lượng của các tài khoản cho bộ phận môi giới
Ngoài ra còn có hoạt động phân tích, hoạt động này cung cấp các thôngtin đã qua phân tích cho nhà môi giới, tạo nền tảng thông tin chắc chắn chocác nhà môi giới khi thực hiện các nghiệp vụ với khách hàng, làm cho chấtlượng của hoạt động môi giới ngày càng trở nên tốt hơn, phục vụ khách hàngmột cách chuyên nghiệp hơn Vì vậy các bộ phận khác làm việc tốt sẽ là điềukiện cho hoạt động môi giới phát triển Hoạt động môi giới và các hoạt độngkhác có tác dụng hỗ trợ nhau, có tác động qua lại bổ sung cho nhau
1.4.2 Các nhân tố khách quan
Trang 331.4.2.1 Môi trường pháp lý
Kinh doanh chứng khoán là một loại hình kinh doanh ảnh hưởng nhiềuđến sự phát triển của thị trường chứng khoán, đến lợi ích công cộng và rất dễlợi dụng để kiếm lời, nhất là trong hoạt động môi giới lợi ích của người môigiới luôn gắn liền với lợi ích của khách hàng, rất dễ lợi dụng tài khoản củakhách hàng để kiếm lời cho mình do người môi giới phải quản lý tài khoảncho khách hàng Vì vậy luật pháp phải quy định rất chặt chẽ đối với hoạt độngkinh doanh chứng khoán nói chung và hoạt động môi giới nói riêng Nếu hệthống pháp luật mà đồng bộ, chặt chẽ thì sẽ kiểm soát được các hoạt động củacác công ty chứng khoán, tạo ra niềm tin đối với công chúng đầu tư, đồng thờibảo vệ hợp pháp lợi ích của các chủ thể tham gia trên thị trường
1.4.2.2 Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh chứng khoán chịu tác động của yếu tố môitrường kinh tế Yếu tố này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của thịtrường chứng khoán Như chúng ta đã biết, khi nền kinh tế tăng trưởng, ổnđịnh nó sẽ thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển do các khoản đầu tưcủa các nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường này sẽ gặp ít rủi ro hơn, do đóngười dân sẽ có nhu cầu đầu tư nhiều hơn Khi nền kinh tế đang trong thời kìsuy thoái, lạm phát cao… sẽ làm cho giá chứng khoán sụt giảm, từ đó làm ảnhhưởng đến mọi hoạt động của các chủ thể kinh doanh chứng khoán Vì vậy sựtăng trưởng và ổn định của nền kinh tế là tiền đề, cơ sở cho sự phát triển củacác trung gian tài chính trong đó có tổ chức không thể thiếu đó là công tychứng khoán
1.4.2.3 Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán phát triển và ổn định sẽ dẫn tới các cơ hội pháttriển cho các công ty chứng khoán và là môi trường lý tưởng cho hoạt độngmôi giới Thị trường chứng khoán phát triển biểu hiện ở các mặt: Số lượng
Trang 34nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư cá nhân ngày càng tăng; giá trị giao dịchngày càng lớn; hàng hóa của thị trường chứng khoán đa dạng và phong phú,cùng với sự phát triển của hệ thồng kiểm toán chặt chẽ, hệ thống công bốthông tin nhanh, chính xác, minh bạch…góp phần làm tăng độ tin cậy của thịtrường, chất lượng các loại chứng khoán cũng nâng cao Đây là điều kiện vôcùng thuận lợi để hoạt động môi giới chứng khoán của các CTCK phát triển.
1.4.2.4 Kiến thức đầu tư chứng khoán của công chúng
Khi nhận thức của các nhà đầu tư về chứng khoán và thị trường chứngkhoán được nâng lên, họ không còn đầu tư một cách tự do, theo tâm lý đámđông thì họ sẽ nhận thức được rằng hoạt động môi giới là rất cần thiết khitham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán Đặc biệt trong điều kiện thịtrường hiện nay có nhiều biến động và nếu không có các bộ phận chuyên môncủa công ty chứng khoán thì nhà đầu tư khó có thể biết hết được những biếnđộng của thị trường để thay đổi chiến lược đầu tư của mình nhằm mang lạikhoản lợi nhuận tối ưu nhất
1.4.2.5 Đối thủ cạnh tranh
Một quy luật tất yếu khách quan đó là cạnh tranh, để có thể phát triển
và đứng vững được trên thị trường thì các công ty phải có năng lực cạnhtranh Thị trường càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngàycàng gay gắt hơn Trong hoạt động môi giới cũng không tránh khỏi điềunày, họ phải tìm cách để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình và phảithỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng nhằm thu hút nhà đầu tư Tuynhiên cạnh tranh cũng giúp cho các doanh nghiệp không ngừng cải tiến sảnphẩm của mình, thúc đẩy thị trường hoạt động có hiệu quả hơn, phát triểnhơn Từ đó giúp cho thị trường hoạt động có nguyên tắc hơn và ngày càngphát triển theo chiều hướng bền vững
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH chứng khoán ACB
2.1.1.1 Giới thiệu chung
Tên chính thức: Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS)
Tên tiếng Anh: ACB Securities Company
Vốn điều lệ: 1.500 tỷ đồng
Ngày thành lập: Ngày 29 tháng 6 năm 2000, do Ngân hàng TMCP ÁChâu (ACB) làm chủ sở hữu TNHH 1 thành viên, theo giấy phép hoạt kinhdoanh số 06/GPHĐKD do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày29/06/2000
-Hội sở chính: 107N Trương Định, phường 06, quận 03, Tp.HồChí Minh -Mạng lưới chi nhánh: Hiện nay, hệ thống chi nhánh/phòng giao dịchcủa ACBS đã có mặt tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Nha Trang, TP.HồChí Minh, Vũng Tàu và Cần Thơ
• Ngành nghề kinh doanh
Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán:
-Môi giới chứng khoán;
Trang 36Sau hơn 13 năm hoạt động, ACBS đã và đang phát triển lớn mạnh vềtiềm lực tài chính, mạng lưới hoạt động, chất lượng dịch vụ, và được đánh giá
là một trong các công ty chứng khoán hàng đầu và là thương hiệu uy tín trênthị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.2.Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Năm 2012, ACBS đã có sự thay đổi thành viên Hội đồng thành viên vàBan kiểm soát
2.1.2.1 Hội đồng Thành viên
Với 04 thành viên trong HĐTV, bao gồm 01 chủ tịch HĐTV và 03thành viên HĐTV
Ông BÙI TẤN TÀI – Chủtịch Hội đồng thành viên
Ông Bùi Tấn Tài tốt nghiệp Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đạihọc Nam California - Hoa Kỳ, Cử nhân Kinh tế Trường Đại học Ngân hàng
Tp Hồ Chí Minh, Cử nhân Kinh tế Trường Đại học Kinh tế Tp HồChíMinh Ông vào làm việc tại ACB năm 1995, từng đảm nhiệm các vị trí: Phó
Trang 37Phòng Thẩm định Tín dụng, Trưởng Phòng Hỗ trợ Tín dụng, Phó Giám đốc
Sở Giao dịch, Giám đốc chi nhánh Ông được bổ nhiệm Phó Tổng giám đốcnăm 2007 Hiện nay ông là Phó TGĐ thường trực kiêm Giám đốc KhốiKhách hàng doanh nghiệp, thành viên thường trực Ủy ban Tín dụng, ủy viênHội đồng Đầu tư, ủy viên Hội đồng Xử lý rủi ro ACB Ông được bổ nhiệmChủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Chứng khoán ACB từ tháng09/2012
Ông PHẠM PHÚ KHÔI – Tổng giám đốc, Thành viên Hội đồng thành viên
Ông Phạm Phú Khôi là Thạc sĩ Quản trị kinh doanh - Tài chính TrườngWharton, Đại học Pennsylvania (Hoa Kỳ), cử nhân Kinh tế Hàng khôngTrường Đại học Hàng không Dân dụng Riga (Liên Xô cũ) Ông đã có hơn
10 năm làm việc trong ngành Hàng không Việt Nam với vị trí Giám đốc khuvực Đông Bắc Á Ông làm việc trong ngành Tài chính từ năm 1999, với hơn
12 năm kinh nghiệm trong ngành, Ông từng đảm nhiệm các vị trí quan trọngtrong các Ngân hàng hàng đầu tại nhiều quốc gia như Chuyên viên đầu tưNgân hàng Đầu tư Barclay - London, Hong Kong; Giám đốc đầu tư giao dịchTín dụng Quốc tế- Khu vực Châu Á Ngân hàng Standard Chartered -Singapore; Giám đốc khu vực Việt Nam Ngân hàng America Merrill Lynch -Singapore Hiện nay, Ông là thành viên Hội đồng thành viên, và đảm nhiệmchức vụ Tổng giám đốc Công ty TNHH Chứng khoán ACB
Ông LÊ BÁ DŨNG – Thành viên Hội đồng thành viên
Ông Lê Bá Dũng tốt nghiệp Chương trình Edison và Chương trình pháttriển lãnh đạo toàn cầu của Công ty GE Ông cũng tốt nghiệp Thạc sĩ ngành
cơ điện Trường Đại học New York (Hoa Kỳ) và Thạc sĩ Quan hệ quốctếTrường Đại học Georgetown (Hoa Kỳ) Trước khi làm việc tại ACB, ông làGiám đốc điều hành và Giám đốc Quản lý rủi ro mảng dịch vụ y tế tại GE
Trang 38Capital Asia Pacific thuộc GE Capital và sau đó là Giám đốc Quản lý rủi rotoàn cầu về hợp nhất và sáp nhập (M&A) của Khối ngân hàng bán lẻ Ngânhàng Standard Chartered Hiện nay, Ông là Giám đốc Quản lý rủi ro, thànhviên Ủy ban Quản lý rủi ro, thành viên Ủy ban Tín dụng, thành viên ALCOtại ACB, thành viên Hội đồng thành viên Công ty TNHH Chứng khoán ACB
Ông VIJAY MAHESHWARI – Thành viên Hội đồng thành viên
Ông Vijay Maheshwari tốt nghiệp đại học năm 1987 với học vị Cửnhân Thương mại (hạng danh dự) của Trường Đại học Calcutta, Ấn Độ.Ông cũng là thành viên của Viện Kế toán công chứng Ấn Độ(Institute ofChartered Accountants of India) từ năm 2001 Trước khi làm việc tại ACB,ông là Chủ tịch Hiệp hội Các nhà ngân hàng nước ngoài tại Indonesia, là kếtoán viên công chứng với 20 năm kinh nghiệm làm việc tại Ngân hàngStandard Chartered Hiện nay ông giữ vị trí Giám đốc Tài chính ACB, thànhviên Hội đồng thành viên Công ty TNHH Chứng khoán ACB
2.1.2.2 Ban Kiểm soát
Ban kiểm soát của ACBS đến thời điểm hiện tại có 1 thành viên làKiểm soát viên
Ông HUỲNH HIẾU NGHĨA – Kiểm soát viên
Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa tốt nghiệp Cử nhân Kế toán Trường Cao cấpNgân hàng Tp.Hồ Chí Minh và có hơn 20 năm kinh nghiệm công tác trongngành Tài chính -Ngân hàng, đặc biệt ông Nghĩa hiện nay cũng đảm trách vịtrí Trưởng Ban Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng TMCP Á Châu
Trang 39Ông Nguyễn Ngọc Chung có 23 năm kinh nghiệm làm việc trongngành Tài chính – Ngân hàng, trong đó có hơn 18 năm kinh nghiệm quản lýtại những Ngân hàng hàng đầu Việt Nam Ông Nguyễn Ngọc Chung đảmnhiệm vị trí Phó Tổng Giám Đốc của ACBS từ năm 2005, phụ trách quản lýKhối Môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán
Bà Lê Thị Phương Dung – Phó Tổng Giám Đốc
Bà Lê Thị Phương Dung tốt nghiệp cử nhân Đại học Kinh tế(TrườngĐại học Kinh tế TP.HCM), Cử nhân Anh Văn (Trường Đại học Tổng hợpTp.HCM) và cóhơn 21 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Tài chính - Ngânhàng Bà Lê Thị Phương Dung có nhiều năm kinh nghiệm lãnh đạo ở những
vị trí quan trọng tại Ngân hàng ACB Với bề dày kinh nghiệm và kiến thứcchuyên sâu về vận hành trong hệ thống Ngân hàng ACB, hiện nay, Bà Lê ThịPhương Dung đang giữ chức vụ Phó Tổng Giám Đốc ACBS – phụ trách KhốiVận hành và một số đơn vị thuộc Khối Hỗ trợ
Trang 40
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của công ty
Hình 2.1:Sơ đồ tổ chức của công ty TNHH chứng khoán ACB