Vấn đề thứ hai mà các nhà khoa học quan tâm đó là hiện nay điện dịch của loại nguồn điện này chủ yếu là dung môi hữu cơ, ngoài dung môi hữu cơ như vẫn sử dụng thì còn loại dung môi nào c
Trang 1MỞ ĐẦU
Cùng với nền kinh tế thế giới phát triển rất mạnh mẽ, đời sống của chúng ta cũng được cải thiện rất nhiều Các nhu cầu của con người ngày càng được thoả mãn và cũng tăng lên không ngừng Đặc biệt khi công nghiệp điện
tử phát triển đã tạo ra những cuộc cách mạng về thiết bị: điện, điện tử, thiết bị tin học cầm tay, các thiết bị y tế nhỏ gọn, các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường …Sự phát triển mạnh mẽ đó đòi hỏi việc tìm kiếm các loại nguồn điện nhỏ gọn nhưng cung cấp năng lượng lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh tế là rất cấp thiết Nguồn điện Liti là loại nguồn điện ngày càng chứng minh được các tính năng trên
Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới vẫn quan tâm việc làm sao cải thiện được dung lượng phóng, nạp của loại nguồn điện này Các hướng nghiên cứu đang được tập trung là nâng cao dung lượng, tuổi thọ chu kỳ, dòng phóng, nạp và khoảng điện thế hoạt động Để cải thiện được các đặc tính
đó thì việc nghiên cứu và tìm ra loại vật liệu làm chất hoạt động điện cực đóng vai trò quan trọng hàng đầu Vấn đề thứ hai mà các nhà khoa học quan tâm đó là hiện nay điện dịch của loại nguồn điện này chủ yếu là dung môi hữu
cơ, ngoài dung môi hữu cơ như vẫn sử dụng thì còn loại dung môi nào có thể thay thế
Đề tài này nghiên cứu vật liệu làm điện cực là LiV3O8, loại vật liệu này
có khả năng hoạt động rất lớn LiV3O8 có thể làm chất hoạt động ở cực dương hoặc chất hoạt động ở cực âm Dung môi có thể là dung môi hữu cơ cũng có thể dung môi là nước Nhiệm vụ của đề tài là tổng hợp và nghiên cứu hành vi điện hoá của LiV3O8 trong dung dịch điện ly là dung dịch trung tính LiClO4
0.1M
Trang 2Sau khi hoàn thành đề tài này chúng ta có thể trả lời được câu hỏi khi
sử dụng vật liệu LiV3O8 làm chất hoạt động điện cực thì có những tính năng
gì nổi trội hơn so với các loại vật liệu điện cực hiện nay
Do thời gian làm đồ án còn hạn chế, tài liệu tham khảo không nhiều nên đồ án này không tránh khỏi những thiếu sót và những suy luận mang tính chủ quan Em mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung để đồ án ngày càng được hoàn chỉnh hơn
Trang 3MỤC ĐÍCH CỦA ĐỒ ÁN
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là tổng hợp thành công vật liệu LiV3O8 có kích thước nano, xốp bằng phương pháp Sol-gel từ các chất ban đầu là LiOH, V2O5 và iso propanol Nghiên cứu hành vi điện hoá của vật liệu LiV3O8 bằng phương pháp quét thế vòng (CV) trong dung dịch LiClO4 0,1M
và phương pháp chụp ảnh SEM So sánh được quá trình cài và khử cài ion Li+của điện cực dạng màng và dạng bột Từ đó rút ra kết luận về vật liệu LiV3O8
có khả năng làm chất hoạt động điện cực cho nguồn điện Lithium hay không
Trang 4CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
LiV3O8 là hợp chất oxit hỗn hợp được tổng hợp từ liti (Li) và vanadi (V) Hợp chất LiV3O8 có một số tính chất đặc biệt và để hiểu rõ về nó chúng
ta cần quan tâm đến các nguyên tố cấu thành nên hợp chất này
I.1 Một số điểm cần lưu ý của kim loại Vanadi
Vanadi (V) là nguyên tố kim loại hiếm, mền và có khả năng kéo sợi cao Vanadi có khả năng chống ăn mòn tốt trong môi trường kiềm, axit H2SO4
và HCl, oxy hoá dễ dàng ở nhiệt độ 933oK [21] Trong thiên nhiên vanadi tồn tại ở nhiều đồng vị khác nhau 51
V, 50V, 49V, 48V và chu kỳ bán huỷ của các đồng vị là khác nhau [20]
Thực tế vanadi tồn tại ở nhiều trạng thái oxy hoá khác nhau, phổ biến là: +2, +3, +4, +5, chất thường gặp trong các phòng thí nghiệm là NH4VO3,
V2O5 Có khoảng 80% vanadi sử dụng trong các hợp kim, thép Trong hợp kim của nó với Al + Ti được sử dụng làm động cơ phản lực, làm khung máy bay với tốc độ cao Còn V2O5 được sử dụng làm chất xúc tác cho quá trình sản xuất axit sunfuric H2SO4; VO2 phủ lên kính có tác dụng ngăn cản không cho bức xạ hồng ngoại đi qua Bên cạnh các ứng dụng đó thì vanadi cũng có tính độc, độ độc của nó phụ thuộc vào trạng thái hoá lý và trạng thái oxy hoá,
ví dụ: độ độc của VOSO4 gấp 5 lần của V2O3
I.2 Một số điểm cần lưu ý của Liti (Li)
Liti là một kim loại kiềm rất nhẹ, có khối lượng riêng là 0,543g/cm3
(nhẹ chỉ bằng một nửa của nước), có thế điện cực chuẩn rất âm φo
Li/Li +
= -3,04(V) so với thế điện cực tiêu chuẩn (NHE) [7], vì vậy đứng đầu về hoạt tính điện hoá (dễ nhường electron để thành Li+) Là vật liệu anot, Liti với dung lượng tích trữ năng lượng thuộc loại cao nhất cỡ 3860 Ah/kg hơn hẳn các vật liệu anot quen thuộc (chẳng hạn Pb ≈ 260 Ah/kg; Cd ≈ 480 Ah/kg; Ag
Trang 5≈ 500 Ah/kg; và Zn ≈ 820 Ah/kg…) [4] Mặc dầu với tính chất ưu việt như vậy, song do hoạt tính điện hóa quá mãnh liệt nên Li rất dễ bị oxi hóa trong không khí, phản ứng với rất nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ, bùng cháy khi gặp nước Li dễ dàng bị oxy hoá bởi oxy không khí tạo Li2O và có thể tác dụng trực tiếp với nitơ và cacbon ở nhiệt độ thường tạo Li3N và Li2C2 [7] Ion
Li+ là ion kim loại có bán kính nguyên tử nhỏ nhất trong số các ion kim loại Chính lý do này mà Li được sử dụng nhiều trong pin có thể sạc lại hay còn gọi là pin Lithium Đó là loại pin được dùng nhiều trong công nghệ điện tử hiện nay như: điện thoại, máy tính sách tay, máy ảnh, máy quay phim…và đây cũng chính là hướng phát triển của nghành công nghiệp nguồn điện của Việt Nam trong tương lai Trong pin lithium thì các ion Li+ sẽ được cài vào các khoảng không gian trống của mạng tinh thể trong vật liệu điện cực, các ion này nhận điện tử trở thành Li nguyên tử và nằm lại đó Các ion Li+ sẽ đi ra ngoài dung dịch trong quá trình phóng hoặc nạp tiếp theo [12,18]
Trữ lượng của khoáng chứa Li còn khá phong phú so với nhu cầu hiện nay của cả thế giới tiêu thụ (xấp xỉ 44 triệu tấn năm 1990 trong đó 27000 tấn
ở dạng muối cacbonat Li, 10% được điều chế dạng kim loại và chỉ có 1,5% dùng để chế tạo pin) [4]
I.3 Vật liệu LiV 3 O 8.
I.3.1.Vật liệu LiV 3 O 8
Trong pin Liti thì có rất nhiều loại vật liệu làm điện cực đã được nghiên cứu như: MnO2, LiMn2O4, LiCoO2, LiNiO2, LiV2O5, LiFePO4, LiNi1-xCoxO2,
lại ở đó, các nhà khoa học còn muốn tìm ra được loại vật liệu có tính năng nổi trội hơn: dung lượng lớn hơn, dòng phóng lớn hơn…và điều đặc biệt là nó có thể làm cực dương (cathode) cho loại pin này nhưng nó cũng có thể làm vật liệu điện cực âm (anode) cho loại pin khác Vật liệu có tính năng nổi trội đó chính là LiV3O8
Trang 6Hiện nay, LiV3O8 là hợp chất được rất nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực điện hoá quan tâm Nó thường là thành phần chủ yếu trong chất hoạt động cực dương trong pin Li LiV3O8 là vật liệu có dung lượng riêng lớn, giá trị của dung lượng phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp chế tạo Nếu LiV3O8được chế tạo theo phương pháp solgel thì dung lượng của nó đạt tới 258mAh/g còn nếu chế tạo theo phương pháp rắn thì dung lượng chỉ đạt 180mAh/g [9] Ngoài ra vật liệu này còn cho thấy khả năng ổn định của dung lượng trong quá trình phóng, sử dụng vật liệu này có thể phóng tới hàng trăm chu kỳ mà dung lượng giảm rất ít LiV3O8 rất bền trong điều kiện không khí,
nó không bị phân huỷ, là hợp chất có màu vàng nâu
Khi LiV3O8 đóng vai trò là vật liệu điện cực dương (vật liệu Cathode) thì điện thế trung bình của quá trình cài Li+ phải dương hơn điện thế cài và khử cài của vật liệu làm điện cực âm (vật liệu anode) Ví dụ: hệ thống nguồn điện (-) Li và (+) LiV3O8 [11,12,15]
Trong hệ thống này thì khi phóng ta có:
+ Điện cực dương (+): LiV3O8 + xLi+ + xe- → Li1+xV3O8 (1) + Điện cực âm (-): x Li → xLi+ + xe- (2) Còn khi nạp thì:
+ Điện cực dương (+): Li1+xV3O8 → LiV3O8 + xLi+ + xe- (3) + Điện cực âm (-): xLi+ + xe- → xLi (4) Ngược lại khi gặp một vật liệu có điện thế trung bình của quá trình cài
và khử cài ion Li+ vào trong vật liệu lớn hơn của LiV3O8 thì vật liệu LiV3O8lại trở thành vật liệu điện cực âm Ví dụ hệ thống gồm:
+ Điện cực dương (+): LiCoO2
+ Điện cực âm (-): LiV3O8
Hệ thống này có hiệu điện thế chênh lệch giữa hai điện cực khoảng 1,121V [18], và nguyên tắc hoạt động của nó như sau:
+ Khi nạp:
LiCoO2 + LiV3O8 → Li1-xCoO2 + Li1+xV3O8 (5) + Khi phóng:
Trang 7Li1-xCoO2 + Li1+xV3O8 → LiCoO2 + LiV3O8 (6) Hiện nay, LiV3O8 có nhiều giả định về các công thức cấu tạo khác nhau [21]
Hình 1: Một số công thức cấu tạo của LiV 3 O 8 Đây là 4 công thức cấu tạo của LiV3O8 đã được các nhà hoá học: E.P.Koval’chuk, O.V.Reshetnyak, Ya.S.Kovalyshyn, J.Blazejowshi đưa ra vào tháng 10 năm 2001 [21] Với 4 công thức này các ông đã giải thích được
cơ chế cài nguyên tử Li vào trong phân tử LiV3O8 là do có sự khử điện hoá một nguyên tử vanadi (V) từ +5 xuống +4 Đồng thời các ông cũng đưa ra được công thức của hợp chất sau khi cài nguyên tử Li vào LiV3O8 theo các công thức cấu tạo tương ứng như sau [21]:
Trang 8Hình 2 : Các công thức cấu tạo của vật liệu LiV 3 O 8 được cài1 nguyên tử Li
Nếu ion Li+ tiếp tục được cài vào thì các nguyên tử Vanadi tiếp theo sẽ
bị khử từ +5 xuống +4 tạo hợp chất Li3V3O8 và Li4V3O8 có thể có cấu tạo như sau [21]:
Hình 3: Các công thức cấu tạo của Li 3 V 3 O 4 (5a, 5b) và Li 4 V 3 O 4 (6)
Quá trình các ion Li+ được cài vào trong vật liệu LiV3O8 có thể giải thích theo các phương trình phản ứng như sau [21]:
Bảng I: Sự phụ thuộc của năng lượng tự do Gibbs ΔG và thế vòng mở
E vào giai đoạn phản ứng
Phản ứng ΔG (KJ.mol-1
) E (V) LiV3O8 + Li+ + e- → Li2V3O8 -54,00 0,559
Trang 9Li2V3O8 + Li+ + e- → Li3V3O8 53,35 -0,552
Li3V3O8 + Li+ + e- → Li4V3O8 104,85 -1,086
Hình 4: Biểu đồ hình học liên kết V-O trong cấu trúc của Li 1,1 V 3 O 8
Mặt khác, chúng ta còn bắt gặp cấu trúc không gian của vật liệu
Li1.1V3O8 Trong cấu trúc của Li1.1V3O8 còn tạo ra các hốc tám mặt và hốc bốn mặt [22] Chính các vị trí này là nơi mà Li+ được cài vào Nhìn chung các ion Li+ thường cài ở vị trí hốc tám mặt, và một số thì được cài vào ở vị trí hốc bốn mặt
Khi vật liệu LiV3O8 được dùng làm vật liệu điện cực thì nó thường được nung ở nhiệt độ khoảng 350, 450, 550o
C để thiêu kết và định hình cấu trúc của vật liệu [12] Nhưng trong đề tài này vật liệu được nung ở nhiệt độ rất thấp là 180oC trong khoảng thời gian dài 16h để khảo sát xem cấu trúc của vật liệu có giữ được hay không, hay bị phá vỡ khi ngâm trong điện dịch LiClO4 0,1M
Trong pin sử dụng LiV3O8 làm chất hoạt động điện cực thì có nhiều phương án để chọn lựa dung môi để làm dung môi trong dung dịch điện ly
Trang 10của pin, đó có thể là dung dịch hữu cơ như: Propylen cacbonat (PC), Ethylen cacbonat (EC), Tetrahydrofuran (THF), Dymethylsunfoxid (DMSO)…Các dung môi này đều phải đáp ứng được các yêu cầu sau [4]:
+ Dung môi có cực
+ Dung môi không phân ly proton
+ Dung môi phải có thông số hoá lý giống như nước (có momen lưỡng cực cao, có hằng số điện môi lớn, có độ nhớt nhỏ cũng như có khối lượng riêng thấp)
Các thông số này quan trọng vì nó liên quan đến khả năng tan được của các muối dẫn và nhờ đó cải thiện được độ dẫn của dung môi hữu cơ vốn rất kém Ngoài ra các dung môi này phải bền với thời gian, không phản ứng với vật liệu điện cực, không làm giảm độ linh động của ion Li+
Ngoài ra, chúng ta còn có thể chọn dung môi là H2O (trong trường hợp pin không có Li làm vật liệu điện cực âm)
Muối điện ly ở đây thông thường chúng ta chọn là: LiClO4, LiPF6,
Li2SO4, LiCl…các muối này trung tính và có tính dẫn điện cao
I.3.2 Các phương pháp tổng hợp vật liêu LiV 3 O 8
LiV3O8 là loại vật liệu được sử dụng rất nhiều làm chất hoạt động điện cực hoặc ở cực dương hoặc ở cực âm trong pin Lithium Bởi vậy, hiện nay các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm đến hợp chất này và đã tìm ra được một số phương pháp tổng hợp, điều chế với nhiều hướng khác nhau, trong đó chúng ta đáng quan tâm đến 3 phương pháp tổng hợp đơn giản mà hiệu suất cao:
+ Tổng hợp LiV3O8 bằng phương pháp Sol-gel
+ Tổng hợp LiV3O8 bằng phương pháp 2 pha
+ Tổng hợp LiV3O8 bằng phương pháp rắn…
Trong tất cả các phương pháp trên thì LiV3O8 đều được tổng hợp từ các chất ban đầu là LiOH, LiCO3, V2O5 và một số phụ gia khác
Trang 11I.3.2.1 Tổng hợp LiV 3 O 8 bằng phương pháp solgel
a) Phương pháp solgel
Đầu tiên ta cần nắm rõ phương pháp Sol-gel là gì? Phương pháp này được R.Roy đề xuất năm 1956 Hiện nay phương pháp Sol-gel đang rất được chú ý trong kỹ thuật tổng hợp các hợp chất của nhiều kim loại Đây là phương pháp hoá học ướt bao gồm cả các quá trình vật lý và hoá học như: thuỷ phân, polyme hoá, làm khô và kết khối [16] Phương pháp này cho phép tạo ra một dung dịch đồng thể mà các chất được trộn lẫn ở mức độ nguyên tử và hạt keo
cỡ nanomet Với việc khống chế các giai đoạn tiếp theo, phương pháp này cho phép thu được các sản phẩm có cấu trúc nano Tên gọi Sol-gel xuất phát
từ một trong những bước quan trọng của quá trình Sơ đồ hình 5 mô tả khái quát quá trình Sol-gel và các khái niệm liên quan [17]
+ Sol là hệ đơn pha đồng nhất chứa những nguyên tử hay hạt keo riêng biệt ở dạng huyền phù hay phân tán trong dung môi
+ Gel là hệ phân tán hai pha (hoặc nhiều hơn) có chứa những hạt keo rắn kết nối với nhau có thể tạo ra những không gian trống chứa pha lỏng Nói chung gel là hệ có cấu trúc mạng không gian mà cả thành phần rắn và lỏng đều ở dạng phân tán cao
Chất ban đầu trong phương pháp solgel có thể là chất vô cơ hay hợp chất cơ kim Phương pháp này rất linh hoạt, có thể khống chế các giai đoạn của nó để cho sản phẩm có kích thước nanô ở dạng bột, sợi, màng…có tính chất mong muốn
Trang 12Hình 5: Sơ đồ các bước công nghệ trong phương pháp Sol-gel
Các bước cơ bản trong kỹ thuật tổng hợp solgel là:
+ Thuỷ phân: Được bắt đầu khi chất tan và dung môi (nước hoặc cồn)
được khuấy trộn ở nhiệt độ thích hợp Axit hay xúc tác nền được đưa vào để tăng tốc độ phản ứng
+ Đa tụ hay polyme hoá: Bước này bao gồm quá trình kết khối của
những phân tử kế cận nhau nơi mà H2O hay ROH bị loại bỏ và những liên kết của các oxit kim loại được tạo thành Các chuỗi polyme kết tụ và phát triển thành các hạt keo không gian trong dung dịch lỏng (Sol)
+ Gel hoá: Các mạng lưới polyme liên kết thành các mạng không gian
ba chiều trong dung dịch Dung môi (cồn hay nước) tồn tại trong các lỗ xốp của mạng (gel)
+ Làm khô hay bay hơi dung môi: Cồn và nước được bay hơi, còn lại
các oxit kim loại đã được hyđroxit hoá và một số thành phần hữu cơ
+ Nung ủ: Quá trình nung, ủ thực hiện tại 670 – 1070oK nhằm loại bỏ những liên kết hoá học còn xót lại của nước và các chất vô cơ (liên kết ngậm nước), tạo ra oxit kim loại dạng thuỷ tinh với trên 20 – 30% độ vi xốp
Gel hoá
Trang 13+ Kết khối: Quá trình xảy ra tại 1270oK tạo những oxit kim loại kết khối
Phương pháp Sol-gel đã được sử dụng cho việc chế tạo bột oxit kim loại kích thước nano, vật liệu composit, gốm – kim loại, thuỷ tinh gốm, các loại màng, lớp phủ siêu mỏng có độ xốp cao, các loại chất bán dẫn, siêu dẫn…Những ứng dụng rộng dãi của phương pháp này đã mở ra nhiều hướng mới cho việc tổng hợp chế tạo vật liệu mới và tin chắc rằng phương pháp Sol-gel sẽ ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
Theo phương pháp này thì đầu tiên chúng ta phải lấy lượng LiOH và
V2O5 theo tỉ lệ về số mol là Li : V = 1 : 3 Sau đó hoà tan chúng trong nước cất Khi đó, LiOH sẽ hoà tan hoàn toàn và phản ứng với V2O5, còn V2O5 thì chỉ hoà tan một phần Để hoà tan hoàn toàn lượng V2O5 còn lại thì ta thêm từ
từ NH4OH vào dung dịch, pH của dung dịch là 8,5 ÷ 9 [9,12] Sau đó hỗn hợp được để ở 80oC trong một thời gian, quan sát màu của dung dịch thì ta thấy phản ứng xảy ra hoàn toàn khi màu của dung dịch chuyển từ màu vàng nhạt của V2O5 sang màu nâu đỏ của LiV3O8
Khi tổng hợp bằng phương pháp solgel thì LiOH và V2O5 sẽ hoà tan và khuếch tán vào nhau hay nói cách khác là các chất ban đầu sẽ phân tán, phân
bố vào nhau đồng đều hơn, điều đó làm cho phản ứng xảy ra dễ dàng hơn, thời gian phản ứng nhanh hơn, phản ứng xảy ra hoàn toàn, triệt để hơn
Các phản ứng của quá trình có thể giải thích như sau: Ban đầu khi hoà tan LiOH và V2O5 vào trong dung môi nước thì có các phản ứng sau xảy ra [9]:
2 LiOH + 1/3 V2O5 → 2/3 Li3VO4 + H2O (10)
2/3 Li3VO4 + 2/3 V2O5 → 2 LiVO3 (11)
2 LiVO3 + 2 V2O5 → 2 LiV3O8 (12)
Trang 14Trong 3 phản ứng trên thì phản ứng thứ (4) và (5) xảy ra một cách dễ dàng, nhưng về sau thì quá trình (4) là chậm dần [9,12] Khi cho thêm
NH4OH vào thì xảy ra các phản ứng sau:
2 NH4OH + V2O5 → 2 NH4VO3 + H2O (13)
6 NH4VO3 → 2 NH4V3O8 xH2O + 4 NH3 + 2(1 – x) H2O (14)
Sau đó toàn bộ hỗn hợp phản ứng được giữ ở 80oC trong vòng 5 giờ để làm bay hơi một phần H2O và NH3 và pH của dung dich khi đó sẽ giảm [9,12] Hỗn hợp phản ứng lúc này gồm có: LiVO3, NH4V3O8.xH2O, một ít LiV3O8, V2O5, LiOH [9]
Sau đó, hỗn hợp này được sấy trong điều kiện chân không ở 180oC trong khoảng thời gian là 4 giờ Khi mà nhiệt độ của hỗn hợp ở trên 130oC thì
có các quá trình sau diễn ra [9,12]:
NH4V3O8 xH2O + LiOH → LiV3O8 + NH3 + (1 – x)H2O (15) LiVO3 + V2O5 → LiV3O8 (16) Sản phẩm thu được tiếp tục đem nung ở 450o
C trong khoảng 6 giờ trong môi trường chân không Cuối cùng, sản phẩm mà chúng ta thu được là chất bột màu nâu đem có độ xốp lớn
Ngoài việc sử dụng chất xúc tác cho phản ứng là NH4OH thì hiện nay chúng ta còn sử dụng H2O2, iso propanol làm chất xúc tác, tạo môi trường giúp phản ứng xảy ra nhanh hơn
Phương pháp hai pha là phương pháp mà các chất tham gia phản ứng tồn tại ở 2 pha khác nhau là rắn và lỏng Trong đó V2O5 ở dạng rắn còn LiOH
ở dạng lỏng [20]
V2O5 có cấu trúc gồm các hình kim tự tháp xếp so le nhau như hình sau:
Trang 15Hình 6 : Cấu trúc không gian của V 2 O 5 gồm các hình kim tự tháp vuông
Ban đầu, V2O5 được hoà tan thành dạng dung dịch sền sệt hay con gọi
là sol-gel, vật liệu này sẽ được quết lên một tấm kính hoạc tấm nhôm kim loại mỏng và để khô trong không khí LiOH sẽ được hoà tan trong nước tạo thành dung dịch điện ly mạnh
Sau khi hoàn tất công việc trên thì tiến hành lắp ráp chúng thành hệ thống điện hoá, trong đó dung dịch LiOH đóng vai trò là chất điện ly, tấm kính phủ V2O5 đóng vai trò làm điện cực, điện cực còn lại là điện cực Pt Áp một hiệu điện thế xác định vào hai điện cực của hệ thống điện hoá trên thì Li+trong dung dịch sẽ đi vào màng V2O5 và tham gia phản ứng tạo LiV3O8
Hình 7: Mô hình không gian cấu tạo của Li x V 2 O 5.
Li mạng V2O5
Trang 16Tuy nhiên, tổng hợp vật liệu LiV3O8 theo phương pháp này thì sản phẩm mà chúng ta thu được không thuần khiết ở dạng LiV3O8 mà ta được sản phẩm là hỗn của họ LixV3O8 và x có thể nhận nhiều giá trị khác nhau: 0,8; 1; 2…Do đó nếu ta lấy hỗn hợp này khảo sát thì kết quả là không đáng tin cậy cho vật liệu LiV3O8
Phương pháp rắn là phương pháp mà các chất tham gia phản ứng đều ở dạng rắn Khi các chất đều ở dạng rắn thì khả năng khuấy trộn để các chất ban đầu khuếch tán vào nhau là hoàn toàn khó khăn, khả năng đồng nhất thấp cho
dù chúng ở dạng bột mịn Điều đó cũng có nghĩa là các phản ứng muốn xảy
ra hoàn toàn thì quá trình phải thực hiện ở điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ cao, thời gian phản ứng kéo dài…
Để tổng hợp LiV3O8 bằng phương pháp này thì thông thường chúng ta hay dùng chất ban đầu là Li2CO3 và V2O5 ở dạng bột khan (bột càng mịn càng tốt) Các bột này được trộn với nhau theo tỉ lệ xác định, sau đó cho vào cốc sứ
và đem gia nhiệt ở nhiệt độ 650oC [8,14,18] Ở nhiệt độ này Li2CO3 và V2O5
đều nóng chảy và phản ứng với nhau Sản phẩm cuối cùng ta thu được là LiV3O8 ở dạng vón cục Muốn sử dụng vật liệu này làm chất hoạt động điện cực thì ta phải đem nghiền chúng thành dạng bột mịn, độ xốp lớn, diện tích bề mặt lớn…
Trong các phương pháp tổng hợp LiV3O8 ở trên thì phương pháp khả quan hơn cả là dùng phương pháp sol-gel, theo phương pháp này thì thời gian phản ứng xảy ra nhanh, không cần gia nhiệt ở nhiệt độ cao, tính ổn định cao…và đặc tính điện hoá của LiV3O8 là rất cao Trong đồ án này dùng phương pháp tổng hợp, điều chế LiV3O8 theo phương pháp sol-gel
I.4 Nguồn điện Lithi
Trang 17I.4.1 Sơ lƣợc về nguồn điện Lithi
Nguồn điện Li đã được nghiên cứu từ thế kỉ trước và thật sự phát triển mạnh trong những năm 80-90 của thế kỉ 20 Hiện nay, những nghiên cứu xung quanh nguồn điện Li và Lithi ion vẫn đang được quan tâm và phát triển trong lĩnh vực chế tạo nguồn điện hoá học Những đặc điểm vượt trội quan trọng của nguồn điện Li khi sử dụng vật liệu anot là [4]:
1 Điện thế cặp Li+/Li rất âm, rất thích hợp cho việc chế tạo một nguồn điện có điện thế cao với những điện cực dương thích hợp
2 Mật độ tích trữ điện tích của ác quy Li là rất cao vì khối lượng nguyên tử Li là rất nhỏ (1 Faraday chỉ cần ứng với 7g kim loại hoà tan)
3 Điện cực Li có thể cho mật độ dòng phóng cao
4 Một số dạng nguồn điện Li có thể nạp lại
Bảng 2: Dung lượng tích trữ năng lượng của một số loại vật liệu anot
Tuy nhiên, khi bắt đầu nghiên cứu nguồn điện Li, các nhà nghiên cứu
đã gặp nhiều khó khăn do đặc tính hóa học mạnh mẽ của kim loại này Li dễ
bị oxy hoá trong không khí, phản ứng với nhiều chất vô cơ, hữu cơ, bùng cháy khi gặp nước…Chính vì thế, các vấn đề đặc thù còn tồn tại với nguồn điện Li là [4]:
Môi trường điện li phải không có nước Năm 1958, W.Harris đã tìm ra hệ dung môi hữu cơ propylen cacbonat và nó đóng một dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của pin Li sau này
Trang 18 Vấn đề sử dụng an toàn của pin Li
Chọn lựa vật liệu catot phù hợp
Nguồn điện Li đòi hỏi công nghệ chế tạo xuất phát từ nguyên lí tích trữ, kết cấu hoàn toàn mới
Bên cạnh đó, khi vật liệu Li được đưa vào sử dụng cũng gặp phải những vấn đề làm giảm đi ưu điểm của loại nguồn điện này Đó là:
Các mầm Li đầu tiên xuất hiện khi nạp lại nguồn, thường bị thụ động hoá do phản ứng với dung dịch điện ly tạo thành lớp bề mặt cách điện với anot nền, làm cản trở hoạt động của anot mặc dù màng kết tủa vẫn cho phép dẫn ion qua nó
Trong quá trình làm việc ở một số điều kiện (Ví dụ: dòng điện phóng, nạp quá mạnh) lớp bề mặt trở nên xốp, xảy ra phản ứng mãnh liệt giữa mầm Li mới tạo thành và dung môi đồng thời toả nhiệt cục bộ Nhiệt độ có thể lớn hơn nhiệt nóng chảy của Li (1800C) kèm theo cháy nổ gây nguy hiểm
Sự nạp lại sẽ làm giảm Li trên bề mặt vật liệu anot do thụ động đặc biệt tại những điểm lõm Quá trình kết tủa ưu tiên ở những phần gồ ghề sẽ sinh gai, cây gây chập mạch phá huỷ pin ác quy
Một vấn đề mới được quan tâm trong nguồn điện Li là hệ dung dịch điện ly Với các nguồn điện thông thường, hệ điện ly luôn có dung môi là
H2O Đây là dung môi lý tưởng vì có thông số điện hoá cao (ε = 78,4), độ nhớt thấp (η = 0,890 cP) thích hợp với việc hoà tan tốt các chất điện ly và dẫn ion trong dung dịch [4] Nhưng với nguồn điện Li thì môi trường nước buộc phải loại bỏ vì:
Trong nguồn điện ly thi không có nước vì Li phản ứng với H2O tạo ra nhiệt mạnh gây ra cháy nổ
Trong nguồn ion, ta thay anot Li kim loại bằng vật liệu cài anot (ví dụ: LixC6) thì vật liệu an toàn trong nước nhưng điện thế của vật liệu catot như LiMxOy (M: Mn, Ni, Co) hay V2O5, V6O13 …đều ≥ 3(V) và lớn hơn điện thế phân huỷ của H2O ≈ 1,23(V)
Trang 19Như vậy, dung môi cho nguồn điện Li, Li ion phải là có cực, không phân ly proton, thông số hoá lý càng giống H2O càng tốt nghĩa là momen lưỡng cực cao, hằng số điện môi lớn, độ nhớt nhỏ, khối lượng riêng thấp Các thông số này quan trọng vì nó liên quan tới khả năng hoà tan muối dẫn và cải thiện được độ dẫn vốn rất kém của dung môi hữu cơ Ngoài ra, các dung môi này phải bền, không phản ứng với điện cực, không làm giảm hoạt độ của ion
Li+ Số vận chuyển của ion Li+ trong các dung môi này t+ phải ≈ 1,0 Thực tế, không có dung môi hữu cơ nào có đầy đủ tính chất trên Các dung môi có ý nghĩa thực tiễn và hiện đang được ứng dụng là: Propylen cacbonat (PC), Ethylen cacbonat (EC), Tetrahydrofuran (THF), Dymethylsunfoxid (DMSO)…[4] Tuy vậy việc sử dụng các dung môi hữu cơ luôn phức tạp, khó khăn, ứng dụng thực tế khó đạt hiệu quả cao Gần đây trên thế giới, một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về nguồn điện Li trong hệ điện dịch nước và đã đạt một số kết quả nhất định Nếu những nghiên cứu này thành công thì sẽ mở ra một con đường mới rộng mở hơn cho nguồn điện Li ứng dụng vào cuộc sống
Mặc dù còn tồn tại nhiều vấn đề về vật liệu điện cực và điện ly, tuy nhiên với những tính năng vượt trội của mình, nguồn điện Li và Li-ion vẫn được nghiên cứu phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây
I.4.2 Một số nguồn điện Lithi
I.4.2.1 Ác quy Lithi – Cacbon Monofluoride
Phản ứng anot: nLi → nLi+ + ne- (17)
Dung lượng danh nghĩa
Dòng phóng (mA) Kích
thước(mm)
Trang 20Đường kính
I.4.2.2 Ác quy Lithi – Thionyl Chloride
Anốt là kim loại Liti, catốt là Cácbon xốp, màng xốp bằng thuỷ tinh hay polyme Chất điện ly là Thionyl Chloride chứa muối tan Ví dụ Lithi tetracloaluminate [4]
Phản ứng anốt: 4Li → 4Li+ + 4e- (20) Phản ứng catốt: 2SOCl2 + 4Li+ + 4e- → 4LiCl + S + SO2 (21) Phản ứng tổng: 4Li + 2SOCl2 → 4LiCl + S + SO2 (22)
I.4.2.3 Nguồn điện Lithi-mangandioxit
Loại nguồn điện này hiện nay sử dụng rất rộng rãi, phổ biến bởi vật liệu làm điện cực là MnO2 có thể điều chế dễ dàng bằng phương pháp điện hoá
Trong quá trình phóng thì ta có:
Phản ứng anot: Li → Li+ + e- (23) Phản ứng catốt: MnO2 + Li+ + e- → MnO2-(Li+) (24) Phản ứng tổng: MnO2 + Li → LiMnO2 (25)
Ở đây các ion Li+
trong dung dịch điện ly sẽ đi vào trong các rãnh, hốc của vật liệu MnO2 và nhận điện tử e ở đó và nằm lại đây [4] Trong quá trình nạp tiếp theo các nguyên tử Li sẽ nhường điện tử e và trở thành ion Li+ đi ra ngoài dung dịch điện ly
Trang 21Ngoài các nguồn điện trên còn có rất nhiều loại nguồn điện khác như Lithi polyanilin, đặc biệt trong đề tài này chúng ta quan tâm là pin Lithi-Vanadi Khi đó thì loại vật liệu làm điện cực thường có độ xốp lớn hay có bề mặt riêng lớn để có thể cho ion Li+ có thể ra vào và nằm lại ở trong đó Loại vật liệu như vậy người ta gọi chung là vật liệu cài
I.4.3 Sơ lƣợc về vật liệu cài
Như đã biết cơ chế chủ yếu của quá trình phóng, nạp của các nguồn điện Li là cơ chế cài và khử cài của ion Li+
vào các vật liệu cài [4] Vật liệu cài là họ vật liệu được hình thành bằng phương pháp tổng hợp pha rắn hay các phương pháp đặc biệt khác trên sự thâm nhập của các tiểu phân “khách” (ion, phân tử) có kích thước nhỏ đi vào một hợp chất rắn “chủ” mà trong mạng lưới cấu trúc tồn tại những vị trí trống Có thể minh hoạ hợp chất “chủ”,
“khách” dưới dạng một phản ứng hoá học như sau [4]:
Về nguyên tắc thì quá trình tích thoát của các tiểu phân “khách” trong cấu trúc “chủ” là không tự xảy ra Thật vậy, ngay cả khi các tiểu phân là các ion H+ hay Li+ thì vẫn có một kích thước xác định đáng kể, hơn nữa lại mang điện tích, cho nên khi có mặt trong ô trống (vị trí trống, đường hầm, kênh, rạch…) có thể dẫn đến tương tác hoá trị, thay đổi liên kết mạng lưới ở mức độ nhiễu loạn Tuy nhiên, đặc điểm của hợp chất cài là dưới tác dụng của gradien thế hoá hay thế điện hoá, quá trình tích, thoát ion vào trong ô mạng rắn (cũng
Trang 22có thể coi là quá trình khuếch tán) diễn ra chậm nên coi như không có sự phá
vỡ cấu trúc, do đó quá trình có thể xem như là đi qua hàng loạt các trạng thái cân bằng
Hoá học của hợp chất “chủ”, “khách” được biết đến từ những năm
1841 và lần đầu được B.Steclơ và M.Armand đề xuất ứng dụng trong pin Li vào năm 1973 Ngày nay, họ vật liệu cài đã trở thành một họ vật liệu quan trọng trong xu hướng thay thế điện cực kim loại để chế tạo những nguồn điện mới làm việc theo cơ chế cài và khử cài, có khả năng làm việc lâu dài, sử dụng được nhiều lần, góp công lớn vào việc tiết kiệm nguyên vật liệu, bảo vệ môi trường
CHƯƠNG II CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 23Các vật liệu, sản phẩm sau khi được điều chế, chế tạo ra thì điều quan trọng là chúng ta phải khảo sát được tính chất điện hoá của chúng Đó là khảo sát hình thái bề mặt, thành phần cấu tạo, cấu trúc…cùng khả năng điện hoá của chúng Từ những đặc tính đó chúng ta có thể rút ra được các kết luận, hướng phát triển và những ứng dụng của chúng vào trong thực tiễn sản xuất Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp để nghiên cứu, trong phần này giới thiệu một số phương pháp dùng để nghiên cứu vật liệu LiV3O8
+ Kính hiểm vi điện tử quét SEM (Scanning electron microscopy) + Phổ nhiễu xạ tia Rơn-ghen (tia X) XRD (X-ray diffraction)
+ Phương pháp quét thế vòng CV (Cyclic voltammetry)
II.1.Kính hiểm vi điện tử quét SEM
Đây là phương pháp khảo sát hình thái bề mặt và cấu trúc lớp mỏng dưới bề mặt trong điều kiện chân không hay khảo sát bề mặt điện cực hoặc bề mặt bị ăn mòn, cũng như để phân tích thành phần hoá học của bề mặt [2] Đối với phương pháp này thì yêu cầu bề mặt của vật đo là phải dẫn, nếu bề mặt không dẫn thì phải phủ trước cho mẫu một lớp màng mỏng kim loại cỡ 10nm ( ví dụ vàng phun chẳng hạn ) để tránh hiện tượng điện tích tập trung trên bề mặt mẫu
Nguyên tắc hoạt động: Tia điện tử phát ra từ súng 1 được hệ thấu kính
2 ; 3 hội tụ rồi quét lên mẫu đo 4 Một hay nhiều detector 5 thu nhận điện tử thứ cấp phản xạ từ mẫu đo 4, sau khi khuyếch đại ở 6 được đưa đến bộ phận thu tín hiệu 7, khi đó ở 7 sẽ thu được hình ảnh của mẫu đo
Sơ đồ cấu tạo như sau:
1- súng điện tử (bắn nguồn e)
2- thấu kính 1
3- thấu kính 2
4- vật đo
Trang 245- Detector
6- khuếch đại
7- thu tín hiệu
Hình 8: Sơ đồ hoạt động của phương pháp SEM
Trong phương pháp này, mẫu nghiên cứu được bắn phá bằng các chùm tia đơn sắc có độ hội tụ cao Nếu mẫu mỏng (mỏng hơn 200nm), các tia xuyên qua mẫu sẽ được thu nhận và chuyển đổi thành các thông tin cần thiết,
đó là kỹ thuật TEM (transfer electron microscopy) [2] Còn với kỹ thuật SEM (scanning electron microscopy), mẫu nghiên cứu phải đủ dày để các tia tới không xuyên được qua mẫu Khi đó, các sản phẩm tương tác (tia thứ cấp) sẽ
đi theo hướng khác ra khỏi bề mặt mẫu và được thu nhận để chuyển thành các dạng thông tin cần thiết
II.2 Phổ nhiễu xạ tia Rơn-ghen (tia X) XRD
Nguyên lý:Khi các chùm tia X truyền qua một chất (ở dạng rắn, lỏng
hay khí), chùm tia sẽ tương tác với các điện tử (trong các nguyên tử của chất nghiên cứu) hoặc ngay cả với nhân nguyên tử nếu chùm tia có năng lượng đủ lớn
Một phần năng lượng tia X sẽ bị mất đi do hiệu ứng tán xạ, trong đó phương truyền của chùm tia sẽ bị thay đổi khi tương tác Khi đó tán xạ có thể làm thay đổi bước sóng hoặc không thay đổi bước sóng của bức xạ tới
Theo lý thuyết cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể cấu tạo từ những nguyên
tử hay ion phân bố một cách đều đặn trong không gian theo một quy luật xác định Khoảng cách giữa các nguyên tử hay ion cũng khoảng vài bước sóng tia
X Do đó tia X tới đập vào mặt tinh thể và đi vào bên trong nó, thì mạng tinh thể đóng vai trò của một cách tử nhiễu xạ đặc biệt Theo phương trình Vulf – bragg:
2dSin
Trong đó: d : khoảng cách giữa hai mặt phẳng nguyên tử thuộc mạng lưới của tinh thể phân tích
Trang 25θ: là góc giữa chùm tia X và mặt phẳng phản xạ
Khi biết được d, θ, ta sẽ tính được làbước sóng của tia phản xạ Khi chiếu chùm tia X lên mẫu với các góc khác nhau ta thu được giản đồ nhiễu xạ Rơnghen mà với mỗi chất thì tinh thể của nó có một bộ vạch phổ ứng với các giá trị d và cường độ I đặc trưng Việc tìm ra trên giản đồ giống nhau cả về vị trí và lẫn tỉ lệ cường độ của một chất nghiên cứu và chất chuẩn đã biết cơ sở của phép phân tích pha định tính
Hình 9: ơ đồ nguyên lý cấu tạo của máy
1- Nguồn tia Rơnghen 2 - Mẫu nghiên cứu
3, 5 – Bộ trực chuẩn 4 – Tinh thể phân tích 6- Detecter
Chùm tia Rơnghen phát ra từ anot của ống phát xạ 1 đến chiếu vào mẫu nghiên cứu 2
Các nguyên tử các nguyên tố có trong thành phần mẫu sẽ bị kích thích
và phát ra các tía đặc trưng Các tia Rơnghen có độ dài bước sóng khác nhau phản xạ trên mặt bên trong của ống Các tia xuất phát từ mẫu 2 sẽ tách thành phổ, nghĩa là phân bố theo độ dài sóng nhờ tinh thể phân tích 4 Tia phản xạ
từ tinh thể phân tích qua hệ chuẩn trục 5 sẽ được thu bằng detecter 6, sau đó được khuếch đại, chuẩn hóa, rồi ghi lại bằng các máy chỉ thị khác nhau Góc phản xạ θ của tia trên mặt phân tích bằng góc trượt
Khi chiếu tia Rơnghen lên mẫu với các góc khác nhau ta thu được giản
đồ nhiễu xạ Rơnghen mà mỗi chất tinh thể có một bộ đồ vạch ứng với các giá
Trang 26trị d và cường độ I đặc trưng Việc tìm ra trên giản đồ đó giống nhau cả về giá trị lẫn tỷ lệ cường độ của một chất nghiên cứu và chất chuẩn đã biết là cơ sở của phép phân tích pha định tính
II.3.Phương pháp quét thế vòng CV
Trong phương pháp này điện thế được biến thiên tuyến tính theo thời gian từ 0,000V/s đến 1000V/s [1] Thường người ta ghi dòng như một hàm số của điện thế Vì điện thế biến thiên tuyến tính nên cách ghi trên cũng tương đương với ghi dòng theo thời gian
Quá trình nghiên cứu thường tiến hành hệ ba điện cực:
Điện cực làm việc (Working electrode – WE): là điện cực mà ta cần nghiên cứu tính chất điện hoá
Điện cực đối (Counter electrode – CE): thường là điện cực Pt vì điện cực này có tính chất bền hóa và độ ổn định cao
Điện cực so sánh (Reference electrode – RE): là điện cực để lấy chuẩn điện thế như điện cực Calomen, điện cực bạc clorua…
Trang 27Xét quá trình sau: O + ne ↔ R
Nếu quét từ điện thế đầu tiên φđ dương hơn điện thế cực tiêu chuẩn danh nghĩa φ’o (ta dùng φ’o khi sử dụng nồng độ thay vì hoạt độ trong công thức Nernst: φ = φ’o +
) thì chỉ có dòng không Faraday đi qua [1]
Khi điện thế đạt tới φ’o sự khử bắt đầu và có dòng Faraday đi qua Điện thế càng dịch về phía âm, nồng độ bề mặt của chất O giảm xuống và sự khuếch tán tăng lên, do đó dòng điện cũng tăng lên Khi nồng độ chất O giảm xuống đến 0 ở sát bề mặt điện cực thì dòng điện đạt giá trị cực đại, sau đó lại giảm xuống vì nồng độ chất O trong dung dịch giảm xuống
Khi quét thế ngược lại về phía dương,chất R bị oxy hoá thành O khi điện thế quay về đến φ’o và dòng anot đi qua
Hình 10: Quan hệ giữa dòng và điện thế trong quét thế vòng(CV)
ipa, ipc là dòng điện cực đại anốt và catốt φpa , φpc là điện thế cực đại anốt và catốt , φ là thời điểm và điện thế bắt đầu quét ngược lại
Khi đó sẽ xuất hiện một cực đại:
Ip = k.n2/3.D1/2.C.v1/2
Trong đó: k : hằng số Randles-Sevcide;
n : số điện tử trao đổi;
D : hệ số khuếch tán;
Trang 28CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM
III.1 Hoá chất và dụng cụ nghiên cứu
+ LiOH, V2O5 tinh khiết của Trung Quốc
+ Dung dich nTiO2(H2O)x(OH)y, iso propanol
+ Dung dịch tẩy rửa: K2Cr2O7 + H2SO4 1M
Trang 29+ Dung dịch Axeton tinh khiết ≥ 99,5%
+ Dung dịch tẩy kính: K2Cr2O7 0,1M + H2SO4 0,1M
+ Dung dịch axit: HClO4, HNO3, HF, H2SO4
+ Điện cực Ti tấm kim loại 99,995%
+ Kính ITO: 20 tấm, keo Êpoxy + Dây điện
+ Dụng cụ thí nghiệm bao gồm: máy khuấy từ + gia nhiệt, bộ chỉnh lưu dòng một chiều, đồng hồ vôn mét, ampe mét, máy siêu âm
+ Thiết bị đo CV
+ Điện cực tấm, lưới Platin, điện cực Ag/AgCl
+ Bình định mức 1000ml, 500ml, 200ml, 100ml, cốc thuỷ tinh 100ml, 250ml, 500ml, phễu, đũa khuấy thuỷ tinh, cối mã lão, cối và chày ép điện cực bằng thép không gỉ, cầu muối
+ Nước cất một lần, hai lần
III.3 Các quá trình thực nghiệm
III.3.1 Tổng hợp LiV 3 O 8 bằng phương pháp Sol-gel
Để tổng hợp vật liệu LiV3O8 chúng ta cần các chất ban đầu là LiOH,
V2O5, iso propanol (CH3)2CHOH
+ Các cốc dùng trong quá trình thí nghiệm đều được siêu âm bằng dung dịch K2Cr2O7 + H2SO4 1M, sau đó rửa sạch bằng nước thường rồi tiếp tục siêu âm bằng nước cất một lần Thời gian mỗi lần siêu âm là 15 phút
+ Dùng cân phân tích cân chính xác lượng LiOH và V2O5 theo tỉ lệ số mol là Li : V = 1: 3
+ Lấy 100ml H2O vào cốc 250ml đã rửa sạch và gia nhiệt đến 80oC sau
đó cho lượng LiOH vào và khuấy trong vòng 1h (ở 80o
C) Tiếp tục cho lượng
V2O5 vào và khuấy trong vòng 2h (vẫn ở 80oC) Cuối cùng cho 30ml iso propanol vào, khuấy và gia nhiệt thêm cho đến khi thấy dung dịch chuyển từ màu vàng nhạt sang màu nâu đỏ là phản ứng kết thúc Sản phẩm thu được ở dạng gel Ta sẽ lấy ra 1/10 sản phẩm để tạo màng cho quá trình nghiên cứu sau này, phần còn lại ta đem cô đặc thành bột ở nhiệt độ 600C cho đến khi
Trang 30nước bay hơi hết Bột thu được tiếp tục cho vào sấy trong môi trường chân không ở 60oC trong vòng 20h Bột này lấy một ít đem đi chụp X-ray, chỗ còn lại tiếp tục sấy trong chân không 16h ở 180oC
III.3.2 Tạo màng trên kính ITO
Kính ITO được cắt ra thành từng mảnh với diện tích 20 x 10 mm Sau
đó đem rửa kính trong dung dịch Na2CO3 + NaOH để tẩy sạch dầu mỡ, tráng bằng nước thường, nước cất rồi ngâm trong dung dịch tẩy kính K2Cr2O7
khoảng 16h rồi rửa sạch bằng nước thường, nước cất Siêu âm trong nước cất khoảng 15 phút, rửa sạch, siêu âm trong axeton khoảng 10 phút rồi đem đi sấy khô (chú ý tránh không được làm xước bề mặt kính)
Định vị kính trên những tấm thuỷ tinh lớn như hình vẽ dưới đây (hình 11)
Sản phẩm ở dạng keo bớt lại ở trên ta đem pha loãng bằng dung dịch HNO3 0.1M theo tỉ lệ LiV3O8 : HNO3 (0,1M) = 1 : 9 (gọi tắt là dung dịch LiV3O8)
Dùng dung dịch TiO2(H2O)x(OH)y (được pha loãng bằng dung dịch HNO3 0.1M theo tỉ lệ dd TiO2 : dd HNO3 = 1 : 4) cũng được dùng để tạo màng (gọi tắt là dung dịch TiO2)