ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG HỮU NGUYỄN Tên đề tài: THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN VĂN TUYÊN XÃ ĐOÀN KẾT, HUYỆN Y
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG HỮU NGUYỄN
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN VĂN TUYÊN
XÃ ĐOÀN KẾT, HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG HỮU NGUYỄN
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH MẮC BỆNH VIÊM TỬ CUNG
Ở ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI TRẦN VĂN TUYÊN
XÃ ĐOÀN KẾT, HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÕA BÌNH
VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hướng dẫn: TS Phùng Đức Hoàn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Suốt bốn năm học tập trên giảng đường đại học, thời gian thực tập là khoảng thời gian mà mỗi sinh viên đều mong đợi Đây là khoảng thời gian để cho chúng ta có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành bài báo cáo kết quả thực tập Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình cuả nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình
và bạn bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Thầy giáo
TS Phùng Đức Hoàn đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lý Yên Bình đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi
để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1.Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng của Trại lợn Trần Văn Tuyên 30
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35
Bảng 4.3 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 37
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ 38
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo các tháng trong năm 39
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo giống lợn 40
Bảng 4.7 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 41
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến sinh lý sinh sản 42
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
ĐVT : Đơn vị tính LMLM : Lở mồm long móng NLTĐ : Năng lượng trao đổi Nxb : Nhà xuất bản
STT : Số thứ tự
TNHH MTV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên VTM : Vitamin
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng của Trại lợn Trần Văn Tuyên 30
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35
Bảng 4.3 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 37
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo lứa đẻ 38
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái theo các tháng trong năm 39
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo giống lợn 40
Bảng 4.7 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 41
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến sinh lý sinh sản sau điều trị 42
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNGMỤC LỤC iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2 Ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1.Ý nghĩa khoa học 2
1.2.2.Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 3
2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp 7
2.1.3.Phác đồ điều trị 13
2.1.4 Thuốc sử dụng trong đề tài 13
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.3 Nội dung nghiên cứuvà các chỉ tiêu theo dõi 19
Trang 8vi
3.3.1 Nội dung 19
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp theo dõi 20
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 24
4.1.1 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 24
4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 29
4.2.1 Kết quả điều tra sự biến động về số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 37
4.2.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại lợn chăn nuôi Trần Văn Tuyên 38
4.2.3 Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng các phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 41
4.2.4 Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến thời gian động dục và kết quả phối giống sau cai sữa 42
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước ta
Không những thế, việc tiêu thụ thịt lợn trong những bữa ăn hàng ngày của con người rất phổ biến Theo dự báo của một số chuyên gia, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8 % so với năm 2014.Vì vậy, chăn nuôi lợn cần được ưu tiên phát triển hơn nữa Chăn nuôi lợn không những cung cấp thịt trong nước mà còn dùng để xuất khẩu Ngoài ra, nó còn là cơ hội cải thiện sinh kế cho những người có thu nhập thấp thông qua chăn nuôi, chế biến, thương mại các sản phẩm từ chăn nuôi
Để hướng tới phát triển chăn nuôi hàng hóa bền vững, người chăn nuôi cần phải cải tạo đàn lợn giống để có chất lượng con giống tốt và mang lại giá trị kinh tế cao Tại các trại chăn nuôi cũng như chăn nuôi hộ gia đình đang được đẩy mạnh chăn nuôi lợn ngoại Bởi vì, chăn nuôi lợn ngoại không những cho năng suất cao, tăng trọng nhanh mà còn đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng
Nắm được yếu tố đó, tại trại lợn của Trần Văn Tuyên xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất có 1.200 con nái Tuy nhiên, trong quá trình chăn nuôi luôn gặp phải những khó khăn ngoài các nguyên nhân như các chính sách, chi phí đầu vào còn phải đối mặt với dịch bệnh, đặc biệt là bệnh sản khoa Một trong những bệnh sản khoa thường gặp là bệnh viêm tử cung ở lợn nái Bệnh này tuy không xảy ra ồ ạt như bệnh truyền nhiễm nhưng gây chết thai, lưu thai, sẩy thai - nghiêm trọng hơn là bệnh làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sự phát triển của ngành chăn nuôi
Trang 102
lợn Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
TS Phùng Đức Hoàn và để có sự hiểu biết sâu sắc về bệnh viêm tử cung, từ
đó tìm ra biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị”
1.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm tử trên đàn lợn nái nuôi tại trại và đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả cao
1.2 Ý nghĩa của đề tài
1.2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài xác định một số thông tin có giá trị khoa học bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được bệnh viêm tử cung ở lợn nái, từ
đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả
- Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
- Nâng cao kiến thức thực tiễn, tăng khả năng tiếp xúc với thực tế chăn nuôi, điều trị bệnh cho lợn từ đó củng cố và nâng cao kiến thức của bản thân
Trang 113
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn nái
Cơ qua sinh dục của lợn nái bao gồm:
- Buồng trứng:
Buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc con vật mới sinh ra Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non
(fullicullooophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn
nang chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế
bào có hình hạt (strarum glannulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để
chứa trứng (ovum)
- Ống dẫn trứng: Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng,
được chia thành bốn đoạn: Tua diềm, phễu, phòng ống dẫn trứng và eo
Trang 124
- Tử cung (dạ con): Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và
một cổ tử cung
Ở lợn, tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có
độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được dính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống chúng tiết ra dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự
có mặt của một ít cơ trơn
- Âm đạo: Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ Âm đạo lợn dài 10 - 12 cm
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Dịch âm đạo gồm chủ yếu là chất thấm qua thành âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi, lẫn với dịch nhầy của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
- Bộ phận sinh dục ngoài: Bộ phận sinh dục bên ngoài bao gồm: Âm
môn, âm vật, tiền đình
+ Âm môn: Hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)
Trang 135
+ Âm vật (clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hổng như con đực
+ Tiền đình (vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm
đạo Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có
lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [5]
* Sinh lý sinh sản của lợn
- Sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại…
+ Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn khác nhau có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 - 7 tháng) khi đạt 65 - 80 kg
Trần Văn Phùng và cs (2004) [10] cho biết: Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 -
158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) muộn hơn từ 7 -
Trang 146
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Theo Lê Xuân Thọ và cs (1979) [18], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3] cho rằng: Không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 – 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn
mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn (Nguyễn Khánh Quắc và cs, 1995) [12]
+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận và cs (2004) [7], Lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Thiện và cs, 1993) [16]
Lê Hồng Mận và cs (2004) [7] cho biết: Thường sau khi cai sữa lợn con
3 - 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại
+ Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn: Trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực
Trang 157
Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 - 40 giờ ở lợn ngoại và lợn lai, 25 – 30 giờ ở lợn nội
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 - 30 giờ ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sưng, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng
+ Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [9], thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
+ Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 -
115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa/năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…
2.1.2 Một số bệnh sinh sản thường gặp
Bệnh viêm tử cung
Trang 168
Nguyễn Hữu Phước (1982) [11], cho biết lợn xảy ra trên cả đàn lợn nội
và ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
- Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian
1 - 10 ngày sau khi đẻ
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [4] cho biết: Nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vuglgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
Các kết quả nghiên cứu của Biken và cs (1994) [22] cho biết: viêm tử
cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli, Staphylococcus pp
và Staphylococcus aureus Đây là nguyên nhân chính gây bệnh
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây xát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
Trang 179
Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh (Nguyễn Hữu Phước, 1982) [11]
- Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [14], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dụng chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau:
+ Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,50C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12 - 72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sơi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5
-400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao 39,5 - 400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Trang 1810
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
- Hậu quả:
Lê Thị Tài và cs (2006) [13] cho rằng: Đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời hì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs 1999) [8]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
- Chẩn đoán:
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như: Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh duc lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục, mùi hôi khắm…
Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiêu đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (A.V Trekaxova và cs, 1983) [21]
Trang 1911
Có thể tìm muxin trong dịch nhầy từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1 %, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại (Lê Văn Năm và cs, 1999) [8]
Trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kỹ bằng cồn hoặc rượu và được bôi trơn bằng Vazolin hoặc dầu lạc Trong trường hợp đẻ khó hải can thiệp bằng dụng cụ trợ sản thì dụng cụ phải sạch sẽ và phải được vô trùng
Can thiệp đẻ khó, thao tác phải nhẹ nhàng và đúng kỹ thuật
Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím 1 ‰ hay nước muối sinh lý 0,9 % để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2 - 3 triệu UI, Tetramycin hay Sulfanilamid 2
- 5 g, hoặc Clorazol 4 - 6 viên (2 - 3 g) vào tử cung để chống viêm
Nên tiêm một mũi Oxytocin liều 2 - 4 ml/con sau khi đẻ xong để kích thích tử cung co bóp đẩy hết nhau thai và sản dịch ra ngoài tử cung, âm đạo Đồng thời tiêm cho lợn nái một liều kháng sinh loại không ảnh hưởng đến sữa như: Tetramycin Trong thời gian dùng kháng sinh nên tiêm kèm theo thuốc
bổ trợ như: Vitamin B1, B - complex, Vitamin B12, Gluconatcanxi để trợ sức, kích thích lợn nái ăn khỏe để có sữa cho con bú
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo phải đúng quy định, được tiệt trùng trước và sau khi sử dụng
Trang 20bộ và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm và cs, 1999) [8]
Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,9 %, KMnO4 0,01 % hoặc rivanol 0,1 %, sau đó thụt 1 trong các loại kháng sinh sau: Penicillin, Streptomycin, Tetramycin…
Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: Ampisep, Genorfcoli, Gentamycin, Lincomycin, Hanoxylin 10 %, Ampicillin… kết hợp với thuốc trợ lực: Vitamin C, B - complex
Trang 21Cục bộ: Tiêm oxytoxin 4 ml/con để đẩy hết dịch viêm ra ngoài, bơm rửa
tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 1 - 1,5 ml nước sôi để nguội + 10 - 15 ml vime - Iodine
Điều trị toàn thân: Tiêm Vetrimoxin.L.A: 1 ml/10 kg TT
2.1.4 Thuốc sử dụng trong đề tài
Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài
Để giảm bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái gây ra cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh
Trang 2214
khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc Vetrimoxin.L.A
và MD Peni Strep để điều trị hai bệnh viêm tử cung
* Vetrimoxin.L.A
Thuốc do công ty của Pháp sản xuất
Thành phần: Trong 1 ml dung dich Vetrimoxin.L.A có 150 mg Amoxycillin (dạng muối trihydrate)
Cơ chế tác dụng: Amoxycillin là kháng sinh thuộc nhóm β - lactamin nên có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm Amoxycillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn cản sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối trong tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo thành vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân hủy
Amoxycillin tác động trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) như:
E.coli, Salmonella, Staphylococcus, Streptococcus, Clostridium,
Thuốc do công ty TNHH thuốc Thú y - Thuỷ sản Minh Dũng sản xuất
Địa chỉ: Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Thành phần trong 1 ml gồm: Procaine Penicillin G, Streptomycin Sulphate, tá dược vừa đủ
Trang 2315
Penicillin G có tác dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (+) Do được chế dưới dạng Procaine Penicillin G nên thời gian bán thải của thuốc kéo dài hơn trong khoảng từ 24 - 48 giờ Khi khi tiêm vài phút thuốc đã xuất hiện trong máu và giữ nồng độ cao trong máu từ 2 - 3 giờ Khoảng 20 % lượng thuốc được kết hợp với protein huyết tương Khoảng 50 % - 90 % thuốc được bài thải ra ngoài dưới dạng con nguyên hoạt lực
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid Thuốc có tác dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (-) Thường hay sử dụng thuốc dưới dạng Streptomycin Sulphate Thuốc sau khi hấp thu được phân bố hầu như khắp các dịch tố chức 1/3 thuốc được kết hợp với protein huyết thanh Khi tiêm có khoảng 50 - 60 % lượng thuốc được thải ra ngoài qua nước tiểu dưới dạng nguyên vẹn sau 24 giờ Streptomycin có tác dụng tốt trong điều trị các bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn gây ra
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Barbara E Straw và cs (2006) [20] đã nghiên cứu về vi sinh vâ ̣t trong di ̣ch
viêm tử cung gồm : Escherichia coli, Streptococcus sp, Staphylococcus sp,
Popkov (Liên Xô cũ) đã sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, chữa viêm tử cung đạt kết quả cao
Trang 2416
I.E.Elistratopvaf A.I.Skurko dùng VTM E ở dạng dung dịch tocoferon Thuốc tiêm bắp 1 lần, tiêm lần thứ hai sau 5 ngày chỉ trong những trường hợp bệnh nặng Dùng VTM E theo kết luận của tác giả có thể bảo vệ hoàn toàn sức sinh sản cho lợn nái mắc bệnh viêm trong tử cung
axetat-α-Ở Pháp các tác giải Pierre brouillt và Bernarrd faroult đã kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
Theo Sobko và Gia Denko (1987) , nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là
do tử cung bị tổn thương, sót nhau Bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dục Hai ông cũng đưa ra phương pháp chẩn đoán và biện pháp điều trị
Trong chăn nuôi lợn sinh sản thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, trong đó hai yếu tố chính là
số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm Do vậy ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh
ra và sống sót sau cai sữa và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và nhất là cơ quan sinh sản Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Những bất thường trong
cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng (Madec, 1995)
Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định trong cơ quan sinh sản 52,5 %, lợn nái đẻ lứa đầu 32,1 %, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: viêm vòi tử cung có mủ,
Trang 2517
Theo Madec (1995), viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi
đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài
48 đến 72 giờ
Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao Kaminski kiểm tra 1.000 lợn nái ở Liên Bang Đức cho kết quả là 16 % bị viêm nội mạc tử cung
Theo Madec F (1995) , qua kiểm tra vi thể xứ Brơ-ta-nhơ của miền Tây Bắc nước Pháp, thấy 26 % số lợn nái có bệnh viêm tử cung Ngoài ra 2 % số lợn nái có bệnh tích thoái hóa mô nội mạc tử cung với đặc điểm thành tử cung có cấu tạo sợi fibrine
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Lê Văn Năm (1999) [8], cho rằng: khi lợn nái đẻ khó cần áp dụng kỹ thuật ngoại khoa, khi thực hiện không đúng kỹ thuật sẽ gây niêm mạc đường sinh dục, có thể bị tổn thương gây viêm tử cung
Nguyễn Văn Thanh (2007) [14], bệnh viêm tử cung ở gia súc là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là nguyên nhân gây rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm tử cung là một trong những tổn thương đường sinh dục trên lợn nái sau khi sinh Sau khi sinh có dịch tiết và dịch lẫn mủ là biểu hiện của viêm
tử cung (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [14]
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau Nhưng thường xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ
từ 1 - 10 ngày
Trang 2719
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đàn lợn nái sinh sản nuôi chuồng kín
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trại lợn Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy,
tỉnh Hòa Bình
- Thời gian : Từ ngày 25/5/2015 đến ngày 25/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứuvà các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Nội dung
- Xác định tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái sau khi đẻ
- Ảnh hưởng của bệnh đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái
- Xác định một số phác đồ điều trị và so sánh hiệu quả điều trị của các phác đồ đó
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.2.1 Cơ cấu của đàn lợn nái của trại trong mấy năm gần đây
3.3.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trong toàn đàn lợn nái của trại
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các giống lợn
- Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tháng