1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh Mỹ Đức Hà Nội và biện pháp phòng trị.

77 505 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy là một trong những bệnh có nhiều nguyên nhân gây ra như: Vi khuẩn, virut, ký sinh trùng,… gây ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của lợn.. Xuất phát t

Trang 1

DƯƠNG VIẾT YÊN

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH BỆNH ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 - 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: CHÍNH QUY

Trang 2

DƯƠNG VIẾT YÊN

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH BỆNH CẦU TRÙNG VÀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN

CON DƯỚI 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI LỢN

BÌNH MINH - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: CHÍNH QUY

Chuyên ngành: THÚ Y

Khoa: CHĂN NUÔI THÚ Y

Khóa học: 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS ĐẶNG XUÂN BÌNH

THÁI NGUYÊN, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo Nhờ vậy, tôi đã được các thầy cô giáo trang bị những kiến thức khoa học

kỹ thuật cũng như đạo đức tư cách người cán bộ tương lai Thầy cô đã trang bị cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống và sự nghiệp sau này

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đặng Xuân Bình, cùng với sự giúp đỡ của các cán bộ xã Phù Lưu Tế, và gia đình bác Nguyễn Sĩ Bình đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, các thầy cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự quan tâm giúp đỡ của

thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đặng Xuân Bình đã trực tiếp hướng dẫn để tôi

hoàn thành khóa luận này

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ xã Phù Lưu Tế, gia đình bác Bình và bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2015

Sinh viên

Dương Viết Yên

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 33Bảng 4.2: Lịch sát trùng trại lợn nái 41Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 42Bảng 4.4 Tình hình bệnh tiêu hóa ở lơn con tại Trại từ tháng 6 đến tháng 9

năm 2015 43Bảng 4.5: Tình hình mắc bệnh đường tiêu hóa ở lợn theo lứa tuổi 44Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh đường tiêu hóa theo tháng 47Bảng 4.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh tiêu hóa theo tình trạng vệ sinh 50Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra một số triệu chứng lâm sàn và bệnh tích ở lơn con

mắc bệnh tiêu hóa 51Bảng 4.9 Tỉ lệ lợn con chết do mắc bệnh đường tiêu hóa 53Bảng 4.10 Phác đồ điều trị hai lô thí nghiệm 56Bảng 4.11 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn bằng hai loại thuốc CP

Nor 100 và Nova Amcoli 56Bảng 4.12 Phác đồ điều trị cầu trùng bằng 3 loại thuốc 57Bảng 4.13 Kết quả điều trị khi sử dụng 3 phác đồ 57

Trang 5

UBND : Uỷ ban nhân dân

RLSS : Rối loạn sinh sản

LMLM : Lở mồm long móng STT : Số thứ tự

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Đặc điểm sinh lý lợn con 3

2.1.2 Hội chứng tiểu chảy ở lợn sau khi sinh đến 21 ngày tuổi 6

2.1.2.1 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy từ 1 - 21 ngày tuổi 6

2.1.2.2 Cơ chế và hậu quả của HCTC 8

2.1.2.3 Các biện pháp phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy 12

2.1.3 Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi tới 21 ngày tuổi 15

2.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh cầu trùng 15

2.1.3.2 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng lợn 17

2.1.3.3 Phòng bệnh cầu trùng 18

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19

2.2.1.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi 19

2.2.1.2 Bệnh cầu trùng lơn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi 21

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25

2.2.2.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi 25

Trang 7

2.2.2.2 Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1 Phương pháp xác định tình hình mắc bệnh đường tiêu hóa 31

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu biểu hiện lâm sàng của bệnh đường

tiêu hóa 32

3.4.3 Tỷ lệ mắc bệnh 32

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 33

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 33

4.1.1 Công tác và phòng trị 33

4.1.2 Công tác chăn nuôi tại cơ sở 37

4.1.3 Công tác thú y 41

4.1.4 Công tác khác 42

4.2 Kết quả nghiên cứu 43

4.2.1 Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh đường tiêu hóa tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội 43

4.2.2 Tình hình bệnh đường tiêu hóa ở lợn con theo ngày tuổi 43

4.2.3 Kết quả điều tra tình hình nhiễm bệnh tiêu hóa của lơn con

theo tháng 47

4.2.4 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh đường tiêu hóa theo tình trạng vệ sinh thú y 49

4.2.5 Biểu hiện lâm sàng của lơn con nhiễm bệnh tiêu hóa 51

4.2.6 Điều tra tỉ lệ lơn con chết do mắc bệnh đường tiêu hóa 53

Trang 8

4.2.7 Đánh giá khả năng điều trị bệnh đường tiêu hóa ở lơn con theo một số

phác đồ kháng sinh tại cơ sở 55

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng việt

II Tài liệu nước ngoài

PHỤ LỤC

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nhiều ngành kinh tế,

ngành chăn nuôi thú y cũng đã và đang phát triển khá mạnh mẽ đem lại sự thay đổi tích cực cả về số lượng lẫn chất lượng thực phẩm cho nhu cầu trong nước, mà còn góp phần thu ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, góp phần đưa nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển

Ngành chăn nuôi thú y nói chung, ngành chăn nuôi lợn nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và phổ biến của nhân dân ta Ngành chăn nuôi lợn đã và đang phát triển cả về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng như cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi, tất cả vì mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước cũng như trong xuất khẩu Tuy nhiên, với số lượng các đàn nuôi ngày càng lớn, mật độ lợn trong chuồng nuôi ngày càng đông cộng với ảnh hưởng liên tục của các yếu tố khác như: thời tiết, khí hậu, đất đai, không khí, nguồn nước,… nên vấn đề dịch bệnh có những biến đổi khó lường đặc biệt là bệnh ở đường tiêu hóa lợn sẽ ngày càng tăng lên Biện pháp hiệu quả nhất chính là thực hiện vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, cùng với việc sử dụng vaccine phòng bệnh và sử dụng các loại kháng sinh để điều trị bệnh một cách kịp thời và hợp lý

Bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy là một trong những bệnh có nhiều nguyên nhân gây ra như: Vi khuẩn, virut, ký sinh trùng,… gây ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của lợn Mặc dù, tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh này lại làm suy giảm năng suất chăn nuôi do lợn nhiễm bệnh sinh trưởng chậm, làm tiêu tốn thức ăn

Trang 10

Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội và biện pháp phòng trị

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh đường tiêu hóa tại doanh nghiệp chăn nuôi lợn Bình Minh - Mỹ Đức - Hà Nội

- So sánh hiệu quả của một số phác đồ điều trị thực tế tại cơ sở

1.3 Ý nghĩa khoa học và cơ sở thực tiễn

- Các kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về hội chứng tiêu chảy ở lợn

- Các kết quả nghiên cứu về phòng trị bệnh góp phần phục vụ trực tiếp vào công tác sản xuất ở doanh nghiệp chăn nuôi lợn chăn nuôi lợn Bình Minh

- Mỹ Đức - Hà Nội để kiểm soát và khống chế bệnh đường tiêu hóa ở lợn

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Đặc điểm sinh lý lợn con

Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và miễn dịch Lợn con trước một tháng tuổi không có HCL tự do trong dịch vị vì lúc này lượng acid tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con Hơn nữa vì thiếu acid HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa)

Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường

Theo Cù Xuân Dần và cs (1996) [8], lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ 15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 là đột ngột giảm thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress

Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là

do thiếu sắt Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn

Trang 12

con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200 - 250mg/con để lợn tránh thiếu máu Trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh phân trắng

* Đặc điểm sinh trưởng phát dục của lợn con

Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Acid amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày, thể trọng tăng gấp 1,3 lần, sau

2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh Nếu sữa mẹ không bảo đảm đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể sẽ bị chậm hoặc ngừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên cơ thể dễ bị nhiễm bệnh

* Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa

Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới

Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hóa của dạ dày còn hạn chế,

dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn

Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị không

có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin

và globulin được chuyển xuống ruột và vào máu

Tuy nhiên, lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cs,

Trang 13

1986) [10] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hóa hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa: Sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa

* Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt

Lợn con sơ sinh cơ năng điều tiết chưa ổn định do:

+ Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ thấp nên không có

khả năng chống rét

+ Hệ thần kinh điều tiết chưa hoàn chỉnh do não chưa phát triển

+ Diện tích bề mặt cơ thể chênh lệch cao so với khối lượng nên lợn con

Sau 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con tương đối hoàn chỉnh

* Đặc điểm về khả năng miễn dịch

Khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng

Trang 14

kém Do vậy, các mầm bệnh như E coli, salmonella… dễ dàng xâm nhập vào

cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh

Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, Profecdin và Lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều Globulin miễn dịch, bảo vệ

cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều Globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian

24 - 36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên

Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu

hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng

Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và điều trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết

2.1.2 Hội chứng tiểu chảy ở lợn sau khi sinh đến 21 ngày tuổi

2.1.2.1 Nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy từ 1 - 21 ngày tuổi

Hội chứng tiêu chảy ở lợn rất phổ biến, xảy ra ở mọi lứa tuổi Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như: Virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, độc tố thức ăn, kim loại nặng, thuốc trừ sâu, cơ học, hóa học…

- Tiêu chảy do virus

Virus gây chứng tiêu chảy có thể trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe, hoặc truyền gián tiếp qua phân, nước tiểu, nước mũi hay dụng cụ chăn nuôi

như Adenovirus (gây viêm ruột ỉa cháy), Coronavirus (gây viêm dạ dày tiêu chảy truyền nhiễm - T.G.E), Calicivirus, Rotavirus (bệnh viêm ruột),

Herpesvirus (bệnh giả dại - Ạueszky), Pestisvirus (bệnh dịch tả lợn)…

- Tiêu chảy do vi khuẩn

Vi khuẩn gây tiêu chảy xâm nhập vào cơ thể lợn qua niêm mạc mũi, miệng, đường tiêu hóa

Trang 15

+ Vi khuẩn E coli gây lên thường gặp nhất là bệnh phân trắng ở lợn

con Ngoài ra còn gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và các loài vật nuôi khác

+ Clostridium perfringens type C gây viêm ruột hoại tử và xuất huyết ở

lợn

+ Cầu trực khuẩn Amip gây bệnh kiết lỵ ở lợn, bê nghé…

+ Do vi khuẩn Salmonella gây ra: Salmonella cholesrasuis và

Samonella typhumuriumlaf hai tác nhân gây tiêu chảy cho lợn con sau cai sữa

và vỗ béo (Lava.A, 1997) [33]

Ngoài ra còn rất nhiều vi khuẩn gây nên tiêu chảy ở lợn

- Nguyên nhân do ký sinh trùng gây ra như: Cầu trùng, sán lá ruột lợn,

giun đũa, giun lươn, giun kết hạt… Trứng của chúng tồn tại trong phân, nước tiểu và lây nhiễm vào nguồn thức ăn, nước uống, đặc biệt là các loại rau trồng dưới nước Khi vào trong cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng biến thái, phát triển thành ký sinh trùng gây bệnh

- Do thức ăn, nước uống: Thức ăn bị ôi, mốc, thiếu dinh dưỡng, khẩu

phần ăn không cân đối Thức ăn dể lâu ngày, bảo quản không tốt, nhất là nhiễm các loại vi sinh vật gây tiêu chảy như E coli, Salmonella spp, nấm mốc Thức ăn giàu đạm, chất béo hoặc ăn quá nhiều dễ gây tiêu chảy

Nước uống thiếu, không sạch, nhiễm bẩn, nhiễm hóa chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng…

- Do độc tố: Aflattoxin, nhiễm hóa chất, thuốc trừ sâu…

- Do dinh dưỡng: Thiếu vitamin B1, B2, B12 Thiếu khoáng như thiếu

Fe, Cu cũng là nguyên nhân dẫn đến vật nuôi bị tiêu chảy, bị rối loạn trao đổi chất

Như vậy chúng ta có thể thấy được có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy cho vật nuôi Điều này là đòi hỏi các nhà chăn nuôi cần nắm được để có biện pháp phòng trị và chăm sóc tốt mới đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Trang 16

2.1.2.2 Cơ chế và hậu quả của HCTC

* Cơ chế phát sinh tiêu chảy

Dưới sự tác động cưa các tác nhân gây bệnh đã gây ra hội chứng tiêu chảy được giải thích theo cơ chế sau:

Thức ăn không tiêu ở ống tiêu hóa đã kích thích làm tăng áp lực thẩm thấu (cao hơn áp lực thẩm thấu trong máu và tổ chức) sẽ kéo nước vào trong lòng ruột Hoặc khi viêm ruột hay ngộ độc thức ăn, dịch nhầy và nước tăng lên gấp 80 lần so với bình thường (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008) [22] Lượng dịch của ruột tăng lên sẽ kích thích ruột tăng co bóp sẽ sinh tiêu chảy

Giảm hấp thu nước cũng dẫn đến tiêu chảy, bởi vì lượng nước do ăn uống vào hằng ngày cùng với dịch tiết của ruột trong một ngày có thể lên đến

10 lít (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008) [22] Bình thường thì nước được tái hấp thu ở thành ruột, do đó chỉ cần giảm hấp thu ruột một chút là lượng nước trong ruột rất lớn

Tăng co bóp thành ruột: Dịch nhày và nước trong lòng ruột quá nhiều sẽ kích thích thành ruột tăng co bóp, nhanh chóng đẩy các chất ra ngoài gây ỉa chảy

tả, phó thương hàn), có thể sền sệt (ở các bệnh do giun sán), phân lỏng hoặc vọt cần câu ở các giai đoạn cuối của bệnh phó thương hàn hoặc dịch tả

Phân có màu trắng hoặc vàng nhạt, chân đi lảo đảo, không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân ở lợn con ỉa phân trắng Ngoài những triệu trứng trên thì tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có các biểu hiện khác nhau

Trang 17

Gan, lách, thận đều sưng và xung huyết

Bên cạnh những triệu chứng, bệnh tích chung thì tùy theo nguyên nhân khác nhau lại có những biểu hiên bệnh tích khác nhau

* Hậu quả của hội chứng tiêu chảy

Khi tác động vào cơ thể tùy từng nguyên nhân gây bệnh có quá trình bệnh

lý sinh bệnh và gây hậu quả cụ thể Tuy nhiên khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra,

cơ thể chịu một quá trình sinh bệnh và hậu quả có những nét đặc trưng chung đó

là sự mất nước, rối loạn cân bằng acid - bazơ (Lê Minh Chí, 1995) [4]

Theo Vũ Triệu An (1978) [1], tùy theo viêm ruột cấp hay mãn tính mà hậu quả có khác nhau

- Mất nước do tiêu chảy

+ Trong cơ thể nước chiếm khoảng 50% - 70% trọng lượng cơ thể,

được phân bố ở hai khu vực chính là trong tế bào và ngoại tế bào

+ Nhu cầu nước của cơ thể rất lớn, nếu cơ thể hết mỡ, đường và một

nửa protit trong mô bào, thể trọng giảm 40% thì con vật vẫn còn sống, nhưng nếu con vật mất 10% nước trong cơ thể thì con vật sẽ chết (Trần Cừ,1975) [3] Nước cung cấp cho cơ thể qua thức ăn nước uống và được thải ra ngoài theo nước tiểu, theo phân, mồ hôi, hơi thở Quá trình hấp thu và cân bằng nước trong cơ thể khỏe mạnh thường ổn định (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [31]

Trang 18

+ Khi bị viêm ruột cơ thể không những không hấp thu được nước do

thức ăn nước uống đưa vào mà còn mất nước do tiết dịch Mặt khác khi bị viêm, tính mẫn cảm tăng, nhu động ruột tăng lên nhiều lần Hơn nữa do tổ chức ruột bị tổn thương, niêm mạc ruột tăng tiết và kéo theo một lượng chất điện giải với hàng loạt các biến đổi bệnh lý khác (Vũ Triệu An, 1978) [1]

+ Chính vì vậy trong điều trị bệnh viêm ruột, ỉa chảy việc xác định mức

độ mất nước và các biện pháp phòng chống mất nước luôn được chú ý hàng đầu

- Tình trạng mất nước và chất điện giải

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [31], tùy theo trường hợp ỉa chảy gây nên những thể mất nước khác nhau

Có thể phân loại mất nước thành 3 thể sau:

Mất nước đẳng trương Mất nước ưu trương Mất nước nhược trương + Mất nước đẳng trương: Nước và chất điện giải mất một lượng tương đương Trong trường hợp này, thể tích nước ở khu ngoại bào bị giảm nhưng đậm độ điện giải không thay đổi Khu vực nội bào và thăng bằng điện giải về

H+ không bị ảnh hưởng

+ Mất nước ưu trương: Nước mất nhiều hơn chất điện giải, ở khu vực ngoại bào thể tích nước bị giảm, đậm độ muối tăng (tức hằng số điện giải tăng) nên áp lực thẩm thấu tăng Để lập lại thế thăng bằng áp lực thẩm thấu giữa hai khu vực thì nước từ nội bào ra ngoại bào, kết quả cả hai khu vực nội bào và ngoại bào đều mất nước, đó là mất nước toàn bộ Đi theo với nước người ta còn thấy sự di chuyển của các chất điện giải như:

+ K+ từ khu vực nội bào ra khu vực ngoại bào

+ Na+ và H+ từ khu vực ngoại bào vào trong khu vực nội bào + Mất nước nhược trương: Nước mất ít hơn muối Trong trường hợp này thể tích khu vực ngoại bào bị, nhưng vì mất nhiều muối nên đậm độ cũng

Trang 19

giảm, nước đi từ khu vực ngoại bào (chỗ mà áp lực thẩm thấu hạ) vào khu

vực nội bào Cả 3 loại mất nước này đều gây nên những hậu quả bệnh lý

- Rối loạn cân bằng acid - base

Các phản ứng sinh hóa trong cơ thể đòi hỏi pH hằng định của môi trường, trong khi đó quá trình chuyển hóa luôn luôn sản xuất ra các acid Để duy trì pH trong phạm vi 7,35 - 7,85 một quá trình kiềm hóa nhằm trung hòa

độ acid được tiến hành, pH máu thay đổi rất ít (trong khoảng 0,1 - 0,2), nếu vượt quá 0,3 trong thời gian dài cơ thể bị trúng độc toan hoặc kiềm (Vũ Triệu

Trong thực tế, việc đánh giá các rối loạn toan - kiềm dựa vào đánh giá

sự thay đổi trong hệ thống bicacbonat - acid cacbonic là hệ đệm chủ yếu của dịch ngoại bào Vì các hệ đệm nội bào và ngoại bào có liên quan đến nhau về chức năng nên việc đo hệ bicacbonat huyết tương sẽ cung cấp thông tin hữu ích về các hệ đệm cacbonat thường được mô tả dưới dạng phương trình Henderson - Hasselbatch:

pH = pK + log

+ pH của acid cacbonic là 0,1

+ H2CO3 được tính bằng α.pCO2 trong đó α là khả năng hòa tan của cacbodioxit (CO2) trong các dịch thể

Trang 20

Như đã thấy thông qua phương trình Henderson - Hasselbatch, nếu lượng acid vào máu nhiều, các đôi đệm trung hòa không hết, lượng dự trữ kiềm trong máu giảm xuống khác thường thậm chí phản ứng máu giảm, trường hợp này gọi là trúng độc toan Nhưng khi lượng kiềm vào máu nhiều,

hệ đệm không đủ khả năng phản ứng hết OH-; lúc này cơ thể nhiễm độc kiềm

2.1.2.3 Các biện pháp phòng và điều trị hội chứng tiêu chảy

* Các biện pháp phòng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và lợn nói riêng do rất nhiều nguyên nhân, để phòng chống tiêu chảy phải thực hiện đồng bộ các biện pháp, tác động đến nhiều khâu, nhiều yếu tố như: tác động vào môi trường, đối tượng lợn con và lợn mẹ dựa trên nguyên tắc 3 nên, 3 chống: Nên cho lợn bú sữa đầu, nên chăm sóc lợn mẹ trước khi sinh, nên tập ăn sớm cho lợn con; chống

ẩm, chống bẩn, chống lạnh

+ Vệ sinh phòng bệnh

Trong chăn nuôi khâu vệ sinh phòng bệnh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh phòng bệnh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng không đặc hiệu nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh

Nhiều tác giả nhấn mạnh về chế độ đảm bảo ăn uống tốt cho lợn con, tập cho lợn con vận động, chống nóng, chống ẩm và chống lạnh cho lợn con (Đào Trọng Đạt, 1966) [8], dùng lò sưởi để chống lạnh cho lợn con giai đoạn

bú sữa, kết quả đã làm giảm tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy

Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, việc đảm bảo tốt vệ sinh chuồng

Trang 21

nuôi, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy

Trang 22

Nguyễn Thị Nội và cs (1989) [18], đã tiến hành nghiên cứu vaccine hỗn

hợp Salco, được chế tạo từ các chủng vi khuẩn Salmonella, E coli và

Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn

+ Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học

Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một vi sinh vật có lợi nào đó khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa…

Sử dụng chế phẩm sinh học Subcolac để phòng hội chứng tiêu chảy,

Subcolac là một hỗn hợp gồm 3 loại vi khuẩn sống: Bacilus subtilis,

Colibacterium và Lactobacilus Chế phẩm subcolac được đưa vào đường tiêu

hóa để cung cấp một số men cần thiết, một số vi khuẩn có ích để lặp lại sự cân bằng hệ vi sinh vật trong đường ruột

Dùng men vi sinh vật cho lợn uống hoặc ăn có tác dụng giảm tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy, lợn tiêu hóa thức ăn tốt, giảm mùi hôi chuồng

* Điều trị hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra Muốn điều trị có kết quả tốt, trong từng trường hợp cụ thể, phải tìm được nguyên nhân chính và mỗi nguyên nhân gây bệnh có một cách điều trị khác nhau

Sau khi loại bỏ căn nguyên chính Điều trị theo nguyên tắc chung: Thải trừ chất chứa trong dạ dày và ruột, bảo vệ niêm mạc đường tiêu hoá, ức chế

sự lên men, đề phòng sự trúng độc và tăng cường thể lực cho con vật, lập lại

sự cân bằng nước và điện giải, lập sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột (Nguyễn Bá Hiên, 2001) [15]

Trang 23

Do hội chứng tiêu chảy thường sẽ dẫn đến loạn khuẩn đường ruột, bội

nhiễm E coli và Salmonella nên việc sử dụng các loại kháng sinh trong điều

trị là không thể thiếu được Nhưng ở những chủng vi khuẩn có khả năng gây

bệnh như E coli, Salmonella có thể hình thành tính kháng thuốc, do đó nên

làm kháng sinh đồ cho những giống gốc đã phân lập được từ gia súc bệnh

Cho tới nay việc thanh toán hoàn toàn hội chứng tiêu chảy ở một cơ sở chăn nuôi là một việc khó, cần kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp Ngoài việc đảm bảo chăm sóc nuôi dưỡng, cần chú ý gia súc ở giai đoạn non vì chúng dễ mẫn cảm với mầm bệnh Đối với gia súc lớn, đặc biệt là gia súc sinh sản cần theo dõi thường xuyên phát hiện những con bị bệnh, điều trị kịp thời vì chính con mẹ mang bệnh sẽ là nguồn lây bệnh cho lợn con

Cuối cùng, cần phải kết hợp điều trị với các khâu chăm sóc, nuôi dưỡng

và vệ sinh thú y thật tốt mới có thể ngăn chặn và khống chế được bệnh

2.1.3 Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi tới 21 ngày tuổi

2.1.3.1 Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của lợn bị bệnh cầu trùng

ỉa chảy mạnh, phân loãng hoặc nhầy, màu từ vàng đến trắng, mùi khắm và có lẫn máu, trong trường hợp nặng máu chiếm phần lớn trong phân (Trương Văn Dung và cs., 2002)[6]

Trang 24

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[22] Quan sát kỹ lợn bệnh thấy lợn

bị chướng hơi đầy bụng, khó chịu, nôn, mất nước và có hiện tượng đau bụng, nằm cong lưng, khó chịu khi ta gõ nhẹ hoặc sờ nắn vào bụng Ngoài ra có con còn có biểu hiện thần kinh như đi không vững, đi vô hướng hoặc nằm co giật Khi lợn con nhiễm cầu trùng có thể bị nhiễm Rotavirus, gây bệnh lợn con phân trắng, lợn gầy sút nhanh, da khô, lông xù

- Thể mãn tính:

Ở lợn choai và lợn trưởng thành, bệnh thường thể hiện mãn tính Lợn gầy rộc không tăng trọng, khi nuôi dưỡng kém có thể ỉa chảy (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008)[22]

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009)[24], lợn mắc bệnh ở thể mãn tính, tính thèm ăn thay đổi không lớn, tốc độ suy yếu cơ thể chậm Lợn nái và lợn trưởng thành tuy bị nhiễm cầu trùng nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, do đó là nguồn tàng trữ và lây truyền mầm bệnh trong tự nhiên Lợn có

khối lượng 40 kg khi nhiễm E.scabra sẽ gây cho lợn bị tiêu chảy nặng, lợn

giảm trọng lượng và có thể gây chết nếu nhiễm Oocyst với một số lượng lớn

Trang 25

2.1.3.2 Các phương pháp chẩn đoán bệnh cầu trùng lợn

Bệnh ký sinh trùng nói chung, bệnh cầu trùng lợn nói riêng muốn chẩn đoán chính xác được bệnh chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp chẩn đoán bao gồm điều tra dịch tễ, chẩn đoán lâm sàng, mổ khám kiểm tra bệnh tích và xét nghiệm phân từ đó cho phép chúng ta kết luận bệnh đó là bệnh gì

+ Với lợn còn sống:

Căn cứ vào dịch tễ học: lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ, tình trạng vệ sinh thú y Triệu chứng của con vật cũng là dấu hiệu hết sức quan trọng trong chẩn đoán bệnh Những biểu hiện lâm sàng có thể thấy là: lợn ỉa chảy mạnh, bỏ ăn, còi cọc, lông xù, các triệu chứng thần kinh

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh thì khó chẩn đoán chính xác đó là bệnh gì Vì vậy, việc xét nghiệm phân để chẩn đoán bệnh là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán đối với lợn bị bệnh cầu trùng

Kiểm tra phân: xét nghiệm phân để tìm Oocyst cầu trùng, thông thường

có 3 phương pháp: phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp, phương pháp Fulleborn, phương pháp Darling (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Để đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng có thể sử dụng phương pháp định tính, hoặc phương pháp định lượng sử dụng buồng đếm Mc.Master

+ Với lợn đã chết:

Việc chẩn đoán được tiến hành thông qua công tác mổ khám kiểm tra bệnh tích kết hợp với soi trực tiếp: dùng phiến kính nạo niêm mạc ruột non vùng bị hoại tử nghi là do cầu trùng rồi soi kính để tìm Oocyst cầu trùng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [22]: để chẩn đoán bệnh cầu trùng nhất thiết phải tiến hành xét nghiệm phân để tìm Oocyst cầu trùng

Trang 26

2.1.3.3 Phòng bệnh cầu trùng

Các nghiên cứu về khả năng đáp ứng miễn dịch cầu trùng cho đến nay vẫn còn ít và chưa đầy đủ Một số nghiên cứu đã cho thấy khả năng sinh miễn dịch cầu trùng của cơ thể gia súc, gia cầm rất kém và miễn dịch chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn Vì vậy, vấn đề phòng bệnh cầu trùng cho lợn chủ yếu dựa vào chăm sóc nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

*Vệ sinh phòng bệnh

Cầu trùng lợn có chu trình phát triển rất nhanh (5 - 13 ngày), Oocyst gây bệnh tồn tại được lâu trong đất (70 - 75 ngày), Oocyst ngâm trong hố nước thải chuồng lợn vẫn tồn tại trong khoảng 60 - 90 ngày Đó là những điều kiện thuận lợi cho cầu trùng và bệnh cầu trùng lợn phát triển Đồng thời, Oocyst bị tiêu diệt trong phân ủ nhiệt sinh học Vì vậy, để phòng bệnh cầu trùng đòi hỏi các cán bộ kỹ thuật và công nhân chăn nuôi lợn phải nghiêm túc thực hiện tốt các giải pháp phòng bệnh sau:

- Vệ sinh chuồng trại, dụng cụ thiết bị sạch sẽ Chuồng trại chăn nuôi phải xây nơi cao ráo có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Thức ăn phải đảm bảo, nước uống phải sạch sẽ

- Không nuôi chung lợn nhiều lứa tuổi khác nhau trong một khu vực

- Phân và chất độn chuồng của đàn lợn phải được thu gom hàng ngày

và ủ kỹ đúng nơi qui định, thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã ở khu vực chuồng nuôi lợn

- Mỗi hộ gia đình nên có hố chứa nước thải chuồng lợn đảm bảo vệ sinh thú y (hố nước thải chuồng lợn phải đặt cách xa khu vực chuồng nuôi, có ống dẫn nước thải đặt ngầm trong đất, miệng hố phải được đậy kín) Nước thải phải được xử lý trước khi sử dụng tưới cho cây trồng (có thể xử lý bằng chế phẩm sinh học để diệt Oocyst cầu trùng)

Trang 27

- Chuồng trại vào các tháng mưa phùn, lạnh phải khô ráo, thoáng và ấm cho lợn con (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

*Phòng bệnh bằng hoá dược

Đây là phương pháp kinh điển nhưng có hiệu quả Trong khoảng 10 năm trở lại đây ngành hoá dược thú y đã có những tiến bộ, có rất nhiều loại thuốc chống cầu trùng mới được ra đời, một số thuốc sử dụng đã khá lâu (23 -

30 năm) như Rigecocin, Amprolium Tuỳ theo khả năng và thói quen mà mỗi

cơ sở chăn nuôi dùng một số loại thuốc khác nhau, thậm chí liều lượng và Liệu trình cũng khác nhau

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.1.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng trong chăn nuôi tiêu chảy là hội chứng nan giải gây thiệt hại kinh tế nhiều nhất

Phạm Hùng và cs (2002) [13], khi nghiên cứu về ''sự biến động hàm lượng kháng thể thụ động chống virus dịch tả ở lợn con" cho biết: Khi lợn mẹ được miễn dịch thì chúng sẽ truyền kháng thể cho lợn con qua sữa đầu Trong

7 ngày đầu tiên, hầm lượng kháng thể ở lợn con và lợn mẹ là tương đương nhau Lượng kháng thể thụ động giảm dần theo thời gian nhưng với tốc độ khác nhau giữa các đàn và cá thể trong cùng một đàn Có những lợn lượng kháng thể thụ động còn khả năng bảo hộ sau 7 tuần tuổi

Tác giả Nguyễn Quế Côi và cs (2006) [2], cho biết: Hội chứng ỉa chảy trong chăn nuôi địa phương chiếm 36,25% trong các bệnh gia súc mắc phải vào các tháng 9, 10, 11 dương lịch

Theo Đỗ Ngọc Thúy và cs (2002-2003) [28], cho biết các chủng E Coli

gây bệnh tiêu chảy cho lợn con ở các tỉnh miền bắc Việt Nam thuộc về 5 tổ

Trang 28

hợp các yếu tố gây bệnh và 5 nhóm serotype kháng nguyên O (O 149; K91; O8; G7; O8; O101; O64)

Theo Hoàng Văn Hoan và cs (2002-2003) [14], với 15 mẫu bệnh phẩm

phân lập ở lợn có 13 chủng E Coli chiếm 86,6 % và 6 chủng salmonella chiếm 40% Trong khi ở gà nuôi công nghiệp tỷ lệ nhiễm E Coli trong phân lập là rất cao 100% và Salmmonella 62,5%

Theo tác giả Lê Hữu Phước (1997) [27], cho biết tỷ lệ nhiễm phân trắng lợn con thay đổi theo sự biến đổi của nhiệt độ, ẩm độ, và tương quan nghịch với nhiệt độ không khí, do đó để hạn chế lợn con mắc phân trắng thì ngoài biện pháp về dinh dưỡng, cần đảm bảo chế độ tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp

Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) [23], bệnh phân trắng được theo dõi từ những năm 1959 tại cơ sở chăn nuôi tập trung Điều tra tại nông trường Thanh Hóa cho thấy tỷ lệ lợn con sơ sinh mắc bệnh và chết trong khoảng đầu năm 1961 là 74% Tại nông trường Xuân Mai - Hà Tây (1982) có 16 đàn lợn đang bú mắc bệnh, tỷ lệ chết 50% Lợn con thường bị bệnh phân trắng vào giai đoạn 8 - 10 ngày tuổi, cá biệt những con trên 1 tháng tuổi mới mắc bệnh

Theo Nguyễn Thiên Thu và cs (2002-2003) [30], trong "Nghiên cứu về sản xuất kháng thể khác loài từ lòng đỏ trứng gà và phòng trị bệnh ỉa chảy do

E Coli và Salmonella ở lợn con", đã đưa ra kết luận; Gà có khả năng đáp ứng

miễn dịch với E Coli và Salmonella gây bệnh ở lợn Đạt đỉnh cao hiệu giá

kháng thể trong máu gà ở tuần thứ 5 sau tiêm lần đầu và kéo dài tới 12 tuần Chế phẩm kháng thể từ lòng đỏ trứng gà có độ an toàn và hiệu quả điều trị cao đối với vật thí nghiệm và lợn

Theo Phan Đình Thắm (1995) [29], nhất thiết lợn con sơ sinh phải được

bú sữa đầu để cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Vì trong sữa đầu có nhiều albumin và globulin cao hơn sữa thường Đây là chất chủ yếu giúp cho

Trang 29

lợn con có sức đề kháng Vì vậy, cần phải chú ý cho lợn con được bú sữa đầu

để đảm bảo cho sự phát triển của lợn con

Theo Cù Hữu Phú và cs (2002-2003) [26] "Kết quả điều tra tình hình tiêu chảy của lợn con theo mẹ tại một số trại lợn miền Bắc Việt Nam, xác

định tỷ lệ kháng sinh và các yếu tố gây bệnh của các chủng E Coli phân lập

được" cho thấy: Lợn con theo mẹ bị mắc bệnh tiêu chảy với tỷ lệ trung bình là 28,36% và tỷ lệ chết trung bình là 4,45% so với tổng số lợn mắc bệnh Các

mẫu phân lợn bị tiêu chảy nhiễm E Coli với tỷ lệ trung bình là 79,75% và C Pefringens với tỷ lệ trung bình là 21,23% Vi khuẩn E Coli phân lập được

mang đầy đủ các đặc tính sinh vật hóa học điển hình và là tác nhân quan trọng

gây bệnh tiêu chảy ở lợn con Các chủng E Coli phân lập được hầu hết đều

kháng với các loại kháng sinh thông thường

Theo Lê Văn Nam và cs (1998) [17], cho biết bệnh lợn con chủ yếu do

E Coli gây ra Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như: Chuồng trại bẩn,

ẩm ướt, sữa đầu ít, chăm sóc nái chửa không đúng kỹ thuật và do bất lợi về thời tiết

2.2.1.2 Bệnh cầu trùng lơn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi

Do tính chất nguy hiểm của cầu trùng gây ra đối với gia súc, gia cầm nên ngày càng có nhiều tác giả trong nước chú ý nghiên cứu về cầu trùng và bệnh cầu trùng Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn ít và chưa đầy đủ, trong

đó một số nghiên cứu có ý nghĩa

Lâm Thị Thu Hương (2004) [12]đã tìm thấy cầu trùng ở các trại lợn của thành phố Hồ Chí Minh, ngoài Isospora suis và Crytosporidium, còn có 5 loài Eimeria: E porci, E neodebliecki, E scabra, E perminuta và E debliecki Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2005) [20], khi nghiên cứu tình hình nhiễm cầu trùng lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên cho biết: lợn nuôi tại

Trang 30

đây bị nhiễm 7 loài cầu trùng gồm: E porci, E neodebliecki, E scabra, E perminuta, E debliecki, E suis và Isospora suis

Sức đề kháng của cầu trùng là khả năng chống lại các tác nhân bên ngoài tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cầu trùng Các yếu tố ngoài môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, các chất hóa học nói chung đều tác động vào Oocyst, điều này có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu dịch tễ học bệnh cầu trùng và phương pháp phòng chống bệnh cầu trùng trong chăn nuôi

Xét nghiệm tìm Oocyst (noãn nang) cầu trùng trong gần 600 mẫu cặn nền chuồng, sân chơi và khu vực quanh chuồng, tại 13 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2005) [20] cho thấy: thời gian phát triển của Oocyst cầu trùng tới giai đoạn cảm nhiễm phụ thuộc vào nhiệt độ và

ẩm độ môi trường ngoại cảnh: loài E debliecki từ 101 - 141 giờ, E suis từ 96

- 136 giờ, E porci từ 102 - 130 giờ, I suis từ 69 - 98 giờ

Lương Văn Huấn và cs (1997) [11] cho biết: Oocyst của E debliecki,

E scabra có thể tồn tại trong môi trường bên ngoài 15 tháng ở nhiệt độ từ - 40C đến 40°C

Nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển bào tử nang ngoài cơ thể là

15 - 35°C Nhiệt độ lạnh -15°C và nóng trên 40°C bào tử nang sẽ chết (Lê Văn Năm, 2003) [17]

Nghiên cứu về sức đề kháng của cầu trùng đối với tia tử ngoại, Phạm Văn Chức và cs (1991) cho rằng, Oocyst khi bị xử lý bức xạ ở mức 20 - 35 Krad cho giá trị bảo hộ tốt nhất (100%), dưới 10 Krad (80%), nhưng nếu liều quá thấp hoặc quá cao thì không có hiệu quả phòng bệnh Oocyst chưa sinh bào tử ít mẫn cảm đối với tia X hơn Oocyst đã sinh bào tử tới 15 lần

Độ ẩm của đất có vai trò quan trọng trong sự phát triển và tồn tại của Oocyst gây bệnh trong thiên nhiên Nghiên cứu về vấn đề này, Lê Minh và cs

Trang 31

(2008 )[19] cho biết: Đất có độ ẩm 10 - 20% thuận lợi nhất cho sự phát triển

và tồn tại của Oocyst 100% Oocyst phát triển thành Oocyst gây bệnh trong 5

- 15 ngày, sau đó có thể tồn tại trong đất đến 75 ngày; đất có độ ẩm 20 đến trên 40% có khả năng lưu giữ sự sống của Oocyst gây bệnh dài nhất là 70 ngày; đất có độ ẩm thấp (dưới 10%) chỉ có 23% Oocyst phát triển thành Oocyst có sức gây bệnh, sau đó chỉ tồn tại tối đa là 15 ngày

Tính chuyên biệt của cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của cầu trùng với cơ thể kí chủ hoặc cụ thể hơn đối với các cơ quan, các mô bào, hay tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại và phát triển của chúng (Lê Văn Năm, 2003) [17]

Thời gian gần đây, đã có nhiều dẫn liệu chứng tỏ rằng giống cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt nghiêm ngặt và chỉ có thể nhiễm vào loại kí chủ

mà chúng đã thích nghi trong quá trình tiến hoá VD: các cầu trùng cừu không thể nhiễm vào bò và các gia súc khác Các cầu trùng thỏ chỉ nhiễm vào kí chủ của nó mà không thể nhiễm vào bất kỳ loài gia súc nào khác

Như vậy, nếu xem xét tính chuyên biệt của cầu trùng thì giống Eimeria biểu hiện rất rõ rệt, tính chuyên biệt đó đã hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt Theo dẫn liệu của Khayxin (1947), đó

là điều kiện cơ bản giúp cho nhiều loài cầu trùng ký sinh đồng thời trên cùng một ký chủ, (theo dẫn liệu của Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Cùng quan tâm đến vấn đề này Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[12] sau khi tổng hợp kết quả nghiên cứu của I.G.Galuzo (1971) cho biết: Chuột culi, chuột cống, thỏ, chuột đồng, chuột nhắt, cừu, linh dương, dê sừng, hoẵng, bồ câu, chim sẻ, vịt, rùa, rắn và kể cả con người đều bị mắc bệnh khi cho nuốt noãn nang có khả năng gây bệnh của Isospora bigemina Ngoài ra, tác giả còn cho biết Toxoplasma thuộc giai đoạn phát triển của Isospora

Trang 32

bigemina Vì vậy, cầu trùng loài Isospora bigemina không có tính chuyên biệt

Như vậy, có thể nói rằng tuỳ theo loài cầu trùng mà chúng có thể sống

ở trên vật chủ này hay vật chủ khác, hoặc các vị trí ký sinh khác nhau trên cùng một cơ thể gia súc, gia cầm Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp một phần trong việc phân loại cầu trùng được chính xác hơn

Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [22] nghiên cứu và tổng hợp các kết quả nghiên cứu cho biết: Bệnh cầu trùng gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi lợn bởi những lý do sau:

- Tỷ lệ chết cao ở lợn con (tỷ lệ chết từ 10 - 20%)

- Giảm tốc độ sinh trưởng, tăng trọng kém

- Tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác tăng cao như: chi phí về thuốc điều trị, thuốc sát trùng, chăm sóc nuôi dưỡng

Theo Bạch Mạnh Điều và cs (1999) [7] đã kiểm tra 420 mẫu xe cải tiến, quang thúng thấy tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 4,28%

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga (2005) [20], cho biết tỷ lệ

và cường độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau theo tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi Lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh kém nhiễm cao nhất

Theo một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [21], tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở trạng thái phân bình thường và phân lỏng có sự khác nhau rõ rệt Lợn bị tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 56,32% cao hơn hẳn so với trạng thái phân bình thường (36,50%), xét về mức độ nhiễm, lợn bị tiêu chảy nhiễm cầu trùng ở mức độ nặng hơn so với lợn phân bình thường

Lợn con từ 1 - 3 tháng tuổi rất dễ bị nhiễm căn nguyên, đặc biệt lợn con

từ 15 - 60 ngày rất dễ nhiễm bệnh và bệnh dễ dàng bùng nổ ở thể cấp tính và dưới cấp tính Lợn trên 3 tháng tuổi chỉ mang trùng, rất ít khi bị bệnh (Lê Văn Năm, 2003) [17] Cùng kết luận về vấn đề này, Nguyễn Thị Kim Lan và

Trang 33

cs (2005) [20], tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng giảm dần theo tuổi, nặng nhất ở lợn con dưới 2 tháng tuổi

Theo Lê Minh và cs (2008) [19] nhận định: tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có chiều hướng giảm dần theo tuổi lợn

Như vậy, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ bị bệnh

và bệnh phát triển nhanh hơn, nặng hơn so với động vật trưởng thành Động vật đã trưởng thành và động vật già các biểu hiện lâm sàng bệnh cầu trùng ít Song, chúng lại là những động vật mang trùng và là nguồn bệnh nguy hiểm nhất đối với động vật non (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2.2.1 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi

Trong nghiên cứu về các biện pháp phòng trị bệnh tiêu chảy ở vật nuôi

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới

Xét về nguyên nhân vi khuẩn học, các serotype vi khuẩn E Coli thuộc nhóm có khả năng sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxigenic E Coli -

ETEC) đã được nhiều tác giả trên thế giới thống nhất là một trong số các nguyên nhân thường gặp và quan trọng nhất gây bệnh tiêu chảy ở lợn con thời

kỳ còn đang bú sữa mẹ (1-3 tuần tuổi) nên việc dùng kháng sinh từ lâu đã đươc coi là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng và trị bệnh (Bertschinger, 1999) [32]

Theo Laval (1997) [33], khi nghiên cứu về bệnh tiêu chảy và nguyên nhân

gây bệnh ông cho rằng: Salmonella cholerasuis, salmonella typhymurium là hai

tác nhân gây tiêu chảy ở lợn con, lợn sau cai sữa và lợn vỗ béo

Theo Grigg và cs, (1994) [34], nhận xét rằng việc sử dụng thường xuyên một loại kháng sinh phòng và trị bệnh gia súc, gia cầm dẫn tới làm tăng khả năng kháng kháng sinh của nhiều chủng vi khuẩn

Theo Plonait và Birkhandt (1997) [36], thì bệnh phó thương hàn gây ra ở lợn có 2 dạng khác nhau Trước hết là dạng lây lan từ thực phẩm, mầm bệnh

Trang 34

xuất phát từ những lợn thải trùng mà không có biểu hiện lâm sàng Vì vậy, trong quá trình giết mổ vi khuẩn nhiễm vào tất cả các sản phẩm giết mổ rồi từ đó tiếp tục lây nhiễm đến nơi khác Mặt khác, tác nhân gây bệnh là các serotyp đặc biệt

là mẫn cảm với lợn là Salmonella typhisuis, Smonella typhimurium

Qua rất nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy có rất nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy, trong đó nguyên nhân do virus

và vi khuẩn là rất nguy hiểm, có tính lây lan mạnh gây tỷ lệ tử vong cao nhất, thiệt hại kinh tế lớn nhất Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khác như thức

ăn, kí sinh trùng, điều kiện môi trường triệu chứng chung là gây tiêu chảy mất nước, niêm mạc nhợt nhạt, lợn còi chậm lớn

2.2.2.2 Bệnh cầu trùng lợn con từ 1 ngày tuổi đến 21 ngày tuổi

Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng phụ thuộc vào từng loại cầu trùng như hình hơi tròn, hình trứng, hình bầu dục Chúng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả con người Cầu trùng trong thú y được phát hiện từ những năm 370 về trước Song,các công trình nghiên cứu trên thế giới về cầu trùng và bệnh do chúng gây ra còn khá ít ỏi Các công trình tập trung nghiên cứu về phân loại, tính miễn dịch, sức đề kháng và khả năng gây bệnh của cầu trùng

Theo Levine N D (1985) [43] cầu trùng ký sinh ở lợn được phân loại như sau:

Ngành: nguyên sinh động vật Protozoa

Trang 35

Johannes Kaufman (1996) [42] cho biết 8 loài thuộc giống Eimeria và 1 loài thuộc giống Isospora gây bệnh cho lợn đó là: Eimeria debliecki, Eimeria scabra, Eimeria polica, Eimeria spinosa, Eimeria neodebliecki, Eimeria perminuta, Eimeria porci, Eimeria suis và Isospora suis Ngoài ra, tác giả còn cho biết bệnh thường xảy với sự kết hợp nhiều loài cầu trùng gây bệnh vào cùng một thời điểm

- Khả năng đề kháng của cầu trùng đối với hóa chất được một số tác giả tập trung nghiên cứu

Nyberg and Knapp (1976) qua kính hiển vi điện tử cho thấy, lớp ngoài

có thể khử bằng dung dịch Sodium hypochlorid 2 - 3% trong 15 phút (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

- Khi so sánh khả năng đề kháng với nhiệt độ cao của Oocyst trước và sau khi hình thành bào tử, Glullough (1952) thấy rằng: ở nhiệt độ cao chúng

có khả năng đề kháng như nhau, cụ thể: chúng đều bị chết ở 400C sau 96 giờ, ở 450C sau 3 giờ và 500C sau 30 phút (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan

Theo Horton Smith (1963) [41], cầu trùng sống được ở sân chơi ngoài trời 14 tuần và tồn tại lâu trong đất ở độ sâu 5 - 7 cm Ở trong đất, Oocyst duy trì sức sống từ 4 - 9 tháng, ở sân chơi râm mát từ 15 - 18 tháng

Goodrich H.P (1994) [40] đã kết luận: lớp vỏ ngoài cùng đã giữ cho Oocyst không bị thấm chất lỏng, nhưng nó lại dễ bị nứt do điều kiện khô hạn

Trang 36

Theo nghiên cứu của Fish (1932) ở phòng thí nghiệm thấy, Oocyst bị tiêu diệt khi chiếu tia tử ngoại vừa phải (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

- Nghiên cứu về vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy

Eutis S.L et al (1981) đã kiểm tra 45 lợn con ỉa chảy thấy 28 lợn có nhiễm cầu trùng kết hợp với virus (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan., 2008) [22]

Cầu trùng ký sinh trong đường tiêu hóa của lợn không những gây bệnh tiêu chảy cho ký chủ mà chúng còn thường xuyên đào thải mầm bệnh ra môi trường làm phát tán mầm bệnh Nghiên cứu về vấn đề này Bhurtei J.E (1995) [3] cho biết: Có từ 70% - 80% Oocyst thải ra ngoài vào ban ngày, tập trung trong khoảng thời gian từ 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù lượng phân lúc này chỉ chiếm 25% lượng phân thải ra trong ngày

- Khi nghiên cứu vỏ cấu trúc Oocyst, Goodrick (1994) [40] cho rằng, lớp ngoài là vỏ bọc liên tục kể cả khi có Micropyle và sau khi thụ tinh Micropyle đóng lại và không bao giờ mở ra nữa, và đây không phải là con đường mà Sporpzoite thoát ra khỏi Oocyst: Việc thoát ra của Sporozoite bằng con đường nào, cách nào, điều kiện ra sao đều chưa rõ ràng

Theo Netaner (1903), trypsin là men đặc biệt giúp giải phóng Sporozoite của E sticidae, độ pH từ 7 - 8 là thích hợp nhất cho giai đoạn này Trong điều kiện phòng thí nghiệm (invitro) và nhiệt độ 370

C thì Sporozoite được “nở” ra chỉ sau 1 giờ và nhiều nhất là 5 - 7 giờ, (Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Theo Long P.L (1979) [44] kế thừa nghiên cứu của Wetser D.H (1903), Smetana F.M (1933), cho biết: Sporozoite của E sticidae thoát qua

lỗ noãn (Micropyle) dưới tác động của men trypsin Nhưng Goodrich H.P (1994) [40] thì không cho là như vậy mà cho rằng vách Oocyst bị vỡ ra do tác động cơ giới và men trypsin Ông đã cho Oocyst vào dung dịch trypsin

Trang 37

5% ở nhiệt độ 370C và sau 5 - 10 phút thì cho thấy Sporozoite chui ra khỏi chỗ vỡ của thành vỏ

-Theo X.K.Svonbaep (1968) khi nghiên cứu các cầu trùng gà tây, những loài này về mặt hình thái rất giống với một số loài cầu trùng gà, song, khi cho nhiễm bệnh chéo ông đã phát hiện ra rằng hai loài cầu trùng trên không đồng nhất với nhau: cầu trùng gà không gây bệnh cho gà tây và ngược lại (Nguyễn Thị Kim Lan, 2008 tổng hợp) [22]

Phần lớn bệnh do ký sinh trùng gây ra cho lợn con đang trong thời kì sinh trưởng mạnh, khi sức đề kháng còn yếu, dễ cảm nhiễm cầu trùng, bệnh phát triển nhanh và mạnh hơn động vật trưởng thành Động vật trưởng thành

và càng già thì biểu hiện lâm sàng của bệnh càng ít

Theo Chae C (1998) [38] nghiên cứu và cho biết, lợn con trước cai sữa

ở các trại lợn nhiễm Isospora suis với tỷ lệ khá cao, chiếm 50 - 70% các trại lợn được khảo sát

Theo Morgot A.A (2000) đã nghiên cứu và cho thấy, ở những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ

lệ nhiễm cầu trùng là 5 - 10%, còn ở những cơ sở chăn nuôi có điều kiện không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm là từ 30 - 69% (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Theo Bachman G.W (1930)[36], miễn dịch theo tuổi hình thành ở gia súc do chúng tái nhiễm cầu trùng nhiều lần Điều này đã được Horton Smith (1963) chứng minh, khi tác giả này nuôi cách ly gà đến 6 tháng tuổi, không cho tiếp xúc với cầu trùng Sau 6 tháng tuổi, cho nhiễm tự nhiên thấy gà rất cảm thụ với E tenella, nhưng sau đó khi nuôi bình thường thì gà không bị nhiễm E tenella nữa

Theo Wilsenhutter E et al (1962), đã gây nhiễm thực nghiệm cho lợn bằng E.debliecki kết quả thấy: lợn thải Oocyst từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14

Trang 38

rồi không thấy thải Oocyst nữa, cho đến khi nhiễm lại lần thứ 2 Nếu 3 hay 4 tuần lễ sau khi lại cho lợn nuốt một lượng lớn Oocyst cầu trùng nữa, thì số lượng Oocyst thải ra thấp hơn lần thứ nhất Để có tính miễn dịch vững chắc phải cho nuốt Oocyst hàng ngày, ít nhất 100 ngày (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

- Cơ chế đáp ứng miễn dịch cầu trùng:

Nghiên cứu về quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể ký chủ với động vật đơn bào, R.Tizard (1982) cho biết: nguyên sinh động vật (trong đó

có cầu trùng) kích thích cả đáp ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2008) [22]

Theo Horton Smith (1963) [41] nghiên cứu phản ứng tế bào biểu bì ruột thỏ với cầu trùng thấy như sau: một phần tế bào biểu bì cuộn vào bên trong, cách li khỏi cầu trùng, làm cho các giao tử cầu trùng khó kết hợp với nhau Theo ông thì các Merozoit trong tế bào biểu bì ruột đã kích thích sự hình thành kháng thể cường độ miễn dịch không đồng đều, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài gây bệnh, đường xâm nhập vào cơ thể và trạng thái sức khoẻ vật nuôi Những loài cầu trùng gây bệnh ở tầng sâu thường kích thích cơ thể sản sinh kháng thể mạnh hơn những loài cầu trùng chỉ kí sinh ở bề mặt niêm mạc Xâm nhiễm qua quá trình tiêu hoá tự nhiên kích thích sinh miễn dịch tốt hơn tiêm thẳng vào ruột, sức khỏe vật nuôi khỏe đáp ứng miễn dịch tốt hơn khi ốm đau

Ngày đăng: 29/11/2016, 08:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Nguyệt Cầm (2006), Tình hình dịch bệnh và kết quả bước đầu áp dụng lịch tiêm phòng trên đàn lợn tại xã Vĩnh Lâm huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình dịch bệnh và kết quả bước đầu áp dụng lịch tiêm phòng trên đàn lợn tại xã Vĩnh Lâm huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị
Tác giả: Nguyễn Quế Côi, Nguyễn Nguyệt Cầm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
3. Trần Cừ (1975), Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh lý của nuôi dưỡng lợn con
Tác giả: Trần Cừ
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1975
4. Lê Minh Chí (1995), Bệnh tiêu chảy ở gia súc, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr. 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy ở gia súc
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
6. Trương Văn Dung và cs (2002), Cẩm nang chẩn đoán về các bệnh gia súc ở Việt Nam, Viện Thú y quốc gia, tr. 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chẩn đoán về các bệnh gia súc ở Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Dung và cs
Năm: 2002
7. Bạch Mạch Điều, Phan Lục và cs (1999), Kết quả nghiên cứu tìm biện pháp thích hợp phòng bệnh cầu trùng gia cầm, Báo cáo và thông báo khoa học năm 1999 - Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tìm biện pháp thích hợp phòng bệnh cầu trùng gia cầm, Báo cáo và thông báo khoa học năm 1999
Tác giả: Bạch Mạch Điều, Phan Lục và cs
Năm: 1999
8. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan (1996), Sinh lý học gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
9. Đào Trọng Đạt (1966), Bệnh lợn con ỉa cứt trắng, Nxb Nông nghiệp, tr. 5 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lợn con ỉa cứt trắng
Tác giả: Đào Trọng Đạt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1966
10. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1986), Bệnh gia súc non, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia súc non
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
11. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Phương (1997),Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm, Tập 2 (Phần động vật chân đốt và nguyên bào), Viện Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh và bệnh ký sinh ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Phương
Năm: 1997
12. Lâm Thị Thu Hương (2004), Tình hình nhiễm một số loài cầu trùng đường ruột ở lợn, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 11(1): 26 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm một số loài cầu trùng đường ruột ở lợn
Tác giả: Lâm Thị Thu Hương
Năm: 2004
13. Phạm Hùng, Đỗ Văn Khiên, Dư Đình Quân, Võ Thành Thìn, Đỗ Thanh Tâm, Lê Thị Sương (2002-2003), Sự biến động hàm lượng kháng thể thụ động chống lại vius dịch tả lợn ở lợn con, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y, phần Thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 18 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động hàm lượng kháng thể thụ động chống lại vius dịch tả lợn ở lợn con
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
14. Hoàng Văn Hoan, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Hiền, Phạm Thị Tuyết, Nguyễn Thị Bích Thủy (2002-2003), Nghiên cứu chế phẩm kháng sinh tổng hợp Enrofloxin để phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn gây hội chứng tiêu chảy ở lợn, Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y, phần Thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 329 - 343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu chế phẩm kháng sinh tổng hợp Enrofloxin để phòng và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn gây hội chứng tiêu chảy ở lợn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
15. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, Luận án tiến sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khoẻ mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
16. M.philipcinec, Vũ Khắc Hùng (2002-2003), “Nghiên cứu và so sánh các yếu tố độc lực của các chủng E. Coli phân lập từ lợn con bị bệnh tiêu chảy ở Cộng hòa Slovakia”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và so sánh các yếu tố độc lực của các chủng E. Coli phân lập từ lợn con bị bệnh tiêu chảy ở Cộng hòa Slovakia
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
17. Lê Văn Nam, Trần Đình Bình (1998), Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn con cao sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn con cao sản
Tác giả: Lê Văn Nam, Trần Đình Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
18. Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở, Trần Thị Thu Hà (1989), Nghiên cứu vaccine đa giá Salco Phòng bệnh 19. Lê Minh và cs (2008), Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng lợn ở mộtsố huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 15 (2): 63 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vaccine đa giá Salco Phòng bệnh" 19. Lê Minh và cs (2008), "Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng lợn ở một "số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú, Nguyễn Thị Sở, Trần Thị Thu Hà (1989), Nghiên cứu vaccine đa giá Salco Phòng bệnh 19. Lê Minh và cs
Năm: 2008
20. Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga (2005), “Một số đặc điểm dịch tễ và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 12 (4): 40 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga
Năm: 2005
21. Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân (2006), “Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hôi chứng tiêu chảy ở lợn”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, 13(3): 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hóa trong hôi chứng tiêu chảy ở lợn”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Minh, Nguyễn Thị Ngân
Năm: 2006
22. Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Giáo trình ký sinh trùng thú y (dùng cho học viên cao học, chuyên ngành thú y) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Năm: 2008
24. Phạm Sỹ Lăng (2009), “Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng tri”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (6), tr. 80 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy do vi khuẩn ở lợn và biện pháp phòng tri”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh của trại lợn nái (Trang 41)
Bảng 4.2: Lịch sát trùng trại lợn nái  Thứ - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.2 Lịch sát trùng trại lợn nái Thứ (Trang 49)
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 50)
Bảng 4.4. Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lơn con tại - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.4. Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lơn con tại (Trang 51)
Bảng 4.5: Tình hình mắc bệnh ở lợn theo lứa tuổi - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh ở lợn theo lứa tuổi (Trang 52)
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh theo tình trạng vệ sinh - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh theo tình trạng vệ sinh (Trang 58)
Bảng 4.8. Kết quả kiểm tra một số triệu chứng lâm sàn và bệnh tích ở lơn - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.8. Kết quả kiểm tra một số triệu chứng lâm sàn và bệnh tích ở lơn (Trang 59)
Bảng 4.9. Tỉ lệ lợn con chết do mắc bệnh - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.9. Tỉ lệ lợn con chết do mắc bệnh (Trang 61)
Bảng 4.10. Phác đồ điều trị hai lô thí nghiệm - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.10. Phác đồ điều trị hai lô thí nghiệm (Trang 64)
Bảng 4.12 cho thấy việc thí nghiệm 3 loại thuốc khác nhau trong việc điều trị  bệnh cầu trùng lợn con với các phác đồ điều trị khác nhau - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.12 cho thấy việc thí nghiệm 3 loại thuốc khác nhau trong việc điều trị bệnh cầu trùng lợn con với các phác đồ điều trị khác nhau (Trang 65)
Bảng 4.12. Phác đồ điều trị cầu trùng bằng 3 loại thuốc - Tình hình bệnh cầu trùng và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh  Mỹ Đức  Hà Nội và biện pháp phòng trị.
Bảng 4.12. Phác đồ điều trị cầu trùng bằng 3 loại thuốc (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w