1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị

60 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột lạnh, ẩm, gió lùa kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡn

Trang 1

ĐINH THỊ HOÀI

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN GIAI ĐOẠN

SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN ĐẦM HÀ – TỈNH QUẢNG NINH

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2011 - 2016

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

ĐINH THỊ HOÀI

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN GIAI ĐOẠN

SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN ĐẦM HÀ – TỈNH QUẢNG NINH

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2011 - 2016

Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Hoàng Lân

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian ho ̣c tâ ̣p ở nhà trường và sau 6 tháng thực tâ ̣p ta ̣i cơ sở

em luôn được sự giúp đỡ và ch ỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo , của chính quyề n đi ̣a phương và ba ̣n bè Nay em đã hoàn thành khóa luâ ̣n Thành công này không chỉ do sự nỗ lực của cá nhân mà còn có sự giúp đỡcủa rất nhiều người

Để có kết quả ngày hôm nay em xin bày tỏ lòng biết ơ n sâu sắc tới thầy giáo TS Vũ Hoàng Lân , người đã tâ ̣n tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p

Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn chân thành t ới chính quy ền địa phương cùng toàn thể nhân dân trong huyện Đầm Hà, cán bộ thú y cơ sở đã

tâ ̣n tình giúp đỡ , tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tâ ̣p

Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiê ̣m khoa Chăn nuôi Thú y và các thầy cô trong khoa đã truyền thu ̣ cho em những kiến thức chuyên ngành

Nhân di ̣p này em xin kính chúc các thầy cô cũng như toàn thể gia đình sức khỏe ha ̣nh phúc và thành công

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để trở thành mô ̣t kỹ sư được xã hô ̣i chấp nhâ ̣n , mỗi sinh viên khi ra trường cần trang bi ̣ cho mình vốn kiến thức khoa ho ̣c, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vâ ̣y, thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p là viê ̣c hết sức quan tro ̣ng giúp sinh viên củng c ố và hệ thống hóa toànbộ kiến thức đã học ,vâ ̣n du ̣ng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất , tiếp câ ̣n và làm quen với công viê ̣c Qua đó, sinh viên sẽ nâng cao trình đô ̣ , đồng thời ta ̣o cho mình tác phong làm viê ̣c khoa ho ̣c , có t ính sáng tạo , để ra trường phải là một cán bộ vững vàng lý thuyết, giỏi về tay nghề đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Xuất phát từ quan điểm trên được sự nhất trí của nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhâ ̣n của cơ sở Em đã tiến hành thực

tâ ̣p ta ̣i huy ện Đầm Hà –tỉnh Quảng Ninh với chuyên đề : “ Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông

hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”

Được sự dẫn dắt tận tình c ủa thầy giáo hướng dẫn TS Vũ Hoàng Lân , cùng với sự nỗ lực của bản thân , em đã hoàn thành khóa luận Tuy nhiên do bước đầu còn bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu Nên khóa luâ ̣n của em không tránh khỏi những sai sót và hạn chế Em rất mong nhâ ̣n được sự quan tâm và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn thiê ̣n hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 14 tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Đinh Thị Hoài

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24

Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33

Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong quá trình thực tập 33

Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 34

Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng 36

Bảng 4.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng 39

Bảng 4.7 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng 40

Bảng 4.8 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 41

Bảng 4.9 Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng ở lợn con 43

Trang 6

Vđ: Vừa đủ

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 3

2.1.2 Bệnh phân trắng lợn con 7

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1 Đối tượng 21

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21

Trang 8

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 21

3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 23

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24

Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 25

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 25

4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất 25

4.1.2 Biện pháp thực hiện 25

4.1.3 Kết quả đạt được trong công tác phục vụ sản xuất 25

4.2 Kết quả nghiên cứu 33

4.2.1 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong quá trình thực tập 33

4.2.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 34

4.2.3 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng 36

4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 38

4.2.5 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng 39

4.2.6 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng 40

4.2.7 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 41

4.2.8 Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng ở lợn con 43

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Tồn tại 44

5.3 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta nhưng để chăn nuôi lợn phát triển tốt theo hướng gắn liền với thị trường, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi

có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp

Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì yếu tố dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi.Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản là bệnh lợn con phân trắng giai đoạn

sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết

có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh, lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa mẹ thiếu không đảm bảo chất dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như tăng trọng của chúng gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó phòng bệnh cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hội chứng tiêu chảy ở lợn con và đưa ra các biện pháp điều trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con theo mẹ Tuy nhiên, sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân,

Trang 10

đặc điểm gia súc non đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu Vì thế các giải pháp đưa ra chưa thực sự đem lại kết quả như mong muốn Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các nông hộ

Trước tình hình thực tế trên, em đã tiến hành đề tài:“Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông

hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninhvà biện pháp phòng trị”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Nắm được tình hình dịch tễ bệnh phân trắng lợn con tại các nông hộ chăn nuôi lợn ở huyện Đầm Hà –tỉnh Quảng Ninh

- Ứng dụng một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con theo mẹ

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con là những

tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo tại nông hộ

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con

2.1.1.1 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con

Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới

Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hóa của dạ dày còn hạn chế, dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn

Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin và globulin được chuyển xuống ruột để vào máu

Tuy nhiên, lợn con trên 14 đến 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs, 1986) [3] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa; sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa

Trang 12

2.1.1.2 Đặc điểm thích ứng của lợn con

Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém Đặc biệt ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm

Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hóa, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai qua tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai

Quá trình chuyển hóa, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường Nhờ quá trình ôxy hóa mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc (Đào Trọng Đạt và cs, 1986) [3]

Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Axit amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày thể trọng tăng gấp 1,3 lần; sau 2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh Nếu sữa mẹ không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể

sẽ bị chậm hoặc dừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể dễ bị nhiễm bệnh

2.1.1.3 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con

Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi

Trang 13

sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu hóa hấp thu Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi – vi sinh vật đối kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hóa chưa thành thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc non Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ

và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính

Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa cũng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khỏe của vật chủ Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram (-) sống trong ống tiêu hóa của người và động vật Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tùy tiện, bao gồm vi khuẩn

sinh axit lactic, vi khuẩn Bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột có khả năng

ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis Ở gia súc sơ sinh, chưa

hình thành hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa

Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonellaspp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella Cho đến nay nhiều công bố

nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm 3

loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens

Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng

xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn

Như Thanh và cs, 2001) [18]

Trang 14

Clostridium perfrigens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa

tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân

Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện ở 2

dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to

2.1.1.4 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo

vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng Enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng kém Do

vậy, các mầm bệnh như: E.coli, Salmonella dễ dàng xâm nhập vào cơ thể

qua đường tiêu hóa và gây bệnh

Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, Profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu

là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 – 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên (Trương Lăng, 2007) [8]

Tuy nhiên, còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu hệ

vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết

Trang 15

2.1.2 Bệnh phân trắng lợn con

2.1.2.1.Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những nhận định về nguyên nhân theo chiều hướng khác nhau song tập trung vào 2 hướng

- Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh phân trắng lợn con không phải bệnh nhiễm trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng lợn con, lợn mẹ kém gây nên

- Quan điểm thứ 2 cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, chủ yếu do

vi khuẩn E.coli gây ra

Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố Do đó việc phân chia nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả

Yếu tố ngoại cảnh

Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì cân bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý

Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của cơ thể mẹ quy định Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Lúc này, các yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh và tiến triển Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm là quan trọng nhất Nhiệt độ 280C- 300C, độ ẩm từ 75%- 85%

là thích hợp cho lợn con Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều,

độ ẩm cao 86%-90%, nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con sẽ mắc bệnh nhiều, có khi tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn 90%- 100% (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [3]

Trang 16

Nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con không có tính đặc hiệu nhưng mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh, ẩm được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh Lạnh, ẩm làm hệ thống điều hòa bị rối loạn, dẫn đến rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào của cơ thể, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng và tăng cường độc lực gây bệnh

Mặt khác,ở gia súc non các men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong dịch vị chưa có đủ lượng HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin Vì vậy mà không tiêu hóa được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn (Sử An Ninh, 1993) [12]

- Do vi khuẩn

Vi khuẩn E.coli

Vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy ở lợn con đã và đang được nhiều nhà

khoa học quan tâm Nhưng trong đó vi khuẩn E.coli là nguyên nhân quan

trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy của lợn con mới sinh và sau cai sữa

(Biehl và cs, 1986) [26] E.coli là một loại trực khuẩn đường ruột sống ở ruột

già, chỉ một vài giờ sau khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [18], thì bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh

Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố đường ruột E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường ruột Các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên

bám dính, chúng nằm trên Fibriae- một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ một đĩa giống trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn Chính các yếu tố bám dính cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh

đặc trưng của E.coli

Trang 17

Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [14] đã phân lập được các chủng E.coli gây bệnh phân trắng cho lợn con và đã chọn được 7 chủng E.coli mang các

yếu tố gây bệnh như K88, Enterotoxin, Hly và R để chế tạo vacxin này rất an toàn (100%) và hiệu lực bảo hộ so với đối chứng đạt 40% đến 59% trên động vật thí nghiệm

Vi khuẩn Salmonella

Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và

trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi

Salmonella cũng đóng vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây

hội chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh

phó thương hàn ở lợn bao gồm Salmonella cholera suis (chủng kunzendorf)

và Salmonella typhysuis (chủng Voldagsen) (Nguyễn Như Thanh và cs,

2001) [18]

Ngoài Salmonella cholera suis gây bệnh phó thương hàn cho lợn, trong một số trường hợp còn gặp Salmonella enteritidis và Salmonella dublin ở lợn

con đang bú sữa (Reynolda và cs, 1967) [29]

Vi khuẩn Clostridium perfrigens

Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát

gây bệnh là vi khuẩn Cl.perfrigens hình thành độc tố gây dung huyết, gây

hoại tử tổ chức phần mềm và gây chết Vi khuẩn có khả năng gây ra các chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con

Các chủng Cl.perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau,

mỗi chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay enzym nào đó Theo Bergeland và Taylor, (1992) [25], những độc tố gây

bệnh chủ yếu do Cl.perfrigens bao gồm độc tố α, β, δ Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì Cl.perfrigens typ C gây ra viêm ruột hoại tử

Trang 18

Cl.perfrigens typ C sản sinh ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β , nhân tố

quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh viêm ruột hoại tử do

Cl.perfrigens typ C gây ra Bệnh xảy ra chủ yếu trên lợn con ở giai đoạn theo

mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay gặp nhất ở 1 đến 3 ngày tuổi Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với lợn con từ 2 đến 4 tuần tuổi và cả khi cai sữa, lợn mắc bệnh thường bị chết ở những ổ lợn mẹ không được tiêm phòng, tỷ lệ khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% (Bergeland, Taylor, 1992) [25]

- Do virus

Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở lợn con cũng như ở một số gia súc khác Nguyên nhân này xảy ra chủ yếu ở lợn lứa tuổi sau cai sữa, còn lợn con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ

lệ nhiễm ký sinh trùng tăng theo độ tuổi của lợn

Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong đường tiêu hóa, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình bám dính

và di hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề kháng của

cơ thể lợn

Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996)[6], Giun đũa lợn

(Ascarisuum), sán lá ruột lợn (Fassiolopsis buski), ký sinh trùng đường máu như tiên mao trùng (T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc

mãn tính

- Do độc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hóa, gây tiêu chảy dữ dội Ngoài ra

Trang 19

việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người dùng thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn

dư trong thực phẩm

- Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Tình trạng sức khỏe và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh hưởng đến dinh dưỡng bào thai và tích lũy chất dinh dưỡng để tạo ra sữa trong giai đoạn cuối Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định trọng lượng sơ sinh của lợn con, một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức khỏe của lợn con sơ sinh

Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại

Lợn con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ

Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lượng, vi lượng, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, lượng sữa giảm, chất lượng sữa giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn con

Thân nhiệt của lợn con mới sinh ra là 38,90C- 39,10C, nhưng sau 30 phút giảm xuông còn 360C – 37,10C Trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu con vật được bú sữa đầu thì sau 8- 12 giờ thân nhiệt của lợn con sẽ được ổn định trở lại, nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sự mất nhiệt sẽ là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B1, C cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra, trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy rửa các chất cặn bã trong đường tiêu hóa Đặc biệt còn có hàm lượng kháng thể γ - globulin, do đó cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ rất cần thiết nhằm cung cấp hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, tăng sức đề kháng của cơ thể

Trang 20

2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh

Theo Phạm Ngọc Thạch, (2006) [20], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein

Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niên mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết

2.1.2.3 Triệu chứng của bệnh

Bệnh thường xảy ra ở lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi Lợn

con bị nhiễm E.coli thường yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng cao,

cá biệt có trường hợp nhiệt độ 40,5 - 41oC nhưng sau một ngày lại hạ xuống ngay, lợn đi ỉa nhiều lần trong một ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám, màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh, đặc biệt bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính bết quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại

Bệnh sảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất khi thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh bất thường, mưa nhiều, ẩm độ cao Bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn

Bệnh thường diễn ra chủ yếu ở 2 thể: Thể cấp tính và thể kéo dài

Thể cấp tính: bệnh gặp nhiều ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi, lợn kém ăn,

ủ rũ, đi đứng siêu vẹo, lợn đi ỉa, da nhăn nheo, đầu to, bụng hóp, lợn gầy sút nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt lợn nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh, lợn dặn rất nhiều khi ỉa Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó

Trang 21

chuyển sang màu xám như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào đất, lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống, làm bệnh nặng thêm Đôi khi lợn có nôn ra sữa chưa tiêu hóa nên có mùi chua Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết

Thể kéo dài thường gặp ở lợn từ 22 ngày tuổi Bệnh có thể kéo dài 7-10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Phân màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dử và vàng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 - 50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ nhưng bị bệnh phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu xám Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc và chậm lớn

2.1.2.4 Bệnh tích của bệnh

Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng Ruột non bị viêm cata, kèm xuất huyết mạch máu màng treo ruột sưng, mềm đỏ tấy do dung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng phủ một lớp nhầy, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu và những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu, ruột chứa một số chất lỏng trắng đặc biệt vàng nhạt, có mùi chua Ruột căng phồng đầy hơi, ruột non trương dãn to và xuất huyết, niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám

Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1986) [3], mổ khám thấy lợn con gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, mồm nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó ngửi Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, gan bình thường đôi khi hơi sưng Túi mật chứa đầy mật Phổi thường ứ máu, đôi khi

có hội chứng sưng phổi nhẹ Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng có thể bị teo

2.1.2.5 Biện pháp phòng trị bệnh

* Phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 22

Thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng

nuôi lợn đẻ) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý

để duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ Nếu phát hiện lợn con bị tiêu

chảy do E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc

Theo Sử An Ninh, (1995) [13], cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn

ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được khuyến cáo là 70- 85%

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs, (1998) [5]: lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 340

C trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 300C Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm

Thiết kế chuồng đẻ và kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng

Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn đặc biệt là các khoáng và vitamin Nên cho lợn con tập ăn sớm vào ngày tuổi thứ 7- 8

Lợn con ở giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt, đây là một trong những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và gây tiêu chảy nên phải tiêm bổ sung sắt cho lợn con vào ngày tuổi thứ 3 và thứ 10

- Phòng bệnh bằng vaccine

Những vacxin sản xuất đại trà sử dụng cho lợn mẹ thường được sản xuất bằng cách dùng toàn bộ hoặc những tiểu phần tinh chế của vi khuẩn làm kháng nguyên Thành phần chủ yếu của vacxin là những yếu tố bám dính Bằng công nghệ tái tổ hợp có thể sản xuất một lượng kháng nguyên lông tinh chế cần thiết cho sản xuất vacxin Vacxin này thường dùng cho lợn chửa 5 tuần và 2 tuần trước khi đẻ Trong các trại chăn nuôi tập trung hiện nay đang

Trang 23

phổ biến dùng vacxin Litter Guard, loại vacxin vô hoạt bằng phương pháp hóa học dùng cho lợn nái mang thai khỏe mạnh để phòng tiêu chảy cho lợn

con theo mẹ gây ra bởi độc tố β của vi khuẩn Cl.perfrigens chủng C và các chủng E.coli sản sinh độc tố không chịu nhiệt LT, có kháng nguyên bám dính

K99, K88, 987P, F41 Kháng thể thụ động được truyền cho lợn con thông qua sữa đầu

Để phòng bệnh do Clostridium perfrigens ở lợn con theo Bergeland và Taylo, (1992) [25], có thể sử dụng giải độc tố yếm khí Cl.perfrigens typ C để

tiêm cho lợn mẹ lần 2 trong thời kỳ mang thai (lần tiêm thứ nhất vào giữa kỳ

và nhắc lại lần 2 trước khi đẻ 2- 3 tuần) Lợn con sẽ được bảo vệ bởi globulin miễn dịch trong sữa đầu tác dụng phòng bệnh có thể kéo dài đến sau khi cai sữa

* Điều trị

Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu đã kết luận: cần điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng

Để điều trị hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

- Chống viêm ở đường tiêu hóa

- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát

- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa

- Bổ sung nước và điện giải

- Bổ sung sắt và các vitamin

- Thực hiện tốt vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều trị bằng kháng sinh, hóa dược

Trang 24

Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất đó là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ

Nguyễn Ngọc Tuân (1999) [16]: sử dụng phương pháp bổ sung kháng sinh Colistin, Oxytetracylin với liều 50 ppm và 100ppm vào thức ăn cho nái chửa 7 ngày trước khi đẻ và sau khi đẻ 14 ngày, đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con khi sinh ra

Dùng kháng sinh ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da, Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, neomycin cho uống, Norfloxacin, Enrofloxacin (Phạm Ngọc Thạch, 2006) [20]

Điều trị triệu chứng

Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải Do đó kết hợp với điều trị bằng thuốc cần phải kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con, đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng Cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B

Khôi phục hệ vi sinh vậtđường ruột

Khôi phục và ổn định lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị Đỗ Trung Cứ và cs, (2000) [1]

sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt Tạ Thị Vịnh và cs, (2002) [21] cho biết: khi sử dụng chế phẩm VITOM 1 và VITOM

3 để phòng tri tiêu chảy cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi cho kết quả tốt, ngoài tác dụng điều trị, chế phẩm còn góp phần kích thích tăng trọng lợn

Trang 25

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Được sự quan tâm của nhà nước đến sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và ngành thú y nói riêng, đã có rất nhiều nhà khoa học xây dựng được những công trình khoa học đóng góp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi thú y Trong đó bệnh phân trắng lợn con được nhiều tác giả nghiên cứu đề cập tới việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như phương pháp phòng trị

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (1995) [7] cho rằng: Bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày- ruột, ỉa chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu ở lợn con

là E.coli, nhiều loại Salmonella (A.choleraesuis, S.typhisuis) và đóng vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi

sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ

Ở nước ta lợn con mắc bệnh phân trắng rất phổ biến Trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ lợn con mắc bệnh từ 25 - 100%, tỷ lệ chết trên 70% Bệnh

có thể phát quanh năm nhưng nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè

Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột và dạ dày rất yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh tiêu hóa cho lợn

Việc bổ sung Dextran-Fe cho lợn có tác dụng phòng bệnh phân trắng, tăng khả năng sinh trưởng và cho hiệu quản kinh tế cao

Theo Phan Đình Thắm, (1995) [19]: nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu sau khi sinh để giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh tật Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng Vì thế, cần chú ý cho lợn con sơ sinh

Trang 26

bú sữa trong 3 ngày đầu, phải đảm bảo được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ

Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ, không khí đến tỷ lệ lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình thay đổi hàng tháng, có tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó,

để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Các tác giả Lê Văn Năm và cs, (1998) [9] cho rằng: Bệnh phân trắng

lợn con chủ yếu là do trực khuẩn E.coli gây ra Ngoài ra còn có một số

nguyên nhân khác như chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật và bất lợi về thời tiết

Tác giả Lê Thị Tài và cs, (2000) [15] cho biết: để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon, Chloramphenicol, Berberin) có hiệu quả điều trị 75 – 80%, chúng

ta nên phối hợp các chế phẩm sinh học (Biosubtyl, chế phẩm sinh học ND) sẽ tăng hiệu quả điều trị từ 85 – 88% và bổ sung điện giải (Oresol) vừa tăng hiệu quả điều trị và tăng tỷ lệ khỏi bệnh 89,5 – 90%, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống

Theo Đào Trọng Đạt và cs,(1986) [3]: đã đưa ra một số nhận định về nguyên nhân gây bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng khó tiêu ở gia súc non, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng tới cơ thể lợn con: Thời tiết thay đổi đột ngột, độ ẩm cao, chuồng trại ẩm ướt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa tốt, đặc biệt là phẩm chất thức ăn cho lợn mẹ không đạt yêu cầu…tác động trực tiếp tới cơ thể lợn con gây rối loạn thần kinh dẫn tới rối loạn quá trình tiêu hóa

Theo Sử An Ninh, (1991) [11]: khi nghiên cứu stress lạnh ẩm và tác dụng của ACTH đối với bệnh phân trắng lợn con đã kết luận: Stress lạnh ẩm làm cho lợn không giữ được cân bằng hoạt động của trục hạ khâu não - tuyến yên - tuyến

Trang 27

thượng thận làm biến đổi hàm lượng Fe++

, Na+, K+ trong máu, làm giảm sức đề kháng của lợn con nhất là lợn sơ sinh, dễ gây viêm ruột ỉa phân trắng

Theo Nguyễn Hữu Nhã, (1976) [10], cho rằng: Bệnh lợn con phân

trắng là do vi khuẩn E.coli gây ra và chữa bằng cách cho uống sinh vật sống

Sucolac có hiệu quả rất tốt, vừa điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột, vừa cung cấp một số men tiêu hóa cho lợn con

Đỗ Trung Cứ và cs, (2000) [1]: dùng chế phẩm Effective Mycroogranizm (EM) phòng chống bệnh tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa Dùng chế phẩm EM trộn vào thức ăn cho lợn con tập ăn cho kết quả

là số vi khuẩn Salmonella và E.coli trong 1gam phân giảm Tỷ lệ tiêu chảy

giảm 29%, tỷ lệ tái nhiễm giảm 50%, khả năng tăng trọng cao, các chỉ tiêu sinh lý, huyết sắc tố, hồng cầu, bạch cầu bình thường

Theo một số nghiên cứu cho rằng bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm

ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò phụ là Proteus streptococcus Bệnh xuất hiện

nhiều vào những ngày đầu sau khi sinh và sống sót trong suốt thời gian bú sữa, ở nước ta bệnh phân trắng lợn con rất phổ biến, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè

Theo Phạm Khắc Hiếu và cs, (1996) [4]: khi nghiên cứu tác dụng của

một số Phytonciden và thuốc hóa học trị liệu với E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng và cho biết tỏi và hẹ là hai dược liệu có tác dụng tốt với E.coli

còn nghệ và cây vàng đắng là hai dược liệu có tác dụng trung bình

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Phòng và trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn con nói chung và bệnh phân trắng lợn con nói riêng đã có rất nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh Neomycin có tác dụng điều trị tốt, cho uống với liều từ 10 – 20 UI/kgTT, cho uống trong vòng 3

Trang 28

ngày, các kháng sinh khác nên dùng: Oxytetracyclin, Dibiomycinliều 5000 – 10.000 UI/kgTT liệu trình phối hợp với Sulfamid cũng cho hiệu quả điều trị tốt

Theo tác giả Lutter, (1993) [22] thông báo: Ogramin liều 15gam/con

cho uống có tác dụng tốt 95,61% trong hiệu quả điều trị E.coli Tác giả lưu ý

rằng khi sử dụng kháng sinh cho lợn con phân trắng phải thường xuyên, có kế hoạch chặt chẽ, có kháng sinh dự trữ liên tục

Theo tác giả Matsier, (1976) [23]: dùng colibactecin tức E.coli sống

chủng M17 có tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn, cho lợn ăn 2 lần/ngày với liều 250 ml, sau 14 ngày có hiệu quả đặc biệt đối với lợn con trong thời

kỳ cai sữa

Theo Axovach và Libiro, (1984) [24]: đã chữa bệnh colibacteria ở lợn

con có hiệu quả bằng cách cho uống Histamin 3 lần trong 3 ngày liên tục, liều

5 mg/con

Nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ nguyên nhân mất cân đối chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn, thức ăn kém phẩm chất, thức ăn có lẫn độc tố nấm mốc, không đủ thành phần dinh dưỡng hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn,

ôi thiu… thường dẫn đến viêm ruột, ỉa chảy Wierrer, (1993) [30] Purvic.G, (1985) [28]

Jerome, (1972) [27] cho biết: các loại thuốc kháng vi khuẩn toàn thân

điều trị hiệu quả nhất trong một ổ dịch cấp tính, nhiễm trùng mãn Salmonella choleraesuis Có thể sử dụng kháng sinh qua đường thức ăn, nước uống để

làm giảm số lượng lợn bị nhiễm bệnh và lợn chết Việc chọn lựa ban đầu các loại thuốc kháng vi khuẩn dựa vào sự hiểu biết trước đó về tính nhạy cảm của

các typ Salmonella ở một số vùng nhất định

Trang 29

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng

- Lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Thuốc kháng sinh làNorfacolivà Hanoxylin LA

Thành phần của mỗi loại thuốc bao gồm:

+ Norfacoli : Norfloxaccin: … 100 mg

Tá dược vđ: ….… 1 ml + Hanoxylin LA: Oxytetracyclin……… 200 mg

Dung môi vđ……….1 ml

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Lợn con theo mẹ từ SS đến 21 ngày tuổi mắc bệnh phân trắng nuôi trong nông hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh

- Thời gian: Từ ngày 25/05/2015 đến ngày18/11/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh

- Hiệu quả và tác dụng điều trị của thuốc trong điều trị bệnh phân trắng lợn con

3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng

Trang 30

- Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi

- Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng

- Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng

- Triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân trắng

- Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng

- Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc

- Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được tiến hành theo nguyên tắc các đàn lợn con đồng đều về tuổi và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Lợn con bị tiêu chảy được đánh dấu từng con để theo dõi và điều trị Hàng ngày theo dõi lợn vào buổi sáng sớm và buổi chiều trước và sau khi dùng thuốc điều trị Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm nhiệt độ, ăn uống, thể trạng con vật, tình trạng phân, thời gian khỏi bệnh của từng con và các bệnh khác

Nguyên tắc điều trị: dùng thuốc đúng liều, đúng liệu trình, dùng liên tục trong 3 – 5 ngày Thường xuyên theo dõi diễn biến của bệnh và đồng thời ghi chép kết quả điều trị trên các lô lợn, các chỉ tiêu theo dõi là:

- Số con mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh

- Số con khỏi bệnh trong ngày, số ngày điều trị, số con chết, số con mắc lại sau một đợt điều trị

- Số con tái phát và số lần tái phát

Đánh giá kết quả: sau thời gian điều trị nếu lợn hết tiêu chảy, phân thành khuôn, ăn uống trở lại bình thường, các dấu hiệu mất nước không còn, thân nhiệt ổn định được coi là khỏi bệnh

Tuân thủ nguyên tắc sử dụng kháng sinh kết hợp các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Ngày đăng: 29/11/2016, 08:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên, (2000), “Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở lợn”,“Tạp chí chăn nuôi”, số 1, tr 19 – 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở lợn”,“"Tạp chí chăn nuôi
Tác giả: Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Quang Tuyên
Năm: 2000
2. Cù Xuân Dần, (1996), “Một số đặc điểm sinh lý ở lợn con và lợn con phân trắng”,“Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh lý ở lợn con và lợn con phân trắng”,“"Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Cù Xuân Dần
Năm: 1996
3. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương, (1986), “Bệnh gia súc non”, tập 2, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
4. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, (1995), “Kiểm tra một số ảnh hưởng đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”,“Tạp chí khoa học lỹ thuật thú y”, tập 3, số 4, tr 57 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra một số ảnh hưởng đến tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng”",“Tạp chí khoa học lỹ thuật thú y”
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho
Năm: 1995
5. Phạm Khắc Hiếu, Trân Thị Lộc, (1998), Stress trong đời sống của người và vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress trong đời sống của ngườ"i "và vật nuôi
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Trân Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
6. Phạm Văn Khuê và Phan Lục, (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê và Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Duy (1995),Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp điều trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Duy
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
9. Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương, (1998), Hướng dẫn phòng và trị bệnh cho lợn cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng và trị bệnh cho lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm, Trần Văn Bình, Nguyễn Thị Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
10. Nguyễn Hữu Nhã, (1976), “Bệnh ỉa chảy phân trắng ở lợn con và phương pháp phòng trị”, “Tạp chí KHKT Nông nghiệp”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ỉa chảy phân trắng ở lợn con và phương pháp phòng trị”, “Tạp chí KHKT Nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Nhã
Năm: 1976
11. Sử An Ninh, (1991), Tìm hiểu stress lạnh, ẩm và ACTH đối với cơ thể lợn sơ sinh, Công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp, kỷ niệm 30 năm ngày thành lập trường ĐHNN 1 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu stress lạnh, ẩm và ACTH đối với cơ thể lợn sơ sinh
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1991
12. Sử An Ninh, (1993), Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ phòng bệnh phân trắng lợn con, kết quả nghiên cứu khoa học CNTY, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu tìm hiểu nhiệt độ, ẩm độ phòng bệnh phân trắng lợn con
Tác giả: Sử An Ninh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
13. Sử An Ninh, (1995), Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, nước tiểuvà hìnhthái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu, nước tiểuvà hìnhthái đại thể một số tuyến nội tiết ở lợn con mắc bệnh phân trắng
Tác giả: Sử An Ninh
Năm: 1995
14. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm (1993), "Nghiên cứu chế tạo vacxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con", Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm”, số 9, tr 324- 325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế tạo vacxin E.coli uống phòng bệnh phân trắng lợn con", Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm
Tác giả: Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm
Năm: 1993
15. Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lê Hoa, (2000), Chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Nông nghiệp 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm sinh học để điều trị hội chứng tiêu chảy lợn ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Thị Tài, Đoàn Kim Dung, Nguyễn Lê Hoa
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp 2000
Năm: 2000
16. Nguyễn Ngọc Tuân, (1999), Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Nguyễn Như Thanh, (1997), Miễn dịch học, Giáo trình cao học Thú y, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học, Giáo trình cao học Thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
18. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương, (2001), Vi sinh vật thú y, Nxb Nông nghiệp, tr 72-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Phan Đình Thắm, (1995), Giáo trình chăn nuôi lợn (dành cho cao học), Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tr 26 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn (dành cho cao học)
Tác giả: Phan Đình Thắm
Năm: 1995
20. Phạm Ngọc Thạch, (2006), Bệnh nội khoa gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh nội khoa gia súc
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
21. Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Hòe, (2004), "Kết quả sửa dụng chế phẩm sinhhọc VITOM -1 và cao mật lợn phòng trị bệnh đường tiêu hóa cho lợn con”, “Tạp chí KHKT Thú y”, tập XI, số 1, tr 90- 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sửa dụng chế phẩm sinhhọc VITOM -1 và cao mật lợn phòng trị bệnh đường tiêu hóa cho lợn con”, “Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Hòe
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 32)
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất  Nội dung  Số lƣợng (con)  Kết quả (con)  Tỷ lệ (%) - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất Nội dung Số lƣợng (con) Kết quả (con) Tỷ lệ (%) (Trang 41)
Bảng 4.3. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.3. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi (Trang 42)
Bảng 4.4. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.4. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng (Trang 44)
Bảng 4.5. Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.5. Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng (Trang 46)
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.6. Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng (Trang 47)
Bảng 4.7. Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.7. Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng (Trang 48)
Bảng 4.8. Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc - Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông hộ tại huyện đầm hà – tỉnh quảng ninh và biện pháp phòng trị
Bảng 4.8. Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc (Trang 49)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w