1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đời sống văn hóa của người lao động việt nam trên báo điện tử (khảo sát báo lao động online, lao động thủ đô online, người lao động online từ tháng 9 2014 2 2015)

128 334 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Gần với đề tài nghiên cứu về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên báo điện tử có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sơn Mi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

VẤN ĐỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội-2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

VẤN ĐỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

(Khảo sát báo Lao động online, Lao động thủ đô online, Người lao động

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo tại Khoa Báo chí và Truyền thông Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong những năm vừa qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sĩ Đậu Ngọc Đản, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà báo, bạn bè, đồng nghiệp… cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành Luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn bạn bè, người thân, những người đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 5

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5.Phương pháp nghiên cứu 6

6.Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7

7.Kết cấu luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1: Cơ sở lý luận về báo điện tử và vấn đề đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 9

1.1.Khái niệm báo điện tử và đặc điểm của báo điện tử 9

1.1.1.Khái niệm báo điện tử 9

1.1.2.Đặc điểm của báo điện tử 10

1.2.Văn hóa và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động 12

1.2.1.Khái niệm và đặc trưng của văn hóa 12

1.2.2.Đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 15

1.2.2.1.Đời sống văn hóa 15

1.2.2.2.Người lao động 17

1.2.3.Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 18

1.3.Mối quan hệ giữa báo điện tử và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 20 1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 27

Trang 6

Chương 2: Thực trạng báo điện tử phản ánh về đời sống văn hóa của người lao

động Việt Nam 33

2.1 Giới thiệu báo điện tử được chọn để khảo sát 33

2.1.1 Báo Lao động online 33

2.1.2 Báo Người lao động online 34

2.1.3 Báo Lao động thủ đô online 35

2.2 Nội dung thông tin về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên các báo điện tử được khảo sát 36

2.2.1 Thông tin chung 36

2.2.2 Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa của người lao động 40

2.2.3 Thông tin về hoạt động bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giáo dục truyền thống và cách mạng trong người lao động 46

2.2.4 Thông tin về các hoạt động văn nghệ quần chúng của người lao động 49

2.2.5 Thông tin về hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa của người lao động, văn hóa trong lao động sản xuất 50

2.2.6 Phản ánh hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí của người lao động 51

2.2.7 Phản ánh hoạt động xã hội từ thiện của người lao động 52

2.2.8 Báo chí nêu gương cổ vũ những cá nhân, tập thể có đời sống văn hóa lành mạnh điển hình 53

2.2.9 Báo chí bảo vệ quyền lợi người lao động, tham gia giám sát, phản biện trong hoạt động xây dựng đời sống văn hóa của người lao động 54

2.3 Hình thức thể hiện nội dung đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên báo điện tử 55

2.3.1 Các thể loại báo chí được sử dụng 55

2.3.1.1 Thể loại tin 57

2.3.1.2 Thể loại bài phản ánh 58

2.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ báo điện tử về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam 59

Trang 7

2.3.2.1 Khái quát chung 59

2.3.2.2 Cách đặt tít 60

2.3.2.3 Ngôn ngữ phi văn tự 64

2.4 Hiệu quả công tác thông tin về đời sống văn hóa người lao động trên báo điện tử 65 2.4.1 Nâng cao nhận thức cho xã hội trong việc thông tin về đời sống văn hóa của người lao động 66

2.4.2 Phản biện, hoàn thiện những chính sách về đời sống văn hóa của người lao động 70

2.4.3 Nêu gương cổ vũ nhân tố mới trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa của người lao động 72

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thông tin về đời sống văn hóa của người lao động trên báo điện tử 74

3.1 Những khó khăn, hạn chế của báo chí khi phản ánh vấn đề đời sống văn hóa của người lao động 74

3.2 Nguyên nhân 75

3.3 Một số kiến nghị tăng cường hiệu quả thông tin về vấn đề đời sống văn hóa người lao động trên báo điện tử 76

3.3.1 Tăng cường sự định hướng, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong quản lý báo chí về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động 76

3.3.2 Về cách thức tổ chức nội dung tin, bài 78

3.3.3 Về việc tiếp cận đối tượng công chúng 82

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

Trang 8

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cho con người là một nhiệm vụ thiết yếu đối với xã hội Nó cũng quan trọng không kém việc xây dựng và phát triển chính trị, kinh tế Và đời sống văn hóa là một trong những yếu tố để phát triển kinh tế bền vững, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội

Đời sống văn hóa không chỉ là yếu tố trực tiếp tác động đến đời sống kinh tế, chính trị mà nó còn bảo đảm cho kinh tế, chính trị phát triển đúng hướng Đời sống văn hóa lành mạnh sẽ như cơ thể khỏe mạnh làm cho mỗi người, mỗi tổ chức phát huy tinh thần sáng tạo, yêu nghề nghiệp, nâng cao vốn hiểu biết khoa học, kỹ thuật để từ đó góp phần xây dựng nền kinh tế - chính trị vững mạnh

Công nhân, viên chức, người lao động là một bộ phận quan trọng hàng đầu trong xã hội Họ là bộ phận tạo ra những giá trị vật chất của xã hội Theo điều tra kết quả điều tra dân số, năm 2011, trong tổng số 67,1 triệu người từ

15 tuổi trở lên có hơn ba phần tư (77,0%) tham gia lực lượng lao động Như vậy, có thể thấy người lao động là bộ phận chiếm đa số trong tổng dân số của đất nước

Để nâng cao đời sống văn hóa trong xã hội, cần phải xây dựng văn hóa

trong mọi bộ phận Chính vì vậy, việc nâng cao đời sống văn hóa cho người

lao động là hoạt động cần được lưu ý và đẩy mạnh hơn nữa

Sự phát triển của công nghệ thông tin toàn cầu (internet) đã tạo ra một loại hình báo chí mới, đó là báo điện tử Báo điện tử ra đời với nhiều ưu điểm vượt trội hơn các loại hình báo chí khác Có thể nói, ở đó hội tụ cả ba loại hình báo chí đi trước: báo phát thanh, báo truyền hình và báo in Trong nhiệm

vụ xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của người lao động Việt Nam, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng giữ một vai trò quan trọng Báo chí vừa là công cụ truyền bá văn hóa, vừa là một sản phẩm, một thành tố

Trang 9

2

văn hóa, tham gia tích cực trong việc lưu giữ, truyền bá và làm giàu kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại Mặc dù chỉ là một kênh thông tin nhưng báo điện tử là phương tiện đặc biệt có hiệu quả trong việc thực hiện các chức năng của văn hóa từ giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, đến giao tiếp, giải trí và dự báo

Như vậy, việc xem xét, đánh giá về vai trò của báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đối với việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của người lao động là đòi hỏi cấp bách

Có thể thấy, vấn đề đời sống văn hóa của người lao động là một nội dung rất rộng, bao gồm các nội dung: Trách nhiệm xã hội của người lao động; Đạo đức nghề nghiệp của người lao động; Ý thức pháp luật của người lao động; và Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh của người lao động Tuy nhiên, luận văn tập trung phân tích các nội dung được các báo điện tử Lao động online, Lao động thủ đô online và Người lao động online phản ánh về đời sống văn hóa của người lao động Trong đó chủ yếu là các nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa của người lao động và các hoạt động văn hóa tinh thần của người lao động

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Những công trình nghiên cứu về văn hóa

Qua các công trình như “Việt Nam văn hoá sử cương” của Đào Duy Anh (1938), “Bản sắc văn hoá Việt Nam” của Phan Ngọc (2000), “Cơ sở văn hoá Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (2000), “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm (2001), “Biên khảo thuần phong mỹ tục Việt Nam” của Sơn Nam (1994), “Một nền văn hoá văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc” của GS Hà Minh Đức (2005); Phan Ngọc (2013), “Nền văn hoá mới của Việt Nam”; Trần Quốc Vượng (2000), “Văn hoá Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm”; Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hoá Việt Nam”; Nguyễn Tài Cẩn (2001), “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá”; Trường

Trang 10

3

Lưu (2006), “Văn hoá Việt Nam – truyền thống và hiện đại”; Hà Văn Tấn (2005), “Đến với lịch sử văn hoá Việt Nam”; GS.TS Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2010), “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”; GS.TS Đỗ Huy (2013), “Văn hoá Việt Nam – Trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển”; PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ (2012)“Văn hóa Việt Nam truyền thống: một góc nhìn”;

Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, Ngô Thị Thanh Quý

(2013), “Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hoá hiện nay”… chúng

ta thấy được các nhà nghiên cứu đã xây dựng căn bản những kiến thức quan trọng nhất về sự hình thành, định hình và những bước phát triển của nền văn hoá Việt Nam, từ khởi thuỷ đến hiện nay

- Các tác giả khác nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hoá và các phương tiện truyền thông đại chúng, bao gồm các phương tiện truyền thông mới, sự ảnh hưởng của PTTT mới đến văn hoá Việt Nam, như Bùi Hoài Sơn

(2006), “Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội”, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội; Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), “Quản lý văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội; Đặng Thị Thu Hương (2013), “Một số vấn đề về truyền thông đại chúng, văn hoá đại chúng và văn hoá truyền thông trong kỷ nguyên số”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập, tháng 5/2013, Hà Nội; Nguyễn Thành Lợi (2013), “Hình thái văn hoá và quyền lực văn hoá của truyền thông hội tụ”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn

hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập, tháng 5/2013, Hà Nội

- Gần với đề tài nghiên cứu về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên báo điện tử có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sơn Minh năm 2014 nghiên cứu về

vấn đề: “Báo điện tử với vấn đề xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay” Luận án đã tìm hiểu, phân tích tổng thể quy trình truyền thông của

Trang 11

4

loại hình phương tiện báo chí mới – báo điện tử trong hoạt động thông tin văn hoá, để xây dựng được một quy trình tổ chức và phương pháp thông tin hiệu quả nhất Đồng thời, Luận án cũng đưa ra những ý tưởng mới, những đề tài nghiên cứu mới xung quanh vấn đề này

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương năm 2013 nghiên

cứu vấn đề: “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” Luận văn hệ thống hóa những quan điểm cơ bản về đời sống

văn hóa tinh thần và làm rõ tầm quan trọng của xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; Đánh giá thực trạng quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân cơ bản và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết; Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp cơ bản góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

Và còn một số công trình nghiên cứu khác cũng nghiên cứu về mối quan

hệ giữa văn hóa và báo chí Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vai trò của báo điện tử với việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam.Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài:

“Vấn đề đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên báo điện tử”

Nội dung luận văn sẽ làm sáng tỏ vấn đề thông qua xem xét, nghiên cứu các vấn đề văn hóa được đăng tải trên những tác phẩm báo chí cụ thể Trong khuôn khổ của luận văn này, người viết sẽ khảo sát và nghiên cứu những tờ báo điện tử: Lao động online, Người lao động online, Lao động thủ đô online

Trang 12

đô online từ ngày 1/9/2014 đến ngày 28/2/2015 từ đó đưa ra những đánh giá

về hình thức hoạt động cũng như thông tin bài vở về công tác xây dựng đời sống văn hóa của người lao động trên các tờ báo này với những kết quả, đóng góp và hạn chế

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về báo điện tử và vấn đề đời sống văn hóa của người lao động

- Phân tích thông điệp về đời sống văn hóa của người lao động trên 3 tờ báo điện tử Lao động online, Người lao động online và Lao động thủ đô online từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015

- Phỏng vấn sâu một số nhà báo hoạt động trong lĩnh vực thông tin về đời sống văn hóa của người lao động từ đó phân tích quan điểm của họ về vấn đề này

- Khảo sát, lấy ý kiến công chúng về các thông tin về đời sống văn hóa của người lao động trên 3 tờ báo điện tử nói trên

Trang 13

6

- Dựa trên kết quả phân tích, khảo sát nội dung, phỏng vấn sâu và khảo sát công chúng để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các thông điệp về đời sống văn hóa của người lao động trên báo điện tử

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là những thông tin về công tác xây dựng đời sống văn hóa của người lao động trên 3 tờ báo điện tử, những hiệu quả, hạn chế và những tác động

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài thực hiện trong 6 tháng, từ tháng 09 –

2014 đến tháng 02 – 2015 Phạm vi khảo sát là 3 báo điện tử: Lao động online, Người lao động online và Lao động thủ đô online

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý thuyết của việc nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận văn là những lý thuyết nền tảng về truyền thông, báo điện tử, văn hóa, đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam, tác động của truyền thông với văn hóa, trong đó lý luận hướng về việc tác động giữa truyền thông với việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của người lao động

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu có sẵn: tìm hiểu những nghiên cứu về

truyền thông, báo điện tử, văn hóa doanh nghiệp, tương tác giữa truyền thông

và văn hóa Phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp phân tích nội dung: tác giả tiến hành đọc và phân tích

các bài báo trên báo điện tử Lao động online, Người lao động online và Lao

Trang 14

7

động thủ đô online, từ đó tổng hợp và khái quát để chỉ ra những điểm tích cực

và hạn chế của hoạt động truyền thông về đời sống văn hóa của người lao động trên báo điện tử

- Phương pháp điều tra xã hội học: tác giả tiến hành điều tra bằng bảng

hỏi kết hợp phỏng vấn các đối tượng là người lao động ở một số quận, huyện trên địa bàn Hà Nội để đánh giá hiệu quả của báo điện tử trong việc góp phần xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

- Phương pháp phỏng vấn: tác giả tiến hành phỏng vấn với một số nhà

báo hoạt động trong lĩnh vực đời sống văn hóa của người lao động để có những đánh giá chung về những khó khăn, thuận lợi trong quá trình tác nghiệp cũng như những biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thông tin trong lĩnh vực này

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn khái quát những lý luận về mối quan hệ tương tác giữa truyền thông với văn hóa, đặc biệt là tác động của truyền thông với việc xây dựng đời sống văn hóa của người lao động làm cơ sở lý luận cho hoạt động xây dựng đời sống văn hóa của người lao động ở Việt Nam hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc nghiên cứu cụ thể các bài báo trên báo điện tử Lao động Online, Người lao động online, Lao động thủ đô online cũng như việc phỏng vấn độc giả để có những đề xuất thiết thực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về đời sống văn hóa của người lao động cũng như nâng cao hiệu quả truyền thông văn hóa trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Trang 15

8

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về báo điện tử và vấn đề đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng báo điện tử phản ánh về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

- Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thông tin về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam trên báo điện tử

Trang 16

9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận về báo điện tử và vấn đề đời sống văn

hóa của người lao động Việt Nam 1.1 Khái niệm báo điện tử và đặc điểm của báo điện tử

1.1.1 Khái niệm báo điện tử

Sự ra đời của internet đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội Đặc điểm nổi bật nhất của internet là khả năng lưu giữ, truyền tải và cung cấp một lượng dữ liệu khổng lồ Khác với các phương tiện truyền thông đại chúng khác là chỉ phát đi tin tức một chiều đến công chúng, truyền thông internet là quá trình tương tác hai chiều, trong đó các thành viên vừa là người phát tin vừa là người tiếp nhân các thông tin Xét trên phương diện báo chí thì internet và Word Wide Web đã kéo theo sự ra đời của một loại hình xuất bản điện tử, hay nói cách khác là các loại hình báo chí mới: Báo điện tử và mạng thông tin trực tuyến

Cùng với sự phát triển chóng mặt của các công nghệ kết nối, giúp đẩy nhanh tốc độ truyền tải, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới, truyền tải thông tin dưới mọi hình thức mà các loại báo truyền thống cung cấp Người lướt web không chỉ được cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết

mà còn có thể nghe rất nhiều kênh phát thanh và xem truyền hình ngay trên website báo chí

Dựa trên những định nghĩa của một số nhà nghiên cứu cũng như phân tích nhiều quan điểm và các tiêu chí xác định để đi đến một khái niệm tương đối về báo điện tử

Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một website và phát hành trên mạng internet Hay cũng có thể hiểu: Báo điện

Trang 17

10

tử là sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của các loại hình báo chí truyền thống Báo điện tử sử dụng các yếu tố công nghệ cao như là một yếu tố quyết định Quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng internet toàn cầu

1.1.2 Đặc điểm của báo điện tử

Tính tương tác cao của báo điện tử: Phản hồi là một yếu tố rất quan

trọng, thể hiện hiệu quả mang lại của quá trình truyền thông và cũng là cơ sở

để điều chỉnh nội dung, phương thức truyền thông sao cho phù hợp với nhu cầu người tiếp nhận

Khả năng đa phương tiện: Khả năng này của báo điện tử thể hiện ở sự

kết hợp ngôn ngữ viết, âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đồ họa… Thông tin được cung cấp trên báo điện tử được sự hỗ trợ của âm thanh, video clip… Với khả năng đa phương tiện này, báo điện tử đã chứng tỏ được tính ưu việt so với các loại hình báo chí truyền thống ở khả năng cung cấp thông tin toàn vẹn, sâu sắc Tuy nhiên, khi trình độ kỹ thuật – công nghệ chưa phát triển tới mức lý tưởng thì khả năng đa phương tiện này sẽ làm hạn chế, chậm quá tình tải nội dung thông tin

Tính tức thời và phi định kỳ: Báo điện tử vượt trội so với các loại hình

báo chí truyền thống khác ở chỗ: tính thời sự của sự kiện, thông tin đến với độc giả gần như tức thời Nội dung thông tin của báo điện tử không bị giới hạn, không bị cố định trên mặt giấy và cũng không bị khống chế bởi thời lượng phát sóng nên có thể bổ sung, cập nhật thông tin bất cứ lúc nào và không hạn chế số lượng Với sức mạnh công nghệ của mạng internet, thì chỉ cần máy tính xách tay, đường truyền internet là phóng viên đã có thể cập nhật tin bài Và gần như ngay lập tức, độc giả báo điện tử có thể tiếp nhận thông tin cho dù họ ở bất cứ đâu

Trang 18

11

Khả năng truyền tải thông tin không hạn chế: Internet vốn là một kho

lưu giữ thông tin khổng lồ Báo điện tử không bị hạn chế bởi số trang, thời lượng phát sóng… nên nội dung thông tin có thể phát triển không giới hạn nhờ việc thiết lập các siêu liên kết Các siêu liên kết tổ chức thông tin thành từng lớp, tạo mối quan hệ giữa thông tin mới nhất với các thông tin tham khảo cùng một chủ đề Nhờ đó, người đọc có thể dễ dàng tìm kiếm, thu nhận một lượng thông tin khổng lồ, phong phú, toàn diện về mọi vấn đề

Với những đặc điểm mang tính ưu việt như vậy, báo điện tử có được lợi thế rất lớn khi tiếp cận công chúng Công chúng được chủ động trong tiếp cận thông tin trên báo điện tử, họ có quyền lựa chọn tần suất và trình tự tiếp nhận chứ không phải tiếp nhận chứ không phải tiếp nhận lần lượt theo định sẵn như phát thanh, truyền hình Họ có quyền lựa chọn cho mình bất kì nội dung nào

mà họ muốn đọc, muốn xem, bất cứ lúc nào chỉ thông qua một cái nhấp chuột chứ không phải chờ đợi hay phải xem những thông tin mà họ không có nhu cầu

Tuy nhiên, công chúng tiếp nhận thông tin báo điện tử qua màn hình máy tính, vì thế họ bị hạn chế bởi độ rộng của màn hình, có những phần bị khuất nên công chúng không thể xác định được dung lượng và bố cục bài viết Họ phải vừa đọc vừa kéo thanh trượt dọc mới đọc được hết bài viết nếu bài viết

có dung lượng dài và cũng chỉ có thể xem được từng trang bài hiển thị trên màn hình Hơn nữa, đọc báo điện tử rất nhanh bị mỏi mắt và dễ gây ra mệt mỏi

Khi tiếp nhận thông tin trên báo điện tử, công chúng phải tập trung chú ý vào màn hình và con chuột, theo dõi thông tin theo trình tự di chuột nên nhiều khi bị gián đoạn Nói chung là độ tập trung phải cao hơn so với việc tiếp nhận thông tin trên báo in, phát thanh và truyền hình

Trang 19

12

Công chúng muốn tiếp nhận thông tin trên báo điện tử phải là những người có trình độ, ít nhất phải có sự hiểu biết về máy tính và internet và thường công chúng này là những người có độ tuổi trẻ, chủ yếu là sống ở khu vực thành thị, có nhu cầu thông tin cao và quỹ thời gian hạn hẹp Họ chỉ tranh thủ thời gian lúc nghỉ ngơi để nhấp chuột vào những đường link về một vấn

đề hấp dẫn nào đó hoặc một vấn đề họ đang quan tâm

Với những đặc điểm về bản chất cũng như sự tiếp nhận thông tin của công chúng báo điện tử đòi hỏi những người làm báo cần có sự thích ứng để tạo ra những tác phẩm báo chí phù hợp với đặc tính thông tin của loại hình, giúp đạt hiệu quả thông tin cao nhất

1.2 Văn hóa và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của văn hóa

Thế giới hiện nay là một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập, một thế giới

mở cửa, văn hóa được mọi người, mọi quốc gia chú ý Tiếp cận xã hội ở bất

cứ lĩnh vực nào, góc độ nào đều ít nhiều biến động chạm đến văn hóa

Văn hóa là tổng thể các giá trị tình cảm và tri thức, vật chất và tinh thần,

là hệ thống giá trị gắn liền với con người, với dân tộc, với lịch sử Nó là những giá trị vật chất có thể nắm bắt được như đền đài, miếu mạo… và cả những giá trị phi vật chất như nếp sống, lối ứng xử, giao tiếp, hành vi đạo đức… Văn hóa là sự đúc kết qua cuộc sống của nhiều thế hệ trong xã hội nhất định Nó vừa là nền tảng xây dựng xã hội mới, vừa là động lực giải quyết các vấn đề xã hội

Nói theo nghĩa rộng, tất cả những giá trị tinh thần và vật chất mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình, là cái biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đó là trình độ nhận thức tự nhiên, xã hội Nó bao gồm trong đó tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ

Trang 20

nhận rộng rãi: “Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kỳ năng lực, thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội”

Và theo sự phát triển của xã hội, hiện nay, văn hóa được bàn đến ở khắp mọi nơi UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Trong những nước tiên tiến, sự chi tiêu cho văn hóa ngày càng lớn, kinh doanh văn hóa trở thành thành một ngành lớn đem lại thu nhập không kém thu nhập công nghiệp và thương nghiệp Một số định nghĩa văn hóa thường gặp:

+ Văn hóa là “trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người, biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức của đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người tạo ra Văn hóa có thể được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất

và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể (thí dụ văn hóa cổ đại, văn hóa Maya, văn hóa Trung Quốc…) Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ liên quan tới đời sống tinh thần của con người” (Bách khoa toàn thư Liên Xô)

+Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, trải qua hàng nhiều thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống… mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình… Văn hóa là

thuộc tính bản chất của con người (xã hội) “Con người vốn là quả tim đích

Trang 21

14

thực của văn hóa, của một nền văn hóa” (Federico Mayor – Tổng giám đốc

UNESCO)

UNESCO đã nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này: Đó

là một phức thể – tổng thể các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống tín ngưỡng…

Bên cạnh những định nghĩa về văn hóa nêu trên, một số học giả, nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra một số nhận thức cơ bản về văn hóa:

+ Văn hóa là toàn bộ những hoạt động sáng tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị của một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định Văn hóa thể hiện trong lý tưởng sống, trong lao động và đấu tranh,

tổ chức xã hội, mức sống, lý tưởng thẩm mỹ… (GS Hoàng Trinh)

+Yếu tố hàng đầu của văn hóa là sự hiểu biết, bao gồm tri thức khoa học, kinh nghiệm và sự khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động sản xuất và đấu tranh để duy trì phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc và các thành viên trong cộng động ấy Nhưng, chỉ riêng sự hiểu biết không thôi chưa làm nên văn hóa Sự hiểu biết ấy chỉ trở thành văn hóa khi nó làm nên và định hướng cho thế ứng xử (thể hiện ở tâm hồn, đạo lý, lối sống, thị hiếu, hành vi…) của mỗi cá nhân và cả cộng đồng hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ với mình, với người, với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên… (GS Phạm Xuân Nam)

+Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu

Trang 22

15

hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác (GS Phan Ngọc)

Với cách hiểu văn hóa bao gồm văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất, văn hóa bao gồm tất cả những giá trị do con người tạo ra Không phải chỉ có những gì thuộc về tinh thần mới là văn hóa Những thứ tưởng chừng như rất đời thường như quần áo, ăn ở, đường xá, nhà cửa… cũng là những thứ thuộc

về văn hóa của con người Cùng với đó, cách sống, cách sinh hoạt, cách làm việc… cũng thuộc về phạm vi của văn hóa

1.2.2 Đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

1.2.2.1 Đời sống văn hóa

Năm 2007, cuốn Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các "tế bào" trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống

xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”

Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến:

- Đời sống vật chất: đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn

- Đời sống tinh thần: nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí, nghị lực, tư tưởng của người đó

Trang 23

16

- Đời sống xã hội: xã hội hình thành nhân cách con người Bản thân mỗi người đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân

Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Đó là quá trình các yếu tố văn hóa mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời mình

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới

Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn luôn có khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổi mới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người

Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần

Trang 24

17

theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người

1.2.2.2 Người lao động

Theo Bộ luật lao động, người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động

Phân loại người lao động:

Người lao động được hiểu bao gồm:

Người lao động trực tiếp (người công nhân trực tiếp sản xuất)

Người lao động gián tiếp (người sử dụng lao động: nhà lãnh đạo, quản lý, những người làm việc tại các phòng, ban của một đơn vị, không trực tiếp sản xuất)

Tuy nhiên, đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp Về nghĩa rộng hơn, theo C Mác, lao động được hiểu là hoạt động cơ bản của con người Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Tùy theo lĩnh vực, tính chất, hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất, kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hóa, nghệ thuật…

Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là người lao động Những người lao động, theo sự phân loại có tính chất truyền thống được chia thành: Những người lao động trong độ tuổi lao động (tùy theo từng quốc gia) có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định đã được Hiến pháp ghi nhận

Người ngoài độ tuổi lao động gồm những người chưa đến tuổi lao động, những người đã hết tuổi nghĩa vụ lao động (theo quy định của Hiến pháp) nhưng vẫn tham gia lao động

Trang 25

18

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về việc báo điện tử phản ánh đời sống văn hóa của người lao động Ở đây bao gồm tất cả những người tham gia các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ nông dân, công nhân, viên chức, cán bộ… đều là đối tượng phản ánh của các bài báo trong ba

tờ báo khảo sát

1.2.3 Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam gắn liền với định hướng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là tổng hợp những hoạt động của các cơ quan làm công tác giáo dục văn hóa nhằm tuyên truyền, giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa tinh thần của nhân dân và xây dựng nếp sống văn hóa lành mạnh tiến bộ trên từng địa bàn dân cư Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở cũng có nghĩa là xây dựng đời sống vật chất và tinh thần phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Định hướng phát triển văn hóa Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh việc thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa… làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người… Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân… Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh”

Trong hoàn cảnh hiện nay ở nước ta nói chung và một số địa phương nói riêng, có thể khái quát các hoạt động văn hóa ở cơ sở vào một số lĩnh vực sau:

- Thông tin cổ động: Đây là hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, là phương tiện đắc lực trong hoạt động tuyên truyền, đấu tranh chính trị, củng cố hệ thống xã hội Thông qua hoạt động này, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến được với người dân để mọi người có thể làm theo

Trang 26

19

- Câu lạc bộ: Là hoạt động theo nhóm, sở thích, nghề nghiệp, giới tính… Hoạt động này mang tính tự nguyện và phụ thuộc vào thời gian rỗi của mỗi người, kinh phí hoạt động mang tính xã hội hóa

Hiện nay, có nhiều mô hình câu lạc bộ phong phú như: Câu lạc bộ ông –

bà – cháu, Câu lạc bộ Thanh niên, Câu lạc bộ Âm nhạc, Câu lạc bộ văn học, Câu lạc bộ Khuyến nông… với rất nhiều lĩnh vực có hoạt động câu lạc bộ thu hút sự quan tâm tham gia đông đảo của nhiều tầng lớp nhân dân góp phần tích cực vào công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

- Thư viện, đọc sách báo: Việc xây dựng phòng đọc sách ở cơ sở nhằm phục vụ cho quần chúng nhân dân có nhiều chuyển biến tốt, có sự đầu tư chu đáo về cơ sở vật chất, sách báo phục vụ cho nhu cầu thư viện, thu hút đông đảo lượng bạn đọc

- Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng (giáo dục truyền thống): Trong thời gian qua, hoạt đông này diễn ra ở

cơ sở rất phong phú, thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân như “Học

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các chuyến du khảo đến các khu di tích, các chuyến về nguồn của thế hệ trẻ, các Câu lạc bộ truyền thống…

- Văn nghệ quần chúng: Là hoạt động sôi nổi nhất hiện nay vì nó đáp ứng kịp thời nhu cầu của quần chúng thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi… đã tạo nên sự tươi mới cho hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

- Xây dựng nếp sống mới: Hoạt động này gắn liền với cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang lễ… mang tính tổng hợp, nội dung rộng, thể hiện trên nhiều mặt kinh tế, văn hóa…

Trang 27

20

- Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí: Hoạt động này rất đa dạng nhưng cần quan tâm đến các trò chơi dân gian, các môn truyền thống phù hợp với từng lứa tuổi, nghề nghiệp…

- Hoạt động xã hội, từ thiện: Đây là hoạt động mang tính tình nguyện cao Trong những năm qua, chúng ta đã có những mô hình hoạt động rất hiệu quả như các lớp xóa mù chữ, lớp học tình thương, các cuộc vận động cho những vùng gặp bão lũ, thiên tai…

Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động, bên cạnh những lĩnh vực trên, còn phải kể đến đó là văn hóa trong lao động sản xuất, thể hiện

ở tinh thần, cách thức làm việc của người lao động Đây là một trong những vấn đề hết sức quan trọng, thể hiện giá trị của người lao động Việt Nam, thể hiện sự khác biệt của người lao động Việt Nam so với người lao động ở những nước khác Và đây cũng là vấn đề còn nhiều hạn chế cần được phản ánh để khắc phục

1.3 Mối quan hệ giữa báo điện tử và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

Tuy rằng báo điện tử là loại hình báo chí ra đời muộn hơn cả so với các loại hình báo chí khác, nhưng không phải vì vậy mà sức lan tỏa, sự ảnh hưởng của nó thua sút các loại hình báo chí truyền thống ra đời trước đó Trong thời gian vài năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng internet và các dịch vụ thông tin trên internet đã có sự gia tăng chóng mặt Ngày càng có nhiều đơn vị, công ty,

cá nhân… sử dụng internet như một công cụ truy cập tin tức hữu hiệu

Là sản phẩm công nghệ cao, được thừa hưởng từ thành quả khoa học công nghệ, báo điện tử đến thời điểm này là một phương tiện truyền thông đại chúng phục vụ cho nhu cầu xã hội Việt Nam đang vận động, phát triển và đã nhanh chóng vượt lên vai trò thông tin đơn thuần mà còn đóng vai trò quan trọng với chính trị và văn hóa

Trang 28

21

Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến về báo điện tử với vai trò chức năng của phương tiện thông tin đại chúng, nhưng mọi người đều thừa nhận chức năng thông tin của nó Với chức năng này, báo điện tử mang đến cho con người những điều mới mẻ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ khoa học kỹ thuật đến văn nghệ, thể thao…

về những cái đã xảy ra, đang xảy ra và có thể sẽ xảy ra Như vậy, báo điện tử

đã thực hiện chức năng nhận thức văn hóa: “Cơ chế vận động của văn hóa vừa tĩnh vừa động Với tư cách là biểu trưng của một cộng đồng, một không gian, một thời kỳ lịch sử, văn hóa mang giá trị tĩnh Những giá trị đó tham gia đời sống một cộng đồng, vào nhân cách một con người sẽ tác động sâu sắc đến xu hướng vận động của đời sống xã hội Trong cơ chế ấy, văn hóa vận động, tự tái tạo và bổ sung Với cách nhìn đó, báo chí vừa là công cụ truyền

bá văn hóa, vừa là một sản phẩm văn hóa” (Vũ Duy Thông, Báo chí nhìn từ góc độ văn hóa) Như vậy, báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng là một thành tố của văn hóa Báo điện tử luôn cung cấp những tri thức phong phú, mới mẻ nhất cho con người có thêm cách nhìn mới, cách tiếp nhận mới Sự nhanh chóng và khả năng cập nhật tức thời trong một không gian rộng lớn không giới hạn của báo điện tử là ưu điểm nổi trội so với các loại hình báo chí truyền thống khác Báo chí nói chung cũng như báo điện tử có khả năng to lớn trong việc thẩm định và cổ vũ cho những giá trị lịch sử, văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành ý thức lịch sử, văn hóa của mỗi người dân Thông tin báo chí tham gia đáng kể vào việc hình thành cách tư duy, nhận thức, hành động của con người và cả xu hướng vận động của toàn xã hội

Xã hội càng phát triển, trình độ dân trí càng cao, sự hình thành nhân cách, lối sống văn hóa của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội Vấn đề cấp thiết đặt ra cho báo chí là trang bị một hệ thống tri thức văn hóa, lịch sử phong phú và đa dạng, giáo dục truyền thống yêu

Trang 29

22

nước, cách mạng, ý chí vươn lên, đức tính cần cù, trung thực, phổ biến hoạt động văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc… hình thành dư luận xã hội lành mạnh, tạo cơ sở cho việc hình thành nhân cách, đời sống tinh thần của con người xã hội Dựa vào lợi thế đặc biệt của mình, báo điện tử có khả năng đưa các nhân tố văn hóa tinh thần, nhân văn đi sâu vào các lĩnh vực đời sống, và các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà Nước

Thứ nhất, báo điện tử là một trong những kênh tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động

Báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng góp phần định hướng xã hội bằng việc tác động vào ý thức quần chúng vì lợi ích của giai cấp, của xã hội

Vì vậy, báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng luôn được xác định là một trong những phương tiện quan trọng của Đảng, Nhà nước, thực hiện chức năng giáo dục chính trị tư tưởng cho quần chúng, định hướng dư luận xã hội, hình thành ý thức xã hội

Thông tin báo chí mang đến cho công chúng về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động, những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Báo chí cũng giúp công chúng nhìn nhận, đánh giá tình hình chủ trương, chính sách đó Định hướng sự chú ý của công chúng vào việc nhận thức cái gì là cần thiết, từ

đó công chúng tự định hướng hành vi và ý thức của mình Tiếng nói của báo chí vừa là tiếng nói của Đảng vừa là tiếng nói của nhân dân Sức mạnh của báo chí thể hiện ở việc đưa những thông tin giúp người lao động và các nhà quản lý thảo luận và đưa ra những hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa của người lao động; phê bình và chống lại các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, trì trệ, kém hiệu quả; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 30

Những thông tin bằng lời, hình ảnh, âm thanh, video… do báo điện tử cung cấp vừa kịp thời, vừa chính xác, có sức thuyết phục, giúp người dân nâng cao kiến thức, nhận thức về các vấn đề văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam; đồng thời cũng là nguồn cung cấp kiến thức và phản ánh tình hình thực tiễn sôi động của đời sống văn hóa của người lao động; góp phần giúp các cơ quan quản lý, lãnh đạo nâng cao năng lực quản lý điều hành về việc đưa ra các chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của người lao động ở các cơ sở

Thứ ba, Báo điện tử đề xuất các giải pháp, tập trung huy động các nguồn lực trong xây dựng đời sống văn hóa của người lao động

Báo chí tham gia tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Những ý kiến chân thành, thẳng thắn, có tính xây dựng và thể hiện tinh thần, trách nhiệm của các nhà tri thức, khoa học, các nhà nghiên cứu của tầng lớp nhân dân sẽ là nguồn tri thức phong phú, xác thực, có tính lý

Trang 31

cơ quan lãnh đạo, quản lý nắm bắt nhanh thực tiễn, kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoặc hủy bỏ chính sách không phù hợp

Báo chí là kênh kiểm tra, giám sát công tác xây dựng đời sống văn hóa của người lao động Báo chí kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác xây dựng đời sống văn hóa của người lao động

Thứ tư, Người lao động vừa là đối tượng phản ánh, vừa là công chúng của báo điện tử

Đời sống văn hóa của người lao động là một vấn đề rộng và phức tạp, không dễ nắm bắt Ở đây, người lao động vừa là đối tượng của báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng, đồng thời cũng là công chúng truyền thông Cần phải biết nhu cầu của công chúng là gì để đáp ứng đúng những nhu cầu đó thì tác phẩm báo chí mới đạt hiệu quả Điều này đã được đề cập rất rõ ràng và cụ thể trong học thuyết sử dụng và hài lòng

Theo lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses and Gratifications), các cá nhân tiếp cận với phương tiện truyền thông nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin, giải trí, học tập của họ…Có thể nói mỗi cá nhân lại có những mục đích tiếp cận phương tiện truyền thông khác nhau Thuyết sử dụng và hài lòng giả định rằng mọi người lựa chọn thông tin họ cần một cách ý thức để thỏa mãn nhu cầu cụ thể của họ Ngoài ra, công chúng còn có cảm giác “thỏa mãn” khi có thể “chống lại” ý đồ truyền tải thông điệp của nhà truyền thông (Fiske, 1986)

Trang 32

Theo nghiên cứu của Hiệp hội báo chí Mỹ (Newspaper Association of America):

- Các độc giả thường xuyên của báo điện tử đa số là người trẻ

- Những độc giả báo điện tử thường có trình độ văn hoá cao hơn so với độc giả báo in và thu nhập bình quân của họ cũng cao hơn so với các đối tượng độc giả khác

- Độc giả báo điện tử thường không có nhiều thời gian và họ chọn cách cập nhật thông tin về các lĩnh vực khác nhau từ nhiều nguồn mà không chú trọng đến những bài phân tích sâu

- Độc giả báo điện tử thường không bị phụ thuộc bởi quy luật không gian hay thời gian Họ có thể tự do chọn lựa tin bài cảm thấy hứng thú để đọc trước

- Độc giả báo điện tử thường đọc lướt qua các chuyên mục, đầu đề ở trang chính, tuỳ thuộc nội dung có hấp dẫn hay không họ mới quyết định đọc những bài báo cụ thể

- Độc giả báo điện tử thường theo dõi theo ý kiến chủ quan của mình, quan tâm và đọc kỹ hơn đến những lĩnh vực mà mình yêu thích trước tiên rồi mới đến những mục khác

Trang 33

26

- Tính tương tác giữa các độc giả báo điện tử thường rất cao Nói cách khác, họ có nhu cầu trao đổi, chia sẻ, ngôn luận rất lớn, đặc biệt là thông qua

“mạng xã hội ảo” (virtual social network)

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới nhất tại Mỹ năm 2010 cho thấy những người đọc tin qua mạng Internet thường chú ý đến nhiều chuyên mục và bài viết hơn độc giả báo in Kết luận này hoàn toàn trái ngược với những định kiến cho rằng người lướt web thường chỉ "xem lướt" chứ ít khi đọc kỹ Cuộc thăm dò EyeTrack 07 do Viện báo chí Poynter Hoa Kỳ tiến hành cho thấy độc giả báo trực tuyến đọc khoảng 77% trang báo mà họ truy cập Trong khi

đó, tỷ lệ này ở báo in chỉ là 62%

Theo bà Sara Quinn, Giám đốc dự án Poynter EyeTrack 07, đây là cuộc nghiên cứu lớn trên quy mô quốc tế đầu tiên, với mục đích là tìm ra những điểm khác biệt giữa cách đọc báo trực tuyến và báo in của độc giả "Tôi đã rất ngạc nhiên khi tỷ lệ các bài viết (kể cả rất dài) đăng trên mạng được đọc nhiều đến vậy Nó đã phá vỡ định kiến rằng độc giả web có sự tập trung và chú ý thấp hơn… Một khi đã click vào một tin/bài nào đó, gần 2/3 số độc giả báo mạng sẽ kiên nhẫn đọc cho bằng hết", bà Quinn cho biết "Sức mạnh của những bài báo dài vẫn còn nguyên giá trị trên Internet đấy chứ"

Những kết quả nghiên cứu được tiến hành ở những thời gian khác nhau, cho người ta cũng có thể hiểu rằng, đặc điểm của công chúng báo điện tử tiếp tục thay đổi

Cuộc nghiên cứu mới đây của Poynter cũng cho thấy người đọc sẽ chú ý hơn đến những thông tin được trình bày dưới dạng hỏi-đáp hoặc liệt kê danh sách Họ thích những bức ảnh báo chí, tài liệu hơn là ảnh chụp trong studio hay trên sân khấu

Một phát hiện thú vị khác là độc giả báo in luôn đọc báo theo một nguyên tắc nhất định: từ trên xuống dưới chứ không nhìn ngang liếc dọc

Trang 34

27

trang báo Nếu chú tâm đến một bài báo nào, họ sẵn sàng đọc lại lần nữa Nhưng đối với độc giả báo mạng, việc đọc tin diễn ra tự do, "phóng túng hơn"

Với những đặc điểm công chúng như vậy, người làm báo điện tử cũng cần phải có sự nghiên cứu cụ thể nhu cầu của công chúng mục tiêu của mình

là gì để thỏa mãn công chúng, đem đến sự hài lòng cho công chúng Với vấn

đề mà luận văn khảo sát, ở đây là đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam, thì đối tượng của báo chí chính là người lao động Việt Nam, công chúng cũng là người lao động Việt Nam Cần phải nghiên cứu nhóm công chúng mục tiêu này để thỏa mãn nhu cầu của họ

1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam

Khi đánh giá bất cứ một tác phẩm báo chí nào cũng cần có những tiêu chí nhất định để dựa vào đó làm tiêu chuẩn Với những tác phẩm báo chí thông tin về đời sống văn hóa của người lao động Việt Nam, chúng tôi có thể tạm đưa ra những tiêu chí như sau:

- Lay động tình cảm gắn bó với nghề nghiệp và sự sáng tạo của người lao động

Tác phẩm báo chí nói chung, báo điện tử nói riêng khi viết về đời sống văn hóa của người lao động trước tiên phải đạt được tiêu chí giúp người lao động thêm gắn bó với công việc của mình, từ đó phát huy tính sáng tạo thông qua việc góp phần xây dựng văn hóa của tổ chức, doanh nghiệp

Văn hóa trong các tổ chức, doanh nghiệp được tạo thành từ tổng thể các triết lý quản lý, mục tiêu sản xuất kinh doanh, các chính sách quản lý nhân

sự, bầu không khí tâm lý của tập thể lao động, lề lối làm việc và các mối quan hệ nhân sự giữa cấp trên và cấp dưới và giữa các đồng nghiệp

Trang 35

28

Muốn các thành viên trong tổ chức hết lòng vì mục tiêu chung tức là có động lực làm việc thì mỗi tổ chức, doanh nghiệp cần thiết lập được một văn hóa mạnh Để làm được điều này tổ chức, doanh nghiệp cần phải làm rõ một

số khía cạnh: Nhiệm vụ chính là gì? Mục tiêu cần đạt được và làm thế nào để đạt được mục tiêu đó? …Với việc làm rõ các vấn đề trên người lao động thấy

rõ trách nhiệm cần phải góp sức vào việc đạt được các mục tiêu đó

Hơn nữa khi các thành viên gắn kết, cùng hòa đồng trong môi trường công việc chung và hiểu được ai là người cần thiết phải hợp tác thì nhiệm vụ của nhóm mới được hoàn thành và lợi ích của từng thành viên mới được đảm bảo

Bên cạnh đó, mối quan hệ cấp trên cấp dưới được thắt chặt thì việc phản hồi thông tin sẽ được thông suốt, khuyến khích cấp dưới phát huy sáng tạo và đóng góp ý kiến cho việc ra quyết định quản lý và tạo được sự nhất trí cao giữa các thành viên, tăng sự hợp tác, sự trung thành và cam kết của các thành viên với tổ chức

Việc tạo dựng được một nền văn hóa mạnh trong tổ chức sẽ giúp người lao động cảm thấy hưng phấn trong công việc, có động lực làm việc nên nỗ lực sáng tạo trong công việc và giảm sự lưu chuyển lao động Kết quả là tổ chức, doanh nghiệp luôn hoàn thành các mục tiêu sản xuất kinh doanh đã được xác lập đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với sự biến đổi của môi trường kinh doanh để tồn tại và phát triển

- Giúp người lao động có hiểu biết về đạo đức, phẩm chất của người lao động

Những phẩm chất của người lao động được kể đến như sau:

+Hiểu rõ bản chất công việc và mục đích mình có mặt trong tổ chức, doanh nghiệp đối với bản thân và đối với doanh nghiệp

Trang 36

+Xóa bỏ định kiến đối kháng với những người thuộc nhóm khác Đừng bao giờ tự đặt tên cho vị trí của mình trong tổ chức, doanh nghiệp mà hãy để những người khác làm việc đó

+Của cải vật chất mà bạn tạo ra không phải để phục vụ tổ chức, doanh nghiệp mà là phục vụ xã hội, dù bạn có làm ở trong bất kỳ một tổ chức, doanh nghiệp nào thì mục đích cuối cùng của bạn vẫn như vậy chứ không phải xem

tổ chức, doanh nghiệp như một nơi để bán sức lao động kiếm sống

+Thu nhập mà bạn có được là hệ quả của những việc có ích mà bạn đã làm cho xã hội mà tổ chức, doanh nghiệp là trung gian chuyển đến cho bạn chứ không phải của tổ chức, doanh nghiệp

+Một tập thể mạnh phải là một đội ngũ chứ không phải một đám đông,

vì vậy mọi hành vi của bạn phải góp phần giúp các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp xích lại gần nhau hơn gọi là sự đoàn kết

Trang 37

30

+Sự công bằng chỉ được xét đến trong một phạm vi nào đó chứ không thể mang so sánh với tất cả mọi thứ bên ngoài xã hội Nếu bạn càng mở rộng phạm vi so sánh thì bạn càng khó tìm thấy được sự công bằng

+Một người cấp trên có quyền cho phép mình cư xử như là một người bạn với cấp dưới, nhưng ngược lại thì không Bạn đừng bao giờ cho mình cái quyền mình là bạn với cấp trên để cư xử, vì hết 80% thời gian mà bạn tiếp xúc với cấp trên là vì công việc, nếu xem là bạn thì bạn sẽ bị mâu thuẫn trong việc tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên

+Phải can đảm từ bỏ vị trí của mình trong tổ chức, doanh nghiệp khi phát hiện ra nó không phù hợp với năng lực hay mục tiêu sống của mình Và điều tối kỵ nhất là để cho người khác biết ý định từ bỏ vị trí của mình khi mình chưa có quyết định chính thức

Tác phẩm báo chí viết về đời sống văn hóa của người lao động nếu đạt được mục đích hướng đến giúp người lao động hiểu về một trong những phẩm chất đạo đức trên cũng được đánh giá là tác phẩm có hiệu quả

- Giúp người lao động hiểu được những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa và bảo vệ quyền lợi của người lao động

Xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá cho người lao động là nhiệm

vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, là trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị, tổ chức công đoàn, của doanh nhân và công nhân lao động Cần liên tục tuyên truyền, quán triệt, thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng giai cấp công nhân nói riêng, người lao động nói chung, nâng cao đời sống văn hoá cho người lao động, tạo

sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức, sự đồng thuận xă hội và thống nhất hành động để nâng cao đời sống văn hoá cho người lao động

Trang 38

31

Các cơ quan truyền thông, nhất là các cơ quan báo chí, xuất bản của Công đoàn cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc truyền bá các giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, tinh hoa văn hoá nhân loại đến với người lao động Chú trọng khai thác, sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông hiện đại trong công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, tập hợp người lao động xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, kịp thời ngăn chặn các sản phẩm văn hoá độc hại, thông tin sai trái tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người lao động

Tác phẩm báo chí giúp người lao động hiểu được những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng là một tiêu chí để đánh giá là tác phẩm báo chí hiệu quả

- Nêu lên một số hình mẫu, tấm gương trong xây dựng đời sống văn hóa ở các đơn vị, phù hợp với thời kỳ hội nhập

“Nêu gương” vừa khơi nguồn sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân lại vừa tạo ra sức hút, sự lan tỏa của chính phong trào với quần chúng nhân dân Nhất

là với các dân tộc phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng,

“một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(

Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 1, tr 263)

“Lấy gương người tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục lớn”( Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t 12, tr 551)

Chức năng và nhiệm vụ của báo chí đã được Lê nin chỉ rõ: “Là người tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể” Bằng những điển hình tiên tiến,

hình mẫu, tấm gương, báo chí không chỉ dừng lại ở tác dụng cổ động, tuyên truyền mà còn mở ra thực hiện chức năng to lớn là góp phần tổ chức và chỉ

Trang 39

tử Những mục tiêu, tiêu chí, các hình thức, quá trình thông tin của báo điện

tử trong công tác thông tin về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa của người lao động cũng như tiêu chí đánh giá một tác phẩm báo chí viết về đời sống văn hóa của người lao động

Nâng cao hiệu quả thông tin là một yêu cầu tất yếu, khách quan Đánh giá hiệu quả thông tin về công tác xây dựng đời sống văn hóa của người lao động là việc không đơn giản và khó định lượng một cách chính xác Để nâng cao hiệu quả thông tin của báo điện tử về vấn đề này không chỉ cần sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan báo chí, cơ quan chức năng mà còn cần sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền; sự phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể; đặc biệt là sự tham gia của chính người lao động trong hoạt động văn hóa Trong đó, báo điện tử cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện thông tin trên cơ sở bám sát sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp ngành, bám sát thực tiễn và nhu cầu của công chúng, có cách thức thông tin phù hợp, chất lượng thông tin hấp dẫn, chính xác, chân thật, khách quan

Trang 40

33

Chương 2: Thực trạng báo điện tử phản ánh về đời sống văn

hóa của người lao động Việt Nam 2.1 Giới thiệu báo điện tử được chọn để khảo sát

2.1.1 Lao động online

Chỉ sau khi thành lập 1 tháng, tháng 7 năm 1929, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã ra chỉ thị về việc thành lập một tổ chức công đoàn tại Bắc Kỳ Ngày 28 tháng 7 năm 1929, Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ được thành lập, ông Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng được cử làm Trưởng ban Trị sự

Hai tuần sau, với sự giúp đỡ của một cơ sở Đảng, ngày 14 tháng 8 năm

1929, một tờ báo in bằng bản đất sét, trên giấy Đáp Cầu một mặt ráp một mặt nhẵn, khổ 22x30cm, lấy tên là báo Lao Động đã ra đời trong căn phòng nhỏ 10m2 ở ngõ Thông Phong, phố Hàng Bột (Hà Nội) Nhân sự tờ báo ban đầu

do ông Nguyễn Đức Cảnh làm Tổng biên tập, với 2 nhà báo là Trần Hồng Vận (Trần Học Hải) và một nữ đảng viên tên là Thu Vân Đến cuối năm 1929, một đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng là Nguyễn Công Miều đã mang

60 tờ Lao Động vào phân phát cho các cơ sở Công hội ở Sài Gòn - Chợ Lớn

Ngày 3.12.1989, số 1 của Lao Động Chủ nhật phát hành

Đầu tháng 3 năm 1990, Báo ra loạt phóng sự điều tra về tín dụng ở nước hoa Thanh Hương của Nguyễn Văn Mười Hai

Năm 1995, báo Lao Động đã được mời tham dự triển lãm quốc tế tại Paris và Le Havre (1996) Tại triển lãm này, tờ Courrier International bình chọn báo Lao Động là tờ báo nổi tiếng cùng 200 tờ báo khác trên thế giới

Đến ngày 19/05/1999, báo Lao Động online ra đời, là tờ báo điện tử đầu tiên ở Việt Nam

Ngày đăng: 28/11/2016, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2003
2. Lê Thanh Bình (2005), Báo chí truyền thông và các vấn đề kinh tế, văn hóa – xã hội, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông và các vấn đề kinh tế, văn hóa – xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
4. Nguyễn Thị Bình (2006), Nâng cao chất lượng báo chí Internet trong thời gian tới, Luận văn thạc sĩ, Khoa Báo chí & Truyền thông, ĐH KHXH&NV, ĐH QGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng báo chí Internet trong thời gian tới
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Khoa Báo chí & Truyền thông, ĐH KHXH&NV, ĐH QGHN
Năm: 2006
5. Claudia Mast (2003), Truyền thông đại chúng – Những kiến thức cơ bản, NXB Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng – Những kiến thức cơ bản
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: NXB Thông tin
Năm: 2003
6. Đức Dũng (2010), Báo chí và đào tạo báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2010
7. Đức Dũng (2001), Viết báo như thế nào, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
9. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2008), Xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
10. Hà Minh Đức (1994), Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
11. Hà Minh Đức (1996), Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn(T2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn(T2)
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
12. Hà Minh Đức (2000), Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phương cách, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phương cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
13. Vũ Quang Hào (2007), Ngôn ngữ báo chí, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2007
14. Đinh Văn Hường (2007), Tổ chức và hoạt động của tòa soạn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của tòa soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Đinh Văn Hường (2004), Các thể loại báo chí thông tấn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2004), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
17. Khoa Báo chí (2005), Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn tập 5, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn tập 5
Tác giả: Khoa Báo chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Khoa Báo chí (2005), ĐHKHXH&NV, Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn tập 6. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – những vấn đề lý luận và thực tiễn tập 6
Tác giả: Khoa Báo chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
22. Michel Voirol (2007), Hướng dẫn cách biên tập, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn cách biên tập
Tác giả: Michel Voirol
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2007
23. Line Ross (2004), Nghệ thuật thông tin, NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thông tin
Tác giả: Line Ross
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2004
24. NXB Chính trị quốc gia 2004, Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các nội dung thông tin về đời sống văn hóa của người lao động trên báo - Vấn đề đời sống văn hóa của người lao động việt nam trên báo điện tử (khảo sát báo lao động online, lao động thủ đô online, người lao động online từ tháng 9 2014 2 2015)
Bảng 1 Các nội dung thông tin về đời sống văn hóa của người lao động trên báo (Trang 46)
Bảng 2:  Khảo  sát  công  chúng với  những thông  tin về đời  sống  văn  hóa  của - Vấn đề đời sống văn hóa của người lao động việt nam trên báo điện tử (khảo sát báo lao động online, lao động thủ đô online, người lao động online từ tháng 9 2014 2 2015)
Bảng 2 Khảo sát công chúng với những thông tin về đời sống văn hóa của (Trang 75)
Hình ảnh quen thuộc... - Vấn đề đời sống văn hóa của người lao động việt nam trên báo điện tử (khảo sát báo lao động online, lao động thủ đô online, người lao động online từ tháng 9 2014 2 2015)
nh ảnh quen thuộc (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w