1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010 2020

120 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần IĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘII. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG1.1. Điều kiện tự nhiên1.1.1. Vị trí địa lýĐồng Hới là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Bình, một trong những đô thị trung tâm của khu vực Bắc miền Trung, được thành lập ngày 16 tháng 8 năm 2004 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Đồng Hới (tại Nghị định số 1562004NĐCP của Chính phủ). Mang tính chất của một đô thị loại III, nơi đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao lưu quan trọng, có vai trò là động lực phát triển kinh tế của cả tỉnh, có lợi thế về vị trí, tiềm năng phát triển công nghiệp, khai thác chế biến thủy sản, thương mại và dịch vụ du lịch. Tổng diện tích tự nhiên của Thành phố là 15.570,56 ha (chiếm 1,93 % diện tích toàn tỉnh), dân số năm 2009 là 112.533 người (mật độ 723 ngườiKm2, trên 68% dân số sinh sống thuộc khu vực nội thị), phân bố trên địa bàn 16 đơn vị hành chính gồm 10 phường và 6 xã. Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 17021’59” đến 17031’53” vĩ độ Bắc và từ 106029’26” đến 106041’08” kinh độ Đông.+ Phía Bắc và Tây Tây Bắc giáp huyện Bố Trạch;+ Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Quảng Ninh;+ Phía Đông giáp biển Đông với chiều dài 12 km.Với vị trí nằm dọc bờ biển, ở vị trí trung độ của tỉnh, trên các trục giao thông quan trọng xuyên quốc gia gồm Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, đường biển, đường hàng không; cách khu du lịch di sản thiên nhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng 50 km, cách khu Kinh tế Hòn La 60 km và cửa khẩu quốc tế Cha Lo 180 km,... đã tạo cho Đồng Hới nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế văn hóa xã hội với các tỉnh, thành phố trong cả nước, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy phát triển nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa phong phú, đa dạng với các ngành mũi nhọn, theo những thế mạnh đặc thù.1.1.2. Đặc điểm địa hìnhNằm về phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình Thành phố có đặc thù nghiêng dần từ Tây sang Đông, nằm giữa núi đá vôi và biển với đại bộ phận lãnh thổ là vùng đồng bằng và vùng cát ven biển, cụ thể chia thành các khu vực sau: Vùng gò đồi: chiếm 15% diện tích tự nhiên với các dãy đồi lượn sóng vắt ngang từ Bắc xuống Nam tại khu vực phía Tây thành phố trên địa bàn các xã phường Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, Thuận Đức với cao độ trung bình từ 12 15 m, độ dốc trung bình 7 10%. Thổ nhưỡng của vùng này có đặc điểm độ phì thấp, đất đai nghèo chất dinh dưỡng, tầng đất màu không dày, chủ yếu thuận lợi để phát triển cây trồng lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả. Vùng bán sơn địa xen kẽ đồng bằng: chiếm 37% diện tích tự nhiên với cao độ trung bình từ 5 10 m (nơi cao nhất 18 m và thấp nhất là 2,5 m), độ dốc trung bình từ 5 10%. Đây là một vòng cung có dạng gò đồi thấp xen kẽ đồng bằng hẹp bao bọc lấy khu vực đồng bằng, kéo dài từ Bắc Đông Bắc đến Tây Bắc Tây Nam và Nam Đông Nam, phân bố dọc theo các phường xã Quang Phú, Lộc Ninh, Bắc Lý, Bắc Nghĩa, Thuận Đức, Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, là vùng sản xuất lương thực hoa màu, đặc biệt là vành đai rau xanh phục vụ cho thành phố. Vùng đồng bằng: là vùng trung tâm Thành phố, chiếm khoảng 38% diện tích tự nhiên, trên địa bàn các phường xã: Đồng Phú, Đồng Mỹ, Hải Đình, Phú Hải, Đức Ninh Đông, Đức Ninh, Nam Lý, Bắc Lý. Địa hình có dạng tương đối bằng phẳng, đồng ruộng xen lẫn sông, hồ, kênh rạch, độ dốc nhỏ khoảng 0,2%, cao độ trung bình 2 4 m, nơi thấp nhất là 0,5 m; đây là nơi tập trung mật độ dân cư cao cùng với các cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của Thành phố, thuận lợi cho việc phát triển các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Vùng cát ven biển: nằm về phía Đông Thành phố, chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, địa hình gồm các dãi đồi cát liên tục chạy song song bờ biển với nhiều bãi ngang và cửa lạch, độ chia cắt nhỏ với cao độ trung bình 10 m, thấp nhất là 3 m, phân bố đều trên địa bàn Quang Phú, Hải Thành, Bảo Ninh, thuận lợi cho phát triển thủy sản, du lịch biển và một số chương trình rau sạch.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên quý giá của Quốc gia, của xã hội; là tư liệu sản xuấtđặc biệt, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựngcác công trình kinh tế - văn hóa - xã hội, tổ chức các hoạt động phát triển kinh tế,dân sinh và an ninh, quốc phòng Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quyhoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”

Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộctỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương”(Khoản 3 Điều 25), “trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”(Khoản 6 Điều 25), “Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xétduyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp”(Khoản 3 Điều 26), “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải đượcđược quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó” (Khoản 8 Điều 21)

Đồng Hới là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa – xãhội và khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Bình, có lợi thế về vị trí và tiềm năngphát triển công nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ du lịch Thực hiện Luật Đấtđai và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, UBND thành phố đã tiến hành lậpQuy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, định hướng sử dụng đất đến năm 2020 vàđược UBND tỉnh phê duyệt theo Quyết định số 2313/QĐ-UBND ngày 19/9/2007

Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất những năm qua đã cơbản đáp ứng được các mục tiêu, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xãhội của Thành phố, đặc biệt trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo chỉnhtrang, phát triển không gian đô thị, khai thác sử dụng một cách hiệu quả tàinguyên đất đai, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh;đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân;đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa, bảo

vệ cảnh quan và môi trường sinh thái Mặt khác đây còn là cơ sở cho việc xâydựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các xã, phường, là căn cứ pháp lý để thựchiện công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển đổi mục đích sử dụngđất, góp phần đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đaitrên địa bàn Thành phố

Nhiều công trình lớn đã được đầu tư như đường tránh Quốc lộ 1A, đườngThống Nhất, khôi phục sân bay Đồng Hới, xây dựng các khu công nghiệp vùng

Trang 2

Tây Bắc, Bắc Đồng Hới, khu du lịch Mỹ Cảnh, Nhật Lệ Trong mối quan hệvùng tỉnh và cả nước, Đồng Hới ngày càng nổi bật và có những đòi hỏi cao hơn,khi mà các khu kinh tế trọng điểm của tỉnh phát triển như cửa khẩu quốc tế Cha

Lo, khu kinh tế cảng biển Hòn La, khu du lịch vườn quốc gia Phong Nha - KẻBàng, địa danh nổi tiếng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thếgiới Những yếu tố trên đã góp phần làm thay đổi cơ bản hình thái và tổ chứckhông gian đô thị của Đồng Hới

Để thực hiện tốt quy định của Luật Đất đai, đồng thời phục vụ chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Thành phố trong giai đoạnmới, UBND tỉnh Quảng Bình đã giao cho UBND thành phố Đồng Hới lập quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) Đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng đất gồm Trung tâm Môi trường đấtthuộc Trung tâm Điều tra, Đánh giá Tài nguyên đất (Tổng cục Quản lý đất đai -

Bộ Tài nguyên và Môi trường) kết hợp với Trung tâm Quy hoạch Tài nguyênthuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình

Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới đến năm 2020 và kế hoạch sửdụng đất 5 năm (2011 - 2015) được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai phục

vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời huy động cao nhất cácnguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai và lợi thế của Thành phố, đưađất đai trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội; nâng caotốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển các mặt văn hoá xã hội tiến kịp mặt bằngchung của cả nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát triểnkinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm ổn định chínhtrị, trật tự an toàn xã hội và quốc phòng, an ninh; xây dựng Đồng Hới ngày cànggiàu đẹp, văn minh, hiện đại, có nhiều bản sắc và bền vững trong quá trình đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới đến năm 2020 nhằm đạt được các mục đích và yêu cầu sau:

- Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới đến năm 2020 và kế hoạch

sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) phải phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của cả tỉnh, của Thành phố; cụ thể hoá mộtbước Quy hoạch sử dụng đất của Tỉnh đến năm 2020

- Quy hoạch sử dụng đất của Thành phố phải phù hợp với tình hình thực tếphát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị; cân đối tính toán đưa

ra khung chung có tính nguyên tắc về phân bố hợp lý quỹ đất cho các mục đích

sử dụng, phù hợp với định hướng phát triển không gian về lâu dài, đồng thời đáp

Trang 3

ứng nhu cầu, các chỉ tiêu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực, các phường xã cụthể đến năm 2020 và trong tương lai xa.

- Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm

2010 của Thành phố trước đây đã được UBND tỉnh phê duyệt, thực hiện việckhoanh định, phân bố các chỉ tiêu sử dụng đất cho các ngành, các cấp theo quyhoạch Các nhu cầu sử dụng đất được tính toán chi tiết đến từng công trình, từngđơn vị phường xã, đồng thời phân kỳ kế hoạch thực hiện được cụ thể đến từngnăm của giai đoạn, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và những yêucầu cụ thể trong giai đoạn

- Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới là cơ sở quan trọng để đảmbảo tính thống nhất trong quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất vừa đảm bảo thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước về đấtđai, vừa tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tạo lập cơ sở pháp

lý cho việc xúc tiến đầu tư, tiến hành các thủ tục giao đất, cho thuê đất, thu hồiđất, chuyển mục đích sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ điều tiết thị trường bất độngsản, sử dụng đất đúng pháp luật, đúng mục đích, có hiệu quả

- Kế hoạch hóa quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong phương ánquy hoạch phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân cônglao động, cân đối giữa mục tiêu an ninh lương thực với phát triển công nghiệp và

đô thị, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa khai thác và sử dụng đất để phát triểnkinh tế xã hội với sử dụng đất bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái

Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới đến năm 2020 được lập dựa vào những căn cứ pháp lý và cơ sở sau dây:

- Luật Đất đai năm 2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chínhphủ về thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủquy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗtrợ và tái định cư

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của BộTài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tàinguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh

Trang 4

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

- Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụngđất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) của tỉnh Quảng Bình

- Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Bình 05 năm (2005 - 2010)

- Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố ĐồngHới thời kỳ 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020

- Điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đồng Hới đến năm 2020

- Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đồng Hới khoáXVIII trình Đại hội lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2010 - 2015

- Quyết định số 1944/QĐ-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2010 của Uỷ bannhân dân tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt Đề cương nhiệm vụ và dự toán quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015)thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất của 16 xã, phường trực thuộcThành phố đến năm 2010

- Tài liệu, số liệu, bản đồ về kiểm kê, thống kê đất đai các năm 2000, 2005,

2010 của các xã, phường và của Thành phố

- Quy hoạch và định hướng phát triển của các ngành, các lĩnh vực đến năm

2020 và định hướng đến năm 2030

- Các chương trình, dự án lớn trên địa bàn Thành phố đã được các cấp cóthẩm quyền phê duyệt

Phương pháp lập Quy hoạch sử dụng đất thành phố Đồng Hới:

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm(2011 - 2015) của thành phố Đồng Hới được xây dựng và triển khai theo phươngpháp tiếp cận hai chiều (từ trên xuống, từ dưới lên), vừa dựa trên yêu cầu phân bổ

mà quy hoạch tỉnh đã xác định, vừa dựa trên đề xuất nhu cầu sử dụng đất của cácngành, lĩnh vực và các xã, phường trực thuộc Thành phố Đặt thành phố ĐồngHới trong bối cảnh chung của cả tỉnh, của cả nước để dự báo biến động về quỹđất gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và yêu bảo vệ môi trườngcho thời kỳ 10 năm và 20 năm sau Phương pháp cụ thể như sau:

- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xãhội, tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất của thành phố Đồng Hới tại thờiđiểm năm 2010, quá trình sử dụng đất thời kỳ 2001 - 2010, kết quả thực hiện quyhoạch sử dụng kỳ trước (2001 - 2010) và tiềm năng đất đai của Thành phố Từ đó

Trang 5

xác định xu hướng biến động sử dụng đất và khả năng chuyển đổi quỹ đất, trong

đó đặc biệt quan tâm đối với một số loại đất quan trọng như đất trồng lúa nước,đất rừng, đất ở, đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thủy lợi, côngtrình năng lượng, truyền thông) và hạ tầng xã hội (văn hóa, y tế, giáo dục, thể dụcthể thao), đất phục vụ phát triển công nghiệp, du lịch và dịch vụ

- Phân tích nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực và các phường xãtrên địa bàn Thành phố thời kỳ 2011 - 2020 nhằm đáp ứng các mục tiêu pháttriển kinh tế - xă hội, các mục tiêu mà quy hoạch, định hướng phát triển của cácngành, lĩnh vực đã xác định; phân bổ các yêu cầu của quy hoạch cấp trên đã cácđịnh, nhằm phù hợp với chiến lược phát triển không gian đô thị của Thành phố;

từ đó tổng hợp và dự báo nhu cầu về quỹ đất cần phải bố trí đến năm 2020

- Bố trí quỹ đất đối với từng loại đất để thực hiện các mục tiêu phát triểncủa từng ngành, phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, khả năng thực hiện chuyểnđổi quỹ đất, định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quanđến việc sử dụng đất

- Báo cáo sử dụng các số liệu kiểm kê đất đai của các xã, phường trựcthuộc Thành phố vào các năm tiến hành tổng kiểm kê đất đai: năm 2000, 2005,

2010 và các số liệu thống kê đất đai hàng năm từ năm 2001 đến năm 2010, đồngthời nghiên cứu tham khảo các số liệu của các ngành có liên quan để xây dựng bộ

số liệu thống nhất chung cho toàn Thành phố

- Về bản đồ: sử dụng bản đồ nền địa hình tỷ lệ 1/10.000 theo hệ tọa độVN-2000; bản đồ hiện trạng sử dụng đất của Thành phố và các xã, phường năm2010; bản đồ quy hoạch của các ngành, lĩnh vực (bản đồ quy hoạch lâm nghiệp,quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các khu vực đô thị, ), kết hợp sử dụng tưliệu viễn thám và điều tra thực tế tại các địa phương để xây dựng thành bản đồhiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất và các bản đồ chuyên đề khác (sử dụngcông nghệ GIS, các phần mềm Mapinfor, Microstation; Arcview, MGE, )

Bố cục của báo cáo:

Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kếhoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) thành phố Đồng Hới ngoài phần mở đầu,kết luận và kiến nghị, gồm các phần chính sau:

Phần I: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Phần II: Tình hình quản lý sử dụng đất đai.

Phần III: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất.Phần IV: Phương án quy hoạch sử dụng đất

Trang 6

Phần I

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Đồng Hới là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Bình, một trong những đôthị trung tâm của khu vực Bắc miền Trung, được thành lập ngày 16 tháng 8 năm

2004 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực

thuộc của thị xã Đồng Hới (tại Nghị định số 156/2004/NĐ-CP của Chính phủ).

Mang tính chất của một đô thị loại III, nơi đây là trung tâm chính trị, kinh tế, vănhoá xã hội, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao lưu quan trọng, có vai trò là động lựcphát triển kinh tế của cả tỉnh, có lợi thế về vị trí, tiềm năng phát triển côngnghiệp, khai thác chế biến thủy sản, thương mại và dịch vụ du lịch

Tổng diện tích tự nhiên của Thành phố là 15.570,56 ha (chiếm 1,93 % diện tích toàn tỉnh), dân số năm 2009 là 112.533 người (mật độ 723 người/Km 2 , trên 68% dân số sinh sống thuộc khu vực nội thị), phân bố trên địa bàn 16 đơn vị hành

17031’53” vĩ độ Bắc và từ 106029’26” đến 106041’08” kinh độ Đông

+ Phía Bắc và Tây - Tây Bắc giáp huyện Bố Trạch;

+ Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Quảng Ninh;

+ Phía Đông giáp biển Đông với chiều dài 12 km

Với vị trí nằm dọc bờ biển, ở vị trí trung độ của tỉnh, trên các trục giaothông quan trọng xuyên quốc gia gồm Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đườngsắt Bắc - Nam, đường biển, đường hàng không; cách khu du lịch di sản thiênnhiên thế giới vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 50 km, cách khu Kinh tế Hòn

La 60 km và cửa khẩu quốc tế Cha Lo 180 km, đã tạo cho Đồng Hới nhiều điềukiện thuận lợi trong việc mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hộivới các tỉnh, thành phố trong cả nước, tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹthuật, thúc đẩy phát triển nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa phong phú,

đa dạng với các ngành mũi nhọn, theo những thế mạnh đặc thù

1.1.2 Đặc điểm địa hình

Nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình Thành phố có đặc thùnghiêng dần từ Tây sang Đông, nằm giữa núi đá vôi và biển với đại bộ phận lãnhthổ là vùng đồng bằng và vùng cát ven biển, cụ thể chia thành các khu vực sau:

Trang 7

- Vùng gò đồi: chiếm 15% diện tích tự nhiên với các dãy đồi lượn sóng vắtngang từ Bắc xuống Nam tại khu vực phía Tây thành phố trên địa bàn các xãphường Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, Thuận Đức với cao độ trung bình từ 12 - 15 m,

độ dốc trung bình 7 - 10% Thổ nhưỡng của vùng này có đặc điểm độ phì thấp,đất đai nghèo chất dinh dưỡng, tầng đất màu không dày, chủ yếu thuận lợi đểphát triển cây trồng lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả

- Vùng bán sơn địa xen kẽ đồng bằng: chiếm 37% diện tích tự nhiên vớicao độ trung bình từ 5 - 10 m (nơi cao nhất 18 m và thấp nhất là 2,5 m), độ dốctrung bình từ 5 - 10% Đây là một vòng cung có dạng gò đồi thấp xen kẽ đồngbằng hẹp bao bọc lấy khu vực đồng bằng, kéo dài từ Bắc - Đông Bắc đến Tây Bắc

- Tây Nam và Nam - Đông Nam, phân bố dọc theo các phường xã Quang Phú, LộcNinh, Bắc Lý, Bắc Nghĩa, Thuận Đức, Đồng Sơn, Nghĩa Ninh, là vùng sản xuấtlương thực hoa màu, đặc biệt là vành đai rau xanh phục vụ cho thành phố

- Vùng đồng bằng: là vùng trung tâm Thành phố, chiếm khoảng 38% diệntích tự nhiên, trên địa bàn các phường xã: Đồng Phú, Đồng Mỹ, Hải Đình, PhúHải, Đức Ninh Đông, Đức Ninh, Nam Lý, Bắc Lý Địa hình có dạng tương đốibằng phẳng, đồng ruộng xen lẫn sông, hồ, kênh rạch, độ dốc nhỏ khoảng 0,2%,cao độ trung bình 2 - 4 m, nơi thấp nhất là 0,5 m; đây là nơi tập trung mật độ dân

cư cao cùng với các cơ sở hạ tầng kinh tế chủ yếu của Thành phố, thuận lợi choviệc phát triển các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ

- Vùng cát ven biển: nằm về phía Đông Thành phố, chiếm khoảng 10%diện tích tự nhiên, địa hình gồm các dãi đồi cát liên tục chạy song song bờ biểnvới nhiều bãi ngang và cửa lạch, độ chia cắt nhỏ với cao độ trung bình 10 m, thấpnhất là 3 m, phân bố đều trên địa bàn Quang Phú, Hải Thành, Bảo Ninh, thuận lợicho phát triển thủy sản, du lịch biển và một số chương trình rau sạch

1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Đồng Hới nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của khíhậu đại dương Tính chất khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, vớiđặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa đông lạnh ở miềnBắc với hai mùa rõ rệt trong năm: mùa khô và mùa mưa

khoảng 7,8 - 9,40C, nhiệt độ cao nhất (tháng 6, tháng 7) khoảng 40,1 - 40,60C.Tổng tích nhiệt đạt trị số 8.600 - 9.000 0C; biên độ nhiệt chênh lệch ngày đêm từ 5

- 80C; số giờ nắng trung bình trong ngày là 5,9 giờ

Như vậy, nhiệt độ và tổng tích ôn cả năm khá cao, phù hợp và thuận lợi cho

Trang 8

các cây công nghiệp, cây dài ngày, cây nhiệt đớ phát triển Trừ những thời điểmnhiệt độ tăng cao do ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng, còn lại nền

cầu sinh thái của các loại cây trồng vật nuôi hiện có trong vùng

- Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1.300 - 4.000 mm, phân bố khôngđều giữa các tháng trong năm Mùa mưa tập trung từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm

75 - 80% tổng lượng mưa của cả năm, liên quan nhiều đến áp thấp nhiệt đới,hoàn lưu bão và hoạt động của gió mùa Đông Bắc, nên thường gây ngập lụt trêndiện rộng Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau, lượng mưa ít, trùng vớimùa khô hanh nắng gắt, gắn với gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn gâynên hiện tượng thời tiết cực đoan khô hạn ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đờisống Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 (502 - 668 mm), tháng

có lượng mưa thấp nhất là tháng 3, tháng 4 (44 - 46 mm)

- Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khá cao từ 82 - 84%, ngay trongnhững tháng khô hạn nhất của mùa hè, độ ẩm trung bình tháng vẫn đạt trên 70%(riêng những ngày có gió phơn Tây Nam khô nóng, độ ẩm xuống thấp dưới60%) Thời kỳ có độ ẩm cao nhất thường xảy ra vào những tháng mùa đông, khikhối không khí cực đới lục địa (gió mùa Đông Bắc) tràn về qua đường biển kếthợp khối không khí nhiệt đới biển Đông luân phiên hoạt động gây ra mưa phùnlàm cho độ ẩm không khí rất lớn, thường trên 87%

- Lượng bốc hơi bình quân trong năm khoảng 1.030 - 1.050 mm Trongmùa mưa, do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm tương đối cao, nên lượng bốc hơinhỏ (chỉ chiếm 1/5 đến 1/2 so với lượng mưa) Vào mùa khô, do nhiệt độ khôngkhí cao, ẩm độ thấp, kết hợp với gió lớn nên cường độ bốc hơi thường lớn Lượngbốc hơi trong các tháng từ tháng 4 đến tháng 7 cao hơn nhiều so với lượng mưa

- Gió bão: hướng gió thịnh hành có sự phân bố rõ theo mùa gồm gió mùaĐông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau) mang theo không khí lạnh và hơi ẩm

mưa dầm trên diện rộng; gió mùa Đông Nam và đặc biệt gió Tây Nam khô nóngxuất hiện từ tháng 3 đến tháng 8 (khoảng 30 đến 40 ngày/năm, tập trung chủ yếutrong tháng 7), với những đợt nắng nóng kéo dài, tốc độ gió lớn đạt 20m/s, kết hợpvới thiếu mưa gây hạn hán, thời tiết vô cùng khắc nghiệt và có nhiều biến động.Ngoài ra địa bàn Thành phố nằm trong khu vực miền Trung có nhiều cơn bão điqua, bình quân hằng năm phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 1 - 2 cơn bão (thường

từ tháng 7 đến tháng 11), gây nhiều hậu quả đến sản xuất và đời sống nhân dân,nhất là các khu vực thấp trũng, vùng ven biển

Trang 9

1.1.4 Đặc điểm thuỷ văn, thủy triều

Vùng thành phố thuộc lưu vực sông Nhật Lệ, một trong 5 con sông chínhcủa tỉnh Quảng Bình Sông Nhật Lệ do hai nhánh của hệ thống sông Đại Giang

và Kiến Giang hợp thành đổ ra biển Đông qua giữa lòng thành phố, tạo ra cảnhquan môi trường đẹp Ngoài ra còn có các sông Mỹ Cương là một nhánh nhỏ đổ

ra sông Lệ Kỳ, sông Lệ Kỳ là một nhánh nhỏ đổ ra sông Nhật Lệ và sông CầuRào là những sông ngắn nhỏ nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thoátnước của thành phố

Nhìn chung hệ thống sông ngòi trên địa bàn Thành phố có đặc điểm chung

là chiều dài ngắn, dốc, tốc độ dòng chảy lớn Sự phân bố dòng chảy theo mùa rõ rệt

và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mưa lũ ở thượng nguồn và chế độ thuỷ triều ở cửasông Trong mùa mưa, lượng nước chảy dồn từ các sườn núi xuống các thung lũnghẹp, tập trung về các con sông trên địa bàn, cùng với triều cường làm nước sông lênrất nhanh gây lũ và ngập lụt lớn trên diện rộng Ngược lại về mùa khô, mực nướcsông xuống thấp, dòng chảy nhỏ đã hạn chế phần nào đến sản xuất và sinh hoạt, ởcác vùng đất thấp và hạ lưu các con sông thường bị xâm nhập mặn khá sâu về phíathượng nguồn, ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, có thể vận dụngđặc điểm này để quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ

Về đặc điểm thủy triều, vùng biển Đồng Hới và sông Nhật Lệ chịu ảnh hưởngcủa chế độ bán nhật triều ngày với 2 đỉnh triều xen kẽ, biên độ triều cường trungbình 1,2 m, có thể lợi dụng để tàu thuyền ra vào và neo đậu tại các cửa sông

1.1.5 Đặc điểm địa chất công trình

Hiện nay chưa có tài liệu khảo sát tổng thể địa chất công trình cho toànvùng Thành phố, tuy nhiên qua các báo cáo địa chất công trình xây dựng trongkhu trung tâm Thành phố cho thấy nền địa chất khá ổn định, thuận lợi cho xâydựng; mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 6 - 10 m, tuy nhiên các khu vực xâydựng ven sông, biển cần có sự khảo sát kỹ, đề phòng nguồn nước ngầm mạchnông có nhiễm mặn ảnh hưởng đến chất lượng móng công trình

1.2 Các nguồn tài nguyên

1.2.1 Tài nguyên đất

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của Thànhphố là 15.570,56 ha, trong đó diện tích đã được khai thác sử dụng vào các mục đíchnông nghiệp và phi nông nghiệp là 14.882,59 ha (chiếm tới 95,58%), đất chưa sửdụng còn lại 687,97 ha (chiếm 4,42%) Kết quả điều tra nghiên cứu về mặt thổnhưỡng cho thấy đất đai của thành phố thuộc 5 nhóm đất chính bao gồm:

Trang 10

- Nhóm đất xám: có diện tích khoảng 9.060 ha (chiếm 58,25% diện tích tựnhiên toàn Thành phố), phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau, từ địa hìnhthấp, bậc thềm bằng phẳng đến các vùng đồi ở hầu hết các xã phường nhưng tậptrung nhiều ở Thuận Đức, Đồng Sơn, Nam Lý và Bắc Lý Đất được hình thành vàphát triển trên các loại đá mẹ khác nhau như: đá sa phiến, đá biến chất, đá cát, đágranit có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, nghèo bazơ, độ giữ nước vàhấp thụ catrion thấp Phản ứng đất chua, độ phì thấp, hàm lượng mùn và đạmtổng số tầng mặt thấp, lân và kali dễ tiêu nghèo Nhóm đất xám gồm có 5 loại đất

là đất xám feralit (4.689 ha), đất xám kết von (3.316 ha), đất xám bạc màu (580ha), đất xám cơ giới nhẹ kết von sâu (135 ha) và đất xám loang lổ (340 ha) Đây

là nhóm đất có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, nhưng có giá trị trong nôngnghiệp vì phần lớn diện tích đất nằm ở địa hình bằng thoải, thoáng khí, thoát nước,

dễ canh tác và thích hợp với nhu cầu sinh trưởng phát triển của nhiều cây trồngcạn Những nơi có địa hình cao thích hợp cho việc trồng cây ăn quả, cây côngnghiệp và các loại cây hoa màu, một số sử dụng vào trồng rừng chống xói mòn;ngược lại nơi địa hình thấp có khả năng trồng lúa hoặc luân canh, lúa màu

- Nhóm đất phù sa: có diện tích 1.795 ha (chiếm 11,54% quỹ đất tự nhiên),phân bố tập trung ở Phú Hải, Đức Ninh, Đức Ninh Đông, Nghĩa Ninh, Nam Lý,Bắc Lý, Đồng Phú, Lộc Ninh trên địa hình tương đối bằng phẳng Đất được hìnhthành từ trầm tích sông suối lắng đọng vật liệu phù sa ở các cấp hạt khác nhau, cóthành phần cơ giới thịt nặng, phản ứng ít chua, tổng lượng cation kiềm trao đổidao động lớn, hàm lượng mùn và đạm tổng số trung bình khá, lân và ka li tổng số

từ nghèo đến khá, hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu ở mức độ nghèo Đất phù sađược phân thành 6 loại đất phụ là đất phù sa chua điển hình (270 ha), đất phù sachua cơ giới nhẹ (545 ha), đất phù sa chua glây nông (450 ha), đất phù sa glâysâu (310 ha), đất phù sa có tầng mặt loang lổ sâu (100 ha) và đất phù sa glây cótầng đốm rỉ (120 ha) Hiện nay hầu hết quỹ đất phù sa đã được khai thác đưa vào

sử dụng để phát triển các loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, cây lươngthực, thực phẩm cung cấp rau quả hàng ngày cho thành phố Tuy nhiên trên đấtphù sa diện tích trồng lúa nước vẫn là phổ biến, hệ thống cây trồng chưa được đadạng hoá và mức độ thâm canh chưa cao nên năng suất cây trồng, hiệu quả sửdụng đất còn thấp

- Nhóm đất cát và cát biển: có diện tích 2.756 ha, chiếm 17,72% tổng diệntích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các phường xã ven biển (Bảo Ninh, Hải Thành,Quang Phú), được hình thành do quá trình tích tụ bồi lắng của các hệ thống sôngmang vật liệu phong hóa đá (phổ biến là granit) từ vùng núi phía Tây kết hợp với

Trang 11

sự hoạt động của biển (quá trình bờ biển: gió, thủy triều) tạo nên các cồn cát,động cát hay dải cát ven sông, ven biển Đất có thành phần cơ giới nhẹ, phản ứng

ít chua, hàm lượng mùn và đạm ở các tầng đều nghèo, lân, kali tổng số và dễ tiêuđều rất thấp, tổng lượng cation kiềm trao đổi nghèo, dung tích hấp phụ thấp.Hướng sử dụng chính đối với nhóm đất này là phát triển mô hình nông lâm kếthợp, trồng trồng các loại cây rau màu kết hợp các băng rừng phòng hộ, chống cátbay di động để bảo vệ vùng nội đồng, giữ nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinhhoạt của dân cư trong vùng Đồng thời hướng quy hoạch sử dụng hiệu quả vùngcát ven biển là phát triển đô thị, du lịch và dịch vụ

- Nhóm đất mặn: có diện tích khoảng 520 ha, chiếm 3,55% diện tích tựnhiên, phân bố ở địa hình thấp trũng ven biển giáp với các cửa sông (sông Nhật

Lệ, Lệ Kỳ), tập trung ở phường Phú Hải, Hải Đình, Đức Ninh Đông Đất đượchình thành từ các sản phẩm phù sa sông, biển được lắng đọng trong môi trườngnước biển, có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, phản ứng chua vừa, hàm lượngcác chất dinh dưỡng thấp, phù hợp cho việc phát triển rừng ngập mặn và nuôitrồng thủy sản nước mặn, lợ

- Nhóm đất tầng mỏng: có diện tích 460 ha, chiếm 2,96% diện tích tựnhiên, phân bố rải rác ở vùng đồi phía Tây Đất tầng mỏng được hình thành trongđiều kiện địa hình dốc, thảm thực vật che phủ đã bị chặt phá và hậu quả của nhiềunăm canh tác quảng canh, không có biện pháp bảo vệ, phòng chống xói mòn nênđất bị rửa trôi, thoái hóa nghiêm trọng, tầng đất còn lại mịn và mỏng (< 30 cm),kết cấu chặt cứng và nghèo dinh dưỡng, cây trồng sinh trưởng và phát triển kém

1.2.2 Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Đồng Hới có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thốngsông suối, ao hồ khá dày đặc và lượng nước mưa hàng năm lớn (trung bình 1.300

- 4.000 mm/năm), tuy nhiên phân bố không đều theo các tháng trong năm (tậptrung trên 75% vào mùa mưa) Tổng trữ lượng nước mặt ước tính đạt xấp xỉ 500 -

phần cho sinh hoạt và sản xuất Nguồn nước được cung cấp bởi hệ thống bốnsông chính chảy qua gồm: sông Nhật Lệ, sông Mỹ Cương, sông Lệ Kỳ và sôngCầu Rào, ngoài ra còn có 14 hồ, bàu chứa nước tự nhiên và nhân tạo khá phongphú, như hồ Thành, hồ Bàu Tró, hồ Phú Vinh, với trữ lượng khoảng 35 triệu

nước sinh hoạt chủ yếu trước đây của Thành phố với trữ lượng khai thác khoảng

Trang 12

- Nguồn nước ngầm của Thành phố tuy mới được điều tra tổng thể, chưađiều tra chi tiết để đánh giá đầy đủ, nhưng nhìn chung cũng khá phong phú, phân

bố không đồng đều; mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa hình và lượngmưa theo mùa Thông thường ở các địa phương vùng đồng bằng ven biển có mựcnước ngầm nông và dồi dào; các khu vực gò đồi phía Tây, Tây Bắc mực nướcngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô Chất lượng nước ngầm khá tốt,rất thích hợp cho việc khai thác sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất, riêng các khuvực ven biển nước ngầm mạch nông thường bị nhiễm phèn mặn, khả năng khaithác còn hạn chế

Để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước đáp ứng cho mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội, thành phố cần tiếp tục điều tra khảo sát, đánh giá kỹ tình hình tồntại, vận động, trữ lượng, chất lượng, nguồn bổ sung của mạch nước ngầm, đồngthời có kế hoạch khai thác, bảo vệ, dự trữ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước mặt

1.2.3 Tài nguyên rừng

Rừng của thành phố bao gồm rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộven biển và rừng trồng sản xuất, phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã Bảo Ninh,Thuận Đức, Nghĩa Ninh, Bắc Nghĩa, Lộc Ninh, Quang Phú và phường ĐồngSơn, với chức năng bảo vệ nguồn nước, đất đai, hạn chế hiện tượng cát bay, cátnhảy điều hòa khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái Các xã, phường vùng gòđồi chủ yếu là rừng thông nhựa và rừng trồng sản xuất như: keo, bạch đàn; các xãphường ven biển chủ yếu là rừng phi lao phòng hộ chắn cát, gió

Năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố có 6.724,84 ha(chiếm 66,81% trong đất nông nghiệp và 43,19% diện tích đất tự nhiên), bao gồmđất rừng phòng hộ có 3.538,30 ha (chiếm 52,62% đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừngtrồng phòng hộ) và đất rừng sản xuất là 3.186,54 ha (chiếm 47,38%, chủ yếu làđất có rừng trồng sản xuất) Tỷ lệ che phủ bằng cây rừng đạt trên 43%, sản lượng

1.2.4 Tài nguyên biển

Thành phố có trên 15,7 km bờ biển từ Quang Phú đến Bảo Ninh, chiếm13,53% chiều dài bờ biển của tỉnh Quảng Bình Dọc theo bờ biển, có nhiều bãi cáttrắng thoải, môi trường sạch và cảnh quan đẹp là điều kiện thuận lợi cho khai thácphát triển các loại hình du lịch biển và nghỉ dưỡng như bãi tắm Nhật Lệ, QuangPhú, khu Sunspa Resrot (xã Bảo Ninh) Bên cạnh đó, về nguồn lợi hải sản, vùngbiển Đồng Hới được đánh giá có nguồn tài nguyên sinh vật khá phong phú vớinhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực

Trang 13

nang, trong đó mực ống và mực nang có trữ lượng khá và chất lượng cao Sảnlượng hải sản khai thác hàng năm có thể đạt khoảng 5.900 tấn các loại Ngoài ravùng nội địa có nhiều sông suối, ao hồ, ruộng trũng, các bãi bồi ven sông, ven biểncùng với cửa sông lớn Nhật Lệ chảy ra là thế mạnh để phát triển nuôi trồng thủysản và đánh bắt ven bờ Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên biển vẫn còn nhiềuhạn chế do ngư cụ thô sơ, chưa có nhiều tàu lớn để khai thác, đánh bắt xa bờ Mặtkhác nguồn vốn của nhân dân còn nhiều khó khăn nên khả năng đầu tư cho sản xuất,nuôi trồng và đánh bắt còn kém hiệu quả.

1.2.5 Tài nguyên khoáng sản

Theo số liệu điều tra khảo sát, trên địa bàn Thành phố chỉ có nguồn khoángsản phi kim loại (mang tính chất đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ) như: caolanh, cát trắng thạch anh, trong đó đáng chú ý có mỏ cao lanh tại Lộc Ninh quy

mô và trữ lượng trên 30 triệu tấn, là mỏ thuộc loại lớn nhất nước ta rất có điềukiện để khai thác chế biến công nghiệp Hiện đã hoàn thành xây dựng và đi vàohoạt động nhà máy chế biến cao lanh xuất khẩu của Cộng hòa Séc với công suất50.000 tấn bột cao lanh và 40.000 tấn sơn nước/năm tại xã Lộc Ninh

Ngoài ra, cát trắng thạch anh có trữ lượng hàng chục triệu tấn, phân bố trênđịa bàn các xã Lộc Ninh, Quang Phú, Hải Thành và Bảo Ninh; cát xây dựng cũng

có trữ lượng lớn, đã và đang được khai thác phục vụ cho nhu cầu xây dựng củanhân dân; đồng thời còn có nhiều mỏ sét (trữ lượng khoảng 17 triệu m3), là điềukiện để phát triển sản xuất gốm sứ, gạch ngói và vật liệu xây dựng

1.2.6 Tài nguyên nhân văn

Thành phố Đồng Hới là một đơn vị hành chính gắn liền với quá trình hìnhthành, phát triển của tỉnh Quảng Bình Các hiện vật khai quật tại bàu Tró chothấy người Việt đã đến định cư ở khu vực này từ 5000 năm trước đây - giai đoạn

đồ đá mới Trải qua một thời kỳ dài trong lịch sử, đây là khu vực tranh chấp giữavương quốc Champa và Đại Việt, nơi giao tranh giữa các thế lực phong kiến, xâythành đắp lũy để làm nơi trấn biên Cùng với việc xây dựng thành là việc pháttriển thị (chợ búa) và dân cư tới sinh sống trong và xung quanh khu vực thành.Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, nhân dân nơi đây đã viết nên trang sử quêhương rạng rỡ, với truyền thống văn hoá đặc sắc, gắn liền với truyền thống anhdũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với Quảng Bình, ĐồngHới vừa là lũy thép kiên cường, tuyến đầu đánh Mỹ vừa là hậu phương trực tiếpcủa tiền tuyến lớn miền Nam Những tên làng, tên đất, tên người như: dòng Nhật

Trang 14

Lệ, trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, em bé Bảo Ninh, mẹ Suốt, đã đi vàolịch sử cùng với các công trình kiến trúc văn hoá, di tích lịch sử có giá trị lưu lạimãi mãi như: cổng Tam Tòa, Quảng Bình Quan, luỹ Đào Duy Từ, hồ Bàu Tró, khuvực Hồ Thành, khu vực đồi Giao Tế, đây là tài nguyên phong phú về văn hoá vậtthể và phi vật thể không thể thay thế, cần được bảo tồn, tôn tạo.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1976 tỉnh Bình Trị Thiênđược thành lập trên cơ sở 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, Đồng Hới

là một thị xã giữ vai trò trung tâm kinh tế văn hoá của các huyện, khu vực phíaBắc Sau ngày tái lập tỉnh Quảng Bình (01/7/1989), thị xã Đồng Hới trở lại vai trò

là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh và được đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nhằm từngbước nâng cao chất lượng đô thị hạt nhân và ngày 16/8/2004, Chính phủ đã cóNghị định thành lập thành phố Đồng Hới (đô thị loại III) thuộc tỉnh Quảng Bình

Nơi đây đã từng là xuất phát điểm của các cuộc Nam tiến, là địa bàn trọngyếu của những tháng ngày máu lửa Với nhiệm vụ xây dựng Thành phố sau sựtàn phá khốc liệt của bom đạn, cùng với cái khắc nghiệt của thời tiết là công việc

vô cùng khó khăn, vất vả và nhiều thử thách Nhưng với truyền thống anh hùng,cách mạng, niềm tự hào quê hương; ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn,Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Đồng Hới đã huy động mọi nguồn lực, bướcđầu tạo môi trường thuận lợi cho thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, du lịch,phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình phúc lợi côngcộng, chỉnh trang đô thị, phát triển thương mại, du lịch dịch vụ phù hợp với xuthế chung của cả nước, góp phần thúc đẩy thêm sự phát triển kinh tế - xã hội củaQuảng Bình và khu vực

Cộng đồng các dân tộc anh em trên địa bàn Thành phố chung sống gắn bóđoàn kết, cần cù chịu khó, với những nét phong tục, lễ hội, tập quán văn hóamang đậm đà bản sắc dân tộc như: hò khoan chèo cạn, múa bông ở Bảo Ninh, lễhội cầu ngư ở Bảo Ninh, Hải Thành, lễ hội bơi trải truyền thống trên sông NhậtLệ, làm đa dạng và phong phú đời sống văn hóa sinh hoạt cộng đồng, cùngnhững thành tựu đạt được trong lao động, sản xuất, đã đánh dấu sự nỗ lực vươnlên không ngừng của người dân xây dựng nên mảnh đất này Kế thừa và phát huynhững kinh nghiệm, thành quả đạt được sẽ là tiền đề và điều kiện thuận lợi thúcđẩy cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới

1.3 Thực trạng môi trường

Là thành phố ven biển, Đồng Hới có các khu du lịch phong cảnh đẹp, cơ sở

hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị được quan tâm đầu tư chỉnh trang, cải tạo và nâng

Trang 15

cấp, chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn đã ngày càng trở nên hấp dẫn đối với

du khách gần xa Những năm qua, nhất là từ khi triển khai Luật Bảo vệ môitrường, công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực môi trường đã có sự quan tâm,chú ý Đảng bộ, chính quyền các cấp của Thành phố đã sớm có những chủ trương,giải pháp đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường Thực hiện tốt công tác xãhội hóa, phong trào vệ sinh môi trường trong các khu dân cư, các cơ quan, xínghiệp có nhiều chuyển biến, ý thức của người dân được nâng lên Ô nhiễm môitrường ở các khu vực trọng điểm được quan tâm xử lý Tuy nhiên đây là vấn đềcòn khá mới mẻ, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường trong một số bộ phận nhândân vẫn còn hạn chế Trong quá trình đẩy mạnh phát triển nền kinh tế xã hội, diễnbiến về môi trường sinh thái của Thành phố đang đứng trước nguy cơ bị xuống cấp

và suy thoái, ảnh hưởng xấu đến đời sống dân cư và sản xuất:

- Quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải chuyển đổi một phần diện tích các loạiđất nông nghiệp, lâm nghiệp để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng; xây dựngcác khu, cụm công nghiệp, các điểm dân cư, tăng nhanh dân số cơ học từ nôngthôn ra thành thị, cùng với hoạt động ngày càng tăng của các phương tiện giaothông, việc sử dụng các loại hoá chất trong canh tác nông nghiệp (thuốc trừ sâu,trừ cỏ, phân hóa học) chưa được kiểm soát chặt chẽ, đã dẫn đến phá vỡ các hệsinh thái và gây nguy cơ ô nhiễm môi trường

- Một số cơ sở sản xuất công nghệ đã cũ kỹ, lạc hậu gây ô nhiễm môitrường; quá trình phát triển công nghiệp, các khu dân cư, tạo ra nguồn rác thải,nước thải khá lớn nhưng chưa được xử lý triệt để, không ít rác và nước thải do ýthức còn hạn chế và thói quen của người dân đã xả trực tiếp xuống sông, kênhrạch, ao hồ gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng trực tiếp đến dân cư sinh sốngxung quanh; việc xây dựng, cải tạo công trình, nhà cửa thiếu kiểm soát, việc vậnchuyển vật liệu đất đá xây dựng, cũng góp phần làm tăng thêm độ ồn, gây ônhiễm không khí cho thành phố; việc khai thác đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản cònmang tính tự phát theo phương pháp, hình thức khác nhau, thiếu khoa học cũnglàm ô nhiễm nguồn nước và cạn kiệt nguồn tài nguyên thuỷ hải sản

- Hạ tầng kỹ thuật môi trường, đặc biệt là cấp thoát nước đô thị tuy được cảithiện, nhưng mức độ đầu tư còn thấp so với yêu cầu Hiện tại mạng lưới thoátnước, thu gom và xử lý rác thải trên địa bàn thành phố còn chưa theo kịp nhu cầuphát triển Nước thải sinh hoạt và công nghiệp chỉ mới được xử lý cục bộ mộtphần, còn phần lớn chưa được xử lý triệt để Hệ thống thoát nước vẫn là hệ thốngcống chung, chưa bao phủ hết thành phố, mới chỉ tập trung ở khu vực các phường

Trang 16

nội thị như Đồng Phú, Đồng Mỹ, Hải Đình Rác thải thu gom mới đạt khoảng80% so với thực tế, số còn lại vẫn còn tồn đọng chưa được thu gom.

Từ những vấn đề nêu trên, trong những năm sắp tới, cùng với quá trìnhkhai thác các nguồn lợi một cách tối đa để phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chấtlượng cuộc sống, đảm bảo cảnh quan môi trường sinh thái được bền vững và ổnđịnh cần phải có các quy định chính sách cụ thể trong đầu tư; đồng thời cần xâydựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, tăng cường nguồn vốn chomục đích bảo vệ môi trường; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân và

dự kiến trước các biện pháp để kịp thời ngăn ngừa, hạn chế khắc phục ô nhiễm

Có các giải pháp lâu dài về xử lý ô nhiễm môi trường ở các khu cụm côngnghiệp, bệnh viện, hệ thống thoát nước ở các khu dân cư, đặc biệt là khu dân cư

đô thị Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đưa tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất; tích cực trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷsản; xử lý nghiêm các hành vi làm huỷ hoại môi trường sinh thái

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Trên đà phát triển chung của xã hội, những năm gần đây nền kinh tế củaThành phố có những bước tăng trưởng và phát triển khá toàn diện; chất lượng tăngtrưởng của một số ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục được cải thiện và bắtđầu phát huy hiệu quả Tiềm năng, lợi thế trên địa bàn được tập trung khai thác,chất lượng sản phẩm được từng bước nâng cao gắn với chế biến và xuất khẩu

Bảng 1: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THÀNH PHỐ THỜI KỲ 2001 - 2010

2001 - 2005

Giai đoạn

2006 - 2010

Nguồn: Phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài chính Kế hoạch thành phố

Thời kỳ 2001 - 2010, nền kinh tế luôn duy trì phát triển ổn định và liên tụcđạt mức tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giaiđoạn 2006 - 2010 đạt 14,0% (chỉ tiêu kế hoạch 14 - 15%), cao hơn giai đoạn

Trang 17

2001 - 2005 (tăng trưởng bình quân đạt 12,5%), trong đó khu vực khu vực côngnghiệp - xây dựng giá trị sản xuất tăng bình quân 16,9%; khu vực thương mạidịch vụ - du lịch tăng 16,5%; khu vực thủy sản - nông lâm nghiệp tăng 5,9%.

Các ngành kinh tế đều có sự phát triển, ngành công nghiệp - xây dựng, dịch

vụ tăng khá, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra Sức cạnh tranh của nền kinh tế tuy cònkhó khăn nhưng đã có sự chuyển biến tích cực Nguồn thu ngân sách tăng bìnhquân 28,2%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đến 2010 ước đạt 69triệu USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.150 USD/năm, gấp 1,53 lần so vớinăm 2005

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong suốt thời kỳ 2001 - 2010, cơ cấu kinh tế của Thành phố theo GDP

có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tếchung của tỉnh Tỷ trọng nhóm ngành ngư nông lâm nghiệp giảm dần và có sựchuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa; tỷ trọng ngành công nghiệp và hoạtđộng dịch vụ tăng nhanh, nhất là công nghiệp chế biến và du lịch, từ đó sản phẩmhàng hóa xuất khẩu tăng, dịch vụ du lịch trở thành ngành kinh tế động lực kéotheo sự phát triển của một số ngành khác như đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạtầng cơ sở phục vụ cho phát triển du lịch, phù hợp dần với yêu cầu chuyển đổi cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Bảng 2: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI

Đơn vị tính: %

Nguồn: Phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài chính Kế hoạch thành phố

Khu vực thủy sản nông lâm có tỷ trọng giảm liên tục trong cơ cấu GDP củaThành phố từ 12,5% năm 2000 xuống còn 8,5% năm 2005 và đến năm 2010 còn5,1% (chỉ tiêu kế hoạch là 6 - 8%) Ngược lại tỷ trọng của khu vực công nghiệp -xây dựng và khu vực dịch vụ trong GDP tăng dần, tương ứng tăng từ 36,7% và50,8% năm 2000 lên 39,5% và 52,0% năm 2005, đạt 41,5% và 53,4% năm 2010 (kếhoạch là 40 - 41% và 52 - 53%)

Nhìn chung, cơ cấu kinh tế của Thành phố những năm qua đã chuyển dịch

Trang 18

theo hướng tích cực và thay đổi đều ở cả ba khu vực, ngày càng củng cố dần cơcấu Dịch vụ - Công nghiệp - Nông lâm thủy sản Tuy nhiên mức độ chuyển dịchkinh tế hiện nay diễn ra vẫn còn chưa có bước đột phá.

2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

Nông, lâm, ngư nghiệp của Thành phố là ngành chiếm tỷ trọng thấp nhấttrong cơ cấu giá trị sản xuất GDP (năm 2010 là 5,1%), tốc độ tăng trưởng bìnhquân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 5,9%/năm Xu thế phát triển theo hướng tậptrung, tích cực thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất,chất lượng và hiệu quả sản xuất, tác động hỗ trợ nhau cùng phát triển; khai thácthủy sản bước đầu gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu; hoạt động lâmnghiệp chuyển dần sang lâm nghiệp xã hội hóa; kinh tế trang trại bước đầu pháttriển cả về số lượng, quy mô, phát huy ưu thế của từng vùng Cơ cấu kinh tế nội bộngành chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng thủy sản, giảm tỷ trọng nông, lâmnghiệp Phát triển nông nghiệp đã chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa có giá trị

và chất lượng cao gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nông thôn mới

a) Lĩnh vực nông nghiệp: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn Thành phố đang

định hình rõ nét dần theo xu thế chuyên canh, tạo được nhiều điều kiện thuận lợicho sản xuất hàng hóa, cơ bản từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn Giai đoạn 2006 - 2010 do quá trình đô thị hóa nên diệntích gieo trồng lúa giảm đáng kể, giảm từ 2.244 ha năm 2005 xuống còn 2.111 hanăm 2008, đến 2010 còn 2.040 ha, tuy vậy năng suất lúa vẫn đảm bảo ổn định và

có tăng nhẹ bình quân 0,74%/năm Diện tích các cây trồng khác tăng đáng kể nhưngô tăng bình quân 16,9%/năm, lạc tăng 8,4%/năm, ớt tăng 11,8%/năm; khoailang và khoai các loại giảm nhẹ Cơ cấu cây trồng và mùa vụ đã có nhiều chuyểnđổi; trong nội bộ ngành, giá trị sản lượng trồng trọt giảm từ 44,3% năm 2005xuống còn 43% năm 2009 Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2010 đạt khoảng20.800 triệu đồng, tăng 2,5% so với năm 2009, trong đó tổng diện tích gieo trồng

là 2.587 ha, sản lượng lương thực đạt trên 11.200 tấn, năng suất lúa bình quân đạttrên 55 tạ/ha, diện tích thâm canh lúa cao sản tăng 3,3%, diện tích có giá trị thunhập trên 50 triệu đồng/1ha chiếm khoảng 30% diện tích đất canh tác

Về chăn nuôi, tiếp tục phát triển theo hướng tập trung, trong đó phát triểnmạnh mô hình trang trại, chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn và thu được kếtquả tốt Cơ cấu trong chăn nuôi đã có thay đổi giữa tỷ lệ các nhóm vật nuôi,chuyển đổi mạnh về hình thức nuôi và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Sảnphẩm chăn nuôi đa dạng, phong phú, chất lượng vật nuôi được cải tạo và nângcao rõ rệt So với năm 2005, giá trị chăn nuôi tăng bình quân 4,5%/năm; tỷ trọng

Trang 19

chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đến năm 2010 đạt 49,1%; tổngđàn trâu tăng 1,7%/năm; tổng đàn bò tăng 1,4%/năm; tổng đàn lợn tăng2,2%/năm; tổng đàn gia cầm giảm 6,7%/năm; sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng13,6%/năm Chất lượng đàn bò, lợn được cải thiện, tỷ lệ bò lai, lợn ngoại trongtổng đàn ngày càng tăng và cơ bản chủ động được giống lợn ngoại cung ứng chonhân dân nuôi nái, nuôi thịt Chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp tiếptục phát triển, bước đầu đã đạt được những kết quả rõ nét về số lượng và quy mô,nhất là các trang trại chăn nuôi lợn, bò, trang trại tổng hợp, tập trung chủ yếu ởvùng gò đồi như xã Thuận Đức, Nghĩa Ninh, Bắc Nghĩa Nhiều hộ đã mạnh dạnđầu tư tiền vốn lớn để xây dựng chuồng trại, mở rộng quy mô sản xuất Đến nay

đã có 44 trang trại đạt tiêu chí (6 trang trại trồng trọt, 10 trang trại chăn nuôi, 16trang trại thủy sản và 12 trang trại tổng hợp) với tổng giá trị sản lượng hàng hoácủa các trang trại năm 2009 là 34.472 triệu đồng Bình quân giá trị sản lượnghàng hoá 784 triệu đồng/trang trại; trong đó trang trại chăn nuôi có doanh thu khácao, bình quân trên 1,3 tỷ đồng/trang trại

Hiện tại thành phố đã xây dựng một số cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tậptrung, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Công tác kiểm dịch vật nuôi đượctăng cường, các dịch vụ về thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y ngày càng nhiều, đápứng nhu cầu người chăn nuôi, không để bùng phát các loại dịch bệnh Ngườichăn nuôi đã nhận thức được vai trò quan trọng của công tác giống nên đã thựchiện tốt các chương trình sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn, nâng cao được chấtlượng gia súc, gia cầm

b) Lĩnh vực lâm nghiệp: Trong cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp của

thành phố, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ với tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạtkhoảng 18.925 triệu đồng Giai đoạn 2005 - 2010 hoạt động lâm nghiệp đã cónhiều cố gắng thực hiện, đạt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra Công tác quản lý, bảo vệ

và phát triển rừng được tăng cường, việc duy trì và trồng rừng tập trung ở cácvùng cát ven biển, vùng đồi trọc được đẩy mạnh, đã góp phần ngăn chặn đượctình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng Công tác giao đất, giao rừng,xây dựng vườn rừng, đồi rừng đã được thực hiện tốt; công tác trồng, chăm sóc,bảo vệ rừng được chú trọng đẩy mạnh bằng nhiều nguồn vốn đầu tư và đạt kết quảkhá, đã trở thành phong trào của quần chúng nhân dân Thành phố đã giao và cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích trên 350 ha cho các hộ dân chủđộng sản xuất, phát triển kinh tế vùng đồi, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập

Giai đoạn 2001 - 2010, bình quân mỗi năm trồng mới 40 ha rừng tập trung

và hàng vạn cây phân tán trên các trục đường chính, tại các công viên, trườnghọc, đã góp phần cải thiện dần từng bước môi trường sinh thái, tạo vẻ đẹp cho

Trang 20

cảnh quan đô thị Đến nay, toàn thành phố có 6.725 ha đất rừng, trong đó rừngphòng hộ 3.538 ha, rừng sản xuất 3.187 ha, độ che phủ rừng trên tổng diện tíchđất tự nhiên của thành phố đạt trên 43%, sản lượng gỗ tròn khai thác hàng năm đạt

cho 200 ha, khoanh nuôi đơn giản cho 654 ha rừng Tuy nhiên rừng trong khu vựcđang có nguy cơ suy giảm do cháy rừng, phá rừng để nuôi trồng thuỷ sản việckhôi phục lại rừng trong các năm tới sẽ là cần thiết

c) Lĩnh vực thủy sản: được xác định là ngành kinh tế quan trọng (đứng vị

trí thứ 2 trong cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp), do đó trong những năm quathành phố đã khai thác tốt tiềm năng, tận dụng lợi thế để phát triển toàn diện cảđánh bắt, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thuỷ sản Giá trị sản xuất ngành thủy sảnnăm 2010 đạt 64.900 triệu đồng với tổng sản lượng thủy sản đạt 8.900 tấn, tăng44,4% so với năm 2005 (tốc độ tăng bình quân là 8,8%/năm)

Cơ cấu nghề nghiệp khai thác có nhiều đổi mới và chuyển dịch theo hướngđánh bắt xa bờ, chú trọng các đối tượng xuất khẩu Ngư dân đã mạnh dạn đầu tưđổi mới thiết bị ngư cụ, chuyển đổi nghề nghiệp, năng lực khai thác tăng lên đáng

kể Đến nay toàn thành phố có 539 tàu với tổng công suất gần 30 nghìn CV (bìnhquân 55 CV/tàu), tăng so với năm 2005 là 71 tàu thuyền, sản lượng thủy sản khaithác tăng bình quân 3 - 4%/năm Đã thành lập và phát triển đa dạng các mô hìnhđánh bắt hải sản (54 tổ đội với 318 tàu thuyền tham gia), chú trọng mở rộng ngưtrường, kết hợp khai thác đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môitrường sinh thái biển

Nuôi trồng thủy sản có bước chuyển biến mạnh trên cơ sở ổn định về diệntích và nâng cao chất lượng theo hướng hàng hóa Năm 2010 toàn thành phố có

465 ha nuôi trồng thủy sản, bao gồm thủy sản nước mặn, lợ là 222 ha, nước ngọt

243 ha, với tổng sản lượng đạt 1.462 tấn (trong đó cá nước ngọt chiếm 45%), sảnlượng tăng bình quân 12,8%/năm Diện tích nuôi thủy sản mặn, lợ tập trung chủyếu tại các phường Đức Ninh Đông, Phú Hải, Đồng Phú, với các đối tượng nuôichính là tôm sú, tôm chân trắng, cá mú, cá hồng mỹ, cá diêu hồng Nuôi thủy sảnnước ngọt được nhân rộng theo mô hình lúa cá, phù hợp với những chân ruộngtrũng trên địa bàn các xã Đức Ninh, Lộc Ninh, phường Bắc Lý, với các đốitượng nuôi truyền thống như trắm cỏ, trôi, chép, ngoài ra còn du nhập và pháttriển các giống mới như cá lăng, cá chép môi trề, trê lai, rô phi đơn tính, mang lạigiá trị kinh tế cao

* Nuôi trồng thủy sản: Với 2 hình thức nuôi trồng thủy sản là nuôi thủy

Trang 21

sản mặn lợ và thủy sản ngọt đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, phát triển mạnh theohướng sản xuất hàng hóa Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2010 ước đạt 455 ha

(diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ là 183 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản ngọt là 272 ha)

Hình thức nuôi cá - lúa phát triển mạnh, phù hợp với như ở 2 xã là ĐứcNinh, Lộc Ninh và phường Bắc Lý

Nhìn chung, kết quả nuôi trồng thuỷ sản chưa ổn định, rủi ro còn khá cao,thậm chí còn bị mất mùa trắng do việc nuôi trồng còn mang tính tự phát, khôngtheo quy hoạch; quy trình kỹ thuật nuôi áp dụng còn tùy tiện, ứng dụng các tiến bộ

kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản còn yếu, nhất là phòng chống dịch bệnh, hệthống cấp thoát nước chưa được đồng bộ

* Chế biến thủy sản: Hiện nay, hoạt động thu mua và chế biến thủy sản

xuất khẩu trên địa bàn gặp nhiều khó khăn do các đơn vị chuyển sang cổ phầnhóa và chuyển đổi chủ đầu tư nên hoạt động chế biến thủy sản xuất khẩu bịngưng trệ trong thời gian qua Với các mặt hàng chế biến chủ yếu là tôm và mựcđông lạnh chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản, ngoài ra còn có mặthàng khô cũng là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, giá trị xuất khẩu năm 2006 đạt

500 tấn, năm 2007 đạt 530 tấn, năm 2008 đạt 670 tấn, phấn đấu tăng bình quânhàng năm 13,2% về sản lượng và 20% về giá trị xuất khẩu

Ngoài ra, chế biến nội địa như: nước mắm, cá khô cũng được đẩy mạnh,chất lượng sản phẩm được đảm bảo và tiêu thụ tốt, góp phần giải quyế tốt đầu racho đánh bắt, giải quyết việc làm cho ngư dân và đáp ứng được tiêu dùng của

người dân (năm 2006 đạt 340 tấn, năm 2007 đạt 365 tấn, năm 2008 đạt 370 tấn, sáu tháng đầu năm 2009 đạt 205 tấn) Sản lượng đánh bắt và nuôi trồng đã vượt

chỉ tiêu kế hoạch, song việc chế biến hải sản còn yếu, sản phẩm đơn điệu, chấtlượng thấp, việc xây dựng thương hiệu sản phẩm hải sản yếu, do đó khả năngcạnh tranh thấp trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu

2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp

Hoạt động sản xuất Công nghiệp - TTCN đang từng bước ổn định và giữđược tốc độ tăng trưởng khá, được chỉ đạo đầu tư phát triển mạnh về sản xuất vậtliệu xây dựng và công nghiệp chế biến, giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN năm

2010 ước đạt 1.182,000 triệu đồng tăng 15,8% so với năm 2009 Tốc độ tăngtrưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn giai đoạn 2006 - 2010đạt 16,9%, vượt mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 18 vànghị quyết 04/NQ-TV đề ra Sự phát triển của ngành trong thời gian qua góp

Trang 22

phần tích cực trong sự chuyển dịch cơ cấu, nâng cao tỷ trọng công nghiệp - xâydựng trong tổng giá trị chung của nền kinh tế, tăng từ 41,4% năm 2009 đến năm

2010 là 41,5%

Tổng số cơ sở xản xuất Công nghiệp - TTCN năm 2005 trên địa bàn có

1552 cơ sở, đến năm 2009 tăng 488 cơ sở và 1914 lao động so với năm 2005, giảiquyết việc làm cho hơn 10.470 lao động Dự kiến đến cuối năm 2010 trên địa bàn

có 2300 đến 2400 cơ sở sản xuất, giải quyết việc làm cho 11.100 đến 11.200 laođộng có việc làm

Dưới sự chỉ đạo của tỉnh, thành phố đã triển khai một loạt dự án đầu tư vớiquy mô vừa và nhỏ, làm tiền đề cho sự phát triển bền vững, đã có nhiều doanhnghiệp đầu tư vào các cụm TTCN, cụ thể: các doanh nghiệp đầu tư vào cụmTTCN Thuận Đức với 7 dự án, điểm TTCN Tân Sơn (trên địa bàn Đức Ninh) với

6 dự án với tổng số vốn đầu tư khoảng 21 tỷ đồng Ngoài ra, còn có các doanhnghiệp triển khai trên địa bàn như Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Bình,Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Quảng Bình, nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu PhúQuý, xí nghiệp gỗ mỹ nghệ Phương Anh, nhà máy đóng tàu VINASIN QuảngBình, nhà máy gạch Ciramic Đồng Hới, công ty cổ phần vật liệu xây dựng 1.5,…

Giai đoạn 2006-2010 các doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục sắp xếp lại theohình thức cổ phần hóa do tỷ trọng giá trị sản xuất của doanh nghiệp Nhà nước có

xu hướng giảm dần (năm 2006 chiếm 62,9%, năm 2007 chiếm 55,6%, năm 2008

là 52,8%, năm 2009 chiếm 51,3%, và năm 2010 chiếm 46,7%) Bên cạnh đó,

kinh tế tư nhân lại góp phần không nhỏ cho sự tăng trưởng chung của toàn ngành,giá trị sản xuất công nghiệp của kinh tế tư nhân năm 2006 chiếm tỷ trọng 37,1%,năm 2009 chiếm 48,7% và năm 2010 chiếm 53,3% trong tổng giá trị chung

Ngành công nghiệp chuyên môn hóa vẫn được duy trì ổn định và giữ đượctốc độ tăng trưởng cao Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành như sản xuấtchế biến thực phẩm, đồ uống, may mặc, sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa;sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất các sản phẩm từ kim loại, sửa chữa xe cóđộng cơ luôn chiếm tỷ trọng cao so với toàn ngành Giai đoạn 2006-2010 ước tốc

độ tăng trưởng bình quân năm của ngành chế biến gỗ đạt 41,7%, dệt may đạt33,26%, in ấn đạt 29,34%; lương thực, thực phẩm đạt 21,91%, sản xuất sản phẩm

từ chất khoáng phi kim loại đạt 12,3%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đạt 11,5%

Theo quyết định số 3277/QĐ-UB ngày 12/10/2004 của UBND tỉnh QuảngBình về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Cụm TTCN&NNNT tỉnhQuảng Bình”, thành phố Đồng Hới được tỉnh cho phép quy hoạch 7 cụm và 9

Trang 23

điểm với diện tích dự kiến 102 ha Hiện nay trên, đã thực hiện xây dựng được

điểm Tân Sơn (quy mô 1,5 ha), cụm Thuận Đức (quy mô 10,8 ha), cụm TTCN

Ninh (quy mô 10 ha); trong năm 2010 sẽ xây dựng các cụm điểm TTCN tại

Quang Phú, Hải Thành, Đức Ninh Đông Hiện tại đã có 13 dự án đi vào sản xuất

và phát huy được hiệu quả với tổng số vốn đầu tư đạt 269 tỷ đồng, thu hút trên

2000 lao động

Nhìn chung, kết quả phát triển công nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế so với yêucầu đề ra, nguồn vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất hạn chế,đặc biệt là vốn đầu tư xây dựng các cụm điểm TTCN, vốn đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh chủ yếu là nguồn vốn vay, do đó hạn chế đến khả năng tích lũy tái đầu tưcủa các cơ sở sản xuất Các ngành công nghiệp như cơ khí, điện tử, công nghiệp phụtrợ còn ít và với quy mô nhỏ chủ yếu là gia công, lắp ráp; sản xuất công nghiệp -TTCN chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa

2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ

- Dịch vụ thương mại: Ngành thương mại trong những năm qua đã tập

chung kinh doanh những mặt hàng thiết yếu, phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sốngcho nhân dân trên địa bàn và khách du lịch như: vật tư nông nghiệp, công nghệphẩm, văn hóa phẩm, thực phẩm, các mặt hàng mỹ nghệ, hàng trang trí nội thất,dịch vụ, ăn uống…với tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội tăng trưởng ổn định với

nhịp độ khá, năm 2009 đạt 2.712 tỷ đồng (tăng 17,8%) Hoạt động thương mại

-dịch vụ phát triển khá nhanh, phong phú, đa dạng, hàng hóa lưu thông ngày càngthuận lợi, góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế và phục vụ nhu cầutiêu dùng của xã hội cũng như yêu cầu phát triển sản xuất của các ngành kinh tế

Lực lượng lao động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ tăng lên cả về mặt

số lượng và chất lượng, năm 2010 trên địa bàn thành phố ước có 17.933 lao độngkinh doanh trên ngành thương mại, khách sạn, nhà hàng và dịch vụ trong đó lao

động trong khu vực quốc doanh là 1.600 (chiếm 8,9%), lao động trong khu vực tập thể là 60 người (chiếm 0,33%), lao động tư nhân và cá thể là 16.273 người (chiếm 90,74% tổng số lao động toàn ngành), ngoài ra còn có 600 doanh nghiệp

tư nhân và 5.548 cơ sở cá thể kinh doanh trong lĩnh vực thương mại

Mạng lưới dịch vụ thương mại phát triển phong phú ngày càng được mởrộng, các cơ sở kinh doanh tăng nhanh từ năm 2006 tổng số cơ sở kinh doanhthương mại là 4.233, năm 2010 số cơ sở kinh doanh thương mại là 5.548 cơ sở.Hiện tại thành phố có 13 chợ trong đó có 7 chợ nội thành, 6 chợ nông thôn, bình

Trang 24

quân mỗi xã có 1 chợ, tuy nhiên số chợ phân bố không đều làm hạn chế trực tiếpđến nhu cầu mua sắm của nhân dân như xã Bảo Ninh, phường Phú Hải, HảiThành và một số xã, phường khác Ngoài ra còn có 2 trung tâm thương mại hạngIII là chợ Đồng Hới và chợ Nam Lý, cùng với 3 siêu thị chuyên doanh loại III là

2 siêu thị sách và siêu thị Hiếu Hằng Nhìn chung, cơ sở vật chất ngày càng đượctăng cường, hàng hóa và thị trường thương mại trao đổi mạnh, thương mại nộiđịa phát triển nhưng vẫn còn ở mức thấp, chưa tạo được nguồn hàng ổn định chấtlượng, cơ chế quản lý kinh doanh còn thiếu năng động, khả năng cạnh tranh thấp,hiệu quả kinh tế chưa cao

- Dịch vụ du lịch: Phát triển nhanh, diễn ra sôi động, nhộn nhịp và trở

thành một ngành kinh tế độc lập, quan trọng Các hoạt động du lịch phong phú đadạng với nhiều loại hình, một số khu du lịch chất lượng cao được xây dựng; nhiềunhà hàng, khách sạn được đầu tư nâng cấp và xây mới nhất là khu vực biển, thu hútđược sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tỷ lệ cán bộ phục vụ trong ngành dulịch qua đào tạo được nâng cao rõ rệt, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của dukhách Quy mô và loại hình du lịch ngày càng phát triển, năm 2009 có 8.170 cơ sởhoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch với 1.206 nhà hàng, khách sạn Lượng khách

du lịch đến Đồng Hới ngày càng tăng, năm 2009 có 416.904 lượt người (tăng 14%),

đạt 102,1% kế hoạch và tăng 14,3% so với cùng kỳ, đạt doanh thu 742 tỷ đồng Trên

địa bàn ước tính trong năm 2010 có 1.332 nhà hàng, khách sạn (trong đó bao gồm

119 khách sạn, nhà nghỉ với 2.089 phòng, với nhiều khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 2 sao, đặc biệt khu du lịch sinh thái Sunspa Resort trên địa bàn xã Bảo Ninh đạt tiêu chuẩn 4 sao, với 214 buồng và 400 giường), đáp ứng được yêu cầu của du

khách trong nước và quốc tế đến thăm quan, nghỉ ngơi Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng

phục vụ du lịch (giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc,…) chưa được đồng bộ,

sản phẩm du lịch còn nghèo và chất lượng dịch vụ, công tác phục vụ ngành du lịchchưa đáp ứng đủ yêu cầu

- Dịch vụ khác: Bao gồm dịch vụ tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông,

vận tải, bảo hiểm, vui chơi, giải trí,… ngày càng phát triển Vận tải hàng hóa, hànhkhách chất lượng được nâng cao, đáp ứng hầu hết nhu cầu đi lại của nhân dân.Dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp như cơ khí sửa chữa, đào tạo nghề đượcchú trọng, đã cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

2.3.1 Dân số

Năm 2010 dân số Thành phố ước tính là 113.973 người bao gồm 78.568

Trang 25

nhân khẩu thành thị (chiếm 68,93%); dân số trong độ tuổi lao động là 67.130

người; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2009 là 12,26‰ Dân cư phân bố khôngđồng đều giữa các đơn vị hành chính phường, xã; đa số tập trung với mật độ caotại khu vực các phường nội thị và nơi có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, hệthống hạ tầng cơ sở đồng bộ; còn các khu vực khác thì mật độ dân cư thưa thớt,

cụ thể: Mật độ dân số bình quân chung của Thành phố năm 2009 là 719

người/km2, những phường có mật độ dân số cao là phường Đồng Mỹ (4.652 người/km 2 ); Nam Lý (3.504 người/km 2 ), Hải Đình (2.607 người/km 2 ) và những xã

người/km 2 ).

Thực hiện các chỉ tiêu về kế hoạch hóa gia đình năm 2009 toàn Thành phố

đã đạt 95% kế hoạch được giao; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 10,32%, giảm0,8% so với cùng kỳ, giảm tỷ suất sinh 0,51‰ so với năm 2008; qua đó ta thấycông tác dân số, kế hoạch hóa gia đình được chú trọng, mức giảm sinh hàng nămđược duy trì Tuy nhiên, gần đây dân số liên tục gia tăng cơ học do sức hút từ quátrình mở mang, phát triển đô thị và các khu dân cư mới Với tốc độ thị hóa ngàycàng cao như hiện nay; cùng với việc phát triển và hình thành, mở rộng về phíaTây thành phố các khu công nghiệp, các khu du lịch, khu dân cư trong thời giantới thì tỷ lệ tăng dân số cơ học theo dự báo sẽ có nhiều biến động

2.3.2 Lao động

Bằng các giải pháp đồng bộ, Thành phố đã huy động được nhiều nguồn lực

từ các thành phần kinh tế, kết hợp với các chương trình, dự án để tạo việc làmcho người lao động, đưa 2.858 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài,bình quân giải quyết việc làm cho 6.700 lao động/năm, nâng cao đời sống chongười dân Lao động trong các nghành kinh tế là 56.753 người, trong đó: Laođộng nông, lâm, thủy sản là 12.228 người, lao động trong công nghiệp - xây dựng

là 18.628 người, trong ngành dịch vụ là 25.717 người Lao động trong độ tuổikhông có việc làm là 3.419 người, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là22.754 người, lao động trong ngành thương mại là trên địa bàn thành phố ước17.933 người

Thông qua chính sách thu hút lao động giỏi làm việc tại địa phương, đếnnay trình độ học vấn trong lực lượng lao động xu hướng được nâng lên và có khảnăng tăng nhanh trong các năm sau, công tác đào tạo lại lao động được chú trọngquan tâm Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40.2 % so với tổng số laođộng trên địa bàn

Trang 26

2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

Ngoài ra, đã tập chung xây dựng nhiều các công trình, dự án khác như: Dự

án vệ sinh môi trường, khu đô thị mới, các siêu thị, khách sạn, hệ thống vỉa hè,công viên, cây xanh, cấp thoát nước, điện, đường, trường, trạm, bưu chính viễnthông, phát thanh truyền hình từng bước được hoàn thiện, cảnh quan đô thị ngàycàng được khởi sắc Đến nay các tuyến đường trục, các khu chức năng đô thị đãdần hình thành và có dáng vẻ hiện đại, tuy nhiên cũng chỉ mới tập trung ở một sốkhu vực trung tâm, các phường nội thị như: Phường Đồng Mỹ, Nam Lý, HảiĐình,…Trụ sở các khối cơ quan các Sở, ban, ngành được xây dựng tập chungchủ yếu tại phường Hải Đình Kết cấu hạ tầng được đầu tư khá toàn diện làm thayđổi nhanh chóng cả về kiến trúc và cảnh quan, quy mô và tính chất xây dựng ngàycàng lớn, số lượng khách tham quan, du lịch ngày càng tăng Thực hiện nghị quyếtchuyên đề về “phát triển cây xanh đường phố Đồng Hới giai đoạn 2006 - 2010”hiện nay Thành phố đã thành lập trung tâm công viên cây xanh, đã đáp ứng việctrồng cây xanh với số lượng cây được trồng và thay thế trên các tuyến đường đặcbiệt là là 5.737 cây với tổng kinh phí đầu tư trên 2 tỷ 725 triệu đồng

Trang 27

Tình hình quản lý đô thị, trật tự xây dựng nói chung từng bước được đẩy

mạnh Trong 5 năm (giai đoạn 2006 - 2010) trên địa bàn đã triển khai tăng cường

công tác kiểm tra và xử lý hơn 1.782 lượt trường hợp vi phạm về xây dựng, trật

tự đô thị và vệ sinh môi trường; trong đó kiểm tra 854 trường hợp xây dựng cáccông trình trụ sở, nhà ở và các công trình khác của các tổ chức, cá nhân; tổ chức

xử phạt vi phạm hành chính đối với 269 trường hợp và tổ chức cưỡng chế 12trường hợp xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng

2.4.2 Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn

Thành phố Đồng Hới hiện tại có 6 xã dân số sống ở nông thôn (34.890 người),

chiếm 35,17% dân số toàn Thành phố và chiếm 4,87% dân số nông thôn của cả tỉnh.Tổng số diện tích khu dân cư nông thôn là 2.448,93 ha, bình quân đất khu dân cưnông thôn 701,90 m2/người, bình quân đất ở tại nông thôn 47,71 m2/người Tuy nhiên

người/km 2 ); trong khi đó xã có mật độ đô thị thấp nhất là Thuận Đức (80 người/km 2 ), Nghĩa Ninh (271 người/km 2 ).

Trong những năm qua, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùnglàm”, các khu, cụm dân cư trong Thành phố đã có nhiều thay đổi, hệ thống cơ sở

hạ tầng như giao thông, điện, nước đã được đưa về tới tận các thôn; kiến trúc vềnhà ở ngày càng khang trang và hiện đại hơn, đã góp phần cải thiện và nâng caođời sống của nhân dân Tuy nhiên, thực trạng cơ sở hạ tầng trong nhiều cụm dân

cư còn khó khăn, 30% số hộ dân chưa được dùng nước sạch

- Giao thông đối ngoại: Tổng các tuyến giao thông đường bộ của thành

phố Đồng Hới là 422,3 km, gồm: Quốc lộ, tỉnh lộ, đường Hồ Chí Minh (82,96 km); đường nội thành và giao thông nông thôn là: 339,34 km, đường nhựa bê

tông: 126,59 km, đường cấp phối và đường đất: 259,71km.(theo số liệu cũ)

- Quốc lộ 1A chạy qua địa bàn thành phố với chiều dài 11,96 km đã đượcnâng cấp hoàn chỉnh

- Xây dựng được tuyến đường tránh quốc lộ 1A với tổng chiều dài 26 km,

Trang 28

nền rộng mặt đường 55m, tổng diện tích chiếm đất là 88 ha (tuyến tránh Quốc lộ 1A chạy qua phường Bắc Lý dài 3.818 m, phường Nam Lý dài 1.669 m, xã Lộc Ninh dài 1.020 m, xã Đức Ninh dài 3.251 m, phường Đức Ninh Đông dài 649 m, Thuận Đức dài 5.104 m, Bắc Nghĩa dài 235 m).

- Tuyến đường Hồ Chí Minh qua Thành phố đã đầu tư giai đoạn 1 tạo điềukiện thuận lợi cho giao thông vận tải, thông thương của Thành phố;

- Công trình Cầu Nhật Lệ nối liền trung tâm Thành phố với Khu du lịchBảo Ninh được đưa vào sử dụng cuối năm 2004 tạo bước chuyển biến mới choviệc khai thác, phát triển du lịch

- Giao thông nội thị và các tuyến giao thông nông thôn: Năm 2009 các

xã có 166,55 km đường giao thông nông thôn, trong đó đường liên xã, liên thôn64,617 km, chiếm 38,8%; đường thôn, xóm 101,93 km, chiếm 61,2% tổng sốđường giao thông Số km đường giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa là 62,7

km, đạt 37,6% tổng số đường giao thông nông thôn Trục đường liên xã, liên thônđược bê tông hóa đạt khoảng 72%, đường thôn, xóm được cứng hóa đạt 18%,trong đó đường cấp phối và đường đất là 295,71 km Giao thông nội đồng có 66

km, tập chung chủ yếu là đường đất, đường cấp phối, hàng năm đều được đầu tưnâng cấp, sửa chữa đảm bảo đi lại cho nhân dân và các phương tiện vận chuyểnsản phẩm nông nghiệp

* Đường sắt: Có tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua với tổng chiều dài 9

km, đây là tuyến đường sắt quan trọng, phục vụ việc đi lại của nhân dân trong

tỉnh cũng như giữa các tỉnh, thành phố trên cả nước Ga Đồng Hới (nằm trên địa bàn tiểu khu 4 phường Nam Lý) với vai trò là một nhà ga trung tâm, một trong

những ga chính với cơ sở vật chất kỹ thuật tốt đảm bảo nhu cầu đi lại của hànhkhách và vận chuyển hàng hóa nội, ngoại tỉnh

* Đường thủy: Có 4 sông chính với tổng chiều dài 24 km (gồm Sông Nhật

Lệ, sông Mỹ Cương, sông Lệ Kỳ, sông Cầu Rào) và nhiều tuyến sông nhỏ khác

chảy qua địa bàn thành phố đem lại lợi thế lớn về giao thông đường thủy, phục vụcho việc khai thác hải sản vào ra chủ yếu tại các khu vực cửa sông

* Đường hàng không: Cảng hàng không Đồng Hới được khởi công xây dựng

vào cuối năm 2004 (nằm trên địa phận 2 xã Lộc Ninh và Quang Phú), được đưa vào khai thác từ tháng 5 năm 2008 Là cảng hàng không nội địa với quy mô cấp 4C (sân

đỗ máy bay rộng 15.000 m 2 , nhà ga hành khách 2 tầng rộng 4.282 m 2 ; đường cất, hạ cánh dài 2.400m, rộng 45m), sử dụng cho máy bay A320, A 321 hoặc tương đương

trở xuống, có năng lực thiết kế 500.000 hành khách/năm, nhà ga cảng hàng không

Trang 29

Đồng Hới có năng lực thiết kế 300 hành khách/giờ cao điểm; đã đáp ứng nhu cầu vậntải hàng không, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt

là khai thác hiệu quả tiềm năng lớn về du lịch

2.5.2 Thủy lợi

* Hệ thống thoát nước: Gồm có 46 tuyến với chiều dài 24 km (chủ yếu tập trung ở phường Hải Đình và phường Đồng Mỹ), các công trình được xây dựng từ

lâu và trải qua nhiều giai đoạn nâng cấp, cải tạo quy mô nhỏ Qua quá trình quản

lý và sử dụng cho thấy việc quy hoạch hệ thống thoát nước vẫn còn nhiều bấtcập, chỉ bao phủ được một phần nội thành; công tác duy tu, bảo dưỡng còn gặpnhiều khó khăn, chưa được thường xuyên đã làm giảm khả năng tiêu thoát Tìnhtrạng xả nước thải còn diễn ra phổ biến, tại nhiều điểm khác trên hệ thống hồ, cácnhánh sông và trên sông Nhật Lệ Hiện tại vẫn chưa có hệ thống thu gom và xử lýnước thải riêng

* Hệ thống cấp nước: Hiện nay, nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu là

hút từ hồ về nhà máy xử lý nước sạch, một tháp nước và một mạng lưới đườngống cấp nước dài 57 km, trong đó 20 km đường ống mới bằng nhựa PVC, còn lại

là đường ống cũ bằng gang hoặc sắt Bên cạnh lấy nước từ hồ Bàu Tró, đang triểnkhai hoàn thiện việc xây dựng nhà máy nước hồ Phú Vinh với công suất 19.000

2.5.3 Bưu chính viễn thông

Mạng lưới bưu chính - viễn thông đang từng bước phát triển mạnh, ngàycàng được hiện đại hóa với kỹ thuật tiên tiến, chất lượng thông tin được nâng cao.Hiện nay 100% UBND các xã, phường được trang bị điện thoại và dịch vụ bưuchính; 02 xã, phường có bưu điện văn hóa, mạng thông tin viễn thông kỹ thuật sốđược triển khai lắp đặt Đến ngày 31/12/2009 tổng số máy điện thoại toàn Thành

phố có 206.868 chiếc (trong đó: điện thoại di động phát triển với 153.201 chiếc, điện thoại cố định có 53.667 chiếc, bình quân 183,8 máy/100 dân); góp phần đáp

ứng yêu cầu phục vụ chỉ đạo của chính quyền các cấp, các ngành xuống cơ sởcũng như nhu cầu giao lưu trao đổi thông tin, liên lạc Bên cạnh đó, các điểm bưuđiện - văn hoá xã đã và đang được xây dựng phát triển rộng khắp cùng với cácnhà trạm, bưu cục, kiốt tạo điều kiện rút ngắn thời gian thư báo, nâng cao đờisống vật chất, tinh thần mọi mặt của nhân dân

Gần đây hoạt động về viễn thông, công nghệ thông tin phát triển nhanhchóng và đa dạng, trên địa bàn có 6 doanh nghiệp kinh doanh gồm Vinaphone,

Trang 30

Mobiphone, Viettel, EVN Telecom, Sfone, Vietnam Mobile với các điểm BTS đãphát sóng trên địa bàn tính đến hết quý II năm 2009 là 86 điểm Tuy nhiên côngtác quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông nói chung,quản lý các trạm BTS nói riêng là vấn đề khó khăn phức tạp do việc tiến hànhxây dựng không báo cáo chính quyền địa phương, không có giấy phép xây dựngdẫn đến việc xây dựng không đảm bảo quy hoạch, gây mất cảnh quan đô thị.

2.5.4 Năng lượng

Hiện tại có trạm biến áp 220/110/10KV-2x63MVA, đây là trạm nút nguồncủa hệ thống điện Quốc gia, trạm 220KV Đồng Hới cung cấp điện cho toàn thànhphố, của cả tỉnh cũng như một số tỉnh trong khu vực như Quảng Trị, Thừa ThiênHuế Mạng lưới điện từng bước cải thiện và nâng cấp, với 38,1 km tuyến đường

chính trong nội thị đã được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng (đạt tỷ lệ 95%),

mạng lưới điện hạ thế đã đến hầu hết số hộ dân sử dụng điện với mức tiêu thụđiện năng bình quân đầu người là 629 KWh/năm Mạng lưới điện phát triển làmthay đổi cơ bản bộ mặt khu vực nông thôn, nâng cao đời sống văn hoá - xã hội;củng cố quốc phòng - an ninh, đáp ứng tốt cho quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp và nông thôn

2.5.5 Giáo dục đào tạo

Trong những năm qua mạng lưới cơ sở giáo dục được sắp xếp cơ bản phùhợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Trên địa bàn 16 xã,phường cơ cấu giáo dục tương đối ổn định; mỗi xã, phường đều có trường mầmnon, tiểu học, trung học cơ sở với tổng số trường là 55 trường và có 01 TTHTCĐ(trừ xã Thuận Đức, xã Nghĩa Ninh mới chia tách chưa có trường THCS), có những

xã, phường có 02 trường THCS như phường Đồng Sơn, Nam Lý, Bắc Lý; có từ 02đến 03 trường tiểu học như phường Nam Lý, Bắc Lý, Đồng Sơn, xã Bảo Ninh Hệ

thống trường mầm non có 21 cơ sở giáo dục (có16 trường mầm non, 04 trường tư thục, 01 trường dân lập); mẫu giáo có 133 lớp (bán công 109 lớp, dân lập 06 lớp, tư thục 18 lớp), số cháu huy động vào mẫu giáo 4.663/4.783, đạt 97,5%, trẻ 5 tuổi huy

động vào mẫu giáo 1.634/1.634, đạt 100%, trong nhà trẻ có 183 nhóm trẻ trong đó

có 17 nhóm trẻ bán công, 159 nhóm trẻ gia đình và 07 nhóm trẻ tư thụ, huy độngtrong nhà trẻ 1846/3503 đạt 52,7% Hệ thống trường tiểu học có 22 trường trong đó

có 01 trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật, có 7.918 em/ 294 lớp Hệ thống trườngTHCS có 17 trường với 210 lớp, với số học sinh 6749, số học sinh tốt nghiệp lớp 5được huy động vào lớp 6 là 1452 em, đạt tỷ lệ 100% Đội ngũ cán bộ quản lý, giáoviên, nhân viên đã cơ bản đáp ứng yêu cầu, quy mô phát triển mạng lưới trường lớp

Trang 31

và chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất ngày càng kiên cố, đồng bộ đạt chuẩn hóa cao

và từng bước hiện đại, có 60% trường đạt chuẩn quốc gia (mầm non có 05 trường, tiểu học có 20 trường, THCS được đầu tư từ ngân sách thành phố và ngân sách xã, phường trên 12,5 tỷ đồng xây dựng 06 trường chuẩn quốc gia), 78% phòng học

được xây dựng kiên cố

Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý được đẩy mạnh, tăngcường bồi dưỡng về trình độ đào tạo, nâng cao năng lực sư phạm Đến nay tổng sốcán bộ, giáo viên, nhân viên toàn ngành có 1.466 người, trong đó đảng viên là 1.011người, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo là 100%, giáo viên đạt trên chuẩn là 879người, tỷ lệ 60%

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, môi trường giáo dục ở các trường họcngày càng được chuẩn hóa, các trường phổ thông đã đầu tư máy vi tính trong quátrình dạy học và công tác quản lý, có 26 trường lập trang Web phục vụ cho công tác

quản lý và trao đổi thông tin (mầm non có 03, tiểu học có 11 và THCS có 12 trường với tỷ lệ 43,3%)

2.5.6 Thực trạng phát triển Y tế

Công tác y tế thời gian qua đã được củng cố, tăng cường về cơ sở vật chất,trang thiết bị, thuốc men và cán bộ y tế, tổ chức tốt công tác khám, chữa bệnh chonhân dân Mạng lưới cơ sở y tế ngày càng được củng cố và mở rộng, nâng caochất lượng hoạt động

Về cơ sở vật chất thì hiện tại trên địa bàn có 01 bệnh viện đa khoa thànhphố Đồng Hới; 16/16 xã, phường có trạm y tế với 100 giường bệnh, 01 trung tâmphục hồi chức năng, 01 phòng khám đa khoa khu vực trên địa bàn Cộn; đến nay

có 13/16 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% thôn, tiểu khu có nhânviên y tế, trong năm 2009 đã xây dựng mới 6 trạm y tế và đã đưa vào sử dụng 02

trạm (trên địa bàn phường Bắc Lý và phường Đức Ninh Đông), trong năm 2010

sẽ có 11/16 trạm y tế được kiên cố hóa, trang thiết bị dụng cụ được trang bị đầy

đủ, bổ xung kịp thời cho các trạm y tế đặc biệt những trạm mới vừa chia tách

Về công tác y tế dự phòng và các chương trình y tế quốc gia, phòng chốngcác bệnh xã hội, thì công tác giám sát dịch tễ, phòng trừ và ứng phó dịch bệnhđược tổ chức thường xuyên nên đã phát hiện dịch sớm, triển khai phương án xử

lý dập tắt dịch kịp thời Các trương trình y tế quốc gia như trương trình phòngchống Lao, Phong, Bướu cổ, tâm thần được triển khai có hiệu quả, bệnh nhânđược phát hiện quản lý chặt chẽ, điều trị sớm Chương trình HIV/AIDS đượctriển khai xuống tận xã, phường, số người nhiễm HIV dương tính được tư vấn

Trang 32

chiếm tỷ lệ cao, công tác tiêm chủng mở rộng đến nay cơ bản 6 bệnh truyềnnhiễm ở trẻ được đẩy lùi, bệnh bại liệt được thanh toán

Hầu hết các công trình bệnh viện và các trạm y tế đều thuộc diện kiên cố,tuy nhiên vẫn còn một số công trình nhà cấp 4 và phòng tạm trên địa bàn các xã,

phường (phường Hải Thành, phường Nam Lý, phường Bắc Nghĩa, xã Lộc Ninh,

xã Đức Ninh, xã Nghĩa Ninh) Tuy nhiên vẫn còn thiếu các bệnh viện chuyên

khoa, bác sỹ chuyên sâu dẫn đến chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân còn

có những hạn chế nhất định, hoạt động y tế ở tuyến cơ sở chưa đồng đều; do đócần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa cả về trang thiết bị cũng như cơ sở vật chấttạo điều kiện nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân được tốt hơn

2.5.7 Văn hóa Thông tin - TDTT

a Lĩnh vực văn hóa thông tin

Các hoạt động văn hóa văn nghệ, sinh hoạt câu lạc bộ, xây dựng nếp sốngvăn hóa thông tin tuyên truyền, giáo dục truyền thông đã có sự chuyển biến tíchcực ngày càng được chú trọng và các hoạt động đã đi vào chiều sâu, từng bướcphát triển rộng cả về số lượng và quy mô, nội dung và hình thức theo hướng triểnkhai về cơ sở Nhiều lễ hội được tổ chức hàng năm gắn với kỷ niệm các ngày lễlớn với quy mô và chất lượng như: lễ hội Cầu Ngư ở Hải Thành, lễ hội Chèo cạnmúa bông ở Bảo Ninh, lễ hội đua thuyền truyền thống thành phố…Nhiều loạihình sinh hoạt đang phát triển có hiệu quả như đội văn nghệ quần chúng, các câu

lạc bộ đàn và hát dân ca, câu lạc bộ thơ nhạc, (đến nay đã xây dựng được 01 câu lạc bộ đàn và hát dân ca của thành phố và 16 câu lạc bộ dân ca ở 16 xã, phường, 221 đội văn nghệ quần chúng, 319 câu lạc bộ với nhiều loại hình phong phú đa dạng) Cơ sở vật chất và các phương tiện hoạt động trên lĩnh vực văn hóa

thông tin và truyền thông của xã, phường, thôn và các tiểu khu có những chuyểnbiến tích cực, năm 2009 có 137/155 thôn, tiểu khu và phường Đồng Sơn có nhàvăn hóa, giai đoạn 2010 có 146/155 thôn và tiểu khu có nhà văn hóa, chiếm 94%.Trên địa bàn thành phố đã có 16 tủ sách pháp luật với 3.869 quyển sách, 53 tủsách nhà văn hóa thôn với 5000 cuốn sách, 13 đơn vị xã, phường, thôn, tiểu khuđược trang cấp thiết chế văn hóa Công tác phát thanh truyền hình đã được quantâm trong những năm qua, có 3 xã, phường có trạm truyền thanh và 160 cụm loa

FM lắp đặt ở các thôn, tiểu khu

Công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa đạt hiệu quả cao, các hoạt động vănhóa truyền thống được khôi phục và phát triển, việc bình xét danh hiệu gia đìnhvăn hóa, làng văn hóa, đơn vị văn hóa ngày càng đi vào chiều sâu và chất lượng

Trang 33

Số hộ gia đình và các đơn vị đạt danh hiệu văn hóa ngày càng tăng, đến năm

2010 có 92% gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 70 - 71% thôn, tiểu khu đạtdanh hiệu làng văn hóa, khu phố văn hóa

Ý thức về xây dựng nếp sống văn minh đô thị đã từng bước đi vào cuộcsống của mỗi người dân, công tác bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa được quantâm chú trọng, thường xuyên kiểm tra, xử lý các vi phạm về xâm phạm di tíchlịch sử Trên những thành tích đã đạt được cũng còn có một số tồn tại như: cácphương tiện hoạt động, quỹ đất phục vụ cho quy hoạch các cơ sở văn hóa, thểdục thể thao còn thiếu, chưa được chú trọng và chưa đáp ứng được nhu cầu hoạtđộng văn hóa thông tin cơ sở, hiện tại còn 9 thôn, tiểu khu chưa có đất xây dựngnhà văn hóa, các trung tâm văn hóa thể thao thành phố chưa đáp ứng được yêucầu về cơ sở vật chất; 15 xã, phường chưa có trung tâm văn hóa thể thao cấp xã

b Lĩnh vực thể dục thể thao

Phong trào thể dục thể thao được phát triển mạnh mẽ dưới nhiều hình thức,nội dung phong phú, có nhiều tiến bộ, đang từng bước được mở rộng và phát triển,huy động được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia tập luyện với nhiều nội dung

và hình thức phong phú Trong năm 2010 dự kiến có 36% dân số tập luyện thể dụcthể thao thường xuyên, số hộ gia đình đạt gia đình thể thao chiếm 35% tổng số hộ.Xây dựng được 320 đội bóng truyền nam, nữ; thành lập 78 đội bóng đá thanh thiếuniên, 289 điểm tập luyện thể dục thể thao, với 80 câu lạc bộ thể dục thể thao vớinhiều loại hình phong phú đa dạng Nhiều môn thể thao truyền thống được khơidậy và ngày càng phát triển trong cộng đồng dân cư như kéo co, bơi trải, bóngchuyền, bóng đá, cùng với một số môn thể thao mới phát triển như đẩy gậy, võthuật, bóng chuyền bãi biển được đưa vào thi đấu ở các giải cấp thành phố Côngtác đào tạo cán bộ và vận động viên đã được chú trọng, đã đào tạo được 300 hướngdẫn viên, CTV cho cơ sở và 4500 vận động viên

Nhìn chung, số lượng công trình còn thiếu nhiều về chủng loại và số lượng

(có 01 sân vận động thành phố), công trình đã có thì chưa phù hợp với hoạt động

thể thao nâng cao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của ngành

2.5.8 Quốc phòng, An ninh

Đồng Hới có vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược về quốc phòng, anninh Hiện nay, trên địa bàn có 23 điểm đất quốc phòng với diện tích 1107736

dân và gần các khu rừng phòng hộ, với các mục đích sử dụng: Khu vực đóngquân, thao trường bắn, thao trường huấn luyện, khu vực kho vũ khí đạn, khu căn

Trang 34

cứ hậu phương,…

Trong những năm qua, công tác Quốc phòng - An ninh được tăng cường,chính trị xã hội được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có bước chuyển biến tiến bộ.Đẩy mạnh phong trào xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, biên phòngtoàn dân và thế trận an ninh nhân dân, gắn phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ

quốc với cuộc đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” của

các thế lực thù địch Kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, phát triển kinh tế với củng cốquốc phòng - an ninh Tiến hành tổ chức tốt các cuộc diễn tập và nâng cao chấtlượng các trung đội dân quân biển, trung đội cơ động các xã, phường và 2 trung đội

cơ động của Thành phố Thành lập mới đại đội pháo phòng không 37 ly thường trựcsẵn sàng chiến đấu, luôn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra Tăngcường công tác giáo dục nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trong cán bộ, nhândân Triển khai đồng bộ chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phát độngnhiều phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phối hợp các lực lượng tổchức các đợt đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn ngừa tai nạn giao thông và các

trong cơ cấu kinh tế đúng hướng (Công nghiệp - TTCN phát triển khá, từng bước

đã nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh trên thị trường, dịch vụ phát triển mạnh; sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp phát triển tương đối toàn diện, có

xu hướng chuyển dần sang sản xuất hàng hóa tập chung và có sự chuyển dịch tích cực trong nội bộ ngành), đồng thời cùng với sự gia tăng dân số và mật độ

phân bố dân cư không đồng đều giữa thành thị và nông thôn dẫn đến mức độ sửdụng đất rất khác nhau trong từng khu vực cụ thể, do đó đã và đang tạo nênnhững áp lực lớn đối với đất đai của thành phố

Các vấn đề về giáo dục đào tạo ngày càng được đổi mới, phát triển về quy

mô, từng bước nâng cao chất lượng trong giảng dạy, trong việc đầu tư về cơ sởvật chất, cơ sở hạ tầng Cùng với đó là các hoạt động văn hóa thông tin - thể dụcthể thao có sự chuyển biến về cả nội dung lẫn hình thức Trong công tác quốcphòng - an ninh đã được tăng cường, chính trị - xã hội đã được giữ vững Trongnhững năm qua thành phố đã thực hiện có hiệu quả nhiều chương trình xóa đóigiảm nghèo, đã giải quyết được việc làm và chính sách xã hội, từng bước nâng

Trang 35

cao đời sống cho người dân.

Hạ tầng giao thông đô thị cũng như giao thông nông thôn phát triển tươngđối đồng bộ cả về đường bộ, đường sông, đường sắt, đường hàng không, phục vụtốt nhu cầu đi lại của nhân dân và đã tạo được mối liên kết với các tỉnh, vùngtrong cả nước với các tuyến đường, trục đường chính như Quốc lộ 1A, đường HồChí Minh, cảng hàng không Đồng Hới, Thực trạng phát triển về thủy lợi, nănglượng, bưu chính viễn thông,…cũng có tốc độ phát triển khá, kịp thời đã đáp ứngcho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt

Ngoài những thuận lợi đã đạt được cũng còn tiềm ẩn nhiều khó khăn bấtcập: Nền kinh tế còn nhiều yếu tố không ổn định, thiếu bền vững do phụ thuộcnhiều vào nguồn vốn nhà nước, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cònthấp, phân bổ lực lượng sản xuất chưa đồng đều, chất lượng nguồn nhân lực, lựclượng lao động kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý, trình độ người lao động trongcác ngành còn yếu, tỷ lệ lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấulao động xã hội, đồng thời chưa gắn chặt sản xuất với xuất khẩu, hàng hóa chủyếu xuất khẩu trong nội địa

Để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa khi tốc độ đô thị hóa ngày càng cao thìviệc đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, cáccông trình văn hóa - thể thao, khu vui chơi giải trí, công viên cây xanh trên địabàn Đồng Hới luôn đòi hỏi một quỹ đất tương đối lớn, không những gây sức épvề quy mô diện tích mà còn tạo ra áp lực lớn trong việc xác định vị trí xây dựng,

bố trí các công trình trong các khu vực thành thị như một số phường Đồng Mỹ,Nam Lý, Hải Đình,…

Với sự phát triển đô thị hóa ngày càng diễn ra nhanh chóng với mật độ xâydựng lớn cùng với áp lực về dân số đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường,đây cũng chính là một vấn đề cần có sự quan tâm của các cấp chính

Trang 36

Phần II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

có quy hoạch, kế hoạch, tự ý chuyển mục đích, cất nhà trái phép, khai hoang tựphát, lấn chiếm đất công, tranh chấp đất đai, giao đất trái thẩm quyền, xảy rakhá phổ biến Công tác đo đạc theo Chỉ thị 299/TTg để cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất tuy đã được tiến hành nhưng tiến độ thực hiện chậm, chưa thật

sự giải quyết được những đòi hỏi về điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vựcđất đai của thời kỳ này

Từ khi Luật Đất đai năm 1993 ban hành, cùng với các địa phương trongtỉnh, Đảng bộ và nhân dân thành phố Đồng Hới đã thực hiện tốt các chủ trươnglớn của Nhà nước và của Ngành về quản lý Nhà nước đối với đất đai, từng bướcđưa công tác này đi vào nề nếp ổn định, hạn chế được những tiêu cực phát sinhtrong quản lý và sử dụng đất Đất đai được đo đạc, người sử dụng đất được cấpgiấy chứng nhận để thực hiện các quyền sử dụng đất theo Luật Tình trạng lấnchiếm, tranh chấp, khiếu nại, làm trái quy định giảm dần Đặc biệt sau khi LuậtĐất đai năm 2003 ra đời và có hiệu lực thi hành, công tác quản lý đất đai trên địabàn Thành phố tiếp tục được củng cố, lực lượng cán bộ được tăng cường PhòngTài nguyên và Môi trường hiện nay (phòng Địa chính trước đây) là đơn vị trựctiếp tham mưu cho UBND Thành phố trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai

đã cơ bản hoàn thành được những nhiệm vụ và kế hoạch của Ngành cũng nhưcủa Tỉnh, Thành phố đề ra Kết quả cụ thể trên từng nhiệm vụ quản lý được thểhiện ở các mặt sau:

1.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện

Trang 37

Thực hiện Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/12/2004 của Thủ tướngChính phủ về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003, cùng các văn bảncủa UBND Tỉnh về việc chỉ đạo, hướng dẫn cho các địa phương trên địa bànTỉnh thực hiện việc quản lý và sử dụng đất, UBND Thành phố Đồng Hới đãnghiêm túc triển khai, đồng thời ban hành một số văn bản, quy định hướng dẫncho các xã, phường thuộc Thành phố thực hiện, góp phần quan trọng trong việcđưa Luật Đất đai đi vào cuộc sống, cũng như tạo hành lang pháp lý cho việc giảiquyết các vấn đề có liên quan đến việc sử dụng đất trên địa bàn, phù hợp với điềukiện thực tế của Thành phố.

Ngoài ra UBND Thành phố còn tổ chức mở các lớp hội nghị tập huấn vềchuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ Địa chính - Xây dựng của các xã phường; cáclớp tuyên truyền, học tập văn bản pháp luật đất đai cho các cán bộ tạo nguồn củaThành phố nhằm không ngừng nâng cao nhận thức về pháp luật đất đai cho cán

bộ, đóng góp tích cực trong việc thực thi các nhiệm vụ của ngành

1.2 Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Thực hiện chỉ thị 364/ HĐBT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh QuảngBình, UBND thành phố Đồng Hới cùng các huyện giáp ranh: Bố Trạch, QuảngNinh đã tiến hành hoạch định lại ranh giới trên cơ sở tài liệu đo đạc 299/TTg và

đo đạc chỉnh lý bổ sung Năm 2005, các cơ quan, đơn vị có chức năng đã xácđịnh lại địa giới hành chính của thành phố Đồng Hới tại khu vực phường Phú Hảitiếp giáp với xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh Hiện tại, địa giới hành chínhgiữa Thành phố với các huyện và địa giới giữa các xã, phường trong Thành phố

đã được thống nhất rõ ràng, xác định rõ trên bản đồ cột mốc địa giới hành chính

và được mô tả chi tiết trong hồ sơ

1.3 Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính của Thành phốtrong những năm qua đã đáp ứng được các yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai

và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tính đến 01/01/2010, 16/16 xã,phường của Thành phố đã tổ chức đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy, gồmcác tỷ lệ 1/500; tỷ lệ 1/1000 và tỷ lệ 1/2000 Nhưng do nhu cầu sử dụng đất trênđịa bàn Thành phố hiện nay, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa càng ngàycàng tăng nên cần phải đo đạc chỉnh lý biến động thường xuyên phục vụ tốt cho

Trang 38

công tác cấp giấy nhứng nhận quyền sử dụng đất và lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất chi tiết cấp xã, phường.

1.4 Công tác quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất

Việc lập quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thànhphố Đồng Hới trong giai đoạn 2001 - 2010 đã được triển khai khá đồng bộ từ cấphuyện đến cấp xã, hiện nay đang thực hiện lập quy hoạch sử dụng đất đến năm

2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) của thành phố và 16/16 xã,phường Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần đảm bảo tínhthống nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai và giúp cho thành phố thựchiện được quyền định đoạt về đất đai, nắm chặt quỹ đất đai, bảo đảm cơ sở pháp lýcho việc giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất Quy hoạch kế hoạch sửdụng đất cũng đã giúp cho Thành phố chủ động dành quỹ đất cho phát triển cácngành, các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

a) Quy hoạch sử dụng đất: đã tổ chức lập quy hoạch chung sử dụng đất đến

năm 2010, định hướng đến năm 2015 cho 4/6 xã (Đức Ninh, Nghĩa Ninh, ThuậnĐức, Quang Phú) đạt 66,6% xã; với diện tích 7049 ha, đạt 70,2% tổng diện tích

tự nhiên các xã

b) Quy hoạch xây dựng: trình UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết xây

dựng cho xã Bảo Ninh, với diện tích 585 ha; quy hoạch chi tiết xây dựng cụmtrung tâm cho các xã Bảo Ninh, Đức Ninh, Lộc Ninh, Quang Phú và đang tiếnhành lập quy hoạch chi tiết còn lại với diện tích 400 ha Giai đoạn 2001 – 2009,UBND tỉnh đã quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng cho các xã trênđịa bàn thành phố với diện tích 1376 ha, chiếm 75,6% diện tích đất phi nôngnghiệp Quy hoạch chi tiết xây dựng các công trình, các khu dân cư,… do thànhphố phê duyệt theo phân cấp đến 2009 được 222,515 ha, chiếm 12,2% diện tíchđất phi nông nghiệp

Đến nay, diện tích ở xã được lập quy hoạch chi tiết xây dựng hoàn chỉnh đạt1/6 xã (Bảo Ninh); quy hoạch các cụm trung tâm xã đạt 4/6 xã (Bảo Ninh, ĐứcNinh, Lộc Ninh, Quang Phú)

1.5 Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

1.5.1 Giao đất, cho thuê đất

Công tác giao đất, cho thuê đất trong thời gian qua đã có nhiều cải tiến, thủ

Trang 39

tục đơn giản, đáp ứng yêu cầu của người dân Trong năm 2010 Ủy ban nhân dânThành phố đã giao 415,11 ha cho 5.987 hộ gia đình, cá nhân sử dụng, trong đó:Đất ở: 66,62 ha, đất nông nghiệp: 348,49 ha Ngoài ra Thành phố đã giao và chothuê 30,33 ha, cho 2 tổ chức, trong đó: 1 trường hợp giao đất lâm nghiệp với diệntích: 29,03 ha; 1 trường hợp giao đất nuôi trồng thủy sản với diện tích: 1,3 ha.

1.5.2 Thu hồi đất

Một trong những khó khăn nhất trong thời gian qua là việc thu hồi đất, bồithường, giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người có đất bị thu hồi Công việcnày tuy đã đáp ứng được nhu cầu đất ở đầu tư xây dựng các công trình nhưng cònbất cập như: quá trình tiến hành dài, không dứt điểm; giải quyết vấn đề giá trị bồithường chưa hợp lý đã gây nên tình trạng khiếu kiện của người bị thu hồi đất

1.6 Công tác đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tính đến ngày 31/12/2005, toàn thành phố Đồng Hới đã cấp chứng nhậnquyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân được 28.171 hộ/42.801 hộ cần phảicấp và 29.828 giấy với diện tích 2.227,10 ha/3.926,90 ha cần phải cấp, đạt65,82% về số hộ và đạt 56,71% về diện tích

1.7 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Thành phố đã thực hiện tốt công tác thống kê đất đai hằng năm và thựchiện tổng kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất theo định kỳ

5 năm, như tổng kiểm kê đất đai năm 1995 theo Chỉ thị số 382/CT/ĐC ngày31/03/1995 của Tổng cục Địa chính, tổng kiểm kê đất đai năm 2000 theo Chỉ thị

Trang 40

số 24/1999/CT- TTg ngày 18/8/1999 và tổng kiểm kê đất đai năm 2005 theo Chỉthị số 28/2004/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ, tổng kiểm kêđất đai năm 2010 theo thỉ thị số 618/2009/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủtướng Chính phủ Qua đó giúp các địa phương trong thành phố nắm chắc đượcquỹ đất đai qua mỗi kỳ 5 năm làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất

Nhìn chung chất lượng của công tác thống kê, kiểm kê đất đai đã từngbước được nâng cao Kết quả của các công tác này là tài liệu quan trọng, phục vụđắc lực trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn, tuy nhiên vẫn còn

có sự sai lệch giữa số liệu, bản đồ và thực tế

1.8 Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Trong những năm qua, công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy

định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai đã được thựchiện thường xuyên dưới nhiều hình thức như thanh, kiểm tra theo kế hoạch hoặcđột xuất Trong năm 2005, Thành phố đã làm việc với Thanh tra Sở Tài nguyên

và Môi trường kiểm tra tại xã Bảo Ninh Làm việc với Thanh tra tỉnh về công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo để giải quyết một số trường hợp khiếu nại, tố cáo docấp tỉnh chuyển về Qua thanh tra đã kịp thời phát hiện vi phạm và xử lý bằngnhiều biện pháp như: đình chỉ việc sử dụng đất; thu hồi diện tích không sử dụng,

sử dụng kém hiệu quả, sử dụng sai mục đích, góp phần đưa công tác quản lý đấtđai đi vào nề nếp

1.9 Công tác giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

Nhìn chung công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo được thực hiệnkhá tốt, xử lý kịp thời, dứt điểm các trường hợp vi phạm Luật Đất đai như sử dụngđất không đúng mục đích, tranh chấp, lấn chiếm Năm 2005, Thành phố tiếp nhận

105 đơn thư khiếu nại, tranh chấp về đất đai, đã được giải quyết 50 đơn, đang xemxét giải quyết dứt điểm 55 đơn còn lại, trong đó chủ yếu là khiếu nại khi thu hồi, bồithường giải phóng mặt bằng, tranh chấp trong nội bộ nhân dân góp phần ổn địnhtình hình chính trị - đất đai trên địa bàn Tuy nhiên, khi giá trị đất đai ngày càngtăng lên, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng sai mục đích sẽ ngày càng xảy

ra nhiều hơn, đặc biệt ở các khu vực có kinh tế phát triển Do vậy cần có sự quantâm nhiều hơn nữa của các cấp thẩm quyền trong công tác quản lý đất đai nhằmngăn chặn việc vi phạm Luật Đất đai

Ngày đăng: 29/11/2016, 19:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3:    DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT CHÍNH - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 3 DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT CHÍNH (Trang 41)
Bảng 4: DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT NÔNG NGHIỆP - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 4 DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT NÔNG NGHIỆP (Trang 42)
Bảng 5:  DIỆN TÍCH, CƠ CẤU ĐẤT LÂM NGHIỆP - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 5 DIỆN TÍCH, CƠ CẤU ĐẤT LÂM NGHIỆP (Trang 44)
Bảng 6:  DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 6 DIỆN TÍCH, CƠ CẤU CÁC LOẠI ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP (Trang 45)
Bảng 7:  BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG CÁC LOẠI ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 7 BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG CÁC LOẠI ĐẤT TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 (Trang 49)
Bảng 7:  KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐƯỢC DUYỆT - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 7 KẾT QUẢ THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐƯỢC DUYỆT (Trang 58)
Bảng 14: Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2020 - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
Bảng 14 Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp đến năm 2020 (Trang 97)
Bảng : Quy hoạch đất phát triển hạ tầng năm 2020 - Báo Cáo Tổng hợp tình hình, kinh tế, du lịch, quy hoạch Thành phố Đồng Hới 2010  2020
ng Quy hoạch đất phát triển hạ tầng năm 2020 (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w