Việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật, ngôn từ và giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam một cách có hệ thống, thiết nghĩ là một công việc hết sức cần thiết, nhằm chỉ rõ những giá trị đích t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ QUỲNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP TRUYỆN “HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”
CỦA SƠN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ QUỲNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG TẬP TRUYỆN “HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”
CỦA SƠN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Diêu Thị Lan Phương Những nhận xét, đánh giá của các tác giả mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Học viên
Hoàng Thị Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Trải qua hơn hai năm học dưới mái trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình cao học chuyên ngành Lý luận văn học nhờ sự giúp đỡ và động viên chân thành của thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả
Đồng thời, tôi xin gửi lời tri ân, lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cố nhà văn Sơn Nam, người đã viết lên những tác phẩm huyền diệu về mảnh đất rừng Nam Bộ và nhen nhóm trong chúng tôi tình yêu với mảnh đất và con người nơi đây
Luận văn “Thế giới nghệ thuật trong tập truyện “Hương rừng Cà Mau”
của Sơn Nam” là ý tưởng mà Tiến sĩ Diêu Thị Lan Phương khai mở cho tôi ngay từ những ngày đầu theo học chương trình thạc sĩ Em xin gửi tới cô lời cám ơn chân thành nhất vì sự tận tình giúp đỡ của cô đã giúp em hoàn thành luận văn này
Kính chúc cô sức khỏe, công tác tốt và có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Học viên
Hoàng Thị Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ TẬP TRUYỆNHƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM 9
1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn 9
1.1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật 9
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn 10
1.2 Sơn Nam và tập truyện Hương rừng Cà Mau 16
1.2.1 Sơn Nam trong dòng chảy văn học Nam Bộ 16
1.2.2 Tập truyện “Hương rừng Cà Mau” 19
CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ CON NGƯỜI MANG ĐẬM DẤU ẤN NAM BỘ 23
2.1 Không gian nghệ thuật trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam 23
2.1.1 Không gian hoang dã 24
2.1.2 Không gian sông nước, miệt vườn 29
2.1.3 Không gian đô thị 35
2.2 Thời gian nghệ thuật trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam 43
2.2.1 Thời gian mang màu sắc lịch sử 44
2.2.2 Thời gian tâm lý 47
Trang 62.2.3 Thời gian sự kiện 49
2.3 Đặc điểm, tính cách con người Nam Bộ 54
2.3.1 Con người dũng cảm, gan góc 54
2.3.2 Con người hào hiệp, nghĩa khí 58
2.3.3 Con người bao dung, độ lượng, vị tha 62
2.3.4 Con người giàu lòng yêu nước 64
CHƯƠNG 3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM 70
3.1 Ngôn ngữ trần thuật 70
3.1.2 Ngôn ngữ mang màu sắc Nam Bộ 71
3.1.2 Ngôn ngữ tự nhiên, sinh động, gần gũi với cuộc sống 77
3.2 Giọng điệu trần thuật 82
3.2.1 Giọng điệu chậm rãi 83
3.2.2 Giọng điệu triết lý, suy tư 88
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Nam Bộ là một bộ phận không tách rời của văn học Việt Nam Bạn đọc đã từng biết đến văn học Nam Bộ qua những cây viết nổi tiếng như Nguyễn Đình Chiểu, Bình Nguyên Lộc, Anh Đức, Đoàn Giỏi… hay gần đây nhất là cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư với cách viết nhẹ nhàng, tinh tế
Tuy nhiên, nói đến văn học Nam Bộ chúng ta không thể không nhắc tới Sơn Nam, ông là một nhà văn đa tài, viết thành công ở nhiều thể loại khác nhau Trải qua hơn nửa thế kỷ cầm bút, Sơn Nam đã để lại cho chúng ta khoảng hơn 300 tác phẩm viết về đề tài thiên nhiên, đất nước con người Nam Bộ Mỗi tác phẩm của Sơn Nam như một cuốn từ điển thu nhỏ, ghi chép lại những phong tục tập quán, cách ăn mặc ở, đi lại của đông đảo cộng đồng dân tộc Việt trong mối quan hệ chan hòa với các dân tộc xung quanh Tìm về mảnh đất Nam Bộ qua những sáng tác của Sơn Nam giúp chúng ta có cái nhìn toàn vẹn hơn về một vùng quê ở cả bề rộng lẫn bề sâu tình đất và tình người Đối với nhiều thế hệ bạn đọc, Sơn Nam được biết đến qua những tác phẩm thú vị viết về mảnh đất Nam Bộ Với mảng đề tài rất riêng về không gian sông nước và cuộc sống bình dị cùng giọng văn chân thành, dung dị, Sơn Nam đã tạo được dấu ấn riêng không phai mờ trong lòng bạn đọc
Có thể nói, nền văn học viết Nam Bộ rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong chương trình phổ thông trung học, số lượng tác phẩm viết về đề tài miền Nam được đưa vào giảng dạy còn rất ít Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về những công trình nghiên cứu khoa học và các bài viết về Sơn Nam, chúng tôi nhận thấy đa phần những công trình mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ, con người Nam Bộ Về phần thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam, ít thấy một công trình nào nghiên cứu thấu đáo Việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật, ngôn từ và giọng điệu trong truyện ngắn Sơn Nam một cách có hệ thống, thiết nghĩ là một công việc hết sức cần thiết, nhằm chỉ rõ những giá trị đích thực trong truyện ngắn của ông, đồng thời cũng góp phần quan trọng khẳng định vị trí của Sơn Nam trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Trang 8Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Thế giới nghệ thuật
trong tập truyện “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam” làm hướng nghiên cứu
chính của mình Qua đó, chúng tôi mong muốn đóng góp những góc nhìn mới mẻ trong sự nghiệp văn học của nhà văn Sơn Nam nói riêng và làm nổi bật những nét đặc sắc về mảnh đất Nam Bộ nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sơn Nam là một trong những tác giả xuất sắc viết về đề tài Nam Bộ, đã từng một thời ông nổi lên như một hiện tượng Trong những năm gần đây, sáng tác của Sơn Nam đã thu hút đông đảo sự quan tâm của giới phê bình và bạn đọc Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến ông trong những công trình nghiên cứu, bài báo, luận văn, luận án…
Ngay từ khi tập truyện Hương rừng Cà Mau ra đời, đã có nhiều nhà nghiên
cứu chú ý đến truyện ngắn của Sơn Nam Trong cuốn sách đầu tiên do nhà xuất bản trẻ ấn hành năm 1986, nhà thơ Viễn Phương viết lời tựa cho tập truyện, ông nhận định đây là một cây bút viết truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi Nam Bộ thế kỉ XX
và ông tin vào giá trị của tập truyện ngắn này Hơn 30 năm qua, niềm tin của nhà thơ Viễn Phương vẫn còn vẹn nguyên giá trị Cũng tại thời điểm đó, tác giả Hồ Sĩ
Hiệp đã đăng một bài viết trên tạp chí Văn nghệ Quân đội với tựa đề “Vài nét về
văn xuôi kháng chiến Nam Bộ”, trong đó ông quan tâm và đánh giá cao những tác
phẩm đầu tay của nhà văn Sơn Nam như Tây đầu đỏ, Cây đàn miền Bắc
Về công trình sách: Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú,
Nguyên An trong công trình Tác gia văn học Việt Nam (Nxb Giáo dục, 1992, tập 3)
đã dành một vị trí đặc biệt cho nhà văn Sơn Nam với nhận định Hương rừng Cà
Mau là tập truyện tiêu biểu, đặc sắc nhất của Sơn Nam và ông xứng đáng là một
nhà văn, nhà khảo cứu về mảnh đất cực Nam của tổ quốc Năm 1995, khi Bộ giáo
dục chủ trương tiến hành đổi mới sách giáo khoa, tác phẩm Bắt sấu rừng U Minh
Hạ chính thức được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Qua những tư liệu này,
chúng ta có thể thấy ngay từ khi ra đời, tác phẩm của Sơn Nam đã thu hút được sự chú ý của những nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc Nhưng phải đến năm 1997,
Trang 9khi nhóm tác giả Trần Hòa Bình, Lê Duy, Văn Giá xuất bản tập sách Bình văn do
nhà xuất bản giáo dục ấn hành, lúc này Sơn Nam mới nổi lên như một hiện tượng của văn học miền Nam Nhà phê bình Văn Giá nhận định Sơn Nam là nhà văn có vốn kiến thức sâu rộng về lịch sử, con người, về đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng đất mũi Ông trân trọng gọi Sơn Nam là chủ nhân của rừng tràm trong một bài giới thiệu cùng tên Cũng từ đó, hàng loạt danh xưng gắn với tên tuổi của nhà văn Sơn Nam lần lượt ra đời như: ông già Nam Bộ, ông già Ba Tri, ông già đi bộ, pho từ điển sống về miền Nam hay nhà Nam Bộ học
Năm 2000, trong công trình nghiên cứu Nhìn lại một chặng đường văn học
do Nxb Tp HCM ấn hành, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá - Người có những đóng góp quan trọng trong việc nhìn nhận và đánh giá một chặng đường văn học, thêm một lần nữa ông khẳng định vị trí của Sơn Nam trên văn đàn và trân trọng đánh giá nhà văn như một người cầm bút có dáng vẻ và hương sắc riêng
Về công trình, luận văn, khóa luận: Với đề tài Nam Bộ mà cụ thể là tác
phẩm Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, qua khảo sát chúng tôi tìm thấy
một số đề tài nghiên cứu liên quan như sau: Năm 2003, tác giả Lê Thị Thùy Trang
trong luận văn cao học, trường Đại học sư phạm TP HCM đã tìm hiểu về “Đặc điểm
truyện ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954-1975” Công trình này đã có đóng góp đáng
kể trong việc khảo sát những cảm hứng chính và những đặc điểm sáng tác của nhà văn Sơn Nam giai đoạn 1954-1975
Năm 2004, tác giả Đinh Thị Thanh Thùy trong luận văn cao học, trường
Đại học sư phạm TP HCM đã nghiên cứu đề tài “Văn hóa và con người Nam Bộ
trong truyện ngắn Sơn Nam” Trong đề tài này, tác giả đã sưu tầm những truyện
ngắn của nhà văn Sơn Nam được đăng rải rác trên các tạp chí và những tác phẩm đã được tập hợp thành sách Tác giả nghiên cứu đề tài trên hai mảng chính là văn hóa
và con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
Năm 2005, tác giả Đinh Thị Ngọc Quyên trong luận văn cử nhân Ngữ văn,
Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu vấn đề “Từ ngữ trong tập truyện ngắn Hương rừng
Cà Mau của Sơn Nam” Công trình này đã có những đóng góp quan trọng về mặt từ
ngữ trong tập truyện ngắn và liệt kê, phân tích một số nét đặc sắc của tác phẩm
Trang 10Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Hồng, Đại học Vinh thực hiện đề tài: “Nghệ
thuật kể chuyện của Sơn Nam trong Hương rừng Cà Mau” Với đề tài này, người
viết tập trung đi sâu khai thác về người kể chuyện, cấu trúc và giọng điệu của tập truyện Luận văn đã nêu bật được nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Sơn Nam qua tập truyện tiêu biểu này
Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Điệp, Trường Đại học Cần Thơ đã tìm
hiểu về Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam Công trình này đã
có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu những yếu tố văn hóa và dấu ấn con người Nam Bộ trong những mối quan hệ giữa con người với thế giới
tự nhiên Qua đó, khẳng định dấu ấn văn hóa Nam Bộ đặc trưng trong tác phẩm của Sơn Nam
Qua việc khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy những tác phẩm của nhà văn Sơn Nam được nghiên cứu khá nhiều trong các công trình của cả sinh viên và học viên sau đại học Tuy nhiên, khi tìm hiểu về luận văn tốt nghiệp cử nhân và thạc sĩ của sinh viên khoa Văn- Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi thấy số lượng sinh viên và học viên nghiên cứu về đề tài Nam Bộ, đặc biệt
là nhà văn Sơn Nam còn rất ít Về phương diện thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam cũng chưa được những công trình luận văn trên đề cập đến nhiều
Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn “Thế giới nghệ thuật trong tập truyện
“Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam” làm đề tài nghiên cứu chính của mình
Tất cả những công trình nêu trên đã trở thành những gợi ý quý báu và cũng
là những nguồn tư liệu vô cùng quý giá giúp chúng tôi kế thừa, để hoàn thành tốt luận văn này
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Thế giới nghệ thuật trong tập truyện “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam”
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu
chính vào tập truyện Hương rừng Cà Mau gồm 65 truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam
Trang 11Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu như
trên, chúng tôi mong muốn qua đề tài này sẽ hiểu sâu hơn về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam, những tâm tư tác giả muốn gửi gắm qua mỗi câu chuyện Biết được những nét đặc trưng, dấu ấn văn hóa rất riêng của miền đất Nam Bộ, qua đó giúp bạn đọc gần xa có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn
về mảng văn học viết về đề tài này
Đồng thời, người viết hy vọng qua luận văn này sẽ góp phần khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo độc đáo cũng như những đóng góp của Sơn Nam trong nền văn học Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Dù hiểu theo nghĩa nào thì “phương pháp cũng là cầu nối giữa chủ thể và
đối tượng, là cách thức giúp cho chủ thể thực hiện một công việc có hiệu quả… Phương pháp thể hiện năng lực sáng tạo, phán đoán, suy luận của chủ thể nhận thức, đồng thời nó chịu sự phụ thuộc vào đặc điểm, bản chất của đối tượng nhận thức” [33, tr 5]
Nhằm tạo tính logic, kết cấu chặt chẽ trên mỗi trang viết, xuyên suốt luận văn, chúng tôi đã tiếp cận văn bản từ góc nhìn văn hóa, sử dụng phương pháp thống
kê, phân loại… những tác phẩm viết về các mảng đề tài thiên nhiên, đất nước, con người Từ đó lấy chất liệu để phân tích và phát triển luận văn theo những hướng đã vạch sẵn
Phương pháp tiếp cận văn hóa học - Đây là phương pháp được chúng tôi ứng dụng nhiều nhất và xuyên suốt đề tài này Bởi văn hóa là nền tảng hình thành, đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các tác phẩm văn học Như Bakhtin
quan niệm: “Trước hết, khoa nghiên cứu văn học cần phải gắn bó chặt chẽ với lịch
sử văn học Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu
nó ngoài cái bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại” [33, tr 29]
Phương pháp lịch sử - xã hội là một phương pháp có cơ sở là hoàn cảnh, điều kiện xã hội và tiến trình phát triển lịch sử của chính bản thân văn học Bằng
Trang 12phương pháp này, chúng tôi sẽ đặt tập truyện vào bối cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời để nghiên cứu, qua đó sẽ có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn nhất ý đồ sáng tác của tác giả Phương pháp này giúp chúng tôi hình dung được văn học trong mối quan hệ gần gũi với đời sống của một dân tộc, từ đó xác định được vị trí và ý nghĩa của những hiện tượng trong sự vận động chung của thực tại xã hội
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là phương pháp chính để tiến hành khảo sát và tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu Dựa vào đối tượng nghiên cứu đã xác định ngay phần đầu, luận văn sẽ đi vào phân tích những truyện ngắn Sơn Nam trên các phương diện nội dung, nghệ thuật, qua đó sẽ tổng hợp kiến thức và tìm ra những nét đặc trưng riêng trong sáng tác của nhà văn Sơn Nam
Bên cạnh những phương pháp trên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như: phương pháp so sánh, thống kê, tâm lý… để phục vụ việc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn được tốt nhất
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1: Khái lược về thế giới nghệ thuật và tập truyện Hương rừng Cà Mau của
Sơn Nam
Chương 2: Không gian, thời gian và con người mang đậm dấu ấn Nam Bộ
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Sơn Nam
Trang 13
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ TẬP TRUYỆN
HƯƠNG RỪNG CÀ MAU CỦA SƠN NAM
1.1 Khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Tác phẩm văn học được sáng tác bởi một cá nhân hoặc tập thể nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước hiện tại Để một văn bản có được những giá trị đích thực, được mọi người công nhận thì chúng ta không thể phủ nhận sự lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ của mỗi nhà văn, nhà thơ Bởi thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, vì vậy nó là kiểu tồn tại đặc thù vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, đồng thời cũng là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể thẩm mỹ của tác phẩm
Trong tiến trình lịch sử phát triển khách quan của nghệ thuật, do tính đa dạng của các quá trình và các hiện tượng trong thực tại, đời sống xã hội đã trở thành
cội nguồn của nội dung nghệ thuật Như GS Hà Minh Đức trong cuốn Lí luận văn
học từng nhận định: “Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, bày tỏ thái độ của con người trước đời sống hiện thực Nhưng nghệ thuật là một sản phẩm thẩm mỹ độc đáo, nảy sinh trong quá trình sáng tạo theo quy luật cái đẹp Vì vậy, nghệ thuật được xem xét từ hai phương diện: Phương diện hình thái ý thức xã hội đặc thù và phương diện góp phần tạo ra môi trường sống mang tính thẩm mĩ” [14, tr 13] Nghệ thuật phát sinh và hình thành trên cơ sở lao động, nhưng
một khi ra đời nghệ thuật hình thành và hoàn thiện ở con người một năng lực cảm nhận vạn năng mà nó có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội- khoa học, chính trị, sinh hoạt…
Vậy thế giới nghệ thuật là gì? Theo nhóm tác giả biên soạn cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào
Trang 14lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan
hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách có ước lệ trong sáng tác nghệ thuật” [18, tr 302, 303]
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: Thế giới nghệ thuật là toàn bộ các phương diện nội dung, hình thức nằm trong chỉnh thể thẩm mĩ được xây dựng bằng một hệ thống nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật vừa bị chi phối bởi cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, vừa bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hóa và cảm hứng của thời đại ấy
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Có thể nói, đây là một khái niệm chưa được cắt nghĩa rành mạch và trọn vẹn trong bất cứ một công trình luận văn nào Theo suy nghĩ hạn hẹp của chúng tôi, thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn vừa mang những đặc điểm chung của thế giới nghệ thuật trong sáng tác văn học lại vừa có những nét riêng gắn với đặc trưng thể loại của nó Đặc điểm riêng ấy là “chất văn xuôi” gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống
Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội Đó chính là sự thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép, lệ thuộc máy móc vào thực tại bên ngoài mà là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù
nó phản ánh thế giới ấy
Như vậy, thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách cắt nghĩa đời sống rất riêng của chủ thể sáng tạo Mỗi nhà văn khi sáng tạo một tác phẩm bất kỳ đều có thế giới nghệ thuật của riêng mình Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép chúng ta đánh giá và lí giải tác phẩm
Trang 15văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với sự thực đời sống riêng lẻ mà buộc người đọc phải đặt văn bản trong một chỉnh thể để xem xét tính chân thực của tư tưởng tác phẩm so với chỉnh thể hiện thực Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó Ví dụ: Trong truyện ngắn
Làng, nhà văn Kim Lân đã xây dựng lên một tình huống truyện vô cùng đặc sắc Đó
là việc anh cu Tràng “nhặt” được vợ Thông thường, chúng ta chỉ nhặt được những thứ bỏ đi hoặc những món đồ có giá trị nhỏ do người khác đánh rơi, còn việc nhặt được vợ thì đây là một điều khiến bạn đọc phải suy nghĩ Nếu chỉ xét trên tình huống đó chúng ta sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa câu chuyện Chỉ khi đặt tác phẩm vào bối cảnh giữa nạn đói năm 1945 con người có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào, bạn đọc mới thấy hết nỗi xót xa mà Kim Lân muốn nhắn gửi Chỉ vì bốn bát bánh đúc
mà cô gái nọ đã theo không Tràng về làm vợ Giữa cái đói, cái nghèo, con người đã xích lại gần nhau hơn và sự sống cũng trở nên lung linh đẹp đẽ hơn
Trong mỗi tác phẩm sẽ có một thế giới nghệ thuật riêng và trong thế giới nghệ thuật sẽ có thời gian và không gian riêng Ở đó, nhà văn sẽ thỏa sức sáng tạo theo ý nghĩ chủ quan của mình Thời gian và không gian trong tác phẩm thông thường sẽ không đồng nhất với thời gian và không gian thực tại Chính vì vậy, trong mỗi văn bản, chúng ta gọi đó là thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật
Trong thi pháp học hiện đại, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật
có vai trò rất quan trọng trong việc sáng tác và phê bình tác phẩm Hai yếu tố này đã góp phần tạo nên thế giới hình tượng sinh động và phong phú Nó không chỉ thể hiện thế giới vào tác phẩm mà còn biểu đạt những cảm thức, những quan niệm của người viết Tìm hiểu về không gian nghệ thuật trong văn bản văn học không đơn thuần là xác định nơi chốn hay tái hiện những khung cảnh hiện thực mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể hiện tâm trạng của nhân vật hay bộc lộ quan điểm của tác giả về thế giới Không gian trong tác phẩm văn học có sự phận biệt hẳn so với không gian khách quan, chứa đựng một giá trị tình cảm, do đó nó được tổ chức theo quan niệm riêng của tác giả và hoàn toàn không giống với không gian bên ngoài
Trang 16Không gian nghệ thuật được xây dựng hết sức đa dạng, với mỗi tác giả, không gian nghệ thuật sẽ được sử dụng ở một mức độ nhất định Nếu trong văn học trung đại, không gian có một giá trị riêng, gắn liền với cảm thức của chủ thể sáng tạo, sự xuất hiện thường xuyên của không gian vũ trụ và không gian thiên nhiên trở thành điểm nhấn trong sáng tác của những nhà thơ lớn thì đến văn học hiện đại, yếu
tố không gian đã có sự thay đổi Lúc này, không gian nghệ thuật trở thành không gian của tinh thần, không gian của tâm tưởng, cảm xúc, ước vọng và hồi tưởng Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan hơn Trong tác phẩm văn học, không gian có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti, trật tự hoặc mang tính địa điểm, tính phân giới để mô hình hóa các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng Dù hiểu theo cách nào thì ngoài việc cho ta thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ đặc trưng, không gian nghệ thuật còn cung cấp một quan niệm rất riêng về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học bất kỳ Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật
Cũng tương tự không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là yếu tố bên trong của văn bản Sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng bắt nguồn từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, đồng thời có thể kéo dài ra thành vô tận Theo định nghĩa các tác giả
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều
thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật Khi nào ngòi bút của nghệ sĩ chạy qua sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại” [18, tr 322]
Theo định nghĩa này, thời gian nghệ thuật chính là một phương tiện để phản ánh đời
Trang 17sống và nó được rong ruổi ngược xuôi, đảo chiều một cách tự do mà không hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian vật lý Thời gian nghệ thuật luôn giữ vai trò là hình thức tồn tại, triển khai hành động và cảm thụ trong tác phẩm nghệ thuật Trong thời gian nghệ thuật luôn tồn tại hai lớp là thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật Trong thời gian trần thuật lại bao gồm nhiều kiểu thời gian khác nhau như thời gian nhân vật, thời gian tâm lý, thời gian lịch sử, thời gian sự kiện các thời gian này được diễn tả theo một trật tự nhất định là quá khứ - hiện tại - tương lai và góp phần quan trọng trong việc tạo nên cấu trúc thời gian hoàn chỉnh cho mỗi tác phẩm văn học
Nếu thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật là nơi để nhà văn sáng tạo thì yếu tố con người được coi là nhân tố quyết định quá trình vận động, diễn tiến
và phát triển của mỗi câu chuyện Trong mỗi tác phẩm văn học, chúng ta gọi đó là nhân vật
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm Trong tiếng Hy Lạp cổ, “nhân vật” lúc đầu mang nghĩa là cái mặt nạ dành cho các diễn viên biểu diễn trên sân khấu Theo thời gian, thuật ngữ này được sử dụng ngày càng nhiều và thường xuyên được dùng để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện Đây là một thuật ngữ
có nội hàm phong phú, đủ khả năng khái quát những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và cấp độ Chính vì vậy, “nhân vật” là thuật ngữ đúng đắn và đầy đủ nhất dùng để chỉ con người trong tác phẩm văn học
Có rất nhiều cuốn sách đã định nghĩa về thuật ngữ “nhân vật” như sau:
Theo cuốn Từ điển văn học định nghĩa: “Nhân vật là nhân tố cơ bản nhất trong tác
phẩm văn học, tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa Nhân vật,
do đó, là nơi tập trung giá trị tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm văn học” [31, tr
86] Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm và từ mối quan hệ của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm Có thể nói, đây là một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh
và toàn diện về nhân vật trong văn học
Trang 18Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đã đề xuất một cách nhìn khác, theo ông: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để
xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [2, tr 241] Theo
khái niệm này, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học Nhà nghiên cứu còn quan tâm và chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả lại đưa ra khái niệm về nhân vật có phần thu hẹp hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả
trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào ( ) Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm” [18, tr
235] Như vậy, nhìn một cách tổng quát nhân vật là một khái niệm tương đối ổn định trong giới nghiên cứu và phê bình văn học Dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhân vật, nhưng tựu trung lại các ý kiến đều gặp nhau trong sự khẳng định: Nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong sáng tác tác phẩm, là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Khi nghiên cứu về một tác phẩm văn học bất kỳ, chúng ta cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút mỗi nhà văn, từ đó đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn cho nền văn học nước nhà
Từ những khái niệm và định nghĩa trên, chúng ta có thể đưa ra kết luận: Thế giới nhân vật là một hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của mỗi nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới ấy mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật, có tổ chức và sự sống riêng phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ Nằm trong thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật cũng là sản
Trang 19phẩm tinh thần, là kết tinh của trí tưởng tượng, sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong sáng tác nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật có cấu trúc và quy luật riêng, thể hiện ở đặc điểm con người và các yếu tố không gian, thời gian, tâm
lý, xã hội Trong truyện ngắn Sơn Nam, thế giới nhân vật được tác giả xây dựng vô cùng phong phú, đa dạng Đó là những con người với đủ nét tính cách khác nhau như con người hào hiệp nghĩa khí, giàu tinh thần trượng nghĩa luôn sẵn sàng dang rộng đôi tay giúp đỡ những kẻ yếu hơn mình Nhóm nhân vật này luôn hành động
với một tôn chỉ “Kiến nghĩa bất vi vô dõng dã/ Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”
Sống trong bối cảnh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ nên nhân vật của Sơn Nam vô cùng bao dung và nhân hậu Đó là thứ tình cảm trong sáng, cao đẹp giữa con người với con người Dù không có chút tình thân máu mủ nhưng họ luôn sẵn sàng giúp
đỡ, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn Họ đau chung nỗi đau mà những con người đó phải trải qua Cũng bởi vậy, tính cách của những con người này vô cùng khảng khái Khi bàn luận về một vấn đề, họ không vòng vo mà thường
đi thẳng vào câu chuyện nên dễ gây ra cảm giác khó chịu cho những người xung quanh như nhân vật ông già xay lúa, hai ông già trong những truyện ngắn cùng tên của nhà văn Sơn Nam Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng ẩn sâu sau mỗi nhân vật, Sơn Nam luôn thể hiện sự lạc quan yêu đời tha thiết Với họ, niềm vui thường đến
từ những điều bình dị nhất Sau mỗi ngày làm việc vất vả họ được đắm mình trong
làn điệu quê hương, cùng thưởng thức tài Hát bội giữa rừng, hay háo hức đi xem các gánh hát biểu diễn (Người tình của cô đào hát) Qua đó, chúng ta thấy hiện lên
một không gian văn hóa tinh thần phong phú của con người Nam Bộ
Dù hiểu theo cách nào thì thế giới nhân vật cũng được xây dựng dựa trên những cảm nhận một cách trọn vẹn và sâu sắc của chủ thể sáng tạo trong những mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh Do đó, thế giới nhân vật sẽ bao quát sâu và rộng hơn so với hình tượng nhân vật và con người trong văn học Chẳng những không giống với con người trong thực tại về tâm lý hoạt động, mà thế giới nhân vật còn có ý nghĩa khái quát, tượng trưng sâu sắc hơn Chúng ta có thể thấy hình ảnh đó qua những truyện ngắn của Nam Cao sau này Nam Cao là một nhà văn
Trang 20xuất sắc viết về đề tài hiện thực phê phán trong xã hội, qua mỗi tác phẩm, ông đã mang đến cho bạn đọc những góc nhìn đầy đủ nhất về bức tranh làng quê Việt Nam trong những năm 1945 Đó là cái đói, cái nghèo, là sự gian nan khổ cực của những người nông dân khốn cùng Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao, vì miếng cơm manh áo, sau khi ra tù anh chỉ biết duy nhất một công việc là đi rạch mặt ăn vạ Khai thác đề tài này, Nam Cao không chỉ nói lên quy luật người nông dân lương thiện bị tước quyền làm người mà qua đó nhà văn còn tố cáo mạnh
mẽ chế độ thực dân phong kiến đã cướp đi quyền làm người của họ Xã hội đó đã biến Chí từ một người nông dân hiền lành như cục đất trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại Sự thèm khát một lần được trở lại làm người lương thiện luôn hiển hiện trong suy nghĩ nhưng Chí tuyệt đối không còn cơ hội để quay đầu Chỉ còn duy nhất một con đường là cái chết mới giúp Chí được giải thoát
Trong thế giới nhân vật của mỗi nhà văn chúng ta có thể chia làm nhiều kiểu loại nhân vật nhỏ hơn dựa vào những tiêu chí nhất định Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là tìm ra chìa khóa để bước qua cánh cửa khám phá thế giới đó Chính vì vậy, việc nghiên cứu thế giới nhân vật cũng rất khác so với phân tích hình tượng nhân vật Trong lịch sử văn học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có một thế giới nhân vật cho riêng mình qua đó mỗi người sẽ thể hiện quan điểm và phong cách sáng tác riêng
Như vậy, qua khái niệm về thế giới nghệ thuật, chúng ta có thể hình dung được tính độc đáo về tư duy nghệ thuật trong việc sáng tác một tác phẩm có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Trên cơ sở đó, người viết
sẽ có cái nhìn đầy đủ nhất về thế giới nghệ thuật cũng như cách hiểu và nghiên cứu
trong toàn tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam
1.2 Sơn Nam và tập truyện Hương rừng Cà Mau
Hơn nửa thế kỷ nay, Sơn Nam được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng của văn chương Nam Bộ Ông không những là một nhà văn, nhà báo mà còn là nhà khảo cứu văn hóa nổi tiếng của Việt Nam
Trang 21Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1926 tại làng Đông Thái, Quận An Biên, Tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang) Do nhầm lẫn của nhân viên hộ tịch nên tên của ông bị viết sai thành Phạm Minh Tày
Thời thơ ấu, Sơn Nam được đắm mình trong hương sắc của cõi rừng U Minh với muôn vàn cỏ cây, hương thơm và mật ngọt Những ký ức đó đã trở thành vốn sống, nguồn cảm hứng bất tận trong những sáng tác của Sơn Nam sau này Suốt thời niên thiếu, ông tham gia Thanh niên Tiền phong giành lấy chính quyền ở địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, phòng chính trị quân khu, phòng văn nghệ Ban tuyên huấn xứ ủy Nam Bộ Cùng thời điểm đó, Bút danh Sơn Nam ra đời như một cách để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu (Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam) Sau Hiệp định Giơnevơ ông về lại Rạch Giá
Năm 1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: Nhân loại, Công lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…
Năm 1960 - 1961, ông bị chính quyền Việt Nam cộng hòa bắt giam ở nhà lao Phú Lợi Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu về Nam Bộ Sau năm
1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, thành viên Ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật và Ban chấp hành Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh
Có thể nói, cuộc đời Sơn Nam vô cùng phong phú và đa dạng Ông đã chứng kiến những bước ngoặt lớn của lịch sử và trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống Vốn là nhà văn sống dưới chế độ cũ nên để tồn tại và phát triển cùng sự nghiệp văn chương, Sơn Nam đã chọn cho mình một cách viết riêng theo kiểu dã sử hiện đại và khảo cứu lịch sử về vùng đất Nam Bộ trong những ngày đầu đi khai hoang mở đất Với cách viết này, ông đã thu hút được sự quan tâm từ đông đảo bạn đọc và tránh được sự kiểm soát gắt gao từ chính quyền Sài Gòn
Tác phẩm đầu tay của Sơn Nam là một tập thơ mang tựa đề Lúa reo, do hội
văn hóa kháng chiến Kiên Giang xuất bản năm 1948 Và sau đó, với hai truyện ngắn
Trang 22Bên rừng Cù Lao Dung và Tây đầu đỏ sáng tác năm 1952 - 1953, Sơn Nam đã ghi
lại dấu ấn trên các văn đàn khi ông giành được giải nhất trong cuộc thi viết do Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ tổ chức Đến thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam đạt đến đỉnh cao, với sự ra đời của nhiều tập
truyện lớn như Hương rừng Cà Mau, Hai cõi U Minh…; Các tiểu thuyết: Chim
quyên xuống đất, Bà chúa hòn; Các tập khảo cứu: Văn minh miệt vườn, Tìm hiểu đất Hậu Giang và Lịch sử đất An Giang
Năm 1962, khi tập truyện Hương rừng Cà Mau ra đời, tên tuổi của Sơn
Nam đã bừng lên như một hiện tượng Nói về tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, bạn
văn của ông là Nguyễn Trọng Tín nhận xét: “Trong số những sáng tác của nhà văn
Sơn Nam thì tôi thích nhất là truyện ngắn Hương rừng Cà Mau – Đây là tập truyện ngắn được xếp ở vị trí cao trong số những tác phẩm văn học đặc sắc nhất của Nam
Bộ Hồi còn nhỏ, tôi đọc tác phẩm của ông là vì mình thích, lớn lên khi bước vào nghiệp văn chương tôi đọc tác phẩm của Sơn Nam như một cách học nghề Tôi học
Ngoài truyện dã sử và truyện ngắn, Sơn Nam còn rất thành công ở mảng
biên khảo với những tác phẩm: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn
Gia Định xưa, Bến Nghé xưa… và đây cũng là mảng đề tài ông theo đuổi suốt sự
nghiệp sáng tác của mình Nhà văn Sơn Nam tâm sự: “Lịch sử Nam Bộ Việt Nam là
lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực Ý thức khẩn hoang mở đất
ăn sâu vào máu thịt tôi Hơn nữa, đây cũng là đề tài mà người dân Nam Bộ rất quan tâm, bởi trong ký ức của người Sài Gòn cũ, người Nam Bộ cũ vẫn luôn lưu giữ nhiều ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên trong
Trong suốt cuộc đời, Sơn Nam luôn sống giản dị, chân tình và để lại nhiều dấu ấn đẹp trong lòng bạn bè, đồng nghiệp Ông được nhiều người gọi yêu là “ông già Nam Bộ”, “Ông già Ba Tri”, “Ông già đi bộ”, “pho từ điển sống về miền Nam”
Trang 23hay “nhà Nam Bộ học” Với khối lượng tác phẩm đồ sộ viết về mảng đề tài Nam
Bộ, Sơn Nam đã để lại cho hậu thế một kho tàng vô giá về lịch sử hình thành, đấu tranh và phát triển của mảnh đất Nam Bộ xa xưa Đó là những cống hiến không phải
ai cũng có được
Sơn Nam qua đời ngày 13 tháng 8 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng tên tuổi và dấu ấn của ông trong sự nghiệp văn chương về đề tài Nam Bộ sẽ còn sống mãi và trở thành niềm cảm hứng bất tận cho những thế hệ sau khao khát được khám phá mảnh đất này
Tập truyện Hương rừng Cà Mau được xuất bản lần đầu năm 1962, đây là
một trong những tập truyện ngắn xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Sơn Nam Từ ấn bản đầu tiên đến nay, nhờ công sưu tầm tư liệu của nhà thơ Lê
Minh Quốc và độc giả mến mộ, tập truyện Hương rừng Cà Mau đã trọn vẹn hơn rất nhiều Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ấn bản Hương rừng Cà
Mau gồm 65 truyện ngắn (dày 932 trang, khổ 20cm) được nhà xuất bản Trẻ tái bản
lần thứ 6, năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh
Tập truyện Hương rừng Cà Mau là tuyển tập những câu chuyện viết về
cuộc sống mưu sinh, phong tục, tập quán của con người đất mũi với những nghề đặc trưng như: câu cá sấu, bắt rắn, săn bắt heo rừng Mỗi câu chuyện được Sơn Nam ghi chép lại đúng như những gì nó đã xảy ra Trong vùng đất ấy luôn ẩn chứa bao điều thú vị về thiên nhiên - đất nước - con người với những yếu tố lạ đã thu hút thị hiếu của con người nơi khác
Nhân vật của Sơn Nam trong tập truyện chủ yếu hoạt động trong môi trường làng rừng, trong những xóm ấp còn hoang dã, họ biểu hiện tính cách bằng hành động và giọng nói mang tính hài hước Cũng chính trên những mảnh đất ấy, thời xa xưa đã có rất nhiều người tự xưng là hảo hán lớn, lập nên những băng đảng
quậy phá trong các làng ấp, trên các kênh rạch Những câu chuyện như Đảng cánh
buồm đen, Đảng xăm mình đã ghi lại dấu tích một thời về vùng đất cuối cùng
trong hành trình khai hoang mở đất Ngoài ra, truyện ngắn Sơn Nam cũng thường
Trang 24viết về những ông già, đó là những nhân vật trải nghiệm cuộc đời Trải qua bao hạnh phúc, đắng cay, họ hiểu được cách đối nhân xử thế vì biết rằng cuộc đời mỗi con người là có hạn Khi phải đối mặt với cuộc sống mưu sinh, nhân vật của Sơn Nam thường hòa mình vào cuộc sống như khuất phục thiên nhiên, nhưng ẩn sâu bên trong họ là những trí khôn và sức mạnh tiềm tàng không dễ gì khuất phục
Với giọng điệu rất riêng, văn của Sơn Nam không trau chuốt tới từng câu chữ nhưng trong mỗi câu chữ luôn căng tràn sức sống, trên mỗi câu văn đều thể hiện một lối nói mộc mạc, chân thành của người dân Nam Bộ Với lối kể chuyện rất riêng, Sơn Nam dẫn dắt người đọc về thế giới của vùng sông nước với cách dựng truyện lần lượt, tuần tự theo không gian, thời gian Mặc dù không phải tác phẩm nào trong tập truyện cũng đặc sắc nhưng trong mỗi câu chuyện đều có những chi tiết ấn
tượng như cuộc chiến của ông Năm Tự với Con heo khịt (truyện Con heo khịt), ông Năm Hên bắt cá sấu (Bắt sấu rừng U Minh Hạ), chú Tư Đức câu con sấu trên
Sông Gành hào và trong tập truyện này cũng có những câu chuyện rất hay như Mùa len trâu, Hương rừng, Hát bội giữ rừng, Con Bảy đưa đò
Xuyên suốt các tác phẩm, chúng ta thấy sự xuất hiện của những địa danh rất thực như Rạch Giá, Kiên Giang, Cà Mau qua đó tác giả đã dựng lên những làng quê sống động với hình ảnh con người xuất hiện trong những không gian bình dị, hiền hòa, thơ mộng, gần gũi và gắn bó mật thiết với thiên nhiên Chuyện bắt đầu từ những điều bình dị nhất là cách ăn, cách ở, lối sống, sinh hoạt của người dân đến những cuộc chiến đấu với thiên nhiên oanh liệt Đánh cọp, bắt cá sấu, len trâu, hạ từng đàn khỉ, bẫy heo rừng chuyên phá hoại mùa màng sống giữa vùng quê trù phú, con người cũng phải gồng mình lên chiến đấu để giành giật sự sống và bảo vệ cuộc sống yên bình nơi đây Từ cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn thấm đượm trên từng trang viết, tác giả đã đưa chúng ta đến gần hơn với cái tình, với những tính cách rất Nam Bộ Đó còn là cách ứng xử của con người khi thực dân pháp đến xâm lược, qua đó thể hiện lòng yêu nước thiết tha và ước vọng được cống hiến của tác giả Qua từng câu chuyện, con người Nam Bộ hiện lên thật bình dị và vô cùng đẹp
đẽ Họ rất trọng chữ tín và yêu thương chan hòa, sống với nhau bằng tình cảm xóm giềng nên mối gắn kết giữa con người Nam Bộ rất keo sơn, bền chặt
Trang 25Nếu ở miền Bắc chúng ta có dòng Đà giang cuộn sóng, chỉ trực chờ nuốt
gọn những tàu bè ngang qua (Người lái đò Sông đà của Nguyễn Tuân) thì dòng
nước Nam Bộ lại hiền hòa đến nao lòng Với hai mùa nước lớn nước dòng, cuộc sống của người dân nơi đây được hưởng thật nhiều huê lợi Nhưng mặt khác, nó cũng mang lại không ít khó khăn Mỗi mùa nước nổi, khắp bốn bề, dân làng phải
len trâu đi xa hàng trăm cây số để kiếm cỏ cho trâu ăn (truyện Mùa len trâu); cuộc
sống cơ cực là vậy Len trâu là một hành trình luôn ẩn hiện thật nhiều nguy hiểm như trâu chết, những người chủ đánh chém lẫn nhau để giành chỗ cỏ tốt cho trâu ăn hay những kẻ cướp đường tranh giành quyền thống soái Sau mỗi mùa đi len con người được tôi rèn và thay đổi dần bản chất Từ những người dân lương thiện, vì miếng cơm manh áo họ phải đánh đổi cả mạng sống của mình và mất đi một phần hoặc tất cả những giá trị vốn có
Qua việc khảo sát 65 truyện ngắn, chúng ta thấy mảng đề tài chính, xuyên suốt tác phẩm được tác giả hướng tới đó là chủ đề thiên nhiên, cuộc sống, con người (sự chiến thắng của con người trước những khó khăn, thử thách với thiên nhiên) Thiên nhiên Nam Bộ như lòng mẹ; vừa chan hòa gần gũi nhưng cũng vô cùng dữ dằn, ghê rợn Dựa vào hoàn cảnh sống của người dân Nam Bộ được tác giả ghi lại tại hai thời điểm, người viết chia tập truyện thành hai mảng thời gian chính là thời
di dân khai hoang và giai đoạn Pháp thuộc Trong những tác phẩm viết về đề tài khai hoang, yếu tố thời gian được tác giả làm mờ đi chính vì vậy chúng ta không thể xác định rõ thời điểm tác phẩm ra đời Chỉ biết rằng, những tác phẩm đó được sáng tác trong phạm vi đề tài miệt vườn, lấy bối cảnh là không gian sông nước, xoay quanh cuộc sống của những con người giữa chốn U Minh hoang sơ dữ dội Với những truyện ngắn còn lại, tác giả để mốc thời gian cụ thể vào khoảng năm 1930-
1946, thời kỳ này đất nước ta có nhiều biến động to lớn về kinh tế - chính trị - xã hội Qua bối cảnh thiên nhiên, xã hội trong mỗi câu chuyện, tác giả mong muốn cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn diện nhất về quê hương ông trong những ngày gian khó
Trang 26Tiểu kết
Tập truyện Hương rừng Cà Mau đã đưa chúng ta trở về với những ngày
gian khó trong cuộc sống của người dân Nam Bộ, từ những thử thách gian lao bước đầu trên con đường khẩn hoang vùng đất mới đến khi xã hội hứng chịu sự đô hộ của nhà nước thực dân Trong bối cảnh đó mọi thứ đều trở nên khó khăn, cuộc sống của người dân thiếu thốn về mọi mặt nhưng vượt lên tất cả, giữa khung cảnh thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, chúng ta thấy hiện lên một thứ tình cảm thật cao đẹp - Đó
là tình đất, tình người Nó phảng phất, hòa quyện như thứ hương rừng đặc trưng được chắt lọc từ những giọt tinh túy nhất của vùng Nam Bộ
Qua mỗi câu chuyện, tác giả mong muốn gửi tới độc giả nói chung một bức thông điệp về tình yêu quê hương, đất nước, con người, tấm lòng gắn bó thiết tha
với quê hương xứ sở Như nhà văn Sơn Nam từng khẳng định: “Không có người
Miền Nam mà chỉ có người Việt Nam”, nhưng đó là người Việt Nam đi đến chốn
cuối cùng của Việt Nam - Cà Mau
Trang 27CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ CON NGƯỜI
MANG ĐẬM DẤU ẤN NAM BỘ Trải qua quá trình hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trong vùng đất đa văn hóa, đa sắc tộc, mảnh đất Nam Bộ là nơi kết tinh của hai nét đặc trưng văn hóa riêng biệt, đó là đặc trưng đồng bằng sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hóa của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hóa Việt trong vùng Ở những nền văn hóa khác cũng có sự tiếp biến văn hóa giữa các tộc người khác nhau, nhưng chỉ có ở Nam Bộ văn hóa các dân tộc thiểu số mới đủ sức tạo nên những điều đặc biệt trong văn hóa của cư dân Việt và làm cho nó trở nên vừa quen, vừa lạ đối với chính người Việt chúng ta
Qua khảo sát tập truyện Hương rừng Cà Mau, luận văn sẽ đề cập đến ba
phương diện nội dung chính là không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và đặc điểm tính cách của con người Nam Bộ, qua đó làm nổi bật thế giới nghệ thuật trong
tập truyện Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam
2.1 Không gian nghệ thuật trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn
Nam
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện
chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu
Trong Thi pháp học, khái niệm không gian nghệ thuật là một phạm trù của
hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện
3
, Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 633
Trang 28quan niệm nhất định về cuộc sống Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật
Trong nền văn học hiện đại, không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phản ánh cuộc sống khổ cực của những con người lao động, những số phận kém may mắn Hình ảnh con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung tâm của bức tranh cuộc sống xã hội Nhà văn đã bám sâu vào hiện thực cuộc sống để phản ánh chân thật những nỗi nhọc nhằn vất vả của cuộc sống con người trên hành trình mưu sinh và kiếm tìm hạnh phúc Không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm và cũng góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn
Sơn Nam là một nhà văn Nam Bộ, ông hiểu vùng đất Nam Bộ như chúng ta hiểu chính lòng bàn tay mình Có thể nói, cả sự nghiệp cầm bút và cuộc đời ông
luôn gắn bó máu thịt với mảnh đất này Qua khảo sát tập truyện ngắn Hương rừng
Cà Mau, chúng tôi đề cập đến các dạng: không gian hoang dã, không gian sông
nước, miệt vườn và không gian đô thị
2.1.1 Không gian hoang dã
Vào khoảng thế kỷ XVII- XVIII phần lớn đất đai Nam Bộ vẫn còn là rừng hoang cỏ rậm, trũng thấp sình lầy nên người dân trong những ngày đầu đi khai hoang
mở đất ngoài việc phải đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, họ còn phải lo chống lại các loại thú dữ, cá sấu, muỗi mòng, rắn rết, cùng nhiều thứ bệnh tật hiểm ác Thời kỳ này, đại bộ phận đất đai còn bị ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước ngọt vào mùa khô, nhiều vùng nhiễm phèn, mặn nghiêm trọng Chính môi trường này đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại chuột bọ, sâu bệnh phá hoại mùa màng phát triển Trong nhiều câu ca dao, chuyện kể đã nói lên nỗi lo sợ của người dân thời bấy giờ trước khung cảnh hoang sơ huyền bí của đất rừng phương Nam:
Trang 29“Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống sông sợ đỉa lên rừng sợ ma”
Nét hoang sơ huyền bí của nơi đây đã từng in dấu trong ca dao :
“Rừng thiêng nước độc, thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”
Thậm chí:
“Cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết gáy”
Giữa thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ có thú dữ hoành hành, con người trong buổi đầu khi mới đặt chân đến vùng đất này đều cảm thấy lạ lẫm trước một khung cảnh thiên nhiên mà ở nơi quê cha đất tổ họ chưa từng gặp phải Rừng rậm thâm u, chướng khí mù sương, muỗi mòng đỉa vắt đã trở thành nỗi ám ảnh đầu tiên của con người khi đặt chân lên mảnh đất phương Nam Chính vì vậy, khi cảm nhận về vùng đất Nam Bộ, nhà văn Sơn Nam đã coi đây là mảnh đất của một huyền thoại, nửa hoang sơ, huyền bí, nửa hấp dẫn, quyến rũ lạ thường Ở đó dường như chỉ có đất trời, rừng hoang và thú dữ Trong những sáng tác của mình, Sơn Nam đặc biệt chú ý đến vùng đất Rạch Giá - U Minh nơi quê hương ông Đây là một vùng đất thấp, tứ
bề là rừng rậm, thứ rừng trầm thủy men theo bờ biển chạy dài tới vịnh Xiêm La Phía Nam là khu Rừng Sác với cây mắm, cây giá… Có nơi toàn tràm, đước, vẹt
Ven sông có dừa nước mọc chằng chịt, có nơi toàn lau sậy, ô rô, cóc kèn Sự hoang
dã, dữ dội của thiên nhiên thể hiện trước tiên trong tên gọi những tên đất, tên làng của người Nam Bộ như rừng U Minh, xứ Cà Bây Ngọp, hòn Cổ Tron, Gò
Quao, vùng Xẽo Bần, xóm Thuồng Luồng, rạch Cái Mau… Những cái tên đó được đặt bởi thế hệ cha ông trong những ngày đầu đi mở đất Mỗi tên gọi đều gắn với đặc điểm riêng của từng vùng Điều đó đã làm gia tăng sự hoang sơ, heo hút, nguy hiểm của thiên nhiên nơi vùng đất mới
Trong các tập truyện của Sơn Nam không gian sinh tồn của con người hiện lên thật khốc liệt Qua từng trang văn, hình ảnh những con sông, con rạch,
cánh rừng tràm, rừng đước, mùa nước nổi, nước giựt,… như hiện lên rõ ràng trước
mắt người đọc Trong truyện Con Bảy đưa đò, Sơn Nam đã miêu tả: “Rạch Cái
Trang 30Mau là ngọn sông lớn ăn qua địa phận của tỉnh Cần Thơ Trên ba mươi năm về trước, đó là nơi sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy gốc bần to lớn cỡ hai người ôm không xuể Sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú, quang cảnh buồn bã làm sao! Thỉnh thoảng, có người bảo rằng: giữa đêm khuya nghe tiếng cọp rống…” [29,
tr 235] Sự hoang sơ, tiêu điều ấy dần dần đã không còn bởi dấu chân người đi khai hoang mở đất Nhưng trong tư tưởng nhiều người, Cà Mau - Rạch Giá vẫn là vùng
đất “kì quái, hiểm nguy” Đó là lí do bà Cả trong truyện Cô Út về rừng nhất định
không chịu gả con Út cho cậu Quỳnh Bà lần lượt viện ra hàng loạt những “dẫn chứng” để khẳng định ý kiến của mình:
“Tôi ngại quá Mình có mụn con gái Gả đi xa xôi không nói làm chi Ngặt
xứ đó kì quái, hiểm nguy Nội cái tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm (…) Ông không nghe người ta hát sao?
Xứ đâu như xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh ( ) Nè, tôi nghe nói… phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống Cổ xuống bến làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua Dè đâu chừng dọn cơm ra, cha mẹ chồng gắp lên thấy quả tang một con đỉa đeo trong khứa cá Cô dâu nọ bị đuổi vì tội… nấu canh chua bằng đỉa Oan ức quá Xứ đỉa nhiều, ai đâu dè trước Tôi sợ con Út nhà mình phải
bị đuổi trở về mà mang nhục với xóm giềng” [29, tr 336, 337]
Chẳng những muỗi, vắt nhiều vô số, khí hậu khắc nghiệt mà còn có rất nhiều thú dữ (cọp, sấu, heo rừng), rắn độc luôn đe dọa mạng sống con người Trong buổi đầu đi khai hoang mở đất, con người Nam Bộ gặp nguy hiểm nhiều nhất là cá sấu Do Nam Bộ hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước nên phương tiện giao thông duy nhất lúc bấy giờ là đường thủy, người dân sinh sống chủ yếu bằng các nghề liên quan đến sông nước như giăng câu, chèo đò, buôn bán trên sông, đốn củi… Nhưng dưới lòng sông lặng lờ tưởng chừng rất hiền hòa, bình yên luôn ẩn dấu một sự nguy hiểm tột cùng Không biết bao nhiêu người đã làm mồi cho cá sấu Hình ảnh con sấu lửa đùa giỡn, cắp chân người rửa chén, giặt đồ trên bờ sông trong
truyện ngắn Sông Gành hào khiến chúng ta giật mình: “Hôm qua, sấu nổi lên lần
Trang 31nữa Cô gái nọ ngồi rửa chén dưới bến, bị sấu táp, rinh luôn cái cầu thang Hồi lâu, sấu nhả ra, cô nọ tỉnh trí lội vào bờ” [29, tr 805] Còn khi gặp xuồng thì nó quẫy
đuôi cho chìm xuồng để bắt người: “Hôm kia nó đập đuôi nhận chiếc xuồng trên đó
có hai mẹ con Mẹ mất xác, đứa con gái bị táp cụt chưn” [29, tr 805]
Đó còn là câu chuyện đau lòng về việc hiếu hỉ bị bỏ ngỏ giữa chừng khi
ngày lễ rước dâu của gia đình ông Cai tổng Hy (truyện Con sấu cuối cùng) trở nên
u ám: “Một tai họa thảm khốc vừa xảy đến cho gia đình ông cai tổng Hy Hôm ngày
cưới của đứa con trai út, đoàn ghe rước dâu bị sấu cản mũi, bà con hai họ kêu la
ỏm tỏi, sấu lặn xuống rồi trồi lên đập đuôi ngay chiếc ghe chở cô dâu, chú rể Ai nấy đều bình yên, trừ trường hợp đặc biệt của cô dâu Nàng mất dạng sau khi quơ đôi chân ngược lên trời, lần cuối cùng, đầu và mình đều khuất dưới mặt nước xao động, trong miệng sấu” [29, tr 307] Họ biết rằng kẻ bị hùm tha sấu bắt sẽ chẳng
bao giờ có thể trở về nhà hưởng hương khói nếu con sấu, con cọp sát nhân kia còn sống Xuất phát từ nỗi ai oán, đau đớn, căm phẫn của người dân bị sấu bắt mất người thân nên nghề câu sấu cũng chính thức ra đời
Cuộc sống và tính mạng con người luôn bị rình rập và trở nên nhỏ nhoi trước sự đe dọa của thú dữ Có biết bao người chết oan bởi sấu, cọp, heo rừng… Lời hát cầu hồn giải oan cho những người xấu số trong cuộc khẩn hoang của ông Năm
Hên (truyện Bắt sấu rừng U Minh Hạ) được miêu tả như tiếng khóc oán than, nài
nỉ, tiếng phẫn nộ bi ai của những con người bị chết oan Lời hát ấy cũng thể hiện rất
rõ sự hoang sơ, dữ dội của thiên nhiên vùng Nam Bộ:
“Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối, Đầu bãi cuối gành Hùm tha, sấu bắt Bởi vì thắt ngặt Manh áo chén cơm,
U Minh đỏ ngòm
Trang 32Rừng tràm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc, Lập đoàn giải oan ” [29, tr.87]
Hình ảnh ông Năm Hên đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu với bó nhang cháy dở huơ trên tay đã chạm đến một thời gian khổ nhất
Sống giữa thiên nhiên hoang dã, vì một chút sơ sót họ sẽ phải đánh đổi cả mạng sống của mình nhưng ngược lại những căn bệnh giữa thế giới hoang vu ấy mới thực đáng sợ Bệnh cùi thường xuất hiện trong điều kiện sống kém do ô nhiễm nguồn nước hoặc ăn uống không đầy đủ Căn bệnh này đã từng ăn mòn tâm trí của bao người khiến những người mắc bệnh sống không bằng chết Trong một số câu chuyện, Sơn Nam đã khắc họa rõ nét những nguy hiểm và khó khăn mà căn bệnh này gây ra cho người dân trong ngày đầu đi mở đất Đó cũng là những gian nan để thử thách sức chịu đựng của con người Câu chuyện của cô Hoàng Mai, con gái ông
hương giáo (truyện Hương rừng) như đóa hoa tươi thắm giữa rừng tràm, không may mắc phải căn bệnh quái ác là một điển hình: “Từ hồi tấm bé, làn da của Hoàng
Mai mịn quá, bóng quá Trăm sự đều do đó mà ra (…) mấy năm trước, tuy gió bấc
về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi giẫm chân lên than hồng mà cười Đêm đến ( ) Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mặt úp vào chiếc gối mền như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió dạt dào rung khẽ làm hở ra mấy mí lá chen trên đầu vách” [29, tr 564,
565] Hay từ một người khỏe mạnh, sau bảy năm bị bệnh phong dày vò, ông hương
cả Ban trở nên yếu đuối Ông nói về căn bệnh của mình: “Bịnh cùi giống như… loại
ván mục nát Nếu vá víu thì chiếc ghe tạm dùng được vài ba tháng Nhưng lần hồi, tất cả ván be đều rơi lộp độp, chiếc ghe chỉ còn mấy cây đinh sét và nõ trai trét mà thôi” [29, tr 685] Bi kịch thay, căn bệnh đó đã ăn mòn tâm trí của bao người Đến
việc cuối cùng là tự kết liễu cuộc đời mình hương cả Ban cũng không làm được
Trong câu chuyện cuối cùng với người con trai, ông tâm sự: “Này Hưng! Tao cùi
rồi nhưng tao đủ gan dạ tự tử Mấy tháng qua, tao mài cây dao để tự tử, mài bén không cho mầy hay Chừng mài xong tao mới hiểu tao là thằng khùng Thằng cùi
Trang 33nằm mấy năm liên tiếp trên lầu này, chẳng hề tiếp xúc với ai, lẽ dĩ nhiên trở thành thằng khùng… Cây dao mài xong quá bén nhưng làm sao tự tử Bàn tay của cha đã rụng lóng rồi Mọi khi, cha buộc một cái muỗm vào cùi tay mà ăn cơm Bây giờ nếu buộc cây dao nhỏ vô đó thì được, nhưng đâm yếu quá Vả lại ba chẳng hiểu mình nên đâm vô chỗ nào cho mau chết! Da thịt, mặt mày đã chết, đã sình từ lâu Đâm vô làm gì cho tốn sức Chỉ còn nước cắn lưỡi Nhưng mà… Nướu với lưỡi của ba đã lở lói hết Cắn không đứt Nếu đứt thì máu đâu mà chảy Bây giờ, con đâm ba đi… Ba muốn chết Ba biểu con như vậy” [29, tr 689, 690] Xây dựng nhân vật trong bối
cảnh này, Sơn Nam muốn phần nào khẳng định sự tàn khốc, khắc nghiệt của thiên
nhiên hoang dã, dù cho chúng ta có phát hiện ra căn bệnh nhưng cũng không có
cách nào phòng tránh và khắc phục được những hậu quả mà nó mang lại Những hình ảnh đó đã gieo vào lòng bạn đọc nỗi xót xa, cay đắng Cũng từ đây, mối tình giữa cậu Tư Hưng và cô Lài bắt đầu nhuốm một màu tăm tối Chàng trai trẻ thở dài
và mỉm cười chua chát bởi cô Lài còn quá trẻ nên chưa thể hiểu hết rằng chàng trai bấy lâu vẫn hôn nàng đã mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không thuốc gì chữa được
Tập truyện Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam đã miêu tả một không gian
thiên nhiên hoang dã, dữ dội của vùng đất đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng Cà Mau - Rạch Giá thời ông cha mới đi khai hoang mở đất Sơn Nam đã khai thác mảng đề tài về thiên nhiên và con người Nam Bộ thời đi “khai thiên lập địa” bằng một cảm hứng nhất quán và say sưa Cảm nhận được vẻ đẹp nguyên sơ vốn có của quê hương, ông đã thâu tóm những hình ảnh ấy vào trong sáng tác của mình và cho độc giả thấy được sự gian khó, nhọc nhằn trong công cuộc mưu sinh của người dân nơi đây
2.1.2 Không gian sông nước, miệt vườn
Xét về mặt tự nhiên, Nam Bộ là mảnh đất được hình thành trên hệ thống sông ngòi chằng chịt, những ao hồ và ruộng đồng mênh mông Do cấu tạo tự nhiên
có tính đặc thù riêng nên trong sinh hoạt hằng ngày, người Nam Bộ di chuyển chủ yếu bằng đường thủy, trên các ghe xuồng Những yếu tố tự nhiên này đã tác động
Trang 34trực tiếp đến cách xây dựng, miêu tả hiện thực con người trong truyện ngắn của Sơn Nam Có thể nói, hình tượng sông nước là một yếu tố không thể thiếu trong mỗi tác phẩm và cũng bởi nó gắn liền với một phần tuổi thơ của tác giả Đó là quê hương, là vùng Cà Mau, U Minh rộng lớn Bạn đọc có thể dễ dàng bắt gặp những dấu ấn của vùng phù sa sông nước như: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông, con đò trong cuộc sống sinh hoạt của con người Nam Bộ
Không gian sông nước trở thành không gian sống - một phần không thể thiếu trong sinh hoạt thường ngày của con người Nam Bộ Chính vì vậy, chiếc
xuồng vừa là mái nhà, cũng vừa là phương tiện giúp họ di chuyển qua những vùng đất khác nhau Đó là cha con chú Tư Đức, vì đi đốn củi lậu bị ông kiểm lâm Rốp bắt
được tịch thu cả chiếc bè và số gỗ lậu nên không còn chốn dung thân (truyện Sông
Gành Hào); là cô Bảy, từ miệt Cần Thơ trôi dạt xuống vùng Cà Mau làm thuê cuốc
mướn; về sau do hoàn cảnh đưa đẩy cô đã lưu lại chốn này làm nghề chèo đò đưa khách qua sông, ban đêm bán bánh bò cho ghe xuồng qua lại Ở con rạch Cái Mau dân chúng ai cũng biết đến cô nhờ giọng hát “xa lạ nhưng lại quen thân và ấm áp”
(truyện Con Bảy đưa đò) Mối tình oan trái giữa con Lài và thằng Lợi - Đứa con
của hai ông thầy rắn nổi tiếng khắp rạch Thuồng Luồng cùng bắt đầu trên dòng
sông xanh (truyện Cây Huê xà) Hay trong đám cưới thằng con trai út nhà ông cai
tổng Hy cũng dùng xuồng để đón dâu Đoàn ghe rước dâu nối đuôi nhau chạy dài cả
con sông Ngã Ba Đình (truyện Con sấu cuối cùng)
Nước vừa là không gian sinh tồn lại cũng chính là môi trường để người dân
đi lại, kiếm sống và tổ chức các hoạt động xã hội Để tận dụng những nguồn lợi từ sông rạch, con người trong truyện ngắn Sơn Nam đã có những lối ứng xử sáng tạo, thông minh trước thiên nhiên mênh mông vô tận Như câu chuyện thú vị của anh Tư
Cồ trong truyện ngắn Ruộng lò bom là một ví dụ điển hình Tư Cồ đã nghĩ ra cách
làm ruộng lò bom và trồng loại lúa Xom Mà Ca Làm lúa kiểu này đỡ phải tốn thời gian Từ ngày gieo mạ đến lúc thu hoạch chỉ tốn có một ngày rưỡi Theo anh tính: phát cỏ một buổi, gieo giống một buổi rồi bỏ đó, bốn tháng sau đến thu hoạch, tốn
thêm một buổi nữa, thế là có lúa ăn: “Tư Cồ đứng trên mặt đất - tức là đáy nước
Trang 35Nước cao ngang cổ Hai tay Tư Cồ cầm dao, chém cỏ, chém gốc dưới nước Cỏ nổi lên từng giề (…) Cỏ bị chặt đứt gốc trôi lều bều Hai tháng nữa, nước giựt xuống
Cỏ đã thúi, trở thành loại phân tốt, rải đầy trên mặt đất Hai tháng nữa, tức là tháng Hai tháng Ba âm lịch, trời nắng cháy Vợ chồng Tư Cồ sẽ trở lại đó, đốt cỏ Rồi gieo lúa giống, loại lúa Xom Mà Ca từ lúc gieo đến lúc trổ bông là bốn tháng”
[29, tr 791] Bằng trí thông minh của mình, Tư Cồ đã tận dụng được môi trường sông nước vào phục vụ sản xuất còn thực dân Pháp thì cho rằng vùng này ngập lụt, khó khăn, muỗi mòng không thể sống được
Bên cạnh đó, không gian sông nước còn là không gian mưu sinh của con
người Trong truyện ngắn Mùa len trâu không gian này chiếm một vị trí quan
trọng, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho câu chuyện Con trâu vốn là gia tài của người nông dân, thế nhưng mỗi năm đến mùa nước nổi, nhà nhà lại phải gửi trâu đến vùng Bảy Núi, Ba Thê để tránh nước Cảnh len trâu hiện lên trước mắt bạn đọc với số lượng hàng trăm con, đen đầu, đặc nước giống như hồi thiên hạ trời đất sơ khai, càn khôn hỗn độn Nhìn từ phía chân trời có thể thấy vô số con trâu đang lặn hụp thành
từng đàn dưới mặt nước Sơn Nam viết: “Trâu quậy, sóng nước chuyển nghe đùng
đùng Hơi thở trâu khì khì như cây rừng nổi gió Hàng trăm cặp sừng cong vòng, nhọn lễu nhô lên bộ mặt ngơ ngác ba góc, giống hệt như những trái ấu khổng lồ”
[29, tr 629] Hết mùa đi len, những tằn khạo (người cai thầu) đem trâu về trả cho chủ cũ và lãnh công bằng gạo hoặc bằng tiền Đây là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của nhà văn Sơn Nam bởi lẽ nó không chỉ nêu bật lên những nét đặc trưng của vùng Nam Bộ, từ khí hậu, địa hình, ngành nghề mà còn giúp ta thấy được cách nhìn nhận sâu sắc và toàn diện của Sơn Nam về con người Nam Bộ
Con người trong truyện ngắn Sơn Nam không chỉ biết tận dụng điều kiện thiên nhiên để làm phong phú thêm cho đời sống của mình, mà trên hết đó còn là sự hòa mình với thiên nhiên, hiểu rõ thiên nhiên để tận dụng thiên nhiên một cách hiệu quả nhất Hình ảnh những con kênh rạch được tác giả tái hiện vô cùng sinh động, đã thể hiện phần nào cách ứng xử của con người nơi đây trước thế giới tự nhiên Nam
Bộ có hệ thống sông rạch chằng chịt là điều kiện lý tưởng cho các loài cá tôm trú
Trang 36ngụ và sinh sản Song, để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này, con người phải tích lũy cho mình thật nhiều kinh nghiệm để nắm bắt những quy luật của thiên
nhiên Có như vậy, họ mới giành được chiến thắng Ở Người mù giăng câu, Sơn
Nam đã tái hiện lại hình ảnh một ông già tuy bị mù mắt nhưng vẫn câu được rất nhiều cá Đó là bởi ông đã nắm được những quy luật của vùng sông nước, đặc điểm
của từng loài cá khác nhau Ông thường bảo: “Phải có kinh nghiệm mới đỡ cực
nhọc “Con cá trương vi quạt đuôi ra biển Bắc còn mong gì con cá ấy trở lại chốn
cũ ao nhà” Câu vọng cổ đó nói sai Cá có hang ở sông Cái Mùa mưa, cá tìm đường lên ruộng, vào rừng mà đẻ Bắt đầu mùa hạn, cá bỏ ruộng, bỏ rừng quay trở
về hang cũ ở sông Sự khôn ngoan của con người là chặn chuyến về của loài cá Chặn cho đúng nơi, đúng lúc” [29, tr 712] Với kinh nghiệm giăng câu nhiều năm,
ông lão đã nghiệm ra một điều về quy luật sinh hoạt của loài cá để từ đó chọn được
thời điểm và dòng nước thích hợp để buông cần: “Rạch nào lắm ghe xuồng qua lại,
cá ở sát bờ Rạch nào im lặng cá lội ngay giữa dòng Trước khi giăng cá trê, phải quậy cho nước đục Mỗi chỗ cá chỉ ăn một lần Vì nó đi lưu động, mình nên khéo dời chỗ” [29, tr 712, 713]
Hình tượng sông nước trong truyện ngắn Sơn Nam không chỉ là môi
trường thuận lợi cho con người sinh sống, mà đôi khi nó cũng gây trở ngại, khó khăn trong cuộc sống Mỗi mùa nước nổi ngập lụt khắp những cánh đồng, con
người muốn có cuộc sống yên ổn đòi hỏi họ phải có bản lĩnh, chinh phục tự nhiên hoặc nương nhờ thiên nhiên để sinh sống Với mỗi khó khăn mà sông rạch mang lại,
con người lại có một cách đối phó khác nhau Trong Tình nghĩa Giáo khoa thư,
khi chèo ghe, gặp đường nước hẹp, con người lại chèo trên đất khô chứ không chèo
dưới nước, để xuồng lướt đi nhanh hơn: “Con rạch thâu hẹp lại Chiếc tam bản lắc
nghiêng như trái dừa khô trên mặt nước đầy sóng gió Anh trạo chèo một chèo, nghiêng mình bên hữu Rồi bỗng nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên đất khô bên bờ rạch Chiếc tam bản lại lướt nhanh trong lòng nước quá hẹp vừa đủ lọt bề ngang” [29, tr 874] Hay cuộc sống của những người nông dân trong truyện Mùa len trâu, Sông Gành hào cũng bị ảnh hưởng nặng nề
Trang 37Ngoài những điểm thuận lợi và khó khăn như vừa nêu trên, không gian
sông nước Nam Bộ còn là nơi truyền tải nét sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người nơi đây Chính điều kiện sông rạch chằng chịt đã sinh ra những điệu hò đối
đáp làm say đắm lòng người Những câu hò huê tình của con bảy đưa đò (truyện
Con bảy đưa đò) đã mang theo tâm tình của cư dân vùng sông nước, làm sống lại
không khí lễ hội và tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng đất này Giữa đêm khuya thanh vắng, những câu hò của con Bảy và chàng trai xứ Bình Thủy thật ngang tài ngang sức Tiếng hát và lời đối đáp thông minh, lanh lẹ mà nghĩa tình đã làm nảy sinh những tình cảm đẹp đẽ giữa đôi trai gái Hò đối đáp trên sông là một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Nam Bộ thuở xưa Thể hiện điều này trong truyện ngắn của mình, Sơn Nam cũng nhằm tái hiện cái hồn, nét văn hóa tinh thần của cha ông thời mở đất Họ lao động mệt nhọc để biến vùng đất hoang vu thành tài nguyên trù phú phục vụ cho cuộc sống của mình, đồng thời họ cũng nghỉ ngơi, đàn ca hát
hò để tái tạo sức lao động sau những ngày làm việc vất vả Qua những buổi hò đối đáp con người đã nên duyên với nhau
Bên cạnh những trang viết về không gian sông nước, không gian miệt vườn
cũng trở thành một đề tài thu hút sự chú ý của Sơn Nam Bởi trong công cuộc
khai phá và xây dựng miền đất mới của người Việt ở miền Nam Bộ, dưới tác động của thiên nhiên, con người càng có ý thức cải tạo thiên nhiên Lập vườn là công việc lao động đầy sáng tạo của những con người thời mở đất Khác với vườn ở đồng bằng sông Hồng, vườn ở đồng bằng Cửu Long được tập trung lại với nhau thành không gian rộng lớn với những vườn cây trái xanh mướt quanh năm trĩu quả Sự ra đời của miệt vườn không chỉ có ý nghĩa vật chất mà nó còn có ý nghĩa văn hóa, thể hiện khả năng ứng xử phù hợp của con người trước thiên nhiên Nhà văn đã dày công xây dựng lên một bức tranh ngập tràn hương sắc với vẻ đẹp trù phú mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho con người nơi đây Sơn Nam đã viết với tất cả sự say mê
và lòng tự hào của một người con Nam Bộ:
“Khách đi đường ngỡ mình lạc lối trong hang, thứ hang thiên nhiên, bất
tận Có tiếng vượn hú Từ bên này con vượn bồng con, nắm sợi dây rau câu, lấy
Trang 38trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên kia để hái trái vừng Trái quá chát, vỏ quá dày, vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh Trái vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ, lơ lửng Lưới lung linh không đứt hẳn; con nhện hoảng hốt thả sợi tơ dài sa xuống Chợt thấy mặt nước, nó toan rút trở lên Nhưng trễ quá rồi! Con cá bông phóng mỏ theo táp mạnh Thằng Kìm ngỡ đó là con trăn” [29, tr 567]
Và: “Cá lớn bằng cây cột nhà Vẩy xanh vẩy trắng thêu từng vòng ngời lên
khắp thân mình No mồi, cá lặn sát đáy, lội nhanh Bầy cá con di chuyển theo mẹ, hàng trăm con lấm tấm như rắc cườm đầy mặt nước, mất dạng trong bóng mát đằng kia Bờ sông im lìm, mặt nước thẫn thờ trả lại bóng dáng của cây chồi mọc sát
mé bãi: bông vừng buông thong xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối tiếp nhau như bức mành mành Nhánh vừng khô cằn, lá vàng rụng như mất hẳn Đôi đọt non nhú lên, mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì thiếu nắng; ở xa, trông như những cánh bướm khổng lồ đang phập phồng, ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã muốn bay” [29, tr 567] Một cảm giác ngỡ ngàng và vô cùng thích thú đã đọng lại
trong lòng người đọc bởi hiện lên trước mắt họ là một bức tranh thiên nhiên vô cùng
ấn tượng và đặc sắc Cách viết của Sơn Nam giúp bạn đọc hình dung ra một mảnh
đất phương Nam hiền hòa với những cảnh sắc thật đẹp và yên bình Và điều đẹp
nhất trong tâm thức nhà văn, có lẽ là đêm trải nghiệm giữa hương rừng ngào ngạt có
mùi hương xa lạ nhưng cũng rất thân quen: “Trên hàng vạn nhánh to, nhánh nhỏ,
bàn tay thần nào rắc lấm tấm hàng hà sa hố đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà hầu khắp các tứ phía Rừng sáng láng, ai dám nói rừng là âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt” [29, tr 570, 571] và đó đã trở thành điều đẹp nhất trong ký ức về khu rừng
Trang 39nắng gió Viết về đề tài Nam Bộ là để giới thiệu về chính quê hương, xứ sở của mình và cũng là cách để con người nơi khác hiểu rõ hơn về cuộc sống của con người nơi đây nên Sơn Nam ý thức rất rõ điều đó Cũng giống như công việc của một nhà nhiếp ảnh, Sơn Nam đã mang đến cho bạn đọc những trang văn đắt giá về một miền Tây giàu đẹp, hoang sơ và đầy sức hấp dẫn Ở đó có màu xanh của rừng tràm, màu đỏ sẫm của những dòng phù sa hòa trong vô vàn sắc màu của thiên nhiên hoang dã khác Ông đã đưa người đọc lướt nhẹ bàn chân trên quê hương Nam Bộ bằng nghệ thuật ngôn từ
Không gian sông nước, miệt vườn trở nên thân thuộc và gần gũi trong mỗi truyện ngắn của Sơn Nam Mỗi câu chuyện đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc Để làm được điều đó, chính là nhờ một phần không nhỏ những ký ức từ thuở
ấu thơ gắn với sông nước miệt vườn của ông, cũng như chính tâm hồn nhà văn đã
có sự gắn kết tự nhiên với đất mẹ thiêng liêng Ký ức đó thường bắt đầu từ những điều bình dị nhất như lời ăn, tiếng nói, cỏ cây trong đời sống thường ngày
2.1.3 Không gian đô thị
Không gian đô thị trong truyện ngắn Sơn Nam không đậm đặc như một số cây bút miền Nam cùng thời như Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Vũ Hạnh, Trang Thế Hy… Tuy vậy, đây vẫn là một kiểu không gian nhằm thể hiện quan niệm nhất định của nhà văn về cuộc sống
Trong tập truyện Hương rừng Cà Mau, nhà văn Sơn Nam đã xây dựng lên
hai không gian hoàn toàn đối lập nhau Đó là không gian thiên nhiên xã hội Nam Bộ trong những ngày đầu đi mở đất Đặc trưng của không gian này là không có mốc thời gian cụ thể, tất cả được tác giả sử dụng bằng những khoảng thời gian nhất định nhằm tránh sự kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn Bên cạnh đó là không gian xô
bồ náo nhiệt của vùng phố thị miền Nam những năm 1930 Đây là thời kỳ dân ta sống trong bối cảnh xã hội thuộc địa với nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh do sự tác động to lớn từ kinh tế, văn hóa và lối sống hiện đại nên con người xuất hiện có phần nhỏ nhen, ích kỉ hơn Đồng thời, những giá trị văn hóa đạo đức cũng dần bị đảo lộn, thay vào đó là sự lọc lừa, lối sống thực dụng dần lên ngôi
Trang 40Bước vào không gian đô thị, chúng ta không còn phân biệt được đâu là sự
thật và đâu là điều giả dối khi nhân nghĩa giả (truyện Thằng điếm vô danh; Người
tình của cô đào hát); tình yêu giả (truyện Ăn to xài lớn); danh vị giả (truyện Anh hùng rơm) và cả những mối quan hệ cũng là giả dối như Ngày mưa đầu mùa, Bà đầm Phô-Xi-Đông, Người bạn triệu phú Lúc này, không gian đô thị không còn
là không gian gắn bó với một đời người như không gian miệt vườn, sông nước,
mà nó đã trở thành một không gian xô bồ, hỗn loạn Đô thị trong mắt người dân
từng gắn bó với cánh rừng, con nước trở thành một nơi bất an với nhiều nguy cơ
rình rập Trong câu chuyện Người bạn triệu phú là nỗi lòng của một người đi xa trở
về thăm bạn cũ: “Tôi rảo bước về phía mé sông Cầu Ông Lãnh Quang cảnh hai
bên hơi rộn rịp khác thường Trẻ con đứng lố nhố, chỉ trỏ… Ngay cả những người lớn tuổi, những ông chủ nhà lầu, chủ biệt thự cũng ra ngoài sân, rời khỏi cổng, đi tới lui ngoài đường, nện từng bước khá mạnh, biểu lộ nỗi xao xuyến, bất mãn Họ giận ai vậy? Thái độ dân chúng ra ngoài đường khiến tôi suy nghĩ, tưởng tượng đến một biến cố… sốt dẻo vào giờ chót mà báo chí và các thông tin viên thạo tin nhứt cũng chưa biết đến” [29, tr 695, 696] Hay sự xuất hiện của vợ chồng Hương
trưởng làng Thạnh Hòa (truyện Bức tranh con heo) cũng là một ví dụ điển hình
Chính sự quê mùa của vợ chồng hương trưởng đã trở thành món mồi béo bở cho những kẻ gian xảo trên phố chợ Trên hành trình lên huyện học khôn, họ bị kẻ gian lừa ăn hết phần nhu yếu phẩm mang theo và vét sạch tiền khi mua tấm hình con heo
vô giá trị với một niềm tin khờ khạo: “Ông nói cho bà vợ được hưởng trọn vẹn niềm
vui trong ảo mộng xa vời: Tốt lắm Đem về dán trước cửa Hễ gà vịt hoặc heo mà đau ốm thì mình van vái cái hình đó Gà đẻ ra nhiều trứng, heo mập như thổi, vài ngày đúng tạ mình làm giàu, cái tờ cử hương trưởng của tôi đem danh, cái hình này đem lợi Đủ danh đủ lợi rồi” [ 30, tr 122, 123] Bởi tính keo kiệt nên hai vợ
chồng Hương trưởng đã phải trả một cái giá quá đắt cho sự học khôn của mình
Miêu tả không gian sống nơi đô thị, Sơn Nam thường đối lập cảnh rực rỡ, lung linh sắc màu của chốn phồn hoa đô hội với hình ảnh bình dị mộc mạc của xứ
miệt vườn Trong không gian này, con người đã có nhiều đổi thay Cuộc sống