Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột lạnh, ẩm, gió lùa kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡn
Trang 1ĐINH THỊ HOÀI
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN GIAI ĐOẠN
SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN ĐẦM HÀ – TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Thái Nguyên - 2015
Trang 2ĐINH THỊ HOÀI
Tên đề tài:
“TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG Ở LỢN GIAI ĐOẠN
SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TRONG NÔNG HỘ TẠI HUYỆN ĐẦM HÀ – TỈNH QUẢNG NINH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
Giảng viên hướng dẫn: TS Vũ Hoàng Lân
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian ho ̣c tâ ̣p ở nhà trường và sau 6 tháng thực tâ ̣p ta ̣i cơ sở
em luôn được sự giúp đỡ và ch ỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo , của chính quyề n đi ̣a phương và ba ̣n bè Nay em đã hoàn thành khóa luâ ̣n Thành công này không chỉ do sự nỗ lực của cá nhân mà còn có sự giúp đỡcủa rất nhiều người
Để có kết quả ngày hôm nay em xin bày tỏ lòng biết ơ n sâu sắc tới thầy giáo TS Vũ Hoàng Lân , người đã tâ ̣n tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p
Qua đây em cũng gửi lời cảm ơn chân thành t ới chính quy ền địa phương cùng toàn thể nhân dân trong huyện Đầm Hà, cán bộ thú y cơ sở đã
tâ ̣n tình giúp đỡ , tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tâ ̣p
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiê ̣m khoa Chăn nuôi Thú y và các thầy cô trong khoa đã truyền thu ̣ cho em những kiến thức chuyên ngành
Nhân di ̣p này em xin kính chúc các thầy cô cũng như toàn thể gia đình sức khỏe ha ̣nh phúc và thành công
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành mô ̣t kỹ sư được xã hô ̣i chấp nhâ ̣n , mỗi sinh viên khi ra trường cần trang bi ̣ cho mình vốn kiến thức khoa ho ̣c, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vâ ̣y, thực tâ ̣p tốt nghiê ̣p là viê ̣c hết sức quan tro ̣ng giúp sinh viên củng c ố và hệ thống hóa toànbộ kiến thức đã học ,vâ ̣n du ̣ng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất , tiếp câ ̣n và làm quen với công viê ̣c Qua đó, sinh viên sẽ nâng cao trình đô ̣ , đồng thời ta ̣o cho mình tác phong làm viê ̣c khoa ho ̣c , có t ính sáng tạo , để ra trường phải là một cán bộ vững vàng lý thuyết, giỏi về tay nghề đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước
Xuất phát từ quan điểm trên được sự nhất trí của nhà trường , Ban chủ nhiê ̣m Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đa ̣i ho ̣c Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn cũng như sự tiếp nhâ ̣n của cơ sở Em đã tiến hành thực
tâ ̣p ta ̣i huy ện Đầm Hà –tỉnh Quảng Ninh với chuyên đề : “ Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông
hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh và biện pháp phòng trị”
Được sự dẫn dắt tận tình c ủa thầy giáo hướng dẫn TS Vũ Hoàng Lân , cùng với sự nỗ lực của bản thân , em đã hoàn thành khóa luận Tuy nhiên do bước đầu còn bỡ ngỡ trong công tác nghiên cứu Nên khóa luâ ̣n của em không tránh khỏi những sai sót và hạn chế Em rất mong nhâ ̣n được sự quan tâm và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn thiê ̣n hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Đinh Thị Hoài
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 24
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
Bảng 4.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong quá trình thực tập 33
Bảng 4.3 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng 36
Bảng 4.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 38
Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng 39
Bảng 4.7 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng 40
Bảng 4.8 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 41
Bảng 4.9 Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng ở lợn con 43
Trang 6Vđ: Vừa đủ
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 3
2.1.2 Bệnh phân trắng lợn con 7
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 17
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 21
Trang 83.3.1 Nội dung nghiên cứu 21
3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.4.2 Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin 23
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 25
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 25
4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất 25
4.1.2 Biện pháp thực hiện 25
4.1.3 Kết quả đạt được trong công tác phục vụ sản xuất 25
4.2 Kết quả nghiên cứu 33
4.2.1 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong quá trình thực tập 33
4.2.2 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi 34
4.2.3 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng qua các tháng 36
4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 38
4.2.5 Tỷ lệ lợn con chết do nhiễm bệnh phân trắng 39
4.2.6 Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng 40
4.2.7 Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc 41
4.2.8 Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng ở lợn con 43
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Tồn tại 44
5.3 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta nhưng để chăn nuôi lợn phát triển tốt theo hướng gắn liền với thị trường, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi
có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì yếu tố dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi.Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn nái sinh sản là bệnh lợn con phân trắng giai đoạn
sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết
có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh, lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa mẹ thiếu không đảm bảo chất dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như tăng trọng của chúng gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó phòng bệnh cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hội chứng tiêu chảy ở lợn con và đưa ra các biện pháp điều trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con theo mẹ Tuy nhiên, sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân,
Trang 10đặc điểm gia súc non đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu Vì thế các giải pháp đưa ra chưa thực sự đem lại kết quả như mong muốn Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các nông hộ
Trước tình hình thực tế trên, em đã tiến hành đề tài:“Tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi trong nông
hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninhvà biện pháp phòng trị”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nắm được tình hình dịch tễ bệnh phân trắng lợn con tại các nông hộ chăn nuôi lợn ở huyện Đầm Hà –tỉnh Quảng Ninh
- Ứng dụng một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con theo mẹ
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con là những
tư liệu khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo tại nông hộ
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.1.1.1 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con
Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới
Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hóa của dạ dày còn hạn chế, dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn
Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin và globulin được chuyển xuống ruột để vào máu
Tuy nhiên, lợn con trên 14 đến 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs, 1986) [3] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể
Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa; sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa
Trang 122.1.1.2 Đặc điểm thích ứng của lợn con
Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém Đặc biệt ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm
Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hóa, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai qua tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai
Quá trình chuyển hóa, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường Nhờ quá trình ôxy hóa mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc (Đào Trọng Đạt và cs, 1986) [3]
Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Axit amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày thể trọng tăng gấp 1,3 lần; sau 2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh Nếu sữa mẹ không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể
sẽ bị chậm hoặc dừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể dễ bị nhiễm bệnh
2.1.1.3 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con
Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi
Trang 13sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu hóa hấp thu Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi – vi sinh vật đối kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hóa chưa thành thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc non Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ
và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính
Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa cũng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khỏe của vật chủ Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram (-) sống trong ống tiêu hóa của người và động vật Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tùy tiện, bao gồm vi khuẩn
sinh axit lactic, vi khuẩn Bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột có khả năng
ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis Ở gia súc sơ sinh, chưa
hình thành hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa
Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonellaspp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella Cho đến nay nhiều công bố
nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm 3
loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens
Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng
xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn
Như Thanh và cs, 2001) [18]
Trang 14Clostridium perfrigens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa
tuổi 1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân
Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện ở 2
dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to
2.1.1.4 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo
vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng Enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng kém Do
vậy, các mầm bệnh như: E.coli, Salmonella dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hóa và gây bệnh
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, Profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu
là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 – 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên (Trương Lăng, 2007) [8]
Tuy nhiên, còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu hệ
vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết
Trang 152.1.2 Bệnh phân trắng lợn con
2.1.2.1.Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những nhận định về nguyên nhân theo chiều hướng khác nhau song tập trung vào 2 hướng
- Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh phân trắng lợn con không phải bệnh nhiễm trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng lợn con, lợn mẹ kém gây nên
- Quan điểm thứ 2 cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, chủ yếu do
vi khuẩn E.coli gây ra
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố Do đó việc phân chia nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả
Yếu tố ngoại cảnh
Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì cân bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý
Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của cơ thể mẹ quy định Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Lúc này, các yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh và tiến triển Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm là quan trọng nhất Nhiệt độ 280C- 300C, độ ẩm từ 75%- 85%
là thích hợp cho lợn con Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều,
độ ẩm cao 86%-90%, nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con sẽ mắc bệnh nhiều, có khi tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn 90%- 100% (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [3]
Trang 16Nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con không có tính đặc hiệu nhưng mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh, ẩm được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh Lạnh, ẩm làm hệ thống điều hòa bị rối loạn, dẫn đến rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào của cơ thể, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng và tăng cường độc lực gây bệnh
Mặt khác,ở gia súc non các men tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong dịch vị chưa có đủ lượng HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin Vì vậy mà không tiêu hóa được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn (Sử An Ninh, 1993) [12]
- Do vi khuẩn
Vi khuẩn E.coli
Vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy ở lợn con đã và đang được nhiều nhà
khoa học quan tâm Nhưng trong đó vi khuẩn E.coli là nguyên nhân quan
trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy của lợn con mới sinh và sau cai sữa
(Biehl và cs, 1986) [26] E.coli là một loại trực khuẩn đường ruột sống ở ruột
già, chỉ một vài giờ sau khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [18], thì bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh
Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố đường ruột E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường ruột Các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên
bám dính, chúng nằm trên Fibriae- một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ một đĩa giống trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn Chính các yếu tố bám dính cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh
đặc trưng của E.coli
Trang 17Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [14] đã phân lập được các chủng E.coli gây bệnh phân trắng cho lợn con và đã chọn được 7 chủng E.coli mang các
yếu tố gây bệnh như K88, Enterotoxin, Hly và R để chế tạo vacxin này rất an toàn (100%) và hiệu lực bảo hộ so với đối chứng đạt 40% đến 59% trên động vật thí nghiệm
Vi khuẩn Salmonella
Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và
trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi
Salmonella cũng đóng vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây
hội chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh
phó thương hàn ở lợn bao gồm Salmonella cholera suis (chủng kunzendorf)
và Salmonella typhysuis (chủng Voldagsen) (Nguyễn Như Thanh và cs,
2001) [18]
Ngoài Salmonella cholera suis gây bệnh phó thương hàn cho lợn, trong một số trường hợp còn gặp Salmonella enteritidis và Salmonella dublin ở lợn
con đang bú sữa (Reynolda và cs, 1967) [29]
Vi khuẩn Clostridium perfrigens
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát
gây bệnh là vi khuẩn Cl.perfrigens hình thành độc tố gây dung huyết, gây
hoại tử tổ chức phần mềm và gây chết Vi khuẩn có khả năng gây ra các chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con
Các chủng Cl.perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau,
mỗi chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay enzym nào đó Theo Bergeland và Taylor, (1992) [25], những độc tố gây
bệnh chủ yếu do Cl.perfrigens bao gồm độc tố α, β, δ Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì Cl.perfrigens typ C gây ra viêm ruột hoại tử
Trang 18Cl.perfrigens typ C sản sinh ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β , nhân tố
quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh viêm ruột hoại tử do
Cl.perfrigens typ C gây ra Bệnh xảy ra chủ yếu trên lợn con ở giai đoạn theo
mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay gặp nhất ở 1 đến 3 ngày tuổi Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với lợn con từ 2 đến 4 tuần tuổi và cả khi cai sữa, lợn mắc bệnh thường bị chết ở những ổ lợn mẹ không được tiêm phòng, tỷ lệ khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể lên tới 100% (Bergeland, Taylor, 1992) [25]
- Do virus
Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hóa cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở lợn con cũng như ở một số gia súc khác Nguyên nhân này xảy ra chủ yếu ở lợn lứa tuổi sau cai sữa, còn lợn con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ
lệ nhiễm ký sinh trùng tăng theo độ tuổi của lợn
Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong đường tiêu hóa, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình bám dính
và di hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề kháng của
cơ thể lợn
Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh
Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996)[6], Giun đũa lợn
(Ascarisuum), sán lá ruột lợn (Fassiolopsis buski), ký sinh trùng đường máu như tiên mao trùng (T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc
mãn tính
- Do độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hóa, gây tiêu chảy dữ dội Ngoài ra
Trang 19việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người dùng thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn
dư trong thực phẩm
- Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Tình trạng sức khỏe và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh hưởng đến dinh dưỡng bào thai và tích lũy chất dinh dưỡng để tạo ra sữa trong giai đoạn cuối Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định trọng lượng sơ sinh của lợn con, một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức khỏe của lợn con sơ sinh
Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại
Lợn con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ
Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lượng, vi lượng, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, lượng sữa giảm, chất lượng sữa giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn con
Thân nhiệt của lợn con mới sinh ra là 38,90C- 39,10C, nhưng sau 30 phút giảm xuông còn 360C – 37,10C Trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu con vật được bú sữa đầu thì sau 8- 12 giờ thân nhiệt của lợn con sẽ được ổn định trở lại, nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sự mất nhiệt sẽ là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B1, C cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra, trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy rửa các chất cặn bã trong đường tiêu hóa Đặc biệt còn có hàm lượng kháng thể γ - globulin, do đó cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ rất cần thiết nhằm cung cấp hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, tăng sức đề kháng của cơ thể
Trang 202.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh
Theo Phạm Ngọc Thạch, (2006) [20], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein
Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niên mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết
2.1.2.3 Triệu chứng của bệnh
Bệnh thường xảy ra ở lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi Lợn
con bị nhiễm E.coli thường yếu, chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt ít khi tăng cao,
cá biệt có trường hợp nhiệt độ 40,5 - 41oC nhưng sau một ngày lại hạ xuống ngay, lợn đi ỉa nhiều lần trong một ngày, phân lỏng màu trắng như vôi, trắng xám, màu xi măng hoặc màu nâu hơi vàng, phân có mùi tanh, đặc biệt bụng tóp lại, da nhăn nheo, lông xù, phân dính bết quanh hậu môn, hai chân sau dúm lại
Bệnh sảy ra quanh năm nhưng nhiều nhất khi thời tiết thay đổi đột ngột, nóng lạnh bất thường, mưa nhiều, ẩm độ cao Bệnh có thể mắc một vài con hoặc cả đàn
Bệnh thường diễn ra chủ yếu ở 2 thể: Thể cấp tính và thể kéo dài
Thể cấp tính: bệnh gặp nhiều ở lợn sơ sinh đến 21 ngày tuổi, lợn kém ăn,
ủ rũ, đi đứng siêu vẹo, lợn đi ỉa, da nhăn nheo, đầu to, bụng hóp, lợn gầy sút nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt lợn nhợt nhạt, bốn chân lạnh, thở nhanh, lợn dặn rất nhiều khi ỉa Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó
Trang 21chuyển sang màu xám như cứt cò, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào đất, lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng uống, làm bệnh nặng thêm Đôi khi lợn có nôn ra sữa chưa tiêu hóa nên có mùi chua Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết
Thể kéo dài thường gặp ở lợn từ 22 ngày tuổi Bệnh có thể kéo dài 7-10 ngày tuổi, lợn con vẫn bú nhưng giảm dần đi Phân màu trắng đục, trắng vàng, nhiều con mắt có dử và vàng thâm xung quanh Lợn suy dinh dưỡng, niêm mạc nhợt nhạt, nếu chữa trị không kịp thời thường chết sau một tuần bị bệnh Lợn con từ 45 - 50 ngày tuổi vẫn còn bú mẹ nhưng bị bệnh phân trắng với các triệu chứng nhẹ hơn, lợn có ỉa phân trắng nhưng hoạt động vẫn bình thường, ăn, đi lại nhanh nhẹn, phân thường đặc hoặc nát với màu xám Lợn có thể khỏi, tỷ lệ chết thấp, nếu kéo dài lợn gầy sút, còi cọc và chậm lớn
2.1.2.4 Bệnh tích của bệnh
Bệnh tích chủ yếu ở xoang bụng Ruột non bị viêm cata, kèm xuất huyết mạch máu màng treo ruột sưng, mềm đỏ tấy do dung huyết Niêm mạc ruột non và dạ dày sưng phủ một lớp nhầy, có nhiều dạng xuất huyết khác nhau Trong dạ dày chứa những cục sữa chưa tiêu và những nốt đen trên thành do những đám nhồi máu, ruột chứa một số chất lỏng trắng đặc biệt vàng nhạt, có mùi chua Ruột căng phồng đầy hơi, ruột non trương dãn to và xuất huyết, niêm mạc ruột bị hoại tử từng đám
Theo Đào Trọng Đạt và cs, (1986) [3], mổ khám thấy lợn con gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, mồm nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc sữa chưa tiêu, mùi khó ngửi Trong ruột rỗng, chứa đầy hơi, gan bình thường đôi khi hơi sưng Túi mật chứa đầy mật Phổi thường ứ máu, đôi khi
có hội chứng sưng phổi nhẹ Cơ tim nhão, lách không sưng nhưng có thể bị teo
2.1.2.5 Biện pháp phòng trị bệnh
* Phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng
Trang 22Thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng
nuôi lợn đẻ) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý
để duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ Nếu phát hiện lợn con bị tiêu
chảy do E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc
Theo Sử An Ninh, (1995) [13], cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn
ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được khuyến cáo là 70- 85%
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs, (1998) [5]: lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 340
C trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 300C Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm
Thiết kế chuồng đẻ và kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng
Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn đặc biệt là các khoáng và vitamin Nên cho lợn con tập ăn sớm vào ngày tuổi thứ 7- 8
Lợn con ở giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt, đây là một trong những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và gây tiêu chảy nên phải tiêm bổ sung sắt cho lợn con vào ngày tuổi thứ 3 và thứ 10
- Phòng bệnh bằng vaccine
Những vacxin sản xuất đại trà sử dụng cho lợn mẹ thường được sản xuất bằng cách dùng toàn bộ hoặc những tiểu phần tinh chế của vi khuẩn làm kháng nguyên Thành phần chủ yếu của vacxin là những yếu tố bám dính Bằng công nghệ tái tổ hợp có thể sản xuất một lượng kháng nguyên lông tinh chế cần thiết cho sản xuất vacxin Vacxin này thường dùng cho lợn chửa 5 tuần và 2 tuần trước khi đẻ Trong các trại chăn nuôi tập trung hiện nay đang
Trang 23phổ biến dùng vacxin Litter Guard, loại vacxin vô hoạt bằng phương pháp hóa học dùng cho lợn nái mang thai khỏe mạnh để phòng tiêu chảy cho lợn
con theo mẹ gây ra bởi độc tố β của vi khuẩn Cl.perfrigens chủng C và các chủng E.coli sản sinh độc tố không chịu nhiệt LT, có kháng nguyên bám dính
K99, K88, 987P, F41 Kháng thể thụ động được truyền cho lợn con thông qua sữa đầu
Để phòng bệnh do Clostridium perfrigens ở lợn con theo Bergeland và Taylo, (1992) [25], có thể sử dụng giải độc tố yếm khí Cl.perfrigens typ C để
tiêm cho lợn mẹ lần 2 trong thời kỳ mang thai (lần tiêm thứ nhất vào giữa kỳ
và nhắc lại lần 2 trước khi đẻ 2- 3 tuần) Lợn con sẽ được bảo vệ bởi globulin miễn dịch trong sữa đầu tác dụng phòng bệnh có thể kéo dài đến sau khi cai sữa
* Điều trị
Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu đã kết luận: cần điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hóa và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng
Để điều trị hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:
- Chống viêm ở đường tiêu hóa
- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát
- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa
- Bổ sung nước và điện giải
- Bổ sung sắt và các vitamin
- Thực hiện tốt vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng
Điều trị bằng kháng sinh, hóa dược
Trang 24Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất đó là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ
Nguyễn Ngọc Tuân (1999) [16]: sử dụng phương pháp bổ sung kháng sinh Colistin, Oxytetracylin với liều 50 ppm và 100ppm vào thức ăn cho nái chửa 7 ngày trước khi đẻ và sau khi đẻ 14 ngày, đã làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con khi sinh ra
Dùng kháng sinh ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da, Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, neomycin cho uống, Norfloxacin, Enrofloxacin (Phạm Ngọc Thạch, 2006) [20]
Điều trị triệu chứng
Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải Do đó kết hợp với điều trị bằng thuốc cần phải kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con, đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng Cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B
Khôi phục hệ vi sinh vậtđường ruột
Khôi phục và ổn định lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột sẽ có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị Đỗ Trung Cứ và cs, (2000) [1]
sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt Tạ Thị Vịnh và cs, (2002) [21] cho biết: khi sử dụng chế phẩm VITOM 1 và VITOM
3 để phòng tri tiêu chảy cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi cho kết quả tốt, ngoài tác dụng điều trị, chế phẩm còn góp phần kích thích tăng trọng lợn
Trang 252.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Được sự quan tâm của nhà nước đến sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và ngành thú y nói riêng, đã có rất nhiều nhà khoa học xây dựng được những công trình khoa học đóng góp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi thú y Trong đó bệnh phân trắng lợn con được nhiều tác giả nghiên cứu đề cập tới việc tìm hiểu nguyên nhân cũng như phương pháp phòng trị
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (1995) [7] cho rằng: Bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày- ruột, ỉa chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu ở lợn con
là E.coli, nhiều loại Salmonella (A.choleraesuis, S.typhisuis) và đóng vai trò phụ là Proteus, Streptococcus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi
sinh và trong suốt thời kỳ bú mẹ
Ở nước ta lợn con mắc bệnh phân trắng rất phổ biến Trong các cơ sở chăn nuôi, tỷ lệ lợn con mắc bệnh từ 25 - 100%, tỷ lệ chết trên 70% Bệnh
có thể phát quanh năm nhưng nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè
Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật của đường ruột và dạ dày rất yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng chống bệnh tiêu hóa cho lợn
Việc bổ sung Dextran-Fe cho lợn có tác dụng phòng bệnh phân trắng, tăng khả năng sinh trưởng và cho hiệu quản kinh tế cao
Theo Phan Đình Thắm, (1995) [19]: nhất thiết lợn con sơ sinh phải được bú sữa đầu sau khi sinh để giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh tật Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng Vì thế, cần chú ý cho lợn con sơ sinh
Trang 26bú sữa trong 3 ngày đầu, phải đảm bảo được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ, không khí đến tỷ lệ lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, độ ẩm trung bình thay đổi hàng tháng, có tương quan thuận với độ ẩm và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí Do đó,
để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con thì ngoài các biện pháp về dinh dưỡng, thú y, cần đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp
Các tác giả Lê Văn Năm và cs, (1998) [9] cho rằng: Bệnh phân trắng
lợn con chủ yếu là do trực khuẩn E.coli gây ra Ngoài ra còn có một số
nguyên nhân khác như chuồng trại bẩn, sữa đầu ít, chăm sóc nuôi dưỡng nái chửa không đúng kỹ thuật và bất lợi về thời tiết
Tác giả Lê Thị Tài và cs, (2000) [15] cho biết: để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con, ngoài kháng sinh đặc hiệu với vi khuẩn đường ruột (Trimazon, Chloramphenicol, Berberin) có hiệu quả điều trị 75 – 80%, chúng
ta nên phối hợp các chế phẩm sinh học (Biosubtyl, chế phẩm sinh học ND) sẽ tăng hiệu quả điều trị từ 85 – 88% và bổ sung điện giải (Oresol) vừa tăng hiệu quả điều trị và tăng tỷ lệ khỏi bệnh 89,5 – 90%, con vật mau hồi phục, đảm bảo chất lượng và số lượng con giống
Theo Đào Trọng Đạt và cs,(1986) [3]: đã đưa ra một số nhận định về nguyên nhân gây bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng khó tiêu ở gia súc non, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng tới cơ thể lợn con: Thời tiết thay đổi đột ngột, độ ẩm cao, chuồng trại ẩm ướt, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng chưa tốt, đặc biệt là phẩm chất thức ăn cho lợn mẹ không đạt yêu cầu…tác động trực tiếp tới cơ thể lợn con gây rối loạn thần kinh dẫn tới rối loạn quá trình tiêu hóa
Theo Sử An Ninh, (1991) [11]: khi nghiên cứu stress lạnh ẩm và tác dụng của ACTH đối với bệnh phân trắng lợn con đã kết luận: Stress lạnh ẩm làm cho lợn không giữ được cân bằng hoạt động của trục hạ khâu não - tuyến yên - tuyến
Trang 27thượng thận làm biến đổi hàm lượng Fe++
, Na+, K+ trong máu, làm giảm sức đề kháng của lợn con nhất là lợn sơ sinh, dễ gây viêm ruột ỉa phân trắng
Theo Nguyễn Hữu Nhã, (1976) [10], cho rằng: Bệnh lợn con phân
trắng là do vi khuẩn E.coli gây ra và chữa bằng cách cho uống sinh vật sống
Sucolac có hiệu quả rất tốt, vừa điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột, vừa cung cấp một số men tiêu hóa cho lợn con
Đỗ Trung Cứ và cs, (2000) [1]: dùng chế phẩm Effective Mycroogranizm (EM) phòng chống bệnh tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa Dùng chế phẩm EM trộn vào thức ăn cho lợn con tập ăn cho kết quả
là số vi khuẩn Salmonella và E.coli trong 1gam phân giảm Tỷ lệ tiêu chảy
giảm 29%, tỷ lệ tái nhiễm giảm 50%, khả năng tăng trọng cao, các chỉ tiêu sinh lý, huyết sắc tố, hồng cầu, bạch cầu bình thường
Theo một số nghiên cứu cho rằng bệnh phân trắng ở lợn con là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm
ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, nhiều loại Salmonella và đóng vai trò phụ là Proteus streptococcus Bệnh xuất hiện
nhiều vào những ngày đầu sau khi sinh và sống sót trong suốt thời gian bú sữa, ở nước ta bệnh phân trắng lợn con rất phổ biến, nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs, (1996) [4]: khi nghiên cứu tác dụng của
một số Phytonciden và thuốc hóa học trị liệu với E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng và cho biết tỏi và hẹ là hai dược liệu có tác dụng tốt với E.coli
còn nghệ và cây vàng đắng là hai dược liệu có tác dụng trung bình
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Phòng và trị bệnh đường tiêu hóa ở lợn con nói chung và bệnh phân trắng lợn con nói riêng đã có rất nhiều tác giả ở nhiều nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu Theo nhiều tác giả thì nhóm kháng sinh Neomycin có tác dụng điều trị tốt, cho uống với liều từ 10 – 20 UI/kgTT, cho uống trong vòng 3
Trang 28ngày, các kháng sinh khác nên dùng: Oxytetracyclin, Dibiomycinliều 5000 – 10.000 UI/kgTT liệu trình phối hợp với Sulfamid cũng cho hiệu quả điều trị tốt
Theo tác giả Lutter, (1993) [22] thông báo: Ogramin liều 15gam/con
cho uống có tác dụng tốt 95,61% trong hiệu quả điều trị E.coli Tác giả lưu ý
rằng khi sử dụng kháng sinh cho lợn con phân trắng phải thường xuyên, có kế hoạch chặt chẽ, có kháng sinh dự trữ liên tục
Theo tác giả Matsier, (1976) [23]: dùng colibactecin tức E.coli sống
chủng M17 có tính đối kháng với nhiều loại vi khuẩn, cho lợn ăn 2 lần/ngày với liều 250 ml, sau 14 ngày có hiệu quả đặc biệt đối với lợn con trong thời
kỳ cai sữa
Theo Axovach và Libiro, (1984) [24]: đã chữa bệnh colibacteria ở lợn
con có hiệu quả bằng cách cho uống Histamin 3 lần trong 3 ngày liên tục, liều
5 mg/con
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ nguyên nhân mất cân đối chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn, thức ăn kém phẩm chất, thức ăn có lẫn độc tố nấm mốc, không đủ thành phần dinh dưỡng hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn,
ôi thiu… thường dẫn đến viêm ruột, ỉa chảy Wierrer, (1993) [30] Purvic.G, (1985) [28]
Jerome, (1972) [27] cho biết: các loại thuốc kháng vi khuẩn toàn thân
điều trị hiệu quả nhất trong một ổ dịch cấp tính, nhiễm trùng mãn Salmonella choleraesuis Có thể sử dụng kháng sinh qua đường thức ăn, nước uống để
làm giảm số lượng lợn bị nhiễm bệnh và lợn chết Việc chọn lựa ban đầu các loại thuốc kháng vi khuẩn dựa vào sự hiểu biết trước đó về tính nhạy cảm của
các typ Salmonella ở một số vùng nhất định
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
- Lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
- Thuốc kháng sinh làNorfacolivà Hanoxylin LA
Thành phần của mỗi loại thuốc bao gồm:
+ Norfacoli : Norfloxaccin: … 100 mg
Tá dược vđ: ….… 1 ml + Hanoxylin LA: Oxytetracyclin……… 200 mg
Dung môi vđ……….1 ml
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Lợn con theo mẹ từ SS đến 21 ngày tuổi mắc bệnh phân trắng nuôi trong nông hộ tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian: Từ ngày 25/05/2015 đến ngày18/11/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh
- Hiệu quả và tác dụng điều trị của thuốc trong điều trị bệnh phân trắng lợn con
3.3.2 Chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng
Trang 30- Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi
- Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng
- Tỷ lệ lợn con chết do mắc bệnh phân trắng
- Triệu chứng lâm sàng của lợn con mắc bệnh phân trắng
- Bệnh tích mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng
- Hiệu lực điều trị của 2 loại thuốc
- Chi phí thuốc thú y dùng trong điều trị bệnh phân trắng lợn con
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành theo nguyên tắc các đàn lợn con đồng đều về tuổi và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Lợn con bị tiêu chảy được đánh dấu từng con để theo dõi và điều trị Hàng ngày theo dõi lợn vào buổi sáng sớm và buổi chiều trước và sau khi dùng thuốc điều trị Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm nhiệt độ, ăn uống, thể trạng con vật, tình trạng phân, thời gian khỏi bệnh của từng con và các bệnh khác
Nguyên tắc điều trị: dùng thuốc đúng liều, đúng liệu trình, dùng liên tục trong 3 – 5 ngày Thường xuyên theo dõi diễn biến của bệnh và đồng thời ghi chép kết quả điều trị trên các lô lợn, các chỉ tiêu theo dõi là:
- Số con mắc bệnh và tỷ lệ mắc bệnh
- Số con khỏi bệnh trong ngày, số ngày điều trị, số con chết, số con mắc lại sau một đợt điều trị
- Số con tái phát và số lần tái phát
Đánh giá kết quả: sau thời gian điều trị nếu lợn hết tiêu chảy, phân thành khuôn, ăn uống trở lại bình thường, các dấu hiệu mất nước không còn, thân nhiệt ổn định được coi là khỏi bệnh
Tuân thủ nguyên tắc sử dụng kháng sinh kết hợp các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt