1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN

41 816 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 90,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Khách quan”, theo Lenin, là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác con người dù con ng có nhạn biết đc hay ko - “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong c

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN

Câu 1: Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin

Điều kiện Kinh tế Xã hội

-.Thế kỉ 18, CM CN Anh, bước chuyển biến: SX thủ công TBCN ->SX đại CN TBCN, XH h.thành g/cấp vô sản ->những năm 40 TK 19 các nc Tây Âu có phương thức SX TBCN phát triển mạnh mẽ

- Trong xã hội tư bản, đã xuất hiện hai giai cấp cơ bản, đối lập nhau về lợi ích, đó là giai cấp tư sản >< giai cấp vôsản Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng lan rộng, phát triển từ tự phát tới tự giác, từ đấu tranhkinh tế tới đấu tranh chính trị.: cuộc kn công nhân Lyong (1831,1834), phog trào Hiến chương(1835 đến 1848)-> Phong trào đó cần có lý luận khoa học và cách mạng dẫn dắt, soi đường Chủ nghĩa xã hội khoa học do C Mác vàPh.Ăngghen sáng lập đã đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đó Đồng thời thực tiễn CM là tiền đề thực tiễn choh.thành và p.triển CN Mác

- Thế kỷ XIX cũng là thế kỷ chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của

+ triết học cổ điển Đức (tiêu biểu là Cantơ, Hêghen, Phoiơbắc) ảnh hưởng đến sự hình thành TG quan, p.p luậncưa CN Mác, chuyển biến từ TG quan duy tâm sang duy vật

+ kinh tế chính trị cổ điển Anh (tiêu biểu là Ađam Xmít và Đavít Ricácđô)

Mác, A.ghen kế thừa y.tố KH về g.trị LĐ + tư tưởng tiến bộ XD lí luận g.trị thặng dư Nguồn gốc KT dẫn đến diệtvong tất yếu của CNTB, ra đời XHCN

+ chủ nghĩa xã hội không tưởng (tiêu biểu là Xanh Ximông, Rôbớc Ôoen, Sáclơ Phuriê) Mang tinh thần nhânđạo, vạch trần khốn cùng về V/C & tinh thần ng LĐ

Như vậy, chủ nghĩa Mác ra đời là thành tựu trí tuệ của loài người, phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là cuộc đấu tranhcủa giai cấp công nhân, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng thế giới, là một tất yếu khách quan trong tiếntrình phát triển lịch sử của tư tưởng nhân loại

Câu 2: vật chất, ý thức : mqh VC & YT, ý nghĩa p.p luận

Vật chất:

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, VI.Lenin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Phân tích

- “Phạm trù triết học” là khái niệm chung nhất, rộng lớn nhất, để phân biệt vc trong triết học với vật chất trong khoa học tự nhiên

Trang 2

+Vật chất là một phạm trù rộng lớn nhất, khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong khoa học cụ thể hay trong đời sống hàng ngày.

+ Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, khôngmất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, định nghĩa vật chất không thể đồng nhất với một vật thể nào đó hay một thuộc tính nào đó của vật chất

- Là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” là thuộc tính cơ bản nhất của vật chất “Khách quan”, theo Lenin, là “cái đang tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác con người dù con ng có nhạn biết đc hay ko

- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”: thế giới vật chất tuy tồn tại độc lập với ý thức con người, nhưng sự tồn tại đó không phải là trừu tượng,

mà là sự tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính Khi một dạng vật chất cụ thể nào đó tác động đến con người sẽ gây ra những cảm giác và đem lại cho con người sự nhân thức, YT-sự phản ánh đối vs VC, VC là cái đc YT p.ánh

Ý thức

Nguồn gốc tự nhiên

Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin, ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc

người và mqh giữa con ng vs tg khác quan tạo nên h.tượng p/ánh năng động sáng tạo

Bộ óc:Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao

là bộ óc người, là c.năng của bộ óc K.q của h.đ sinh lí thần kinh của bộ óc

Mối quan hệ giữa con ng vs TG khác quan tạo ra quá trình phản ánh năng động sáng tạo

Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác

Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:

1 Phản ánh vật lý, hóa học: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá

2 Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật

3 Phản ánh tâm lý

4 Phản ánh năng động sáng tạo: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh

ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của c.người Nguồn gốc xã hội.

Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động , ngôn ngữ

Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất người Đó là hoạt động chủ động, sáng tạo, có mục đích Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng hai tay Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực

Trang 3

sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức.

Ngôn ngữ:

Theo quan điểm của triết học Mác - Lê nin thì ngôn ngữ là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

a/ Vai trò của vật chất đối với ý thức

- Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của

ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất

- Ý thức của con người không phải là sản phẩm chủ quan thuần tuý, cũng không phải có nguồn gốc từ một lực lượngsiêu tự nhiên Nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người

- Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức đều do bản thân thế giới vật chất hoặc những dạng tồn tại của vật chất tạo ra, do đó vật chất là nguồn gốc của ý thức

- Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ý thức là sự phản ánh đối với sự biến đổi củavật chất Vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổicủa ý thức

b Vai trò của ý thức đối với vật chất

- Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người:

Vai trò của ý thức đối với vật chất thực chất là vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thayđổi được hiện thực, muốn thay đổi hiện thực cần phải có hoạt động vật chất Song do mọi hoạt động của con người đều được ý thức chỉ đạo, nên ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở đó giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng, lựa chọn biện pháp, công cụ để thực hiện mục tiêu của mình

- Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực

+ Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có nghị lực, ý chí, hành động hợp quy luật khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn, cải tạo được thế giới, đạt được mục đích của mình

+ Nếu ý thức phản ánh sai hiện thực khách quan, khiến cho hành động của con người đi ngược lại quy luật khách quan thì những tác động ấy sẽ mang lại tác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, kìm hãm sự phát triển xã hội.Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn, ngoài việc nhận thức đúng quy luật khách quan, còn cần phải phát huy cao

độ tính năng động chủ quan, đồng thời chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lại những

tư tưởng lạc hậu, phản động, phản khoa học

Ý nghĩa phương pháp luận

Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới; bản chất năng động, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biệnchứng giữa vật chất và ý thức có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là

- Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hành động theo khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan

Trang 4

+Trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp;

+phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vật chất để hành động

-Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và nhân tố con ngườitrong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy

Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủtri thức khoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân mình về đạo đức, ý chí, nghị lực

Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng khách quan và phát huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường tri thức khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

Câu 3:Khả năng và hiện thực Mqh, ý nghĩa p.p luận 6 Khả năng và hiện thực

a Khái niệm

- Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ là cái chưa có, chưa tới, nhưng sẽ có, sẽ tới trong những điều kiện nhất

định

Ví dụ: Cái mầm nảy ra từ hạt thóc, đứa trẻ biết nói

- Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ cái đang tồn tại trong thực tế.

Ví dụ: Hạt thóc có thể nảy mầm thành cây mạ

Hiện thực có hiện thực vật chất và hiện thực tinh thần Khả năng có khả năng tất nhiên và khả năng ngẫu nhiên Khảnăng còn được chia ra: khả năng gần và khả năng xa

b Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực

- Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, không tách rời, luôn chuyển hóa lẫn nhau

- Khả năng trong những điều kiện nhất định thì biến thành hiện thực

Ví dụ: Một công ty có sản phẩm với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thì sản phẩm

sẽ được tiêu thụ rất nhanh chóng trên thị trường

Hiện thực mới lại mở ra khả năng mới và trong những điều kiện nhất định lại chuyển hóa thành hiện thực

- Với cùng một điều kiện nhất định có thể tồn tại một hoặc nhiều khảnăng: khả năng thực tế, khả năng tất nhiên, khả năng ngẫu nhiên, khả năng gần, khả năng xa…

Ví dụ: Một sinh viên chăm chỉ học tập thì đi thi sẽ đạt kết quả cao nhưng có thể vì một lí do nào đó mà lại bị kết quả thấp Điều đó có thể xảy ra

Trang 5

- Khả năng biến thành hiện thực cần phải có những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Nhân tố chủ quan là tính tích cực xã hội của ý thức chủthể con người để chuyển hóa khả năng thành hiện thực Điều kiện khách quan là

sự tổng hợp các mối quan hệ về hoàn cảnh, không gian, thời gian để tạo nên sự chuyển hóa đó

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Khả năng và hiện thực không tách rời nhau, nên trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần dựa vào hiện thực để nhận thức và hành động Cần phân biệt khả năng với cái không khả năng; khả năng với hiện thực để tránh rơi vào ảotưởng

- Trong đời sống xã hội, để khả năng biến thành hiện thực cần phát huytối đa tính năng động chủ quan của con người trong việc nhận thức và thực tiễn để biến khả năng thành hiện thực theo mục đích của mình

Câu 4: nhận thức và các trình độ của nhận thức:

Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thếgiới khách quan vào bộ óc con người trên cơ

sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó

Quan niệm trên đây về nhận thức xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản sau:

1- thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và con người có thể nhận thức được thế giới khách quan ấy

2- thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì làkhông thể nhận thức được mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được

3- khẳng định sự phản ánh là quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo và đi từ thấp đến cao (chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều, chưa toàn diện sâu sắc đến toàn diện sâu sắc )

Trang 6

-Nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp do đó nó có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý phục vụ cho hoạt động thực tiễn.

Nhận thức thông thường: là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng

ngày của con người

Nhận thức thông thường phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và với sắc thái khác nhau của sự vật do đó mang tính phong phú, nhiều vẻ, gắn liền với quan niệm sống hàng ngày Vì thế nó có vaitrò chi phối thường xuyên hoạt động của con người trong xã hội

Nhận thức khoa học: là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản

chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu

-Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, vừa có tính trừu tượng, khái quát, hệ thống dưới hình thức các khái niệm, các phạm trù và quy luật khoa học

- Để nhận thức khoa học, con người phải sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và được diễn đạt bằng

cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học Nhận thức khoa học có vai trò to lớn trong hoạt động thực tiễn, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khác nhau về chất của quá trình nhận thức nhằm đạttới các tri thức chân thực

Giữa chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau: nhận thức thông thường là cơ sở cho nhận thức khoa học ngược lại khi đã đạt đến trình độ nhận thức khoa học nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, làm cho nhận thức thông thườngphát triển

Câu 5 : chân lý và vai trò của nó vs thực tiễn

chân lý được dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan mà sự phù hợp đó đã được

kiểm tra và chứng minh bởi thực tiễn

Theo nghĩa như vậy, khái niệm chân lý không đồng nhất với khái niệm tri thức và cũng không đồng nhất với khái niệm giả thuyết (dù là những giả thuyết khoa học), đồng thời chân lý là một quá trình Theo V.I.Lênin “sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình: tư tưởng (= con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng đứng

im, một bức tranh (hình ảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động”

Các tính chất của chân lý:

-Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể

+Tính khách quan của chân lý là chỉ tính độc lập về nội dung phản ánh của nó đối với ý chí chủ quan của con

người; nội dung của tri thức phải phù hợp với thực tế khách quan, thuộc về thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định

Khẳng định chân lý có tính khách quan là một trong những điểm cơ bản phân biệt quan niệm về chân lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri

+Tính tuyệt đối và tính tương đối của chân lý

Trang 7

_Tính tuyệt đối của chân lý là chỉ tính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữa nội dung phản ánh của tri thức với hiện thực khách quan Về nguyên tắc chúng ta có thể đạt đến chân lý tuyệt đối vì không có sự vật, hiện tượng nào mà conngười hoàn toàn không thể nhận thức đựợc song khả năng đó lại bịhạn chế bởi những điều kiện cụ thể của từng thế

hệ khác nhau, của từng thực tiễn cụ thể và bởi điều kiện xác định về không gian và thời gian của đối tượng được phản ánh do đó chân lý có tính tương đối

+Tính tương đối của chân lý là tính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ giữa nội dung phản ánh của những tri

thức đã đạt được với hiện thực khách quan mà nó phản ánh mà mới chỉ đạt được sự phù hợp từng phần, từng bộ phận, ở một số mặt, khía cạnh nào đó và trong những điều kiện nhất định

Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối không tồn tại tách rời nhau mà có sự thống nhất biện chứng với nhau +chân lý tuyệt đối là tổng sốcủa các chân lý tương đối

+trong mỗi chân lý mang tính tương đối bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố của tính tuyệt đối

+Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối là hai mặt của một chân lý cụ thể Một chân lý cụ thể vừa có tính tuyệt đối (vì nếu áp dụng trong điều kiện cụ thể của nó thì nó luôn luôn đúng và không bao giờ trở thành sai lầm), vừa có tính tương đối (vì nó chưa đầy đủ, chưa toàn diện, nếu áp dụng trong điều kiện khác thì sẽ trở thành sai lầm)

Như vậy, không thể có chân lý vĩnh cữu, tức chân lý bất di bất dịch Tư duy con người trong quá trình tiến lên vô cùng tận ngày càng tiệm cận đến chân lý tuyệt đối, chứ không bao giờ có thể đạt được một cách đầy đủ, hoàn toàn.Tính cụ thể của chân lý là đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sửcụ thể Bất kỳ chân lý nào cũng có gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể, do đó

“ không có chân lý trừu tượng, chân lý luôn luôn là cụ thể

Vai trò của chân lý đối với thực tiễn

-Để sinh tồn và phát triển, con người phải tiến hành các hoạt động thực tiễn nhưng hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và có hiệu quả khi con người có tri thức đúng đắn về thực tế khách quan và vận dụng đúng đắn tri thức

đó trong hoạt động thực tiễn do vậy, chân lý là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công và tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn

-Mối quan hệ giữa chân lý và hoạt động trong thực tiễn là mối quan hệ song trùng trong quá trình vận động, phát triển của cả chân lý và thực tiễn

Chân lý phát triển nhờ thực tiễn nhưng thực tiễn lại phát triển nhờ vận dụng đúng đắn những chân lý mà con người

đã đạt được trong hoạt động thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận

-Quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa chân lý và thực tiễn đòi hỏi trong hoạt động nhận thức con người phải xuất phát từ thực tiễn để đạt được chân lý, coi chân lý là một quá trình, đồng thời phải thường xuyên tự giác vận dụng chân lý vào hoạt động thực tiễn để phát triển thực tiễn

-Coi trọng tri thức khoa học và tích cực vận dụng sáng tạo những tri thức đó vào các hoạt động kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người Về thực chất đó chính là việc phát huy vai trò của chân lý khoa học trong hoạt động thực tiễn

Câu 6:nội dung 3 quy luật cơ bản của phép duy vật biện chứng ý nghĩa p.p luận

Trang 8

+ Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập(quy luật mâu thuẫn)

- Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng

- Nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết

mâu thuẫn bên trong sự vật

-vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quátrình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn-Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể

+ Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại (quy luật lượng - chất.)

+ Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các yếu tố,các thuộc tính làm cho sự vật nó là nó, chứ không phải cái khác.VD: chẳng chua cũng thể là chanh, chẳng ngọt cũngthể cam sành chín cây

+ Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, khối lượng, quy mô,trình độ, nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự vật, cũng như các thuộc tính của sự vật VD: 4 năm đại học làlượng của chất sinh viên

* Nội dung quy luật

Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về

chất, sự vật đang còn là chính nó VD: 00C > nước< 1000C, nước vẫn ở thể lỏng Đây là độ của nước

Điểm nút là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất .

VD độ sôi của nước 1000C và điểm nút 00C

Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó

tạo ra VD vượt qua 1000C nước chuyển sang thể hơi, khí còn vượt qua điểm nút 00C thì nước chuyển hóa thành thểrắn

=> Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất hữu cơ của hai mặt chất và lượng, chúng tác động qua lại lẫnnhau làm cho sự vật biến đổi Sự phát triển của bất cứ sự vật nào cũng bắt đầu từ sự tích luỹ, thay đổi về lượng khiđạt tới điểm nút thì có sự chuyển hoá về chất thông qua bước nhảy

Mặt khác, khi chất mới ra đời, nó có tác động trở lại đối với lượng của sự vật, nó có thể làm thay đổi quy mô, kếtcấu, trình độ nhịp điệu vận động của sự vật

* Ý nghĩa phương pháp luận

+ Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chúng ta phải biết tích luỹ biến đổi về lượng để tạo ra sựchuyển hoá về chất theo quy luật

+ Trong hoạt động thực tiễn cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy để cải tạo, biến đổi sự vật VD: tíchtiểu thành đại; Góp gió thành bão góp cây nên rừng

+ Tránh nóng vội chủ quan đồng thời tránh trì trệ bảo thủ

* Liên hệ với bản thân trong quá trình học tập hoặc trong quá trình nhận thức VD: Chuyển từ chất HS -> SV -> kỹsư

Trang 9

+ Quy luật phủ định của phủ định

- Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quátrình phát triển

- Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người

- Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê

phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ

- Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tươnglai

- Các cặp phạm trù không cơ bản

Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao

gồm các cặp phạm trù không cơ bản:

+ cặp phạm trù cái riêng - cái chung

+ tất nhiên - ngẫu nhiên

+ nguyên nhân - kết quả

+ bản chất - hiện tượng

+ khả năng - hiện thực

+ nội dung - hình thức

Ý nghĩa p.p luận

3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của

con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch

ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới

-Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy biện chứng

+quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, + quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển

+ quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó

-Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc thù và đến lượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận thức và những hình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quy luật đặc thù

Theo triết học Mác-Lênin thì mối quan hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật với các quy luật đặc thù của các khoa học chuyên ngành tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với các khoa học chuyên ngành

Trang 10

Câu 7: nội dung 2 nguyên lý của phép BCDV, ý nghĩa

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng

1 Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển

hoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

2 Nội dung và tính chất của mối liên hệ

- Tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ: Nhờ có mối liên hệ mà có sự vận động, mà vận động lại là phương thức tồn tại của vật chất, là một tất yếu khách quan, do đó mối liên hệ cũng là

một tất yếu khách quan

Mối liên hệ tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới

- Do mối liên hệ là phổ biến, nên nó có tính đa dạng: Các sự vật; hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể

Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, có thể có những loại mối liên hệ sau: chung và riêng, cơ bản và không cơ bản, bên trong và bên ngoài, chủ yếu và thứ yếu, không gian và thời gian, v.v Sự

phân loại này là tương đối, vì mối liên hệ chỉ là một bộ phận, một mặt trong toàn bộ mối liên hệ phổ biến nói chung

- Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất và phổ biến nhất của thế giới khách quan Còn những hình thức cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học cụ thể

II Nguyên lý về sự phát triển

1 Khái niệm phát triển

- Phát triển là sự vận động tiến lên (từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn)

- Từ khái niệm trên cho thấy:

+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự pháttriển có mối quan hệ biện chứng với nhau, vì nhờ có mối liên hệ thì

sự vật mới có sự vận động và phát triển

+ Cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm pháttriển Vận động là mọi biến đổi nói chung, còn phát triển là

sự vận

động có khuynh hướng và gắn liền với sự ra đời của cái mới hợpquy luật

2 Nội dung và tính chất của sự phát triển

- Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật, hiện tượng,là khuynh hướng chung của thế giới

- Sự phát triển có tính chất tiến lên, kế thừa, liên tục

- Sự phát triển thường diễn ra quanh co, phức tạp, phải trảiqua những khâu trung gian, thậm chí có lúc có sự thụt lùitạmthời

- Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật Nguồn gốc củasự phát triển là do sự đấu tranh của các mặt đối lập

Trang 11

trong bản thân sự vật.

3 Phân biệt quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển

- Quan điểm biện chứng xem sự phát triển là một quá trình vận động tiến lên thông qua những bước nhảy vọt về chất Nguồn gốc của sự phát triển là cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ở trong sự vật

- Quan điểm siêu hình nói chung là phủ định sự phát triển, vì họ thường tuyệt đối hoá mặt ổn định của sự vật, hiện tượng Sau này, khi khoa học đã chứng minh cho quan điểm về sự phát triển của sự vật, buộc họ phải nói đến sự phát triển, song với họ phát triển chỉ là sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng không có sự thay đổi về chất và nguồn gốc của nó ở bên ngoài sự vật, hiện tượng

III Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững hai nguyên lý này

Nguyên lý về liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật

và với các sự vật và hiện tượng khác

+ Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động và phát triển của

sự vật

*Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển

* Quan điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện được cái mới, ủng

hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật

Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ s ở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể

và phát triển Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao

Câu 8 : khái niệm biện chứng duy vật và những đặc trưng cơ bản

a Khái niệm phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của G.W.Ph.Hêghen, là phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biệnchứng khách quan của tự nhiên và xã hội

Theo Ph.Ăngghen : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen còn đưA ra một định nghĩa khác về phép

biện chứng duy vật: “phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý

về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin cho rằng, trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thứcnày phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng

b Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật

Trang 12

Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau:1- phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.

Với đặc trưng này phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng những có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen mà còn có sự khác biệt về trình độ so với phép biện chứng duy vật cổ đại

2-, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin có sự thống nhất giữa nội dung của thế giới quan (duy vật biện chứng) với phương pháp luận (biện chứng duy vật) do đó, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn

là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới.Với những đặc trưng cơ bản trên mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò là nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Câu 9: nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức

a Nguồn gốc của ý thức

Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người; mối quan hệ của con

người với thế giới khách quan, trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo

-Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kếtquả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ não người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật

Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú vàsâu sắc Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật, trong khi đó bộ óc người có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng

-Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo: Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan, thế giới khách quan tác động đến bộ óc người, hình thành quá trình phản ánh

- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại

với nhau giữa chúng

- Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất và được thể hiện dưới nhiều hình thức, những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất

+Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh được thể hiện qua

những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánhnày mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động

+Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh được thể hiện qua tính

kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi

Trang 13

chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống.

+Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ

thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện

+Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực

hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh này được gọi là ý thức Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh của vật chất

Nguồn gốc xã hội của ý thức: ý thức không thể tồn tại ngoài não người; tuy nhiên, ý thức không phải do

não sinh ra Não chỉ là cơ quan thực hiện chức năng phản ánh Để có ý thức phải có não người và thế giới khách

quan Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngôn ngữ.

Lao động

-Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên

Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thành những tri thức nói riêng và ý thức nói chung

-Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thành người Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm kiếm phương pháp và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệm thành công và thất bại Đó chính là phương thức phát triển của ý thức

Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động

Tóm lại: ý thức ra đời do hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên, đó là kết quả sự tiến hóa của bộ não và thuộc tínhh

phản ánh của nó Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động, ngôn ngữ Sự tiến hóa tự nhiên là tiền đề vật chất không thể thiếu được của ý thức Tuy nhiên, điều kiện xã hội giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự ra đời của ý thức

b Bản chất và kết cấu của ý thức

Bản chất của ý thức

Trang 14

-Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người, là “hình ảnh chủ quan

của thế giới khách quan

-Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, không phải là sự sao chép đơn giản, máy móc Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có khả năng phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức con người

có khả năng biến đổi hình ảnh (cảm tính và lý tính) của sự vật trong đầu óc của mình, tạo ra mô hình mới để từ đó biến đổi sự vật trong hoạt động thực tiễn

-Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: ý thức là hình ảnh của thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định cả về nội dung và hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã được cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu…) của con người Theo C.Mác: ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cảibiến đi trong đó”

-Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của các quy luật sinh học mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định Với tính năng động, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội

Kết cấu của ý thức

-Ý thức có kết cấu phức tạp, có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về kết cấu của ý thức Nếu tiếp cận kết cấu của ý

thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợp thành nó thì ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là nhân

+Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của con người, là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn

+ Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo…

-Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người

Trang 15

Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hành động nên tự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn.

Có thể coi ý chí là quyền lực của con người đối với mình, nó điều chỉnh hành vi để con người hướng đến mục đích một cách tự giác

Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau song tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác

Câu 10: thực tiễn, vai trò của thực tiễn với nhận thức:

-Thực tiễn là một phạm trù TH chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử XH của con người nhằm cải

biến TN, XH

-Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất của con người

+ bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa CT và KT Trong đó cả CT và KT đều là những đối tượng vật chất Ở đó chủ thể tác động chủ động; có mục đích vào KT, biến đổi KT cho phù hợp nhu cầu của mình, quá trình này không chỉ biến đổi KT mà biến đổi cả bản thân chủ thể

+Hoạt động thực tiễn là hoạt động lịch sử: vì nó là hoạt động cơ bản của loài người trong sự phát triển lịch sử, là phương thức tồn tại cơ bản của loài người

+Hoạt động thực tiễn là hoạt động XH, vì nó là hoạt động phổ biến của XH loài người

b Các hình thức hoạt động thực tiễn

· Thực tiễn là lao động sản xuất của cải vật chất: đây là hình thức cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định, chi phối các

hoạt động khác còn lại như hoạt động tinh thần, tư tưởng, lý luận, đấu tranh giai cấp, thực nghiệm XH,VH, biểu diễnnghệ thuật, TH ,TG, đạo đức là hoạt động biến vượn thành người, tạo ra các điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của XH

· Thực tiễn là hoạt động cải biến XH: 1 hình thức cao nhất của hoạt động vật chất gồm đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hòa bình làm cho XH ngày càng tiến bộ

· Thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn Đó là hoạt động được diễn ra trong điều kiệnnhân tạo nhằm nhận thức và cải biến TN, XH.Các nhà KH có vai trò to lớn trong việc nhận thức, tạo ra các phát minh KH và biến những phát minh thành các giải pháp công nghệ, nghị lực, năng lực, vật liệu mới phục vụ cho sản xuất, đời sống

2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Thực tiễn có 2 chức năng quan trọng:

· Chuyển cái tinh thần thành cái vật chất: khách quan hoá chủ quan

· Chuyển cái vật chất thành cái tinh thần: chủ quan hoá khách quan

a Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức

- Nhận thức ngay từ đầu đã xuất phát từ thực tiễn, do thực tiễn quy định Chính do yêu cầu sản xuất vật chất và đấu tranh cải tạo XH buộc con người phải nhận thức thế giới Nhờ có thực tiễn mà con người nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ thế giới xung quanh

Trang 16

- Cách thức nhận thức: thực tiễn là tác động của con người vào đối tượng, buộc đối tượng bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật, trên cơ sở đó con người nhận thức chúng Và nhận thức là nắm bắt bản chất, quy luật, thuộc tính kết cấu của SV.

- Thực tiễn làm cho giác quan con người ngày càng phát triển hoàn thiện.Thực tiễn tạo ra những công cụ phương tiện hiện đại giúp cho năng suất lao động tăng lên, KH không ngừng phát triển như kính hiển vi, vi tính, tàu vũ trụ

b Thực tiễn là mục đích của nhận thức

- Những tri thức khoa học chỉ đúng khi chúng được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức, mà là để cải tạo tự nhiên, xã hội đáp ứng cho nhu cầu của con người

- Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới giải đáp -> cácngành khoa học ngày càng phát triển

- Thực tiễn cũng tạo ra những phương tiện cần thiết giúp cho việc nghiên cứu khoa học, đem lại những tài liệu, dữ kiện giúp tổng kết, khái quát hình thành lý luận

c Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức, là tiêu chuẩn của chân lý

Chỉ có thể đem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới thấy rõ tính sai lầm hay đúng đắn của chúng

Câu 11: con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý

a Quan điểm của V.I.Lênin về con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý

Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I.Lênin khái quát con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý như sau: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của

sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan

1/ Giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính.

-Nhận thức cảm tính là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức

+ Đó là giai đoạn nhận thức mà con người trong hoạt động thực tiễn sử dụng các giácquan tiến hành phản ánh các sựvật khách quan, mạng tính chất cụ thể, cảm tính với những biểu hiện phong phú của nó trong mối quan hệ với sự quan sát của con người

-> Do vậy, trong giai đoạn này con người mới chỉ phản ánh được cái hiện tượng, biểu hiện bên ngoài của sự vật mà chưa phản ánh được cái bản chất, quy luật, nguyên nhân của hiện tượng

+Nhận thức cảm tính được thực hiện qua ba hình thức cơ bản là: cảm giác, tri giác và biểu tượng:

*Cảm giác của con người về sự vật khách quan là hình ảnh sơ khai nhất, đơn giản nhất của quá trình nhận thức

nhưng nếu không có nó thì sẽ không có bất cứ nhận thức nào về sự vật khách quan Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là cơ sở hình thành tri giác

*Tri giác là sự phản ánh tương đối toàn vẹn của con người về những biểu hiện của sự vật khách quan, cụ thể,

cảm tính; nó được hình thành trên cơ sở liên kết, tổng hợp những cảm giác về sự vật đó Tri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật nhưng vẫn chỉ là sự phản ánh đối với những biểu hiện

bề ngoài của sự vật

*Biểu tượng là sự tái hiện hình ảnh về sự vật khách quan vốn đã được phản ánh bởi cảm giác và tri giác, là hình

thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, là bước quá độ từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, là tiền đề của sự trừu tượng hóa của giai đoạn nhận thức lý tính

Trang 17

-Nhận thức lý tính lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức, đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và

khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật khách quan Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng

+Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là khái niệm, phán đoán và suy lý

*Khái niệm là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật Sự hình

thành khái niệm là kết quả cuae sự khái quát, tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp các sự vật

Nó là cơ sở hình thành nên những phán đoán trong quá trình con người tư duy vềsự vật khách quan

*Phán đoán là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính được hình thành thông qua việc liên kết các khái niệm lại

với nhau theo phương thức khẳng định hay phủđịnh một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức Theo trình độ của nhận thức có thể chia thành: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù, phán đoán phổ biến Phán đoán phổ biến là hình thức phản ánh thể hiện sự bao quát rộng lớn nhất về thực tại khách quan

*Suy lý là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính được hình thành trên cơ sở liên kết các phán đoán nhằm rút ra

tri thức mới về sự vật Điều kiện để có bất cứ một suy lý nào là phải trên cơ sở những tri thức đã có dưới dạng những phán đoán, đồng thời tuân theo các quy tắc lôgic của các loại hình suy luận: suy luận quy nạp (đi từ cái riêng đến cái chung), suy luận diễn dịch (đi từ cái chung đến cái riêng, cái cụ thể)

Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính , nhận thức lý tính với thực tiễn.

-Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính đều là những nấc thang hợp thành chu trình nhận thức, chúng thường diễn

ra đan xen vào nhau nhưng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau:

-Nhận thức cảm tính gắn với thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính.-Nhận thức lý tính có tính khái quát cao  hiểu bản chất, quy luật vận động của sự vật, giúp cho nhận thức cảm tính

có sự định hướng đúng và trở nên sâu sắc hơn

-Nhận thức lý tính mới chỉ đạt được những tri thức về đối tượng nhưng những tri thức đó có chính xác hay không cần phải có sự kiểm nghiệm của thực tiễn, dùng thực tiễn để đo lường tính chân thực của nhận thức Mặt khác, mọi nhận thức, suy đến cùng đều là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn

Tóm lại, quy luật chung của quá trình nhận thức là: từ thực tiễn đến nhận thức - tái thực tiễn - tái nhận thức quá

trình này không có điểm dừng cuối cùng, nhờ đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới tri thức ngày càng đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về thực tại khách quan Đây cũng chính là quan điểm về tính tương đối của nhận thức củacon người trong quá trình phản ánh thực tại khách quan

Quy luật chung của nhận thức có ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận, giúp chúng ta nắm được quy luật khách quan của quá trình nhận thức đồng thời đây cũng chính là phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn; học đi đôi với hành; học liên tục, suốt đời tránh bệnh tự mãn hoặc hời hợt trong hoạt động nhận thức

Câu 12: sự đối lập giữa CNDV & CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

Dựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay giữa ý thức với vật chất

 Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

Trang 18

Mặt 1, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau,cái nào quyết định cái nào?

Mặt 2, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?

Việc giải quyết vấn hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểm của các trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm >< chủ nghĩa duy vật; khả tri luận (thuyết có thể biết) >< bất khả tri luận (không thể biết) Ngoài ra còn

có chủ nghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận.

+Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là

tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức

+Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất của thế giới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất,

vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật chất

Chủ nghĩa duy tâm có hai trào hình thức cơ bản là Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan.Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ý thức nhưng tinh thần, ý thức đó được quan niệm là tinh thần khách quan, ý thức khách quan có trước và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người Những đại biểu của trào lưu này là Platon, Hêghen, Tômat Đacanh… Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, khẳng định ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức Những đại biểu của trào lưu này là G.Beccơli, D.Hium

Ngoài sự phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, người ta còn phân biệt:

+Thuyết nhất nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ có một bản nguyên, là thực thể vật chất hoặc

thực thể tinh thần có trước và quyết định Tùy theo quan niệm cho rằng vật chất hay tinh thần là thực thể của thế giới

mà thuyết nhất nguyên có hai hình thức tương ứng: thuyết nhất nguyên duy vật và thuyết nhất nguyên duy tâm

+Thuyết nhị nguyên cho rằng có hai thực thể vật chất và ý thức song song tồn tại, không phụ thuộc lẫn nhau +Thuyết đa nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở, nhiều bản nguyên của tồn tại, chúng không

Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tồn tại và phát triển có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử Chủ nghĩa duy vật không chỉ tổng kết, khái quát kinh nghiệm và thành tựu mà con người đạt được mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễncủa con người

2 Chủ nghĩa duy vật biện chứng-hình thức phát triển cao nhất của chủnghĩa duy vật Trong lịch sử, cùng với sự pháttriển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng

a Chủ nghĩa duy vật chất phác

Trang 19

Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời kỳ cổ đại Họ thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng lại đồng nhất vật chất với một hay dạng tồn tại cụ thể của vật chất, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ Đó là sự nhận thức mang tính trực quan nhưng chủ nghĩa duy vật chất phác Scó ưu điểm là đã lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên mà không viện đến một thần linh hay một đấng sáng tạo nào để giải thích thế giới.

b Chủ nghĩa duy vật siêu hình

Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật, phát triển rõ nét từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX, nó gắn với thời kỳ cơ học cổ điển phát triển mạnh, do đó chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình là nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại Nếu có biến đổi thì chỉ có

sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng, do những nguyên nhân bên ngoài gây ra

Tuy chưa phản ánh đúng hiện thực trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thời Trung cổsang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu

c Chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từ những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển Chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựa trên

cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ ng hĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức và thực tiễn cách mạng

Câu 13: phương thức và hình thức tòn tại của vật chất tính thông nhất vật chất của thế giới

*định nghĩa Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong

cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, làmột thuộc tính cố hữu của vật chất,- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ

sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

+vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thông qua vận động mà các dạng cụthể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình Vận động của vật chất là tự thân vận động và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động

+Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, không thể có vật chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vật chất Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động

*Các hình thức vận động của vật chất:

1.Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian

Trang 20

2.Vận động vật lý là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận động của nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh…

3.Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và phân giải của các chất

4.Vận động sinh vật là vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất, đồng hóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản,tiến hóa…

5.Vận động xã hội là sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…của đời sống xã hội

+Các hình thức vận động cơ bản trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độthấp đến trình độ cao, tương ứng với trình

*vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; song đứng

im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động

*Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quan hệ nhất định, chứ không phải trong tất cả

mọi quan hệ Đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một hình thức vận động.Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay một số quan hệ nhất định, ngay trong đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đổi nhất định Đứng im là trạng thái đặc biệt của vậnđộng, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định, vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật

Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứa vật chất Có không gian và thời gian không

có vật chất Có sự vật, hiện tượng không tồn tại trong không gian và thời gian

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước hay sau,trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác

Những hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian Mặt khác sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biếnđổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa… những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian

Ph.Ăngghen cho rằng: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian”, do đó có thể hiểu:

- Vật chất, không gian và thời gian không tác rời nhau, không có không gian và thời gian không có vật chất cũng như không thể có sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài không gian và thời gian

Ngày đăng: 29/11/2016, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w