Nếu trong quá trình dạy học môn Tiếng Lào giảng viên biết tổ chức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp với đặc điểm nhận thức của sinh viên và đặc điểm môn học
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Engthilath LA OUNEKEO
DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở TRƯỜNG CĐSP LUÔNG NĂM THA, NƯỚC CHDCND LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Engthilath LA OUNEKEO
DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở TRƯỜNG CĐSP LUÔNG NĂM THA, NƯỚC CHDCND LÀO
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ KIM LINH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng, công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn luận văn đều đƣợc chỉ
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Engthilath LA OUNEKEO
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu về quản lý, quản lý giáo dục Những kiến thức
đã học, giúp tôi nghiên cứu, học tập và ứng dụng thực tiễn trong công việc
Xin cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu các trường CĐSP Luông Năm Thà, nước CHDCND Lào, Chính quyền
và nhân dân địa phương đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát tại các cơ quan và địa phương
Xin cảm ơn toàn thể đồng nghiệp bạn bè, gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành chương trình học tập và hoàn tất luận văn này
Một lần nữa xin chân thành tiếp thu mọi sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, tập thể hội đồng khoa học để đề tài có tính hiệu quả cao, góp phần vào công tác giáo dục toàn diện trong nhà trường
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Engthilath LA OUNEKEO
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Các phương pháp nghiên cứu 5
8 Bổ lục luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN TIẾNG LÀO THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LUÔM NĂM THA 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Phương pháp dạy học 10
1.2.2 Tương tác, sư phạm tương tác 12
1.2.3 Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 16
1.3 Một số vấn đề cơ bản về dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 18
1.3.1 Đặc điểm dạy học quan điểm sư phạm tương tác 18
1.3.2 Tiếp cận quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học 19
1.3.3 Nguyên tắc tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 24
Trang 6iv
1.3.4 Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác 28
1.4 Tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm sư phạm tương tác ở trường CĐSP nước CHDCND Lào 31
1.4.1 Vài nét về sinh viên chuyên ngành Tiếng Lào ở trường CĐSP 31
1.4.2 Khái quát về môn Tiếng Lào trong chương trình đào tạo GV Tiếng Lào, trường CĐSP, nước CHDCND Lào 34
1.4.3 Dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm sư phạm tương tác 36
1.4.4 Phương pháp dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm SPTT 37
1.4.5 Các bước tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm SPTT 39
Kết luận chương 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG LÀO THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở TRƯỜNG CĐSP LUÔNG NĂM THA, NƯỚC CHDCND LÀO 41
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 41
2.1.1 Vài nét về Trường CĐSP Luông Năm Tha, nước CHDCND Lào 41
2.1.2 Thực trạng dạy học môn Tiếng lào theo quan điểm sư phạm tương tác 45
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo QĐ SPTT ở trường CĐSP LNT 45
2.2.1 Thực trạng nhận thức về dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm SPTT 45
2.2.2 Thực trạng tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT qua khảo sát trên GV và SV ở trường CĐSP Luông Nậm Thà 52
2.2.3 Thực trạng khó khăn trong DH môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
Trang 7v
Chương 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN TIẾNG
LÀO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LUÔNG NĂM THA,
NƯỚC CHDCND LÀO THEO QĐSPTT 75
3.1 Những căn cứ và nguyên tắc đề xuất biện pháp tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm sư phạm tương tác ở trường CĐSP Luông Nặm Thà nước CHDCND lào 75
3.1.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 75
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 77
3.2 Biện pháp tổ chức dạy học môn Tiếng Lào ở trường CĐSP 78
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho giảng viên dạy môn Tiếng Lào về tổ chức DH theo QĐSPTT 78
3.2.2 Tổ chức sinh hoạt chuyên đề ở tổ bộ môn về dạy học theo QĐSPTT 79
3.2.3 Xây dựng quy trình tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 80
3.2.4 Thiết kế kế hoạch dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 81
3.2.5 Tăng cường các căn cứ pháp lý cho việc tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 83
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp 83
3.4 Thực nghiệm sư phạm 84
3.4.1 Khái quát về thực nghiệm sư phạm: 84
3.4.2 Tổ chức thực nghiệm 85
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả sau thực nghiệm 87
3.3.1 Phân tích định lượng 87
3.3.2 Phân tích định tính 89
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê cán bộ và giảng viên năm học 2014-2015 42
Bảng 2.2 Thống kê sinh viên theo từng chuyên ngành đào tạo (Năm học 2014-2015) 43
Bảng 2.3 Nhận thức về vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học 46
Bảng 2.4 Nhận thức về DH môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 47
Bảng 2.5 Nhận thức về sự cần thiết vận dụng QĐSPTT trong dạy học môn Tiếng Lào 48
Bảng 2.6 Nhận thức về đặc điểm dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 48
Bảng 2.7 Nhận thức về ý nghĩa dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 49
Bảng 2.8 Ưu thế thiết kế dạy học môn tiếng Lào theo QĐSPTT 50
Bảng 2.9 Nhận thức về phương pháp dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT 50
Bảng 2.10 Nhận thức về điều kiện tổ chức tương tác sư phạm hiệu quả 51
Bảng 2.11 Nhận thức về cách tổ chức giờ học hiệu quả 52
Bảng 2.12 Thực trạng các dạng tổ chức DH môn Tiếng Lào 53
Bảng 2.13 Thực trạng các dạng tổ chức DH môn Tiếng Lào 53
Bảng 2.14 Thực trạng tương tác sư phạm trong dạy học môn Tiếng Lào 54
Bảng 2.15 Thực trạng tương tác sư phạm trong dạy học môn Tiếng Lào (theo đánh giá của SV) 55
Bảng 2.16 Thực trạng tổ chức dạy học tương tác môn Tiếng Lào (KS trên GV) 56
Bảng 2.17 Thực trạng tổ chức mối quan hệ tương tác trong dạy học môn Tiếng Lào 56
Bảng 2.18 Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Lào 57
Bảng 2.19 Thực trạng cách thức DH môn Tiếng Lào (theo đánh giá của SV) 58
Trang 10vi
Bảng 2.20 Thực trạng PP dạy học môn Tiếng Lào (khảo sát trên SV) 59
Bảng 2.21 Mức độ sử dụng các phương pháp trong dạy học môn tiếng Lào (KS trên GV) 60
Bảng 2.22 Mức độ sử dụng phương tiện trong dạy học môn Tiếng Lào 61
Bảng 2.23 Những cách giảng dạy thu hút người học 61
Bảng 2.24 Thực trạng chia nhóm học tập sinh viên 62
Bảng 2.25 Thực trạng chia nhóm trong dạy môn Tiếng Lào của GV 63
Bảng 2.26 Thực trạng hình thức huy động kiến thức đã có của SV trong quá trình dạy học 63
Bảng 2.27 Những nội dung GV quan tâm trong thiết kế bài học môn Tiếng Lào 64
Bảng 2.28 Biểu hiện của SV trong giờ học môn Tiếng Lào 65
Bảng 2.29 Đánh giá biểu hiện của SV trong học môn Tiếng Lào 66
Bảng 2.30 Tự đánh giá năng lực sử dụng phương pháp dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT của GV 67
Bảng 2.31 Thực trạng kiểm tra đánh giá giữa kì và thi hết môn Tiếng Lào 68
Bảng 2.32 Hình thức kiểm tra đánh giá môn Tiếng Lào của SV 69
Bảng 2.33 Thực trạng biện pháp phát huy tính tích cực của SV trong học tập môn Tiếng Lào 70
Bảng 2.34 Thực trạng kích thích hướng thú học tập của SV trong dạy học môn Tiếng Lào 71
Bảng 2.35 Thực trạng khó khăn trong dạy học môn Tiếng Lào 72
Bảng 3.1 Khảo nghiệm tính khả thi, cần thiết của các biện pháp 84
Bảng 3.2 Thông tin về SV và GV chủ nhiệm 86
Bảng 3.3 Kết quả điểm cuối học kỳ 1 môn Tiếng Lào 86
Bảng 3.4 Kết quả xếp loại cuối học kỳ 1 môn Tiếng Lào 86
Bảng 3.5 Kết quả bài kiểm tra thứ 1 của 2 nhóm TN và ĐC 88
Bảng 3.6 Kết quả bài kiểm tra số 2 của 2 nhóm TN và ĐC 88
Trang 11vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Trào lưu sư phạm 28
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào đang trong thời kỳ đổi mới, đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo có những bước đi về mọi mặt, nhằm đào tạo con người lao động có đủ kiến thức, năng lực sáng tạo, trí tuệ và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng được yêu cầu nhân lực của đất nước
Nghị quyết Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX đã khẳng
định: Phát triển hệ thống giáo dục quốc gia sao cho có chất lượng và sự đổi
mới tích cực, tiến tới hiện đại Trong điều kiện khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là yếu tố quyết định sự phát triển của thế giới, thì công tác giáo dục càng đóng vai trò quan trọng Nếu công tác giáo dục con người của chúng ta có chất lượng thì sẽ giúp cho sự phát triển có tốc độ nhanh hơn và nước ta sẽ bắt kịp xu thế phát triển chung của thế giới Trong công tác giáo dục và đào tạo, chúng ta cần phải chú ý hai mặt đi đôi với nhau: Thứ nhất
là cần phải chú ý đào tạo về tư tưởng chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giáo dục ý thức pháp luật và kỷ luật, thứ hai là phải mở rộng quy mô đào tạo các chuyên gia đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn trong các ngành khoa học giáo dục hiện nay, từng bước sánh kịp với các nước trên thế giới [17]
Tập trung phát triển nền giáo dục của Lào, tạo bước chuyển biến cơ bản
về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Lào, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập (HT) Phấn đấu đưa nền giáo dục Lào thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao, cán bộ quản lí, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập cơ sở Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương
Trang 13pháp (PP), chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy học (PPDH); đổi mới quản lí giáo dục tạo cơ sở pháp lí và phát huy nội lực phát triển giáo dục
Nghị quyết của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã nêu rõ: Trong đào tạo ở
bậc cao đẳng và đại học, cần đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục - đào tạo, khắc phục
lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng các PP tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học (DH), đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên (SV)
Việc DH các môn khoa học xã hội (KHXH) ở trường cao đẳng sư phạm (CĐSP) Lào nói chung và ở trường CĐSP Luông Năm Tha nói riêng trong thực
tế vẫn còn những khó khăn, tồn tại: Nặng về truyền đạt kiến thức từ thầy sang trò theo một chiều, nặng về thuyết trình, giảng giải SV lĩnh hội kiến thức thụ động, chủ yếu nhờ vào giáo viên (GV), sự giao lưu giữa GV với SV và môi trường DH chưa được được coi trọng, thói quen và khả năng của SV giúp đỡ nhau trong việc lĩnh hội các kiến thức còn nhiều hạn chế,
Nhằm khắc phục được tình trạng trên, GV phải đổi mới cách thức tổ chức DH; biết cách phối hợp sử dụng cả những PPDH truyền thống và không truyền thống trong bài dạy của mình
Mặt khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông trong xã hội, việc sử dụng phương tiện DH hiện đại, trong đó ứng dụng CNTT, được coi là một yếu tố tích cực trong quá trình đổi mới PPDH Trên thế giới đã có nhiều trường đại học và các công ty phần mềm cung cấp dịch vụ đào tạo trực tuyến trên mạng internet góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học: Học mọi lúc, học được ở mọi nơi, HT suốt đời, HT một cách mở và mềm dẻo Ở Nước CHDCND Lào, trong thời gian gần đây, computer, internet, phần mềm, trở thành là những phương tiện hỗ trợ DH không thể thiếu các trường cao đẳng, đại học; nói riêng là các trường sư phạm
Trang 14Khoảng vài thập niên trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học đã làm thay đổi đáng kể mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục Có thể nói, sự thay đổi lớn trong giáo dục chính là sự hình thành nên những quan điểm mới trong lĩnh vực giáo dục theo hướng từ quan niệm quá trình dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang quan niệm quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm Nhiều tư tưởng, chiến lược, phương pháp dạy học mới ra đời xoay quanh vấn đề dạy học tập trung vào người học để khai thác những tiềm năng sẵn có của người học, tích cực hóa hoạt động học của người học, làm cho người học năng động hơn trong quá trình học tập, trong đó có các
xu hướng tiếp cận trong dạy học như: dạy học hợp tác, dạy học theo chủ nghĩa hiện sinh, dạy học kiến tạo, dạy học dựa vào vấn đề, dạy học dựa vào dự án, dạy học dựa vào tương tác
Dạy học dựa vào tương tác là chiến lược dạy học coi trọng tính tích cực, năng động của người học Việc dạy và học được thực hiện dựa trên sự tác động qua lại giữa các thành tố của quá trình dạy học (các tương tác sư phạm), trong đó quan trọng nhất là sự tác động giữa người dạy - người học, giữa người học - người học và môi trường dạy học Trong quá trình dạy học hiện đại, quan hệ tương tác hết sức được xem trọng, xét ở góc độ nào đó dạy học tương tác được nhìn nhận như một nguyên tắc then chốt của dạy học hiện đại Theo quan niệm dạy học tương tác thì đối tượng dạy học là ai, nội dung dạy học là gì, thì để dạy và học tốt được đều cần phải có sự tương tác tích cực giữa người học với thành tố khác Để thực hiện được yêu cầu trên đây, những nguyên tắc giáo dục và phương pháp dạy học cần đảm bảo phát huy được sự ảnh hưởng tích cực từ môi trường dạy học trong đó những đơn vị thuộc ngành giáo dục có trách nhiệm định hướng và phát triển phương pháp dạy học, tổ chức dạy học cho sinh viên được tham gia vào các hoạt động học tập đầy đủ, cũng như sự lựa chọn phương pháp dạy học hợp lý cùng với các hoạt động học tập diễn ra ở bên trong và bên ngoài lớp học
Trang 15Thực trạng về DH các môn KHXH ở trường CĐSP Luông Nặm Thà cho thấy chưa có sự đổi mới đáng kể Trước tình hình đó, mục tiêu của chúng tôi là cập nhật những kiến thức mới về PPDH các môn KHXH và vận dụng một cách thích hợp nhằm tích cực hoá hoạt động (HĐ) HT cho SV CĐSP; để từng bước đổi mới việc DH các môn KHXH ở trường CĐSP, nâng cao chất lượng HT, góp phần đào tạo thế hệ SV mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng phát triển của đất nước
Chúng tôi tập trung nghiên cứu vận dụng một số PPDH nhằm tích cực hoá HĐ HT của SV môn Tiếng Lào ở trường CĐSP Luông Nặm Thà Nước Lào, thông qua một số nội dung DH môn Tiếng Lào vì Tiếng Lào cũng là một môn học mà nằm ở trong các môn KHXH
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Dạy học các môn khoa học xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác ở trường CĐSP Luông Năm Tha, Nước CHDCND Lào” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng dạy học các môn khoa học
xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác, luận văn đề xuất biện pháp tổ chức dạy học môn khoa học xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho sinh viên ở trường CĐSP LNT
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Tiếng Lào theo QĐSPTT ở Trường CĐSP LNT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm sư phạm tương tác ở Trường CĐSP LNT
4 Giả thuyết khoa học
Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác là một hình thức tổ chức dạy học tiếp cận người học tích cực Hiện nay việc tổ chức dạy học tương tác đã được
Trang 16nhà trường tiếp cận tổ chức thực hiện nhưng chủ yếu mang tính hình thức, hạn chế Nếu trong quá trình dạy học môn Tiếng Lào giảng viên biết tổ chức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp với đặc điểm nhận thức của sinh viên và đặc điểm môn học thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lí luận và thực tiễn của dạy học môn KHXH theo quan điểm sư phạm tương tác
5.2 Khảo sát thực trạng dạy học môn KHXH theo quan điểm sư phạm tương tác
5.3 Đề xuất biện pháp tổ chức dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm SPTT, khảo nghiệm và thực nghiệm biện pháp do đề tài xây dựng chứng minh tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp do đề tài đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tổ chức dạy học môn Tiếng Lào cho sinh viên năm thứ hai theo quan điểm sư phạm tương tác giữa người dạy - người học, giữa người học - người học trong quá trình dạy học cho sinh viên ở trường CĐSP Luông Năm Tha
Việc triển khai đề tài được tiến hành trong năm học (2014- 2015) Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Lào theo quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học sinh viên trên 102 sinh viên chuyên ngành Tiếng Lào-Văn Học sau khi tốt nghiệp những sinh viên này có thể dạy các môn Tiếng Lào-Văn Học cấp trường trung học cơ sở và 15 giảng viên giảng dạy môn Tiếng Lào ở trường CĐSP Luông Năm Tha
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu về tâm lý giáo dục, tâm lý sinh viên, những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài
- Nhằm phân tích cơ sở lý luận về QĐSPTT
Trang 177.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
- Quan sát quá trình dạy học thực nghiệm của giảng viên và sinh viên về thái độ, hành vi, hứng thú…
7.2.2 Phương pháp điều tra
- Nhằm thu thập thông tin về thực trạng của vấn đề nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tiếng Lào lớp năm thứ hai
7.3 Phương pháp thông kế toán học
Nhằm xử lí các số liệu thu được từ điều tra và thực nghiệm sư phạm
Chương 3 Biện pháp tổ chức dạy học môn Tiếng Lào ở Trường CĐSP LNT theo quan điểm sư phạm tương tác
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC MÔN TIẾNG LÀO
THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và học đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại Khổng Tử (551 - 479 TCN) hay Socrate (469 - TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của
người học khi mô tả hoạt động dạy học
Trong cuốn “Giáo dục của cải nội sinh” của Uỷ ban giáo dục vào thế kỷ
21 của UNESCO do ông Giác Đơ Lô làm tổng chủ biên cũng đưa ra nhận định:
Đi vào thế kỷ mới quan hệ thầy trò (phương pháp tương tác thầy - trò) giữ vai
trò trung tâm trong nhà trường
Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy trong tác phẩm
“Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [Pour une pédagogie interactive]
đã đề cập tới một trường phái sư phạm tương tác cùng với nền tảng lý luận của nó
Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học đã khẳng định yếu tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: thầy giáo - học trò - môi trường đối với tri thức Như vậy, trong quá trình dạy học giáo viên không tác động trực tiếp đến HS mà thông qua một yếu tố trung gian đó là tri thức Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể hoạt động, còn kiến thức là đối tượng Yếu tố môi trường, theo nhóm tác giả này không phải là một yếu tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học
mà quan trọng hơn là người học phải thích nghi được với môi trường Phương pháp này đưa ra được các phương tiện, công cụ để kích thích hứng thú - tình
Trang 19huống dạy học được lựa chọn kỹ lưỡng, đặc biệt là cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa dạy và học trong môi trường dạy học để người học thành công Do vậy, cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn thành tố như: giáo viên, sinh viên, tri thức và môi trường
Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản (hạt nhân) của QĐSPTT là người dạy - người học - môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy đã thành công trong việc mô tả ba yếu tố: người học, người dạy và môi trường Bộ ba này tập hợp các nhân tố chính tham gia
vào quá trình học tập
Ở Việt Nam, một số bài báo đề cập đến vấn đề này như: Nguyễn Thị Thanh Bình - Viện KHGD đã đề cập đến vấn đề “Tiến tới tổ chức hoạt động
giáo dục theo phương thức hợp tác” với những đặc tính:
+ Tương tác giữa các cá nhân khác nhau về khả năng
+ Mang tính chất phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực
+ Tạo ra sự phối hợp hành động trực tiếp
+ Kích thích tính tích cực, nguyện vọng tự thể hiện trách nhiệm cá nhân,
tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh
tác” là một trong những phương pháp có triển vọng đáp ứng yêu cầu trên [1]
Trang 20Tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh, đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [5], đã phân tích, đánh giá làm rõ nhân tố môi trường trong phương pháp
sư phạm tương tác
Trong quá trình dạy học môn Tiếng Lào, theo quan điểm sư phạm tương tác trình độ CĐSP, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Quá trình dạy học các môn Tiếng Lào đã được tổ chức dạy học theo bốn kỹ năng như: nghe, nói, đọc, viết và là kiến thức cơ sở của bộ môn theo từng cấp Dựa vào đối tượng chương trình đào tạo giáo viên chuyên ngành Tiếng Lào nhằm những mục tiêu:
- Trang bị cho sinh viên kiến thức khoa học của môn học
- Có khả năng vận dụng vào quá trình dạy học ở các trường THCS
- Hình thành cho sinh viên những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách, có tầm nhìn xa trông rộng, có chuẩn mực đạo đức của người giáo viên
- Khả năng xử lý vấn đề một cách sáng tạo, có trách nhiệm và phát triển kiến thức, khả năng của bản thân trong tương lai
Để đạt được mục tiêu trên, đáp ứng nhu cầu đào tạo giáo viên chuyên ngành Tiếng Lào có hiệu quả cao Theo Kế hoạch và Chiến lược đào tạo giáo viên 2006-2015 của Vụ đào tạo giáo viên thuộc Bộ giáo dục và Thể thao Lào, cần phải đổi mới các phương pháp dạy học các bộ môn học nói chung
và môn Tiếng Lào nói riêng là một môn học mà kiến thức của môn học này được tích hợp nhiều môn học khác cũng như các môn KHXH đều gắn liền với môn Tiếng Lào [27]
Quá trình dạy học chính là người dạy, người học và môi trường bên trong và bên ngoài có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau, trong đó vấn đề chính là hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập của sinh viên vấn đề này là nhất quan trọng Trong quá trình dạy học mà có một số bài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này như: JAB VONGTHAVY, Trường Cao đẳng Sư phạm Luông Nặm Thà đã nghiên cứu sự thực nghiệm sư phạm về việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học giải tích ở Trường Cao đẳng Sư phạm Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [7] Theo mục đích nghiên cứu là sử dụng các
Trang 21phương pháp tích cực như: PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm, phối hợp giữa các PPDH khác nhau trong những tình huống điển hình vào dạy học với sự trợ giúp của công nghệ thông tin để đánh giá tác động của thực hiện phối hợp một số PPDH tích cực cũng như PPDH tương tác ở trường CĐSP nước CHDND Lào, là rất quan trọng trong giai đoạn đổi mới giáo dục cũng như đào tạo giáo viên, nó đòi hỏi dạy học phải hợp tác lẫn nhau và nhiều
bộ phận để tăng cường dạy học có chất lượng cao
Tuy nhiên việc nghiên cứu của các tác giả ngoài nước cũng như trong nước mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu lý luận hoặc thử nghiệm ở phương pháp dạy học và các môn học khác nói chung, chứ chưa đưa ra các cách thức cụ
thể cho việc dạy học môn tiếng Lào ở trường Cao đẳng Sư phạm
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Phương pháp dạy học
Theo định nghĩa chung nhất, phương pháp là con đường, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đích đã định Phương pháp là một phạm trù của lí thuyết hoạt động có liên quan mật thiết với các phạm trù chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung hoạt động
Theo quan điểm triết học, chúng ta có thể nêu lên một số khái niệm về phương pháp như sau:
- Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện là tổ hợp các bước
mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lí Chẳng hạn phương pháp biện chứng, phương pháp phân tích hệ thống [1]
- Phương pháp đồng nghĩa với biện pháp kĩ thuật, biện pháp khoa học
- Phương pháp còn là tổ hợp những quy tác, nguyên tắc qui phạm dùng
để chỉ đạo hành đồng Tuy nhiên chỉ có định nghĩa do Ăngghen đưa ra là chứa đựng một nội hàm sâu sắc và bản chất đã được V.I Lê Nin nêu lên trong tác phẩm “Bút kí triết học” của mình: Phương pháp là “ý thức về hình thức của sự
tự vận động bên trong của nội dung” [1]
Trang 22Phương pháp dạy học là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học Đồng thời là vấn đề tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, có thể nêu nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Sau đây chúng tôi xin nêu một vài định nghĩa về phương pháp dạy học:
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lôgic, các hoạt động độc lập của sinh viên và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo[5]
- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của sinh viên, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn [1]
- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học [7]
Theo Phạm Viết Vượng phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giảng viên và sinh viên, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp sinh viên chiếm lĩnh hệ thống kiến thức Khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành sáng tạo [2] Mặc dù chưa
có ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học song các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:
- Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của sinh viên nhằm đạt được mục đích đặt ra
- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường qui định
- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò
- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động
Qua sự phân tích các tác giả trên thế giới và trong nước chúng ta có thể khẳng định rằng: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của
cả thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học
Trang 231.2.2 Tương tác, sư phạm tương tác
Theo hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy thì từ “sư phạm” (Pedagogie) có nguồn gốc xuất phát từ một danh từ và một động từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hướng dẫn một đứa trẻ (guider un enfant) Nguồn gốc của từ này chỉ ra rằng có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được hướng dẫn Ngày nay, người ta đồng hoá chúng một cách hoàn
toàn ngẫu nhiên vào người dạy và người học, đó chính là giáo viên và học sinh
Quan điểm sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sự tác động tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giáo viên, học sinh và môi trường Ba tác nhân này luôn luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động và
phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia
Quan điểm sư phạm tương tác xem giáo viên là người giữ vai trò tổ chức hướng dẫn và điều khiển học sinh Giáo viên là người xác định mục tiêu, sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi mở, tạo ra hứng thú cho học sinh Giáo viên là chuyên gia về lĩnh vực chuyên môn đồng thời là chuyên gia của việc học, biết can thiệp đúng lúc trên bước đường
nhân thức của học sinh
Học sinh là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chính của việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm sư phạm tương tác, học sinh dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằng phương
pháp học tập của mình là chính
Yếu tố môi trường được coi là tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác động tương hỗ tới hoạt động dạy và hoạt động học Bầu không khí tâm lý của lớp học, sự cởi mở thân thiện của giáo viên, học sinh và tập thể, chế độ làm việc
hợp lý, sẽ cuốn hút hứng thú tập trung vào nội dung học
Trang 24Với quan điểm sư phạm tương tác, mối quan hệ của ba yếu tố này luôn tác động lẫn nhau, tạo nên một tập hợp liên kết chặt chẽ quy định sự thành công của hoạt động dạy học Nếu xác định được vai trò đích thực của từng yếu tố và tìm ra những tác động qua lại giữa chúng sẽ đặt cơ sở vững chắc cho những can thiệp sư phạm có hiệu quả Trong quan điểm sư phạm tương tác thực chất vai trò của ba yếu tố đó là:
Giảng viên - người hướng dẫn
Giảng viên là người hướng dẫn của sinh viên Sau khi đã cân nhắc giao cho sinh viên vai trò là một người thợ chính trong phương pháp học, quan điểm
sư phạm tương tác quan tâm đến việc làm rõ chức năng của giảng viên Nó coi giảng viên trước hết là người hướng dẫn của sinh viên Và giống như bất cứ người hướng dẫn giỏi nào, giảng viên đi cùng sinh viên trong phương pháp học của sinh viên và chỉ cho sinh viên con đường phải theo suốt cả quá trình
Giảng viên với vai trò là người đi cùng này, phối hợp với sinh viên: họ làm bạn đồng hành với nhau người nọ giúp đỡ người kia trong phương pháp học của sinh viên Việc dạy vì vậy không phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có sinh viên cùng tham gia trên con đường hài hoà đi đến tri thức mới Trong viễn cảnh này giảng viên hợp tác với sinh viên, làm việc với các sinh viên giảng viên tham gia góp phần vào một công trình chung Sinh viên và giảng viên trở thành những người cộng tác thực sự trong một công việc, cả hai cùng đi trên con đường học theo phương pháp riêng của mỗi người
Giảng viên hoàn toàn là người đi cùng, mặt khác đảm nhiệm thêm vai trò hướng dẫn, vai trò của người tạo thuận lợi Vì vậy, giảng viên trở thành người giúp đỡ sinh viên tham gia tích cực, kiên định hướng đi và kiên trì đến cùng Giảng viên gần giống như người thuyền trưởng đã trao tay lái của con tàu cho một thành viên của đội lái Ta hình dung một cách dễ dàng tất cả sự chú ý mà người thuyền trưởng dành cho người học Anh ta lo lắng theo dõi người học của mình, khuyên khi cần thiết, và giúp đỡ người học bằng những lời động viên
Trang 25và định hướng khi cần Cách ứng xử của giảng viên cũng phải như vậy, giảng viên trước hết phải cố gắng giúp đỡ sinh viên, tạo điều kiện dễ dàng cho phương pháp học của các sinh viên
Giảng viên gia tăng cơ hội bày tỏ chú ý của mình với sinh viên Giảng viên thậm chí phải ra sức tìm mọi cách để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cần được giúp đỡ khi sinh viên cảm thấy khó khăn Hơn thế nữa cần có một trực giác sáng suốt để giảm đi những sinh viên sợ, những khó khăn luôn rình rập sinh viên trong quá trình thực hiện phương pháp học Một sự thiện cảm như vậy thường trở thành nguồn hứng thú ở sinh viên và sinh viên cảm thấy tìm được ở giảng viên sự giúp đỡ
Sinh viên - người thợ
Sinh viên là người thợ chính của quá trình đào tạo, chính sinh viên là tác nhân đầu tiên thực hiện phương pháp học từ đầu cho đến khi kết thúc quá trình học, phương pháp học phải dựa trên chính tiềm năng của sinh viên Phương pháp học cũng góp phần vào sáng kiến của sinh viên Nhờ vào sự hứng thú, sinh viên tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách tạo cho nó một hình thức độc đáo liên quan đến tính cách của mình Các sinh viên có thể tỏ ra tự chủ và theo con đường ngày càng phù hợp với khả năng, xu hướng, nhịp độ của mình
Ngoài tiềm năng và sáng kiến của sinh viên, phương pháp học phải dựa trên ý thức trách nhiệm của sinh viên Thật vậy các em phải đảm nhiệm trách nhiệm đầy đủ trách nhiệm người thợ chính của mình bằng cách tham gia tích cực và thoải mái vào quá trình học “của mình” Thậm chí các sinh viên phải có
ý thức và những trách nhiệm tham gia, nó khơi dậy ở sinh viên tính năng động
và những cố gắng cần thiết để đi tới kết thúc công việc, và sinh viên có rất nhiều khả năng làm được điều nay
Bằng cách gắn cho sinh viên vai trò tác nhân chính, quan điểm sư phạm tương tác giả thiết rằng đối với việc học, giảng viên chọn một phương pháp coi trọng tính ưu tiên dành cho sinh viên và khả năng của các sinh viên Theo cách
Trang 26nhìn nhận này, việc dạy rõ ràng đã trở nên tập trung vào sinh viên Làm như vậy, giảng viên tạo nên một hỗ trợ có giá trị đối với sinh viên cũng như giúp các em trở thành người thợ chính trong quá trình đào tạo
Môi trường xung quanh và ảnh hưởng của nó
Môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học và quan điểm sư phạm và giữa chúng có sự tác động tương hỗ Quan điểm sư phạm tương tác coi môi trường có một vị trí trong những nguyên lý cơ bản, rõ ràng là có ý nghĩa định nhấn mạnh tầm quan trọng của tác nhân này trên phương diện sư phạm Thông thường, người ta có xu hướng giảm mối quan hệ giảng viên và sinh viên thành các quan hệ thuần tuý hoặc đơn giản là bó hẹp ở nhiệm vụ của người này hoặc người kia, có nghĩa là sinh viên thì học còn giảng viên thì dạy Đồng thời người
ta dễ bày tỏ qua việc sinh viên và giảng viên cũng như là những cá nhân được chú ý bởi những người xung quanh, bởi những sự kiện trong cuộc sống của họ, bởi các phong tục tập quán của đất nước họ Mỗi sinh viên, mỗi giảng viên có tính cách riêng đặc trưng bởi khí chất, bởi di truyền và bởi giáo dục Sẽ là thỏa đáng hơn khi hội nhập họ vào trong một môi trường rộng hơn, môi trường này tác động vào tất cả các hoạt động của họ Đặc biệt trong hoạt động sư phạm của
họ, sinh viên và giảng viên đương nhiên bị ảnh hưởng bởi một tập hợp các yếu
tố môi trường Làm sao mà lại không nghi ngờ, thí dụ: ở một sinh viên bi mệt không chú ý học khi em này bị đau hoặc đêm qua ít ngủ, rằng có thể em này chứng kiến một cuộc cãi lộn giữa bố mẹ hoặc em tin rằng môn được dạy là vô ích? Làm sao lại không gắn sự căng thẳng lo lắng của giảng viên với những sự kiện không đúng lúc, ví dụ như lúc con họ bị bệnh chẳng hạn, hoặc có những lời trách mắng của ông hiệu trưởng về tính thiếu kỷ luật, hoặc là cản trở sự thăng tiến? Có những tình huống ảnh hưởng đến hiệu suất của sinh viên và tập tính của giảng viên, nhiều một cách ngạc nhiên Chúng có nguồn gốc hoặc từ bên trong học sinh và giảng viên giống như cảm xúc, giá trị, vốn sống của mỗi
người, hoặc từ bên ngoài như gia đình, nhà trường và xã hội
Trang 27Nếu như môi trường có thể ảnh hưởng tới hoạt động sư phạm thì giảng viên và sinh viên cũng có thể thay đổi môi trường Chính vì vậy mà sinh viên sau khi thu lượm kiến thức mới sẽ khám phá những chân trời mới, không chấp nhận những định kiến của mình và chỉnh lại những tập tính của mình Ví dụ sau cuộc gặp gỡ bổ ích với cha mẹ của một sinh viên, có thể có cái nhìn thiện cảm hơn về người sinh viên này, vì vậy em có thể chiếm được lòng tin vì sự ủng hộ
của bố mẹ, qua đó cải thiện được quan hệ với sinh viên
Các ví dụ nêu trên minh hoạ tính tương hỗ có thể nằm trong các tác động giữa một bên là sinh viên - giảng viên và một bên là môi trường Đó là đặc trưng
ảnh hưởng của môi trường được làm sáng tỏ bởi quan điểm sư phạm tương tác
1.2.3 Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học” là toàn bộ các thao tác có mục đích
nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt dược vào bên trong một con người Quan niệm này lí giải đầy đủ
cách mà nền giáo dục đang cố gắng để tạo ra những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của xã hội Tuy nhiên, nếu như vậy thì nền giáo dục luôn đi sâu sự phát triển của xã hội
Theo quan niệm hiện đại, dạy học cần thiết xem xét trên ba phương diện chính sau [8, tr.17-32]: 1- Về phương diện xã hội - lịch sử, dạy học là quá trình
và kết quả của sự tái sản xuất và phát triển những giá trị kinh nghiệm xã hội cơ bản, có chọn lọc ở từng cá nhân thuộc những thế hệ người học nhất định để thực hiện những chức năng phát triển cá nhân và cộng đồng 2- Về phương diện tâm sinh lí, dạy học là hình thức phổ biến của phát triển cá nhân và cộng đồng Mỗi cá nhân trong bất kì xã hội nào cũng đều đồng thời phát triển dưới hai hình thức cá biệt, đặc thù, của riêng anh ta, do gen và mối trường hoạt động cá nhân của người đó quy định; hình thức phổ biến chung cho cả thế hệ hoặc vài thế hệ người thuộc cộng đồng nhất định, tức là dạy học của cộng đồng đó 3- Về mặt
sư phạm, dạy học chính là việc gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập
Trang 28và quá trình học tập của người học, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả chất lượng học tập, kiểm suốt quá trình và kết quả học tập của họ
Chính vì thế, sẽ hợp lý hơn nếu quan niệm rằng: Dạy là quá trình người
dạy tiến hành các thao tác có chức và có định hướng giúp người học bằng hoạt động của bản thân, từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kĩ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các yếu cầu thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học
Có thể nói, mọi chiến lược học tập và dạy học ngày nay đều bắt nguồn từ những dòng triết lí hoặc cách tiếp cận lí thiết sau [8, tr.117]: 1- Triết lí kiến tạo-Constructivism (nhận thức và xã hội; 2- Tiết lí hợp tác - Cooperative Learning; 3- Triết lí hành vi- Behaviorism Learning; 4- Triết lí giải quyết vấn đề - Problem Solving Learning; 5- Triết lí hiện sinh - Existentialism, Pragmatism, Realism Các chiến lược có ảnh hưởng lớn thường nỗ lực thể hiện những triết lí này trong
các hình thức khác nhau Dạy học theo quan điếm SPTT bao quát đủ những triết
lí trên: có hợp tác, chia sẻ, kiến thức, kinh nghiệm và giá trị; có giải quyết vấn đề trong môi trường đa tương tác; có kiến tạo kiến thức ở người học; có tổ chức và điều khiển hành vi trong tương tác, có trải nghiệm hiện thực Song, ở phương diện khái quát nhất, dạy học theo quan điểm SPTT nhấn mạnh đến mối quan hệ tác động qua lại giữa các chủ thể của quá trình dạy học nhằm tạo ra sự phát triển trước tiên và quan trọng nhất là người học và sau đó là các thành tố khác như người dạy, môi trường dạy học Quá trình dạy học theo chiến lược này chính là quá trình tạo ra và tổ chức các tương tác sư phạm giữa người học với người dạy, người học với người học, người học với môi trường dạy học nhằm phát triển nhận thức và năng lực tương tác của người học lên một trình độ mới Rồi từ chính năng lực mới này cùng với những tương tác sư phạm được tạo ra, người phát triển liên tục trong suốt quá trình học tập lâu dài
Trang 29Dựa vào quan niệm trên đây thấy rằng quan điểm sư phạm tương tác là phương pháp dạy học mà có điều kiện tào ra làm cho người dạy và người học được hợp tác lẫn nhau Do vậy, hình thức tổ chức dạy học trong các môn học
để làm thế nào cho người học được tham gia các hoạt động mà người dạy đã thiết kế, theo quan điểm sư phạm tương tác người dạy phải phối hợp với nhiều yếu tố chủ yếu là người dạy, người học và môi trường Trong đó người dạy và người học có vai trò chính trong tổ chức dạy và học thông qua hoạt động dạy học mà người học là người chủ động và người dạy là người hướng dẫn để làm thế nào cho sinh viên được hợp tác trong quá trình dạy học
1.3 Một số vấn đề cơ bản về dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
1.3.1 Đặc điểm dạy học quan điểm sư phạm tương tác
- Quan điểm sư phạm tương tác xem giảng viên là người giữ vai trò tổ chức hướng dẫn và điều khiển sinh viên Giảng viên là người xác định mục tiêu, sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi mở, tạo ra hứng thú cho sinh viên Giảng viên là chuyên gia về lĩnh vực
chuyên môn, biết can thiệp đúng lúc trên bước đường nhận thức của sinh viên
- Sinh viên là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chính của việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm sư phạm tương tác, sinh viên dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằng phương
tập trung vào nội dung học
- Phương pháp sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sự
tác động tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giảng viên, sinh viên và môi trường
Ba tác nhân này luôn luồn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt
Trang 30động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia Mối quan hệ của ba yếu tố này luôn tác động lẫn nhau, tạo nên một tập hợp liên kết chặt chẽ quy
định sự thành công của hoạt động dạy học
- Trong quan điểm sư phạm tương tác, sinh viên được thoải mái bàn bạc
thảo luận để đưa ra các ý kiến, quan điểm của mình về nội dung môn học, hiện tượng rồi thống nhất ý kiến Đó là kết quả hoạt động của nhóm Kết quả này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi là ngây thơ, ngờ nghệch nhưng
vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ
1.3.2 Tiếp cận quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học
Trong chương trình đào tạo khung của trường CĐSP, thời lượng dành cho việc giảng dạy môn tiếng Lào chiếm một tỉ lệ cao so với các môn học đại cương khác Điều này cho thấy, việc giảng dạy, nghiên cứu và phổ biến kiến thức các môn học được sinh viên coi là công tác trọng tâm, nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức môn học cần thiết để phục vụ cho công tác nghiệp vụ sau này Do vậy, việc đổi mới phương pháp dạy và học đối với môn học tiếng Lào cũng được coi là một trong những nội dung quan trọng chủ trương nâng cao chất lượng dạy học nói chung tại CĐSP
Để nâng cao hiệu quả việc dạy và học môn học Tiếng Lào là phương pháp sư phạm tương tác Vậy phương pháp sư phạm là gì?
Có thể hiểu, phương pháp sư phạm tương tác là một cách tiếp cận cơ bản năng động, mang tính hệ thống và khoa học dựa trên sự tương tác giữa 3 yếu tố
cơ bản là người dạy, người học và môi trường liên quan đến việc dạy và học Trong đó yếu tố người học luôn được đề cao nhằm tạo ra sự tích cực chủ động
và hiệu quả trong quá trình tiếp thu kiến thức qua đó giúp người dạy và người học thu được hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy và học Nội dung trọng tâm của phương pháp tương tác tập trung vào bốn vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất: Phương pháp sư phạm tương tác chú trọng đầu tiên vào việc
tìm hiểu về bộ máy học và cơ chế vận hành bộ máy học của sinh viên Mỗi con người đều có sẵn bộ máy tiếp nhận và xử lí thông tin như các hệ thần kinh
Trang 31ngoại biên (các giác quan, các nơron thần kinh) và các hệ thần kinh trung ương (não người) Tuy nhiên, hoạt động của các cỏ quan đó ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên là khác nhau, điều này chi phối đến hoạt động tiếp thu kiến thức ở mỗi nhóm đối tượng sinh viên cũng có những đặc điểm riêng biệt Do vậy trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần phải nắm chắc được các đặc điểm riêng biệt đó để có thể chủ động và linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp sư phạm khác nhau nhằm tạo nên hứng thú học tập cho sinh viên, giúp quá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên đạt được hiệu quả cao nhất
Thứ hai: Phương pháp sư phạm tương tác luôn coi người học là trọng
tâm của việc học Thực tế cho thấy sinh viên chỉ có thể đạt được hiệu quả cao trong học tập nếu như chính sinh viên nhận thức được rằng việc học là cho chính mình và bởi chính mình Chính vì vậy, sinh viên cần phải luôn tạo cho mình sự chủ động trong việc sắp xếp kế hoạch học tập Tuy nhiên một mình sinh viên không thể tạo ra được sự chủ động này nếu thiếu sự hỗ trợ từ phía giảng viên Một sai lầm thường thấy ở các giảng viên là hay áp đặt các sinh viên phải tuân theo những kế hoạch học tập do mình soạn sẵn, điều này vô hình chung làm mất đi sự chủ động cho sinh viên trong việc tạo ra kế hoạch học tập cho riêng mình Phương pháp sư phạm tương tác đòi hỏi giảng viên phải coi sinh viên là người học chứ không phải là người mà chúng ta sẽ dạy bảo Trong quá trình học, giảng viên cần đóng vai trò hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên trong việc tiếp thu kiến thức Giảng viên không đứng ở phía đối lập với sinh viên mà phải trở thành một người bạn đồng hành của sinh viên trong suốt quá trình học tập Trong quá trình này, các chức năng cơ bản của giảng viên là hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện, hoạt náo, giao tiếp nhằm tạo hứng thú và hỗ trợ một cách tốt nhất cho sinh viên trong quá trình tiếp thu kiến thức
Thứ ba: Phương pháp sư phạm tương tác cũng đề cập đến những ảnh
hưởng của yếu tố môi trường đến việc học tập của sinh viên Môi trường học tập là một tập hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau (vật chất, gia đình, xã hội, tình huống sư phạm, tính chuyên nghiệp) và các giá trị khác nhau (tri thức, cảm
Trang 32xúc, thẩm mĩ, văn hóa, đạo đức, tinh thần) Những yếu tố này tạo nên những ảnh hưởng khác nhau lên người học mà chủ yếu là theo hai chiều hướng chính
là tích cực hoặc tiêu cực Do đó, một kỹ năng quan trọng được đặt ra với giảng viên nói riêng cũng như nhà trường nói chung là phải nhận thức được các yếu
tố môi trường đó nhằm hạn chế những tác động xấu đồng thời tăng cường các ảnh hưởng tích cực tới quá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên
Thứ tư: Phương pháp sư phạm tương tác đặc biệt nhấn mạnh và đề cao
hoạt động tổ chức môn học thông qua việc xây dựng kế hoạch dạy học và hồ sơ môn học Mỗi môn học cần phải được xây dựng thành một hồ sơ môn học riêng
Xuất phát từ đặc thù của môn Tiếng Lào và trên cơ sở phân tích những
ưu điểm của phương pháp sư phạm tương tác có thể thấy việc áp dụng phương pháp sư phạm tương tác vào việc giảng dạy môn Tiếng Lào sẽ giúp giảng viên
có cách tiếp cận mới và tổng quát về việc dạy và học trong đó đặc biệt là giúp giảng viên hiểu được cơ chế học tập của học viên một cách khoa học để từ đó
có kế hoạch xây dựng giáo án và áp dụng một cách có hiệu quả các phương pháp sư phạm khác nhau vào việc giảng dạy môn Tếng Lào nhằm tạo ra hiệu quả tối ưu trong việc dạy và học đối với từng nhóm đối tượng sinh viên cũng như đối với từng cấp môn Tiếng Lào khác nhau
Từ những phân tích trên có thể thấy, để có thể áp dụng phương pháp sư phạm tương tác trong việc dạy và học môn Tiếng Lào tại trường CĐSP cần chú
Trang 33dạy, giảng viên cần phải nắm chắc được các đặc điểm riêng của từng loại đối tượng để có thể chủ động và linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp sư phạm khác nhau nhằm tạo nên hứng thú học tập cho sinh viên, giúp quá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên đạt được hiệu quả cao nhất
Hai là thực trạng giảng dạy các môn KHXH hiện nay cho thấy, đa phần các sinh viên đều tiếp thu kiến thức một cách thụ động Điều này dẫn đến việc sinh viên không thể nhớ lâu và chính xác các nội dung của các môn học Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tiếp thu thụ động một phần là do trong quá trình truyền đạt kiến thức, giảng viên đã áp đặt các sinh viên phải tuân theo những kế hoạch học tập do mình soạn sẵn mà không tạo điều kiện cho sinh viên được tham gia một phần vào việc đặt ra kế hoạch học tập cho mình Do vậy trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần tạo ra sự chủ động cho sinh viên thông qua việc yêu cầu sinh viên tự lên kế hoạch học tập cho mình trên cơ sở nội dung kiến thức mà giảng viên cung cấp Đồng thời, giảng viên cũng phải luôn xác định được vai trò hỗ trợ, giúp đỡ, đồng hành với sinh viên trong qua trình tiếp thu kiến thức bằng việc đưa ra những vấn đề chỉ mang tính chất gợi
mở để buộc sinh viên phải tư duy, cung cấp danh mục tài liệu để sinh viên tự nghiên cứu thêm, đưa ra các tình huống môn học tiểu biểu để thông qua đó sinh viên có thể hiểu được cách thức áp dụng các nội dung của môn KHXH vào thực tế, tăng cường việc giao tiếp giữa người học và người dạy cũng như giữa những người học với nhau thông qua các buổi thảo luận Những điều này sẽ giúp cho quá trình tiếp thu kiến thức của sinh viên được chủ động, giúp họ biến được kiến thức mà giảng viên cung cấp trở thành kiến thức của riêng mình và qua đó sẽ cho họ cảm nhận thấy trong quá trình học tập, họ luôn được đặt ở vị trí trung tâm, từ đó có thể giúp họ có được cảm hứng tích cực trong việc học tập và có thể ghi nhớ tốt hơn các nội dung của môn học
Ba là trong quá trình giảng dạy các môn KHXH, giảng viên cần biết tạo
ra một môi trường mang tính các môn học để giúp sinh viên thường xuyên có
cơ hội tiếp cận với những kiến thức các môn học, đặc biệt là những kiến thức
Trang 34môn KHXH gắn liền với sinh hoạt thường ngày của sinh viên, gắn liền với những vụ việc xảy ra trên thực tế Để làm được điều này, đòi hỏi người giảng viên phải hết sức sáng tạo và chủ động trong quá trình giảng dạy, phải biết đan xen một cách khéo léo giữa những buổi học lý thuyết đơn thuần với những buổi học mang tính giải trí nhưng vẫn gắn liền với nội dung bài giảng như yêu cầu sinh viên xây dựng tiểu phẩm mà nội dung tiểu phẩm liên quan đến một hay nhiều tình huống, thực hành việc xử lý, xét xử một vụ việc cụ thể đã từng xảy
ra trên thực tế thông qua việc yêu cầu sinh viên đóng vai những người tiến hành
tố tụng, tiến hành tổ chức những trò chơi mà yêu cầu của trò chơi đối với người chơi là phải có kiến thức về môn học Nếu giảng viên biết kết hợp những yếu tố này một cách hợp lý thì sẽ tạo nên một môi trường về môn học bao quanh sinh viên, giúp họ có được một tâm lý học tập tích cực, từ đó nâng cao hiệu quả học tập các môn KHXH của trường CĐSP
Bốn là để đạt được mục đích giảng dạy của mình thông qua việc sử dụng
đa dạng các phương pháp thì khâu chuẩn bị của giảng viên là hết sức quan trọng Do vậy không thể coi nhẹ việc xây dựng kế hoạch dạy học và hồ sơ môn học Điều này đòi hỏi người giảng viên phải hết sức cẩn thận và chu đáo trong quá trình lên kế hoạch học tập và chuẩn bị hồ sơ môn học Kế hoạch học tập phải được lên một cách rõ ràng theo từng bước tùy thuộc vào đặc thù của từng môn, từng đối tượng sinh viên Hồ sơ môn học cùng phải được chuẩn bị một cách đầy đủ để đảm bảo cho giảng viên có thể triển khai một cách tốt nhất quá trình giảng dạy của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Việc áp dụng phương pháp sư phạm tương tác vào quá trình giảng dạy các môn học là thực sự cần thiết giúp nâng cao hiệu quả dạy và học các môn học nói riêng cũng như các môn học khác nói chung Vấn đề cơ bản là giảng viên phải biết vận dụng nó vào quá trình giảng dạy như thế nào cho phù hợp để đạt được hiệu quả tối ưu Hy vọng rằng, những nội dung trên sẽ góp một phần nhỏ bé giúp các giảng viên có một cách tiếp cận mới trong việc đổi mới phương pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học tại trường CĐSP
Trang 351.3.3 Nguyên tắc tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Thực tiễn dạy học (DH) hiện nay cho thấy: tính chất tác động trong DH chủ yếu mang tính xuôi chiều (từ người dạy đến người học), tính thụ động, kém tích cực của người học làm cho hiệu quả DH không cao Tăng cường tương tác tích cực đa chiều (đặc biệt tương tác từ người học đến người dạy, người học - người học, người học - nhóm bạn học, người học - phương tiện học) sẽ đảm bảo sự tương tác bình đẳng về chức năng của các yếu tố DH, làm gia tăng giá trị các tương tác DH, thúc đẩy tính tích cực học tập của người học,
góp phần nâng cao hiệu quả môn học
Quan điểm sư phạm tương tác (SPTT) là một hướng tiếp cận DH
mới: Hướng vào người học, đặc biệt quan tâm sự gia tăng giá trị tương tác giữa
người dạy, người học và môi trường, từ đó thực hiện tốt các nhiệm vụ DH Người
học trong SPTT được xác định là thợ chính của việc học - người tự tổ chức hoạt
động học, quyết định sự thay đổi trong nhận thức và nhân cách của chính mình Người dạy với vai trò chủ đạo tổ chức, hướng dẫn các tương tác DH qua hoạt động
sư phạm: từ thiết kế môn học, bài học tới thực hiện tổ chức các hoạt động DH
Do vậy, tính chất, cường độ của các tương tác cũng như hiệu quả DH phụ thuộc nhiều vào kĩ năng (KN) tổ chức, hướng dẫn tương tác của người dạy Người dạy có ý nghĩa quyết định tạo nên môi trường học tập và mức độ tham gia của người học vào quá trình DH Vì vậy, trên quan điểm SPTT, dạy học chỉ đạt hiệu quả khi đảm bảo các nguyên tắc sau:
(i) Đảm bảo tính chủ động, tích cực của các chủ thể tham gia vào DH
Trong DH, tính chủ động, tích cực của chủ thế sẽ nâng cao khả năng hoạt động của họ khi tham gia vào các tương tác Việc tích cực, chủ động của các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ tương tác DH phụ thuộc vào sự ý thức về vai trò, chức năng của họ trong DH; cùng với những chuẩn bị về mọi phương diện của họ khi tham gia vào DH và khả năng đáp ứng của các chủ thể trước các yêu cầu của đối tác
Trang 36Vì vậy, để người học thực sự chủ động, tích cực tham gia vào quá trình
DH thì người dạy phải: Thường xuyên nâng cao ý thức, trách nhiệm học tập của người học; Tường minh kế hoạch học tập đối với người học; Đặt ra những yêu cầu phù hợp với thái độ tin tưởng ở người học; Tạo điều kiện cho người học có sự chuẩn bị mọi mặt: tâm thế, kiến thức, phương tiện học; Thực hiện kiểm tra, đánh giá thường xuyên; Khuyến khích người học nỗ lực tham gia các hoạt động hộc tập ngoài lớp (các dự án nhóm, bài luận, báo cáo, sưu tầm,
nghiên cứu điều tra…)
(ii).Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ trong tổ chức các tác động sư phạm
DH là một chuỗi các tác động, tình huống sư phạm kế tiếp nhau tạo nên những vận động, phát triển không ngừng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ DH Với vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động, tương tác DH từ phía người dạy (dù
là tác động nhỏ nhất) đều là tác nhân gây tương tác kéo theo phản ứng dây chuyền tới hàng loạt các tương tác khác trong DH
Vì vậy trong DH, thiết kế các hoạt động đòi hỏi phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí, phù hợp với quy luật và hướng vào mục tiêu DH Khi tổ chức các hoạt động DH, người dạy phải nâng cao khả năng kiểm soát, điều chỉnh linh hoạt các tác động sư phạm của mình làm tăng cường những tác động tích cực, thúc đẩy DH vận động phát triển không ngừng để thực hiện tốt nhiệm vụ DH
(iii) Đảm bảo tính linh hoạt, năng động và hợp tác của các chủ thể trong DH
DH là nơi diễn ra sự tương tác giữa các yếu tố: người dạy, người học, môi trường Các chủ thể DH luôn có sự đa dạng, khác biệt về nhiều phương diện (đặc điểm tâm sinh lí, vốn kinh nghiệm, trình độ phát triển trí tuệ, điều kiện ), song tất cả cùng tham gia vào một môi trường DH (điều kiện dạy và học, chương trình môn học ) với cùng mục tiêu vì sự phát triển của người học, đáp ứng yêu cầu DH môn học Vì vậy, để hợp tác hiệu quả, thực hiện các nhiệm vụ DH và hoàn thành chức năng, đòi hỏi các chủ thể DH phải học cách thỏa thuận, thích ứng chấp nhận đối tác (phải linh hoạt, năng động và hợp tác)
Trang 37Với vai trò chủ đạo của mình, người dạy luôn phải nhạy cảm chẩn đoán
nhu cầu nhận thức từ các đối tác để điều chỉnh, sáng tạo thực hiện chương trình
Đồng thời, để duy trì hứng thú nhận thức của người học, truyền cảm hứng cho người học, người dạy luôn phải làm mẫu, sáng tạo, linh hoạt trong chiến lược vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức DH nhằm thu hút người học chủ động tham gia Đặc biệt, trong một số tình huống, người dạy còn phải thể hiện
sự thuyết phục, giải quyết các mâu thuẫn trong lớp học thật hoàn hảo Vì vậy, việc xuất hiện đúng lúc khi người học cần, đưa ra những quyết định thông minh
và bộc lộ cảm xúc phù hợp là những đòi hỏi rất quan trọng với người dạy trong
tổ chức DH Do đó, để đảm đương tốt vai trò chủ đạo của mình, người dạy phải đạt đến trình độ sư phạm lành nghề với lòng yêu nghề cháy bỏng
(iv) Đảm bảo mối quan hệ tôn trọng, bình đẳng về chức năng giữa các chủ thể DH
Dạy học luôn xảy ra các mối quan hệ tương tác đa chiều Xuất phát từ vai trò, chức năng riêng của chủ thể dạy và chủ thể học cho thấy: vị thế của chủ thể dạy luôn cao hơn chủ thể học xét trên nhiều phương diện (sinh lí, tri thức, kinh nghiệm, ý chí, sự tập trung chú ý, kiên nhẫn ) nên tính chất xuôi chiều trong DH rất dễ xảy ra và thực tiễn đã chứng mình điều này Khắc phục
sự mất cân bằng này bằng cách tăng cường tác động từ phía người học tới môi trường học, nhằm thúc đẩy tính tích cực học tập của người học Chủ thể dạy chủ động thay đổi vị thế, làm cho vị thế chủ thể học được nổi lên qua mối quan
hệ ứng xử sư phạm khéo léo: biết lắng nghe, tôn trọng và làm hài lòng người
học (mối quan hệ bình đẳng hai chiều được thiết lập) Trong mối quan hệ đó, người học sẽ tự tin, dám thể hiện mình nhiều hơn, cùng đó người dạy sẽ trợ giúp, hỗ trợ người học tốt hơn và cả hai cùng thực hiện tốt chức năng của mình trong DH Vì vậy, DH phải tạo điều kiện cho người học có cơ hội tham gia hoạt động nhiều hơn, đảm bảo sự tương tác bình đẳng để không ngừng thực hiện tốt các nhiệm vụ DH
Trang 38(v) Đảm bảo tạo môi trường DH thân thiện
Hoạt động của người dạy và người học luôn diễn ra trong những không gian và thời gian xác định, với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong, bên ngoài Đó chính là môi trường DH Môi trường DH được hiểu theo nhiều góc
độ khác nhau: môi trường rộng, môi trường hẹp, môi trường bên ngoài và môi trường bên trong, môi trường vật chất và môi trường tinh thần, môi trường dạy
và môi trường học Từ lâu, môi trường DH được xác định là yếu tố cấu thành nên quá trình DH, có mối quan hệ tương tác với các yếu tố khác của quá trình
DH Tuy nhiên, yếu tố môi trường DH từ trước tới nay ít được quan tâm, nhưng quan điểm SPTT lại xem xét kĩ lưỡng ảnh hưởng của môi trường tới yếu tố người dạy, người học, hiệu quả DH
Môi trường (trong quan điểm SPTT) là môi trường lớp học được tạo bởi
sự hội nhập của các yếu tố bên ngoài (phương tiện, điều kiện dạy và học, phương thức hoạt động, thái độ, hành vi giao tiếp ứng xử, ngôn ngữ ), yếu tố bên trong (sức khỏe, tâm lí, trí tuệ, các giá trị, vốn kinh nghiệm ), yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần, các tình huống DH, các mối quan hệ xã hội trong DH của người dạy và người học Tất cả tạo nên một môi trường phức tạp và luôn ở trạng thái vận động (do sự tương tác của các yếu tố cấu thành tạo nên) Người dạy và người học bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của môi trường, tuy nhiên, họ không thụ động trước những ảnh hưởng đó mà luôn phản ứng bằng cách tìm ra cái lợi từ những ảnh hưởng của môi trường; điều chỉnh hay biến đổi những ảnh hưởng bất lợi; hay chấp nhận, thích nghi trước những ảnh hưởng đó
Với vai trò người hướng dẫn, tạo điều kiện, đi cùng người học, người dạy có thể chủ động tổ chức môi trường học tập tích cực mang lại sự thành công nhiều nhất cho người học Chẳng hạn: kiểm tra điều kiện, thiết bị phương tiện phòng học; điều hành chương trình học phù hợp với người học; lựa chọn các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức DH thích hợp; điều chỉnh mối quan hệ với người học trên cơ sở tôn trọng, cởi mở thần thiện,
hỗ trợ, cộng tác, dân chủ
Trang 391.3.4 Tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Xét theo tiến trình, quan điểm SPTT là kết quả của sự phân tích, đánh
giá, chọn lọc để kế thừa những mặt tích cực của các trào lưu sư phạm đã tồn tại
trong lịch sử phát triển lý luận dạy học Điều này thể hiện rõ ở các yếu tố sau:
- Quan điểm SPTT tập trung trước hết vào người học và cơ bản dựa trên tác động qua lại giữa người dạy, người học và môi trường Người học được coi
là trung tâm, là người chịu trách nhiệm chính về PP học của mình, không theo
hứng thú từng lúc Như vậy, quan điểm SPTT đã đề cập đến một luận điểm cơ bản của trào lưu SP tự do
- Quan điểm SPTT xác định vai trò của người dạy là hướng dẫn người học theo những mục tiêu xác định trong chương trình học bằng kiến thức và
kinh nghiệm của mình (đây là quan điểm của trào lưu sư phạm đóng)
- Quan điểm SPTT thuộc về trào lưu sư phạm mở và mô phỏng theo quan điểm tổ chức hoạt động, dựa trên sự tác động qua lại giữa người dạy,
người học và môi trường
- Quan điểm SPTT tận dụng sự can thiệp có lợi của người dạy trong trào
lưu sư phạm bách khoa có tính đến kiến thức và kinh nghiệm của người dạy
- Quan điểm SPTT nhằm tạo ra ở người học sự tham gia, hứng thú và trách nhiệm Nó gắn cho người dạy vai trò xây dựng kế hoạch, hướng dẫn hoạt động và hợp tác Nó gắn với môi trường ảnh hưởng quan trọng đến các phương pháp riêng của người dạy và người học Ta có thể khái quát sự phối hợp của quan điểm SPTT với các trào lưu sư phạm nói trên qua sơ đồ dưới đây:
và môi trường
SP đóng
Trang 40Những hiểu biết có tính chất lý luận về phương pháp sư phạm tương tác (PPSPTT) trên đây là cơ sở giúp người dạy lựa chọn nội dung, PP và hình thức dạy học cũng như can thiệp kịp thời nhằm tạo ra động lực giúp người học hứng thú và thành công Sự vận dung PSPTT trong quá trình dạy học thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất: PPSPTT bắt nguồn từ sự nhận thức đúng đắn vai trò và quan
hệ của người dạy, người học và môn học (một trong những yếu tố của tác nhân môi trường) Các yếu tố này có vai trò quan trọng cấu thành quá trình dạy học của bất kỳ một môn học, một cấp học Nhưng mục đích chính của day học là sự phát triển tính nhân cách của người học, vì vậy nếu thiếu người học thì quá trình dạy học không có ý nghĩa Nhận thức được điều này PPSPTT đặt ra yêu cầu tổ chứ tốt mối quan hệ giữa người dạy người học theo hướng lấy người học làm trung tâm Đây cũng là mục tiêu mà các chiến lược dạy học hiện đại, tiến
bộ hướng tới Dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm nghĩa là phát huy tính tích cực của người học trong mọi hoạt động, mọi khả năng của quá trình dạy học nhằm làm chò quá trình tái sản xuất của người học đạt hiệu quả cao nhất Điều đó cũng đồng nghĩa với người dạy phải từ bỏ vị trí trung tâm, cái quan trọng dạy học để hướng dẫn, cố vấn, khuyến khích người học hoạt động và trao đổi qua lại giữa người học các tài liệu bài tập Có thể nói đây là định hướng cơ bản nhất của PSPTT đối với quá trình dạy học, định hướng này chi phối sự lựa chọn chiến lược, PP, nội dung, hình thức tổ chức dạy học và các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập
PPSPTT đòi hỏi quá trình dạy học đòi hỏi quá trình dạy học phải thông qua hoạt động, làm để học và học để tự hoạt động bởi nghe thì sẽ quên, nhìn chỉ biết và làm mới hiếu Chính vì vậy, trong quá trình dạy học người phải tạo ra các điệu kiện để người học tự hoạt động, để làm được điều này người phải tổ chức, hướng dẫn người học tự học, tự phát hiện và chiếm lình tri thức bằng hoạt động của chính mình, phải tạo cho người học cơ hội