Vấn đề đói nghèo xuất hiện và tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như của nhân loại. Xoá đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu, là một trong tám mục tiêu của thiên niên kỷ. Thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới xoá đói, giảm nghèo”. Có thể nói nghèo đói đang là vấn đề nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia.
Trang 1MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề đói nghèo xuất hiện và tồn tại như một thách thức lớn đối với sự pháttriển bền vững của mỗi quốc gia cũng như của nhân loại Xoá đói, giảm nghèo trởthành vấn đề toàn cầu, là một trong tám mục tiêu của thiên niên kỷ Thế giới đã
lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày Thế giới xoá đói, giảm nghèo” Có thể
nói nghèo đói đang là vấn đề nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển hay tụthậu của một quốc gia
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu khi Cách mạng tháng Tám năm 1945vừa thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứngđầu vừa được thành lập, phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng vẫndành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho nhân dân vừa thoát
khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ
có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi”; và “Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy thì cũng không thực hiện được".
Từ sau giải phóng năm 1975 đến nay, đói nghèo vẫn đang là vấn đề kinh tế
-xã hội bức xúc Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn luôn được Đảng,Nhà nước ta hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phầnphát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiều chương trình, chínhsách hỗ trợ giảm nghèo đã được thực hiện trong phạm vi cả nước và đã mang lạinhiều chuyển biến tích cực Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước giảm từ 14,2% cuốinăm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015, đời sống vật chất, tinh thần của ngườinghèo đang từng bước được nâng lên đáng kể
Thành phố trong những năm qua cùng với quá trình đô thị hóa của đất nước,quá trình đô thị hóa của thành phố đã góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xãhội của địa phương, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặttích cực, quá trình đô thị hóa cũng đã phát sinh nhiều vấn đề như việc làm cho
Trang 2nông dân mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức didân, dãn dân, … điều này đã làm cho tỷ lệ hộ nghèo hộ cận nghèo, hộ khó khănvẫn còn nhiều, đặc biệt là hộ nghèo thuộc nhóm già cả neo đơn không người thânthích, hộ nghèo thuộc nhóm ốm đau, mắc các bệnh xã hội hộ nghèo thiếu kiếnthức, kinh nghiệm trong sản xuất, thiếu vốn, thiếu đất sản xuất, hộ không có laođộng…; và hộ có tư tưởng trông chờ, dựa dẫm vào nhà nước chưa muốn thoátnghèo Xuất phát từ thực tiễn đó, lãnh đạo và nhân dân nơi đây đã đề ra nhiềubiện pháp để giúp người nghèo trên địa bàn khắc phục khó khăn, đẩy lùi nghèođói Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ nhưng hiệu quả giảm nghèotại địa phương chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo vẫn diễn ra, một bộphận nhân dân và cán bộ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tácgiảm nghèo.
Với lí do trên và qua tìm hiểu thực tế về các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước về công tác giảm nghèo Kết hợp với việc nghiên cứu các số liệu vềgiảm nghèo hằng năm, tôi nhận thấy vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóacủa thành phố là việc rất cần thiết, cần phải có những giải pháp hợp lý thì công tác
giảm nghèo mới có thể mang lại hiệu quả Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài “Vấn đề
giảm nghèo đô thị tại thành phô Thực trạng và giải pháp” làm tiểu luận chuyên
đề tự chọn
2 Mục đích:
Đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần giảm nghèo trong quá trình
đô thị hóa trên địa bàn thành phố
3 Kết cấu đề tài:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của tiểu luận được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo, giảm nghèo đô thị
Chương 2: Thực trạng giảm nghèo đô thị tại thành phố
Chương 3: Giải pháp giảm nghèo đô thị bền vững tại thành phố trong thờigian đến
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO, GIẢM NGHÈO ĐÔ THỊ 1.1 Quan niệm về nghèo, nghèo đô thị
1.1.1 Quan niệm về nghèo
Quan niệm về nghèo nói chung rất đa dạng, tùy thuộc vào sự phát triển kinh
tế, thực tiễn và nhận thức ở mỗi quốc gia Quan niệm này cũng có sự thay đổi theothời gian Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới thì cá nhân hay hộ gia đình
được coi là nghèo khổ khi “không có khả năng để đạt được một mức sống tối thiểu được đo bằng nhu cầu tiêu dùng cơ bản hoặc thu nhập cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu đó” (Bernstein, 1992) Tại hội nghị về chống nghèo cho khu vực Châu Á-
Thái Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 do ESCAP
(Economic and Social Commission for Asia and the Pacific), hội đồng kinh tế và
xã hội Châu Á và Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc tài trợ các chuyên gia đưa
ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục, tập quán của địa phương”1
Bản thân khái niệm nghèo đói cũng bao hàm các mức độ khác nhau, vì trongcác nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải nghèo nhất trong
xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém Do đó, với cách tiếp cận khác nhau về tìnhtrạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau Về cơ bản người ta chianghèo ra làm 2 loại:
- Nghèo tuyệt đối (Absolute poverty): là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống như: ăn,mặc, nhà ở thích hợp, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, chăm sóc y tế và giáodục
- Nghèo tương đối (Relative poverty): là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bất bình
đẳng trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớpdân cư, vùng địa lý Trong những xã hội khác nhau, nghèo được định nghĩa dựa
Trang 4vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việccung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những ngườithuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó Nghèotương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhậncủa những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi nhữngngười trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan.Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyênphi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội,thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà
xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng
Trong quan niệm truyền thống phổ biến ở nước ta những năm qua chủ yếuxem xét nghèo dưới góc độ kinh tế: thu nhập và chi tiêu Với quan niệm hẹp nhưvậy, thì thành tựu giảm nghèo có vẻ ấn tượng nhưng chúng ta chưa thấy hết đượcmức độ trầm trọng của bức tranh nghèo nước ta Và đo đó, các giải pháp đưa rachưa thực sự hiệu quả, bền vững, các vấn đề xã hội của nghèo đói ngày càng nhứcnhối Trong báo cáo Phát triển con người (HDR) năm 2010 của Liên Hợp Quốc lầnđầu tiên sử dụng cách tiếp cận mới về đói nghèo, ngoài yếu tố kinh tế: chỉ số nghèo
đa chiều (MPI) Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, ứng dụng bởiOPHI (Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường đạihọc Oxford và được UNDP ủng hộ Chỉ số này được mô tả cụ thể chi tiết trongBáo báo phát triển con người 2010 Chỉ số này thay thể chỉ số nghèo khổ tổng hợp(HPI) đã được nêu trong các báo cáo phát triển con người thường niên từ 1997.Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ảnh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói Chỉ sốnày được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo (Incidence ofPoverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (Average IntensityAcross the Poor) Một người được xác định là nghèo nếu anh hoặc chị ta thiếu ítnhất 30% các chỉ báo đã được nêu ra Chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá đượcmột loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình:
từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ TheoOPHI và UNDP, những chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổsâu sắc so với các thang đo về thu nhập giản đơn Thang đo này biểu lộ cả tính tự
Trang 5nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đếncấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế Cách tiếp cận đa chiều mớitrong việc đánh giá mức độ nghèo khổ được điều chỉnh để sử dụng ở cấp quốc gia
ở Mexico và hiện nay đang được xem xét áp dụng ở Chile và Colombia
1.1.2 Nghèo đô thị
Nghèo đô thị là gì và đâu là đặc điểm riêng mang tính đặc thù của nghèo đôthị quả là một câu hỏi lớn đối với những người nghiên cứu về nghèo đói nói chung,nghèo đô thị nói riêng Điều này khiến nhà nghiên cứu phải chỉ ra những đặc điểm,dấu hiệu hết sức riêng tiêu biểu cho nghèo đói đô thị không giống như đặc điểmthường thấy ở nghèo nông thôn Sự đa dạng và phức tạp của nghèo đô thị chính là
do cơ cấu kinh tế - xã hội, mô típ văn hóa - xã hội, lối sống của cộng đồng cư dântrong môi trường đô thị Việc phân tích và chỉ rõ các đặc trưng, bản chất của nghèo
đô thị giúp chúng ta thiết kế các công cụ chính sách hiệu quả hơn để giải quyết vấn
đề đô thị nan giải này
Theo World Bank thì nghèo đô thị là một hiện tượng đa chiều cạnh Ngườinghèo đô thị sống với rất nhiều sự túng thiếu Các thách thức hàng ngày có thể baogồm2:
- Sự tiếp cận hạn chế các cơ hội việc làm và thu nhập
- Điều kiện nhà ở và các dịch vụ thiếu thốn và thiếu an toàn, bấp bênh
- Môi trường bạo lực, không có lợi cho sức khỏe
- Không có hoặc ít các cơ chế bảo vệ về mặt xã hội
- Sự tiếp cận hạn chế các cơ hội giáo dục và chăm sóc sức khỏe đầy đủ
Nhưng nghèo đô thị không chỉ là một sự tập hợp các đặc điểm, nó còn biểuhiện ở tính dễ tổn thương hay sự nhạy cảm của người nghèo trước các rủi ro Đặcđiểm của nghèo đô thị xuất phát từ đặc thù của xã hội đô thị Nơi đây cung cấp cơhội cho rất nhiều người như cơ hội việc làm, học tập, các dịch vụ đa dạng,…đồngthời các vấn đề mặt trái của nó là cuộc sống đông đúc, chật chội; tắc đường; thấtnghiệp; thiếu các mạng lưới cộng đồng xã hội như ở nông thôn, bất bình đẳng và
Trang 6phân hóa giàu nghèo sâu sắc; các vấn đề xã hội nổi cộm như tội phạm, bạo lực.Trong khi rất nhiều người hưởng lợi từ xã hội đô thị thì một số khác kỹ năng kém,thiếu thông tin và các mạng lưới xã hội, những người già, tàn tật thì bị bỏ lại phíasau và dần bị gạt ra bên lề của sự phát triển và với sự khốc liệt của cuộc mưu sinhnơi đô thị họ mất dần đi cơ hội vươn lên trong cuộc sống, nhiều người rơi vàovòng xoáy không lối thoát Tính khốc liệt của xã hội đô thị với những người dễ bịtổn thương và yếu thế gây ra nhức nhối không chỉ cho người nghèo mà cho cộngđồng xã hội nói chung Do đó, vấn đề nghèo đô thị đang ngày càng nhận được sựquan tâm của các nhà nghiên cứu và những người làm chính sách.
1.1.2.1 Một số chiều cạnh của nghèo đô thị
Deniz Baharoglu và Christine Kessides chỉ ra 5 chiều cạnh của nghèo đô thị:thu nhập/chi tiêu, sức khỏe, giáo dục, an ninh và trao quyền Trong tính đặc thùcủa đô thị các chiều cạnh này thể hiện như sau:
- Thu nhập: người nghèo tại các đô thị cần tiền mặt để mua các dịch vụ vàhàng hóa thiết yếu (không như ở nông thôn các mặt hàng thiết yếu có thể tự cung
tự cấp) Nguồn thu nhập không ổn định do công việc bấp bênh, lương thấp (dothiếu hoặc không có kỹ năng, bằng cấp của người nghèo) khiến họ đối mặt vớinguy cơ thiếu hụt hoặc không đáp ứng được các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống;không có khả năng đảm nhận công việc ổn định do sức khỏe kém; thiếu cơ hội tiếpcận việc làm (người nghèo đô thị thường phải cân nhắc giữa thuê nhà xa cho rẻ và
do đó cũng phải đi làm xa)
- Sức khỏe: Người nghèo đô thị phải sống trong điều kiện sống mất vệ sinh vàchật chội, tại nhiều thành phố cũ thường có khu công nghiệp xen kẽ trong khu dân
cư dẫn đến vấn đề ô nhiễm công nghiệp và ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn từ giaothông Người nghèo thường phải sống ở các khu ngoài rìa, dễ bị ảnh hưởng bởi cácvấn đề môi trường như lở đất và lụt lội; các nguy cơ bệnh tật do chất lượng nguồnnước và không khí kém, thiếu vê sinh; nguy cơ chấn thương và tử vong do giaothông; các rủi ro nghề nghiệp như điều kiện làm việc không an toàn ở những khuvực không chính thức
Trang 7- Giáo dục: tại các đô thị, do lượng người nhập cư nhiều và quá trình tăng dân
số diễn ra nhanh dẫn đến tình trạng thiếu trường lớp cho học sinh và con em nhữnggia đình nghèo là những người dễ bị ảnh hưởng nhất, cộng với việc khó khăn trongviệc chi trả học phí và các khoản đóng góp khác cũng dễ dẫn đến việc các em bỏhọc sớm,…các nguy cơ về an toàn cá nhân như học về khuya cũng ngăn cản các
em tiếp cận các cơ hội giáo dục
- An ninh: Nhà cửa xây dựng không đảm bảo an toàn và khả năng chống chọithiên tai kém cũng là một nguy cơ mất an ninh; vấn đề bạo lực gia đình, lạm dụngbia rượu, chất kích thích của thành viên trong gia đình, gia đình tan vỡ do ly dị vàcác nguyên nhân khác làm giảm sự hỗ trợ cho trẻ em, môi trường xã hội đa dạng,bất bình đẳng thu nhập tăng dễ dẫn các em đến con đường phạm tội
- Trao quyền: Tính không chính đáng của nơi cư trú và việc làm (nhà ở chưa
có giấy tờ hợp lệ hay vấn đề hộ khẩu) ảnh hưởng đến việc học hành, khám chữabệnh và các quyền lợi cơ bản khác của con em hộ nghèo; sự cô lập của ngườinghèo với cộng đồng (người nghèo thường sống ở các xóm nhỏ cách biệt hay tự xacách với cộng đồng do không có đủ chi phí cho các khoản đóng góp và các chi phícho quan hệ xã hội khác như ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp,…dẫn đến việc khó kếtnối với các cơ hội việc làm, các dịch vụ thiết yếu khác; thiếu các kênh thông tin đểtìm việc, hiểu biết các quyền lợi chính đáng như tiêm chủng, học hành, hỗ trợ củanhà nước thậm chí một số người rơi vào tình trạng mất quyền lợi và nghĩa vụ củamột công dân
Nghèo đô thị mang tính chất tích tụ, sự thiếu hụt của một hoặc một vài chiềucạnh này có thể dẫn tới làm trầm trọng hơn các vấn đề khác, ví dụ như học vấnthấp làm ảnh hưởng đến khả năng xin việc, thu nhập của cá nhân và các nguy cơsức khỏe, an ninh do nhà ở không an toàn,…Do đó trong nhiều trường hợp khónhận định nhân quả của các chiều cạnh này Đây gọi là bẫy nghèo mà người nghèo
đô thị khó thoát ra được Theo Moser, Gatehouse, và Garcia (1996b) trong bốicảnh đô thị thì nghèo đói và tính dễ bị tổn thương có thể liên quan đến ba nét đặctrưng của đời sống đô thị: tiêu dùng hóa (dựa vào kinh tế tiền mặt), rủi ro môitrường (mật độ dân cư đông đúc với nhiều nguồn ô nhiễm) và phân đoạn xã hội
Trang 8(thiếu cộng đồng, tình xóm giềng cho an sinh xã hội, trong so sánh với nông thôn).Tính dễ bị tổn thương có liên quan gần gũi với việc sở hữu tài sản, hay nói cáchkhác càng sở hữu ít tài sản tính rủi ro càng cao, càng dễ bị tổn thương Các loại tàisản ở đây là lao động; vốn con người-sức khỏe, đào tạo và kỹ năng; nhà ở; vốn xãhội Cả hai cách tiếp cận phân tích nghèo đô thị (tiếp cận đa chiều cạnh và tiếp cậndựa trên tính dễ bị tổn thương và sở hữu tài sản) thực tế có sự bổ sung cho nhau.
1.1.2.2 Đánh giá nghèo đô thị:
Tiêu chí đầu tiên để đánh giá về nghèo dựa trên thu nhập (hoặc chi tiêu) màcác nhà khoa học thường dựa trên rổ hàng hóa thiết yếu Tiêu chí này cũng giúpnhà nghiên cứu dễ dàng định lượng được Các tiêu chí xã hội khác như tuổi thọtrung bình và tử vong trẻ sơ sinh cũng rất quan trọng trong đánh giá Đánh giánghèo đô thị chúng ta cần xem xét trên phạm vi rộng, cần có so sánh giữa các đôthị lớn, đô thị tầm trung, đo thị nhỏ hơn
Người nghèo đô thị có thể là nghèo kinh niên hay nghèo tạm thời Nhómngười nghèo kinh niên có thể là những người già cả, không nơi nương tựa, ngườitàn tật, nạn nhân chất độc da cam, người mất khả năng lao động, thiếu các phương
kế sinh sống cơ bản nhất,…là những người cần sự trợ giúp thường xuyên của nhànước, xã hội Nhóm nghèo tạm thời do nhiều nguyên nhân như thiếu vốn, kỹ năng,thông tin hoặc do các biến cố từ thay đổi chính sách vĩ mô, rủi ro thị trường,…nhưng họ còn sức lao động và có khả năng thoát nghèo Các nghiên cứu giảmnghèo cần tập trung vào đối tượng này để tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm và nhucầu thực tế của họ để giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững
1.2 Chuẩn nghèo và các tiêu chí đánh giá hiệu quả giảm nghèo
1.2.1 Chuẩn nghèo
Việc xác định chuẩn nghèo phù hợp với đặc điểm và tính chất của ngườinghèo có vai trò quan trọng trong việc đánh giá thực tiễn và đưa ra các giải phápchính sách phù hợp nhằm giải quyết vấn đề này Đây là tiêu chí cơ bản để xác địnhmột hộ gia đình đưa và diện xóa đói, giảm nghèo của thành phố Tiêu chí này phảiphản ánh thực chất nghèo của dân cư đặc thù nông thôn hay đô thị, trong đó có tínhđến nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu (đủ ăn và đủ chất), đủ mặc, tình trạng nhà ở
Trang 9không dột nát, không gian sinh sống tối thiểu, ốm đau được chữa bệnh, trẻ emđược đi học, các quan hệ xã hội khác, vệ sinh môi trường đảm bảo, tiếp cận cácdịch vụ xã hội cơ bản và nhu cầu vui chơi giải trí,…Điều đó phản ánh tính đa chiềutrong tiếp cận nghèo đô thị chứ không chỉ dừng lại ở yếu tố thu nhập/chi tiêu Căn
cứ trên chuẩn này thì số lượng nghèo đô thị có thể cao hơn so với con số các cơquan chức năng công bố
Trong thực tiễn xác định chuẩn nghèo của Việt Nam, với các tiêu chí đưa rachúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèotrong hai thập kỷ qua Nếu sử dụng chuẩn nghèo “dựa theo nhu cầu cơ bản” nhưthống nhất từ đầu vào đầu thập kỷ 1990, tỷ lệ nghèo tính theo đầu người giảm từ58% vào đầu thập kỷ 1990 xuống 14,5% năm 2008 và khoảng dưới 10% năm
2010 Tuy nhiên Việt Nam hiện nay sử dụng hai cách tiếp cận rất khác nhau để đolường tình trạng nghèo và theo dõi tiến trình giảm nghèo theo thời gian Cách tiếpcận thứ nhất do Bộ Lao động, thương binh và xã hội xây dựng, sử dụng phươngthức “đi từ dưới lên trên” gồm các cuộc khảo sát tại địa phương và các cuộc thamvấn tại làng, xã để xác định số người nghèo tại cấp xã Các số liệu xác định về sốngười nghèo tại cấp địa phương này sau đó được tổng hợp lại để ước tính tỷ lệnghèo cho cấp tỉnh và cấp quốc gia Các chuẩn nghèo của bộ này ban đầu đượcquy đổi ra thóc nhưng từ năm 2005 được tính theo phương pháp tiếp cận dựa vàochi phí cho những nhu cầu cơ bản Các chuẩn nghèo chính thức không được điềuchỉnh theo mức lạm phát nhưng được xác định lại giá trị thực năm năm một lần(mức thời gian tương đối dài so với những biến động của giá cả và nhiều yếu tố chiphối khác) Bộ LĐ-TB-XH sử dụng chuẩn này để xác định việc phân bổ ngân sách
và đề ra điều kiện áp dụng cho các chương trình giảm nghèo mục tiêu Cách tiếpcận thứ hai do Tổng cục thống kê chủ trì xây dựng, thực hiện việc đo lường nghèođói và giám sát tiến trình giảm nghèo trên cơ sở các cuộc khảo sát hộ gia đình làmđại diện cho toàn quốc TCTK sử dụng 2 phương pháp khác nhau để đo lườngnghèo đói, một phương pháp dựa trên các chuẩn nghèo chính thức (điều chỉnh theolạm phát) áp dụng cho thu nhập bình quân đầu người và một phương pháp sử dụngcách tiếp cận do Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới xây dựng vào cuối thập
kỷ 1990: 2.100 kcal/người/ngày cộng với một phần phân bổ của nhu cầu hàng phi
Trang 10lương thực thiết yếu dựa trên xu hướng tiêu dùng của người nghèo Việc sử dụnghai hệ thống riêng biệt trong đánh giá và đo lường chuẩn nghèo tạo ra những đánhgiá khác nhau về nghèo đói, đôi khi gây phức tạp cho nhà tại trợ và các nhà nghiêncứu.
Năm 2010, Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới cập nhật chuẩn nghèomới, phản ánh tốt hơn điều kiện sống của người nghèo Dựa trên chuẩn nghèo mớinày (tương đương 653.000 đồng/người/tháng hoặc 2,25 USD/người/ngày, PPP2005) và hệ thống theo dõi nghèo cập nhật, tỷ lệ nghèo của cả nước năm 2010 là20,7% so với tỷ lệ chính thức là 14,2% sử dụng chuẩn nghèo của Bộ Lao động,thương binh và xã hội (500.000 đồng/người/tháng cho thành thị và 400.000đồng/người/tháng cho nông thôn)
Thủ tướng chính phủ ký ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn2011-2015 như sau: ở nông thôn hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống Hộ nghèothành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệuđồng/người/năm) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bìnhquân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng Hộ cận nghèo thành thị là hộ
có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng3 Tuynhiên, cách tiếp cận chuẩn nghèo này chúng ta mới chỉ thấy rõ yếu tố thu nhập màchưa xác định được các chiều cạnh khác của nghèo đô thị
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả giảm nghèo
Do hiện nay chúng ta đánh giá nghèo đói theo cách tiếp cận đa chiều nên việcxem xét hiệu quả giảm nghèo cũng cần mang tính đa chiều, tính đến cả yếu tố kinh
tế (thu nhập/chi tiêu) và các chiều cạnh phi kinh tế4:
Thứ nhất, dựa trên tiêu chí thu nhập, bao gồm các nguồn thu chính, phụ; tính
ổn định của nguồn thu đó
Thứ hai, tình trạng, tính hợp pháp và ổn định của nhà ở Thường thì ngườinghèo sống trong những căn nhà không kiên cố, bán kiên cố nóng về mùa hè, lạnh
3
Trang 11vào mùa đông và mất an toàn khi xảy ra bão lụt và các thiên tai khác Diện tích nhà
ở của họ cũng thường chật hẹp, bất tiện cho sinh hoạt của các thành viên trong giađình Một số hộ thì sống tại các khu giải tỏa đền bù, không ổn định và có nguy cơmất nơi cư trú bất cứ lúc nào bởi đây là các khu nhà tạm bợ, bất hợp pháp Điềunày ảnh hưởng đến việc tiếp cận các sự trợ giúp từ chính quyền đối với các khoảnvay ưu đãi và các dịch vụ công khác
Thứ ba, các tiêu chí vệ sinh môi trường, kết cấu hạ tầng Các chỉ số ô nhiễmtại các khu vực hộ nghèo thường cao, không chỉ có vấn đề ô nhiễm nguồn nước,không khí, đất mà còn cả ô nhiễm tiếng ồn (do giao thông, hàng xóm mở nhạc to,các xưởng cơ khí gây ồn, cãi vã,…) rất phổ biến ở các khu nhà thu nhập thấp, khunghèo Mật độ cư trú tại cao cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộcsống và ô nhiễm môi trường tại khu dân cư Kết cấu hạ tầng tại các nơi này thườngkém dẫn đến nguy cơ lụt vào mùa mưa, nguy cơ cháy nổ cao, và thiếu các khu vuichơi giải trí cho trẻ em và người lớn
Thứ tư, tiếp cận các dịch vụ, cơ sở chăm sóc sức khỏe Người nghèo cóđược tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản không? Họ dành bao nhiêutiền cho chăm sóc sức khỏe định kỳ hay các khoản do ốm đau đột xuất? Các hộnghèo bản xứ nhận được thẻ bảo hiểm y tế miễn phí còn các hộ nghèo di cư, không
có bảo hiểm y tế xoay sở chi trả các chi phí này như thế nào?
Thứ năm, tiếp cận giáo dục, trước hết là bậc tiểu học và bậc phổ thông dànhcho các em học sinh theo tiêu chuẩn phổ cập giáo dục quốc gia
Thứ sáu, trình độ học vấn và chuyên môn của người trong độ tuổi lao động.Đây là một trong các yếu tố quan trọng giúp các cá nhân bứt ra khỏi bẫy nghèo,tăng cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định, thu nhập khá
Thứ bảy, qui mô hộ gia đình Các nhà nghiên cứu nghèo đô thị tại thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ ra rằng qui mô hộ gia đình có một mối tương quannhất định với mức độ nghèo của các hộ gia đình, theo đó thì qui mô hộ gia đìnhcàng lớn, số người phụ thuộc càng đông thì hộ gia đình đó càng nghèo và khó thoátnghèo
Trang 12Thứ tám, nhu cầu vui chơi, giải trí Đây được coi là một kênh tái tạo sức laođộng và làm tăng khả năng sáng tạo cho người dân thường bị lãng quên hay đánhgiá thấp ở nơi cư trú của các khu dân cư nghèo.
Thứ chín, tiếp nhận thông tin pháp luật và các kênh thông tin đại chúngkhác Sống trong thời đại phát triển công nghệ thông tin mạnh mẽ, và đặc biệt là tạicác đô thị, nơi thông tin phổ biến và phổ cập rộng rãi thì việc không tiếp cận haytiếp cận hạn chế thông tin là một thiệt thòi lớn của người nghèo
Thứ mười, vốn xã hội Vốn xã hội được hiểu như các quan hệ xã hội, cácmạng lưới xã hội có thể trợ giúp người nghèo trong những lúc khó khăn, giúp họcác cơ hội việc làm, nâng cao tri thức, kinh nghiệm cả trong công việc và cuộcsống hay có thể mang tính chất giải trí, tiêu khiển để tái tạo sức lao động Ngườinghèo đô thị thường tham gia các mối quan hệ xã hội nào? Khả năng duy trì vàphát triển các mối quan hệ xã hội của họ?
Thứ mười một, mức độ lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của các cấp chínhquyền Ở khía cạnh này chúng ta cần lưu ý một số vấn đề là liệu tiếng nói, tâm tư,nguyện vọng của người nghèo có đến được những người có trách nhiệm? Liệunhững người này có lắng nghe và quan tâm đến những ý nguyện đó? Trong thực tế,người nghèo tại các đô thị thường là những người có trình độ học vấn thấp, họkhông biết diễn giải các vấn đề của mình, hoặc trình bày không cách rõ ý dẫn đếnnhiều nhu cầu chính đáng của họ bị bỏ qua Hơn nữa khả năng kinh tế hạn chếcộng với các lo toan mưu sinh khiến họ không còn quan tâm đến những thông tin
về chính sách hay nhiều thủ tục hành chính rắc rối có thể ngăn cẩn họ nhận đượccác quyền lợi của mình
Đây là một số các tiêu chí đánh giá hiệu quả giảm nghèo mà trong cácnghiên cứu về nghèo đô thị người ta đã tổng kết được Có thể còn nhiều tiêu chíkhác để đo lường tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, sự phát triển kinh tế xã hội củatừng đô thị và trình độ dân trí của các nhóm dân cư tại đô thị đó Trong từng tiêuchí nêu trên người ta cũng xem xét để đưa ra các ngưỡng cao thấp khác nhau để đolường, căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng giải quyết vấn đề của chính quyền
đô thị Và cũng tùy tình hình thực tế mà chúng ta quyết định chọn các tiêu chí nào
Trang 13làm thước đo hiệu quả giảm nghèo, nhưng về cơ bản phải bám lấy các tiêu chí cơbản như thu nhập, giáo dục, y tế, tiếp cận các dịch vụ cơ bản
1.3 Nguyên nhân và tính đặc thù của nghèo đô thị
Thứ ba, kỹ năng, tay nghề của đa số người nghèo đô thị còn chưa cao, ít quacác lớp đào tạo bài bản Điều đó làm giảm khả năng kiếm việc làm với thu nhậpcao tại các khu vực lao động chính thức Người nghèo đô thị chủ yếu lao động tạicác khu vực phi chính thức với thu nhập thấp, không ổn định, nhiều rủi ro và thiếu
đi các quyền lợi chính đáng được qui định trong Bộ luật lao động
Thú tư, tiếp cận thông tin, vốn của người nghèo còn nhiều hạn chế Việc hạnchế tiếp cận thông tin làm giảm tính nhạy bén thị trường, giảm kiến thức và cơ hộivươn lên của người nghèo Các thông tin có thể bao gồm thông tin trong lĩnh vựcthị trường, luật pháp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường, vui chơi giải trí,…Tiếp cận nguồn vốn cũng là một vấn đề nan giải với họ khi người nghèo không cóhoặc có ít tài sản thế chấp, trong nhiều trường hợp có thể vay mượn bằng hình thứctín chấp thì cũng vướng phải các thủ tục giải ngân rườm rà, phức tạp, thậm chínhiều người phải lót tay mới mong vay được vốn làm ăn
Trang 14Thứ năm, một số người nghèo còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước vàcộng đồng Đây là một thực tế khi mà trong thời gian đầu thực hiện chính sách xóađói giảm nghèo chúng ta quá chú trọng đến sự hỗ trợ của nhà nước mà chưa quantâm nhiều đến việc tác động tâm lý, khuyến khích tính chủ động, sáng tạo vươn lêncủa người nghèo Lâu dần những người này quen với việc nhận trợ cấp từ nhànước và các tổ chức xã hội mà quên đi trách nhiệm của bản thân trong việc tự vươnlên thoát nghèo Vấn đề này chỉ có thể giải quyết bằng các giải pháp chính sáchnhư cắt giảm trợ cấp nếu trong thời hạn 6 tháng đến 1 năm nhà nước đã hỗ trợ họcnghề mà không chịu nỗ lực tìm việc làm, thực hiện tuyên truyền thông qua cáchoạt động thực tế như các hội thi, các gương điển hình trong thoát nghèo,…
1.3.2 Tính đặc thù của nghèo đô thị
Nghèo khổ đô thị luôn gắn với khả năng tiếp cận đến một thị trường laođộng đô thị, trong đó người nghèo thường không có khả năng tiếp cận đến hoặc có
vị trí rất thấp và không ổn định trong thị trường này (nói cách khác họ thường laođộng ở khu vực không chính thức, nơi có thu nhập thấp, bấp bênh, mất an toàn laođộng, không được hưởng đầy đủ các quyền lợi được qui định trong Luật lao động,
…) Trong khi đó ở nông thôn nghèo khổ liên quan đến việc tiếp cận quyền sửdụng đất, phương tiện chính tạo ra thu nhập cho hộ gia đình Trong tương quan sosánh với người nghèo nông thôn, người nghèo đô thị có một số đặc thù sau:
Thứ nhất, người nghèo đô thị thường phải chi trả nhiều hơn so với ngườinghèo nông thôn trong nhiều khoản phí cơ bản, từ ăn uống, phí sinh hoạt, nướcsạch, giao thông, vui chơi giải trí, thu gom rác,…trong khi ở nông thôn người ta cóthể giải quyết các vấn đề này tự cung, tự cấp, hay nói cách khác họ sống trong xãhội chi tiêu tiền mặt trong khi các khoản thu nhập thấp, bấp bênh dẫn đến tính dễ
bị tổn thương của người nghèo đô thị Họ đặc biệt dễ bị tổn thương với các biếnđộng từ thị trường và các bất ổn kinh tế vĩ mô như hiện tượng lạm phát, giảm pháthay phí nguyên, nhiên liệu tăng cao
Thứ hai, người nghèo đô thị thường phải gánh chịu các rủi ro về mặt sức khỏe
do sống trong môi trường chật chội, đông đúc, mất vệ sinh ô nhiễm môi trường tựnhiên: không khí, tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước, ánh sáng,…;ô nhiễm môi trường
Trang 15xã hội: tệ nạn xã hội, bạo lực, dễ tiêm nhiễm văn hóa phẩm độc hại vốn rất phổbiến ở các đô thị… và các vấn đề khác của xã hội đô thị như tai nạn giao thông, sựphức tạp trong các mối quan hệ xã hội,…
Thứ ba, khó tham gia vào các mạng lưới xã hội, làm giảm ‘vốn xã hội’ Đặcthù của xã hội đô thị thể hiện ở lối sống tương đối tách biệt giữa các cá nhân, giađình, hơn nữa người nghèo không có điều kiện về công việc và tài chính để thiếtlập và duy trì các mối xã hội lâu dài, họ dần bị dồn về các khu vực riêng rẽ, biệtlập Các mối quan hệ xã hội, mạng lưới xã hội đôi khi đem lại cho cá nhân các cơhội lớn lao không thể đong đếm bằng tiền, từ tri thức, kinh nghiệm đến cơ hội làm
ăn, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn,…Điều đó dẫn đến việc giảm cơ hội thoátnghèo cho nhóm xã hội này5
5 Nguyễn Duy Thắng Nghèo khổ đô thị: các nguyên nhân và yếu tố tác động Xã hội học số 1(81) 2003