Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng vào xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chủ trương xây dựng bộ máy chính quyền, tập trung đẩy mạnh cải cách, xây
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
PHAN THỊ THANH NHÀN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
PHAN THỊ THANH NHÀN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Đình Thắng
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, số liệu trích dẫn trong luận văn đều trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận văn
Phan Thị Thanh Nhàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo hướng dẫn - TS Trần Đình Thắng, Học viện Kỹ thuật Quân sự Thầy
đã tận tình chỉ bảo, định hướng cho tôi để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ từ các thầy cô trong trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các thầy cô trong Khoa Lịch sử, trong Bộ môn Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam – những người thầy đã tận tình chỉ bảo, định hướng cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi cám ơn cán bộ phòng tư liệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và phòng tư liệu khoa Lịch sử, cán bộ trung tâm thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ phòng Lưu trữ Thành ủy, Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính, Sở Nội vụ thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm và hệ thống tư liệu cần thiết cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Mặc dù đã cố gắng và nỗ lực, song trình độ có hạn, luận văn không tránh khỏi những sai sót.Tác giả rất mong nhận được ý kiến của quý thầy cô
và các bạn Xin chân thành cám ơn
Tác giả luận văn
Phan Thị Thanh Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC (2001-2005) 9
1.1 Yêu cầu khách quan cải cách hành chính nhà nước của thành phố Hà Nội 9
1.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội thành phố Hà Nội 9
1.1.2 Nâng cao hiệu quả quản lý của nền hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Thủ đô 14
1.1.3 Thực trạng xây dựng và hoạt động của nền hành chính nhà nước thành phố Hà Nội 18
1.2 Chủ chương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hà Nội về cải cách hành chính nhà nước (2001 – 2005) 24
1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 24
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội 27
1.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hà Nội 33
1.3.1 Về cải cách thể chế hành chính 33
1.3.2 Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính 35
1.3.3 Về xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức 37
1.3.4 Về quản lý, sử dụng tài chính công 39
Trang 6Tiểu kết chương 1 43
Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC (2006-2008) 44
2.1 Yêu cầu cải cách hành chính nhà nước thành phố Hà Nội nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô 44
2.1.1 Quản lý nhà nước đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô 44
2.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với cải cách hành chính nhà nước thành phố Hà Nội 45
2.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ thành phố Hà Nội về cải cách hành chính nhà nước (2006 – 2008) 48
2.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam 48
2.2.2.Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội 51
2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hà Nội 57
2.3.1 Về cải cách thể chế hành chính 57
2.3.2 Về xây dựng, kiện toàn bộ máy hành chính 62
2.3.3 Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 63
2.3.4 Về quản lý, sử dụng tài chính công 67
2.3.5 Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước 69
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 74
3.1 Nhận xét 74
3.1.1 Ưu điểm, nguyên nhân 74
3.1.2 Hạn chế, nguyên nhân 81
3.2 Một số kinh nghiệm 88
3.2.1 Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính cho sát hợp với thực tiễn cải cách, xây dựng nền HCNN Thủ đô 88
Trang 73.2.2 Nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của cải cách hành chính, đồng thời lựa chọn nội dung, hình thức, bước đi, cách làm phù
hợp trong quá trình cải cách nền hành chính nhà nước 90
3.2.3 Coi trọng nâng cao chất lượng xây đựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đáp ứng yêu cầu hoạt động công vụ 93
3.2.4 Đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước trong nền hành chính nhà nước thành phố Hà Nội trên cơ sở thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ 96
3.2.5 Phát huy sức mạnh tổng hợp trong cải cách nền hành chính nhà nước của thành phố Hà Nội 99
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CB, CC : Cán bộ, công chức CCHC : Cải cách hành chính CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa HCNN : Hành chính nhà nước
HĐND : Hội đồng nhân dân QLNN : Quản lý nhà nước TTHC : Thủ tục hành chính UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền hành chính nhà nước thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp triển khai thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng cầm quyền, quản lý kinh tế - xã hội, thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân Để đáp ứng yêu cầu quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải cách HCNN đã và đang trở thành một xu thế khách quan và là một nhu cầu tự thân của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng, Nhà nước đã đặt trọng tâm vào cải cách HCNN, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nhằm xây dựng một nền HCNN chính quy chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực hiệu quả, phục vụ nhân dân và xã hội
Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng vào xây dựng Thủ đô Hà Nội văn minh, hiện đại, Đảng bộ thành phố Hà Nội đã chủ trương xây dựng bộ máy chính quyền, tập trung đẩy mạnh cải cách, xây dựng nền HCNN trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ
đô Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội, nền HCNN đã được cải cách căn bản; hệ thống thể chế, văn bản pháp quy được xây dựng; biên chế tổ chức bộ máy được sắp xếp, điều chỉnh; đội ngũ CB, CC được kiện toàn, xây dựng; các nguồn lực công, cơ sở vật chất được đổi mới, quản lý, sử dụng cho hiệu quả hơn… Tuy nhiên, nền HCNN của thành phố Hà Nội vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém Hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội ban hành chậm, thiếu đồng bộ, bất cập; tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, quan liêu, kém hiệu lực; đội ngũ CB, CC chưa được xây dựng đồng bộ, công tác cán bộ, chính sách còn nhiều bất cập; sử dụng yêu sách nhà nước, tài sản, vật chất còn lãng phí, chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao…
Trang 10Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế - văn hóa – chính trị, khoa học, xã hội và giao dịch quốc tế của cả nước; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng
và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao,
tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước Trước yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng Thủ đô trong điều kiện nền kinh tế thị trường, tăng cường hội nhập quốc tế, bộ máy chính quyền, mà trọng tâm là nền HCNN của thành phố Hà Nội phải được cải cách căn bản, khắc phục những hạn chế, yếu kém, xây dựng hoàn thiện, đồng
bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
Xuất phát từ những yêu cầu, mục đích khoa học và thực tiễn trên, tôi
chọn đề tài “Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo cải cách hành chính nhà
nước từ năm 2001 đến năm 2008” để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm nghiên cứu làm rõ yêu cầu khách quan, quá trình lãnh đạo, rút ra kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo đẩy mạnh cải cách HCNN trong thời kỳ mới xây dựng Thủ hiện đại, văn minh, giàu mạnh
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Vấn đề cải cách HCNN đã có nhiều tập thể tác giả và cá nhân quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
Các công trình nghiên cứu về cải cách HCNN dưới dạng sách xuất bản
như: “Cải cách bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam”; Nguyễn Duy Gia (1996), “Cải cách nền hành chính Quốc gia ở nước ta”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đào Trọng Tuyến (1996) “Một số vấn đề xây dựng và cải cách
nền hành chính nhà nước Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Vũ
Huy Từ (cb), Nguyễn Khắc Hùng (1998), “Hành chính học và cải cách hành
chính”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; “Lý luận chung về hành chính nhà
Trang 11nước”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; Lê Sĩ Dược (2000), “Cải cách bộ máy hành chính cấp Trung ương trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta”,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Thang Văn Phúc (2001), “Cải cách hành
chính nhà nước – thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội; “Một số văn bản pháp luật về chương trình cải cách hành chính,
tinh giản biên chế trong bộ máy nhà nước”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
Đỗ Quang Trung, Phạm Ngọc Quang (2006), “Đảng với công tác cải cách tổ
chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước”, Nxb Lao động, Hà
Nội; Hoàng Lan Anh, Hoàng Trà My (2006), “Đẩy mạnh cải cách hành chính
– xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam”, Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội; Diệp Đình Sơn (2006), “Cải cách hành chính – Những vấn đề
cần biết”, Nxb Lao động, Hà Nội Các công trình nêu trên chủ yếu đề cập
đến những vấn đề lý luận chung về nền HCNN, khái niệm nền HCNN là hệ thống thực thi quyền hành pháp, là công cụ của hành pháp, quản lý xã hội trên
cơ sở thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nền hành chính bao gồm hệ thống luật, hệ thống thiết chế tổ chức bộ máy, hệ thống nhân sự và hệ thống quản lý tài chính, ngân sách, tài sản; đưa ra những yêu cầu, nguyên tắc, mục tiêu, phương hướng và nội dung chủ yếu về cải cách nền hành chính, trong đó có cải cách bộ máy HCNN Tập trung vào cải cách TTHC, xây dựng hệ thống luật, sắp xếp lại bộ máy từ Trung ương đến địa phương, hoàn thiện cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương các cấp; cải cách công cụ và chế độ công chức; hiện đại hóa và cải cách ngân sách, chế độ tài chính của các cơ quan nhà nước
Cải cách HCNN còn được đề cập ở một số đề tài luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng, củng cố Nhà
nước từ năm 1986 đến 1996”, luận án tiến sĩ Lịch sử của Đoàn Minh
Huấn(2003), học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; “Đảng cộng
Trang 12sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng nền hành chính nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1991 đến năm 2005”, luận án tiến sĩ Lịch sử của
Trần Đình Thắng (2009), học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
“Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1996)”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Lê Văn In
(1998), Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội;
“Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo thực hiện cải cách hành chính
(1996 – 2006)”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Đình Quỳnh (2009),
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia
Hà Nội Các công trình nghiên cứu trên đã trình bày đường lối của các kỳ Đại hội Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; đi sâu phân tích các đặc trưng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng Nhà nước; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu còn đề cập đến những nội dung cải cách nền HCNN về công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương và kết quả về cải cách hành chính trong từng giai đoạn
Ngoài ra còn có các bài viết về cải cách hành chính nhà nước còn được
đăng tải trên các tạp chí như: “Bộ máy hành chính nhà nước trong nền kinh tế
thị trường”, Bùi Đức Bền, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 2/1998; “Cải cách hành chính – khâu đột phá nhằm xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Hồ Xuân Quang, Tạp chí Lịch sử Đảng, số
3/2003;“Cải cách hành chính nhà nước – giải pháp hàng đầu trong phát triển
kinh tế - xã hội” của Thang Văn Phúc, báo Nhân dân, ngày 08/3/2006; “Năm năm thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước: tồn tại và những giải pháp khắc phục” của Hồng Hà, Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình
Dương, số 141, tháng 12/2006; “Chương trình cải cách hành chính, thực
trạng và vấn đề đặt ra” của Đỗ Quốc Sam, Tạp chí cộng sản, số 772, tháng
Trang 132/2007; “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý của bộ
máy Nhà nước” của Đinh Duy Hòa, Tạp chí Cộng sản, số 774, tháng 4/2007;
“Quá trình thực hiện cải cách hành chính nhà nước qua hơn hai mươi năm
đổi mới”, Thang Văn Phúc, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8, năm 2008; “Đảng lãnh đạo cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 1986 - 2006” của Trần Đình Thắng, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10/2008
Các bài báo khoa học nói trên đã đề cập đến những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cải cách HCNN; thành tựu, hạn chế của công cuộc CCHC; mối quan hệ giữa CCHC với phát triển kinh tế - xã hội; phương hướng, giải pháp thực hiện CCHC tuy vậy, tất cả mới chỉ đề cập ở góc độ tổng quát, chưa trình bày một cách hệ thống về quan điểm, chủ trương nội dung cụ thể về cải cách HCNN
Như vậy, các công trình nghiên cứu dưới dạng các đề tài, các sách, tạp chí và các luận án, luận văn về cải cách HCNN là rất phong phú, đề cập ở các khía cạnh khác nhau của nền HCNN nhưng dưới góc độ khoa học tổ chức nhà nước, quản lý nhà nước, hành chính học là chủ yếu Có một số công trình nghiên cứu dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng nhưng nghiên cứu chung nhất
ở tổng thể phạm vi rộng về toàn bộ Nhà nước, nền HCNN Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách hệ thống đầy đủ về các quan điểm, chủ trương lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ thành phố Hà Nội đối với việc cải cách HCNN từ năm 2001 đến năm 2008 Tuy vậy, tất cả các công trình nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân nói trên là nguồn tư liệu tham khảo quý báu, cần thiết cho đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội đã thực hiện cải cách HCNN từ năm 2001 đến năm 2008
Trang 14- Tổng kết, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo thực hiện cải cách HCNN của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2008
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ đặc điểm địa lý – hành chính, kinh tế - xã hội và những yêu cầu đặt ra đối với cải cách HCNN ở Thủ đô Hà Nội;
- Phân tích hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hà Nội về cải cách HCNN từ năm 2001 đến năm 2008;
- Làm rõ quá trình lãnh đạo thể chế hóa thực hiện chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội về cải cách HCNN trong những năm 2001 - 2008;
- Đánh giá khách quan, trung thực kết quả lãnh đạo; Rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo cải cách HCNN trong những năm 2001 – 2008
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về cải cách HCNN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2008 (năm 2001 là năm bắt đầu thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010; năm 2008 là năm Thủ đô Hà Nội mở rộng địa giới hành chính vào ngày 01/8/2008)
Về không gian: Chủ yếu ở thành phố Hà Nội
Về nội dung: Nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng và Thành ủy Hà Nội về việc lãnh đạo, chỉ đạo cải cách, xây dựng nền HCNN Tập trung nghiên cứu cải cách các yếu tố cơ bản của bộ máy HCNN cấp thành phố Hà Nội về: thể chế hành chính; sắp xếp, biên chế cơ cấu, tổ chức (nhiệm vụ, chức năng) bộ máy hành chính; phân cấp quản lý hành chính; xây
Trang 15dựng đội ngũ CB, CC hành chính và quản lý, sử dụng nguồn lực công về tài chính, ngân sách, cơ sở vật chất, dịch vụ công
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu chính để thực hiện luận văn bao gồm các nhóm:
- Các văn kiện Đại hội, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến cải cách HCNN
- Các Báo cáo, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ và các cấp chính quyền ở thành phố Hà Nội về cải cách HCNN
- Các ấn phẩm, sách, bài tạp chí và các bài báo, các đề tài khoa học…,
về cải cách HCNN
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Phương pháp nghiên cứu: chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của những phương pháp đó Ngoài ra, có kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê,
so sánh…
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn xử lý một khối lượng sử liệu, tư liệu phong phú, đa dạng, có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy, có liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng, của Đảng
bộ thành phố Hà Nội về CCHC từ năm 2001 đến năm 2008; cung cấp các dữ liệu lịch sử, đồng thời góp phần tổng kết lịch sử Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo cải cách HCNN trong thời kỳ đổi mới, hiện đại hóa Thủ đô Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cải cách HCNN của Thành phố Hà Nội và quốc gia
Trang 167 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1 Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà Nội về cải cách hành chính nhà nước (2001 - 2005)
Chương 2 Đảng bộ thành phố Hà Nội tăng cường lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước (2006 - 2008)
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 171.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1946,
và là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, sớm trở thành một trung tâm kinh tế chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu lịch sử Việt Nam Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới với cái tên Thăng Long Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm
1831 dưới thời vua Minh Mạng Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên Bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại Từ khi đất nước được giải phóng cho đến nay Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước
Hà Nội, với vai trò là thủ đô, đồng thời cũng là một trong những thành phố có nền kinh tế - xã hội phát triển và năng động nhất cả nước
Từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới (1986) đến trước năm 2008, quán triệt
và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, Thành ủy Hà Nội đã đề ra chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, quyết tâm đổi mới cơ chế quản lý, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đã đạt được những thành tựu nổi bật sau:
Trang 18Về kinh tế: Kinh tế liên tục tăng trưởng cao, phát triển theo hướng bền
vững So với năm 1995, kinh tế của Thủ đô năm 2003 tăng 5,1 lần, bình quân tăng 9,5%/năm Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và từng bước hiện đại hóa; tỷ trọng công nghiệp tăng từ 27,9% năm 1985 lên 40,4% năm 2003; tỷ trọng dịch vụ giảm từ 66,5 xuống 57,2%, nông nghiệp giảm từ 5,6% xuống 2,4%; chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh chuyển biến rõ rệt Giai đoạn 2001 – 2003, bình quân tổng đầu tư
xã hội đạt 21.735 tỷ đồng/ năm, tăng 3,3 lần so với bình quân giai đoạn 1991 – 1995 (6.515 tỷ đồng/năm) Tỷ trọng huy động vốn đầu tư xã hội của Thủ đô luôn đạt mức cao và có xu hướng tăng lên: năm 2000 là 49%, năm 2001 là 50,9%, năm 2003 là 52,8% (tỷ trọng của cả nước tương ứng là 28%, 33,8% và 35,%)[29, tr 5]
Đầu tư trong nước giữ tỷ trọng chủ yếu, năm 2003 chiếm 86%, nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng chiếm 14% So với năm 1985, thu nhập bình quân đầu người năm 2003 đã tăng 3,1 lần Thời điểm đó, Thủ
đô Hà Nội chỉ chiếm trên 10% giá trị sản xuất công nghiệp, 11% giá trị dịch
vụ, 10% tổng đầu tư xã hội, trên 9% kim nghạch xuất khẩu của cả nước và 14,5% tổng thu ngân sách quốc gia [29, tr 5]
Về xã hội, có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó:
Xây dựng và quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, đã cải tạo, nâng cấp cơ sở
hạ tầng, triển khai đầu tư xây dựng nhiều công trình mới làm cho diện mạo Thủ đô ngày càng khang trang Các cửa ngõ ra vào thành phố được mở rộng
và xây dựng nhiều tuyến đường mới, xây dựng một số khu đô thị mới đồng
bộ, hiện đại, mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng và trang bị hiện đại
Giáo dục và đào tạo có chuyển biến rõ rệt Khoa học công nghệ tăng cường quản lý chất lượng, mở rộng việc tuyển chọn các đề tài khoa học, thu hút các tổ chức, cá nhân nhà khoa học tham gia Y tế và công tác xã hội đảm bảo
Trang 19chăm sóc tốt sức khỏe ban đầu cho nhân dân ngày một tốt hơn Văn hóa và thể dục thể thao luôn được thành phố quan tâm và dành nhiều điều kiện để phát triển, đã tổ chức thành công Seagame 22 và Para Game 2 (2003), tạo không khí phấn khởi, để lại cho Hà Nội một loạt công trình văn hóa, thể thao lớn và có đẳng cấp quốc tế để phục vụ cho hoạt động văn hóa, thể thao của Thủ đô
Hệ thống chính trị ở Thủ đô không ngừng lớn mạnh cả về tổ chức, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo Đảng bộ thành phố đã thực hiện có kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thường xuyên được bồi dưỡng, nâng cao nhận thức nhằm thống nhất
ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ Bộ máy chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội không ngừng được kiện toàn, củng cố theo hướng nâng cao hiệu quả và phát huy hiệu lực; từng bước cải tiến chế độ hội họp, theo hướng thiết thực, chất lượng, tránh hình thức, ít thông tin, kém tác dụng
Công tác đối ngoại được mở rộng, phát triển và đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Nội; thiết lập mối quan hệ hữu nghị với trên 60 thủ đô và thành phố của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ Các hoạt động hợp tác, giao lưu về văn hóa, thể dục thể thao, giáo dục đào tạo, khoa học kỹ thuật , giữa Thủ đô Hà Nội với các thủ đô và thành phố trên thế giới cũng diễn ra thường xuyên với nội dung phong phú, đa dạng Hợp tác giữa
Hà Nội và các tỉnh, thành phố trong cả nước đã đạt được kết quả đáng khích lệ, được chính quyền và nhân dân các địa phương đồng tình, trân trọng, góp phần thực hiện chủ trương: “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà Nội”
An ninh – quốc phòng được giữ vững, đã xây dựng và hoàn thiện được thế trận an ninh quốc phòng vững chắc, đảm bảo hòa bình; giữ vững ổn định
Trang 20chính trị; nhân dân được sống trong bình yên Thế trận an ninh – quốc phòng toàn dân vững chắc, đó là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho Thủ đô Hà Nội ngày càng phát triển trong hòa bình, ổn định và an toàn, xứng danh là “Thành phố vì hòa bình”
Dân số Hà Nội theo thống kê cho đến năm 2007 thì Hà Nội có khoảng 3.400.000 người với khoảng 785.000 hộ Với diện tích là 927,52 km2, mật độ dân số tại Thủ đô là cao nhất cả nước, rơi vào khoảng 3568 người/km2 (so với Thành phố Hồ Chí Minh – một trong những thành phố trực thuộc Trung ương đồng thời là một thành phố trẻ và năng động nhất cả nước mới chỉ có 3024 người/km2) Sắc dân ở Hà Nội đa số người Kinh (98,73%), người Mường (0,76%) và người Tày (0,23%) [29, tr 3]
Địa giới hành chính Thủ đô cho đến ngày 31/7/2008 bao gồm 9 quận và
Diện tích (km2)
9 Quận
Trang 215 Huyện
17 Huyện Đông Anh 1 thị trấn và 23 xã 182,3
Trang 22đủ mạnh để quản lý có hiệu quả quá trình vận động phát triển của một Thủ đô đang vươn lên mạnh mẽ Hay nói cách khác, để phát triển kinh tế - xã hội, hơn bao giờ hết thành phố Hà Nội cần phải đẩy mạnh cải cách bộ máy quản lý HCNN, nâng cao quyền lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội để giải phóng mọi nguồn lực sản xuất xã hội Thủ đô, phù hợp với yêu cầu CNH, HĐH, hội nhập quốc tế đang là xu thế diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở Thủ đô
Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung
1.1.2 Nâng cao hiệu quả quản lý của nền hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Thủ đô
Trong cả lý luận và thực tiễn, vấn đề cải cách, xây dựng nền HCNN để nâng cao hiệu quả quản lý đã được đặt ra như là một nhiệm vụ trọng tâm của bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường hội nhập quốc tế, nó đã trở thành nhu cầu tự thân tất yếu trong quá trình xây dựng và phát triển của mọi quốc gia, dân tộc
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cũng đã ghi nhận rất nhiều những cuộc cải cách từ thời phong kiến Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc tự thay đổi và tìm ra phương thức quản lý tốt hơn Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, bắt đầu xây dựng nền HCNN của quốc gia độc lập Nhưng đất nước phải tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Bởi vậy, từ năm 1945 đến năm 1975, nền HCNN được xây dựng theo yêu cầu, nhiệm vụ thời chiến để thực hiện nhiệm vụ cách mạng: đấu tranh giải phóng dân tộc, hoàn thành độc lập dân tộc và dân chủ trong cả nước, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà Do điều kiện của lịch sử, bộ máy hành chính được tổ chức và hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu, kế hoạch hóa cao độ, phục vụ chủ trương, nhiệm vụ cách mạng
Trang 23Ngày 30 – 4 – 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước độc lập, thống nhất, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước là tổ chức xây dựng xã hội mới, phát triển kinh tế - xã hội Từ năm 1976 đến năm 1986, do những hạn chế về lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước sau 30 năm chiến tranh giải phóng, nền HCNN vẫn quản lý theo phương thức cũ, tập trung quan liêu, bao cấp; bộ máy HCNN được xây dựng theo hướng tăng đầu mối để quản lý đơn ngành, đơn lĩnh vực, rất cồng kềnh Thể chế hành chính về lĩnh vực dân sự, kinh tế chưa được quan tâm xây dựng, đội ngũ cán bộ, công chức chưa được đào tạo cơ bản, còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của bộ máy HCNN ở phạm vi quốc gia cũng như của thành phố Hà Nội rất hạn chế, yếu kém là một nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế -
xã hội trầm trọng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12 – 1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm là đổi mới về kinh tế Về xây dựng nền HCNN, Đảng chủ trương sắp xếp lại các Bộ, các Ủy ban nhà nước và tinh giản bộ máy quản lý HCNN Thực hiện chủ trương của Đảng, thể chế về kinh tế bước đầu được xây dựng; điều chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng giảm dần số cơ quan quản lý chuyên ngành, phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính – kinh tế của các cơ quan nhà nước với chức năng sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ QLNN và lý luận chính trị cho CB, CC hành chính Tuy vậy, từ năm 1986 đến năm 1991, Đảng, Nhà nước chưa đưa ra được chủ trương, chính sách cải cách bộ máy hành chính với tư cách là một
hệ thống; chưa gắn đổi mới kinh tế với cải cách hành chính Nền HCNN chưa được xây dựng tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; hiệu lực, hiệu quả QLNN chưa được nâng cao Trong giai đoạn 1991 – 2000, Đảng và Nhà nước ngày
Trang 24càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc cải cách, xây dựng HCNN với sự phát triển kinh tế - xã hội; xác định cải cách hệ thống nhà nước là trọng tâm của cải cách HCNN Đảng đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cải cách một bước thể chế của nền HCNN, sửa đổi căn bản Hiến pháp và bước đầu đã xây dựng hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; triển khai đột phá cải cách TTHC trên một số lĩnh vực trọng điểm của đời sống xã hội và thí điểm
mô hình “một cửa, một dấu”; chấn chính một bước tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động của bộ máy HCNN theo Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ tám, khóa VII và quan tâm xây dựng đội ngũ CB, CC; thực hiện cải cách một bước cơ bản chế độ tiền lương và bước đầu triển khai áp dụng thi tuyển công chức Nền HCNN được cải cách, xây dựng từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển của công cuộc đổi mới đất nước Tuy thế, đây mới chỉ là kết quả bước đầu, vẫn còn nhiều bất cập, nhiều công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi Đảng phải đẩy mạnh cải cách, xây dựng HCNN một cách đồng bộ; tập trung vào xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là các luật về kinh tế; đẩy mạnh cải cách TTHC theo hướng gọn nhẹ, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; đẩy mạnh phân cấp QLNN; tích cực đổi mới chế độ công vụ, công chức
Năm 2001, nhân loại đã kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI – một thế kỷ tiếp tục có nhiều biến đổi: khoa học – công nghệ có bước phát triển nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trọng quá trình phát triển của lực lượng sản xuất; toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia với các mức độ khác nhau Khu vực Đông Nam Á, châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam, sau khủng hoảng tài chính – kinh tế, có khả năng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định Trước mắt có cả cơ hội lớn và thách thức lớn để đất nước ta phát triển kinh tế - xã hội trong một thời kỳ mới
Trang 25Vấn đề làm sao để nắm bắt được những cơ hội lớn tạo ra cú huých, bước nhảy vọt cho sự phát triển kinh tế - xã hội và giảm đi mặt trái, những thách thức của toàn cầu hóa với những nguy cơ tiềm ẩn cả về kinh tế và chính trị là một bài toán khó đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta Một trong những yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ mới này đó là phải nâng cao hiệu quả quản lý của nền HCNN cho phù hợp với những biến đổi to lớn trong nước nói riêng và tình hình thế giới nói chung Bởi quản lý tốt là yếu tố quan trọng mang tính chất vĩ mô, điều tiết sự phát triển của một đất nước Trong đó HCNN lại là bộ phận thực hiện chức năng quản lý xã hội đảm bảo cho sự phát triển toàn diện mọi mặt Bởi vậy để nâng cao hiệu quả quản lý của nền HCNN thì điều tất yếu đó là thực hiện cải cách HCNN
Hà Nội là thủ đô, trái tim của cả nước, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế
và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước (Theo Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội số 29/2000/PL-UBTVQH10) Hơn bất
cứ đâu, yêu cầu cải cách HCNN ở Thủ đô là bức thiết hơn cả Cải cách HCNN ở Thủ đô là bước đi tiên phong, khởi đầu cho công cuộc CCHC trên phạm vi quốc gia, để các cấp cơ sở tiếp thu kinh nghiệm trong quá trình tiến hành CCHC tại địa phương Sở dĩ cần phải thực hiện cải cách HCNN ở Thủ
đô là bởi: thứ nhất, yêu cầu của công cuộc đổi mới mà trọng tâm là đổi mới kinh tế (chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều chủ sở hữu, nhiều đơn
vị sản xuất kinh doanh ) vì vậy cần đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ quản lý tập trung quan liêu bao cấp bằng mệnh lệnh hành chính của nhà nước sang quản lý vĩ mô, quản lý kinh tế - xã hội bằng hệ thống thể chế, luật pháp, công
cụ quản lý vĩ mô Bộ máy HCNN không trực tiếp can thiệp vào quá trình sản
Trang 26xuất kinh doanh của các đơn vị sản xuất Thứ hai, vì đổi mới phương thức, cơ chế quản lý kinh tế đối với nền kinh tế - xã hội Thủ đô (các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh đa dạng các ngành nghề, trình độ sản xuất, đối tượng lao động ) phạm vi, đối tượng, tính chất quản lý của nền HCNN thành phố đã thay đổi, phức tạp, đa dạng, rộng sâu, quy mô phát triển ngày càng lớn đòi hỏi phải cải cách nền HCNN của Hà Nội để đáp ứng yêu cầu đổi mới kinh tế -
xã hội Mục tiêu của Thủ đô đối với việc cải cách HCNN trong thời kỳ đổi mới đất nước là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, có hiệu lực, sử dụng đúng quyền lực, từng bước hiện đại hóa, công tác quản lý có hiệu quả, phục vụ đắc lực nhiệm vụ chính trị của Nhà nước và lợi ích của Nhân dân
1.1.3 Thực trạng xây dựng và hoạt động của nền hành chính nhà nước thành phố Hà Nội
Sau Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991), Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 8, Khóa VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền HCNN Lần đầu tiên cải cách HCNN được đề cập chính thức trong văn kiện của Đảng trên cả 3 yếu tố: cải cách thể chế hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ CB,CC
Thực hiện Nghị quyết 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về cải cách một bước nền HCNN và sự chỉ đạo của Chính phủ theo tinh thần Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994, Thành ủy Hà Nội đã xây dựng chương trình cải cách số 06/CTr-TU ngày 06/3/1997, đề ra mục tiêu, các giải pháp, bước đi lớn cho công tác CCHC của thành phố cũng như các cấp, các ngành
Về cải cách thể chế hành chính: Tập trung chủ yếu vào rà soát văn bản
pháp quy cũ, ban hành văn bản pháp quy mới nhằm tạo ra những cơ sở pháp
lý để thực hiện công tác quản lý HCNN trên tất cả các lĩnh vực của thành phố
Đối với việc rà soát và ban hành văn bản pháp quy: đã tiến hành rà soát được 9.465 văn bản các loại, trong đó có 458 văn bản pháp quy còn hiệu lực;
Trang 27Sửa đổi và bổ sung 101 văn bản, có 1.216 văn bản hết hiệu lực và một số văn bản trái với quy định của Pháp luật hiện hành Riêng đối với văn bản quy phạm pháp luật do UBND Thành phố ban hành hiện tại có 102 văn bản có hiệu lực, 55 văn bản có hiệu lực nhưng cần tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với quy định hiện hành [37, tr 1]
Đối với cải cách TTHC: Các cơ quan hành chính của thành phố đã xây dựng và ban hành quy chế thực hiện công vụ của đơn vị và áp dụng quy chế
“Tập trung một đầu mối” tiếp nhận, giải quyết TTHC theo yêu cầu của công dân và các tổ chức Các TTHC đã được niêm yết công khai, thời gian giải quyết được quy định rõ ràng và rút ngắn hơn so với trước khi thực hiện CCHC, như: Ở lĩnh vực cấp phép xây dựng do Sở Xây dựng thực hiện giảm được một số khâu trong quy trình giải quyết thủ tục xin phép xây dựng, thời gian giải quyết từ 15 – 20 ngày (trước đây Văn phòng Kiến trúc sư trưởng là
30 ngày); thời gian thẩm định để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài trước đây phải từ 1 – 3 tháng, nay 1 – 2 tuần; cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp trước đây từ 15 – 20 ngày, nay 7 ngày; trong lĩnh vực xuất nhập cảnh trước đây 30 ngày, nay 7 ngày; trong công tác đăng ký hộ khẩu đã phân cấp chủ yếu
do công an các quận, huyện giải quyết, thời gian chỉ hết 7 ngày (trừ một số ít trường hợp đặc biệt phải xin ý kiến Giám đốc Công an thành phố và UBND thành phố, thời gian quy định tối đa là 20 ngày) Việc đăng ký xe mô tô chỉ phải đóng một khoảng lệ phí theo quy định và được giải quyết ngay trong ngày đến đăng ký Trong lĩnh vực quản lý đất đai và nhà ở, thành phố đã chủ động xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy định pháp luật để quản lý và giải quyết yêu cầu của công dân và các tổ chức như: Đã ban hành quyết định
số 2059/QĐ-UB của UBND thành phố thực hiện thoái trả tiền mua nhà, không thu tiền thuê nhà và hỗ trợ kinh phí cho người hoạt động cách mạng trước ngày 21/12/1944; Quyết định số 56/2000/QĐ-UB ngày 02/6/2000 của
Trang 28UBND thành phố sửa đổi bổ sung một số điều của quy định về thủ tục để được giao đất, thuê đất kèm theo quyết định số 68/1999/QĐ-UB ngày 18/8/1999 Thời gian thẩm định và trình phê duyệt giao đất, cho thuê đất không quá 30 ngày (do Sở Địa chính – Nhà đất thực hiện); giảm thủ tục về hồ
sơ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước từ 3 bộ xuống còn 2 bộ đơn giản hơn Thời gian thụ lý hồ sơ bán nhà giảm từ 65 ngày xuống còn 52 ngày, tiến tới giảm còn 26 ngày đối với các trường hợp đã phủ giá xong [37, tr 2]
Về chấn chỉnh tổ chức bộ máy hành chính: Thành phố đã từng bước sắp
xếp lại bộ máy, xác định và điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các sở, ban, ngành thành phố và các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ của các quận, huyện theo hướng tinh gọn hơn, xóa bỏ những trùng chéo chức năng, nhiệm
vụ giữa các cơ quan, tách chức năng quản lý HCNN ra khỏi chức năng quản
lý sản xuất – kinh doanh
Đã sắp xếp lại các cơ quan đầu mối thuộc thành phố và các phòng, ban chuyên môn thuộc quận, huyện, sở, ban, ngành, cụ thể là: Sáp nhập Cục Đầu
tư phát triển, Cục quản lý tài sản nhà nước tại doanh nghiệp vào Sở Tài chính – Vật giá; sáp nhập Sở Nông nghiệp, Sở Lâm nghiệp, Sở Thủy lợi thành Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; sáp nhập Sở Địa chính, Sở Nhà đất thành Sở Địa chính – Nhà đất; giải thể Sở Kinh tế đối ngoại, chuyển chức năng quản lý xuất nhập khẩu về Sở Thương mại, chức năng hợp tác đầu tư về
Sở Kế hoạch và Đầu tư; thành lập Sở Du lịch; thành lập Sở Ngoại vụ; chuyển chức năng quản lý trật tự xây dựng, cấp phép xây dựng từ Văn phòng Kiến trúc sư trưởng thành phố về Sở Xây dựng; chuyển các phòng Công chứng nhà nước thuộc thành phố về trực thuộc sở Tư pháp; thành lập Ban chỉ đạo Giải phóng mặt bằng để thống nhất tham mưu, chỉ đạo về công tác giải phóng mặt bằng; sáp nhập Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Ủy ban dân số và Kế hoạch hóa gia đình thành Ủy ban dân số, gia đình và trẻ em; thành lập Tổng
Trang 29Công ty Đầu tư và Phát triển nhà nhằm tạo điều kiện cho Sở Địa chính – Nhà đất không còn trực tiếp quản lý các doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà; hiện đang hoàn chỉnh đề án để trình Thành ủy hình thành các Tổng Công
ty về đầu tư xây dựng, thương mại, để từng bước tách chức năng quản lý HCNN ra khỏi chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh
Như vậy, trước khi sắp xếp, thành phố có 38 cơ quan QLNN cấp thành phố, nay chỉ còn 32; ở cấp quận, huyện giảm từ 18 phòng, ban xuống còn 14 phòng, ban và hướng tới chỉ còn 10 phòng, ban
Về xây dựng kiện toàn đội ngũ CB, CC: Thành phố đã xây dựng và ban
hành quy định về tiêu chuẩn chức danh chánh, phó giám đốc sở, cán bộ chủ chốt quận, huyện, xã, phường; đồng thời hướng dẫn các ngành, các cấp xây dựng tiêu chuẩn các chức danh CB, CC khác trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh gốc do Trung ương ban hành; thực hiện chế độ bổ nhiệm cán bộ có thời hạn
Mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức; thực hiện chế độ thi tuyển dụng, thi nâng ngạch đối với công chức; chỉ đạo các ngành, các cấp từng bước hiện đại hóa công tác quản lý CB, CC bằng công nghệ thông tin hiện đại; đưa việc thực hiện quy chế dân chủ vào hoạt động quản lý CB, CC, công khai đánh giá nhận xét hàng năm của thủ trưởng các đơn vị về CB, CC; thực hiện công tác thanh tra công chức theo định kỳ và đột xuất, kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong việc quản lý công chức của các cấp, các ngành
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong CCHC, nền HCNN của thành phố đã
có những bước tiến bộ, nhưng so với yêu cầu của quá trình đổi mới và phát triển Thủ đô thì nền hành chính vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc đổi mới và phát triển Thủ đô ngày càng sôi động, mạnh
mẽ, thể hiện ở các mặt:
Trang 30Công tác cải cách còn chậm, hiệu quả thấp, chủ yếu ở các lĩnh vực nhà đất, đầu tư xây dựng cơ bản, cấp phát vốn và thanh quyết toán vốn xây dựng
cơ bản, giải phóng mặt bằng Ở các lĩnh vực này thủ tục, hồ sơ còn rườm rà; thời gian xét duyệt và giải quyết còn chậm, thường hay bị kéo dài, gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, trong cả các nhà đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước
Trong đội ngũ CB, CC của thành phố còn một bộ phận chưa giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, giải quyết công vụ hành chính chưa thành thạo, vững vàng, chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống để giải quyết công vụ khi được giao, còn dập khuôn máy móc; hướng dẫn và tiếp công dân chưa chu đáo, để người dân phải đi lại nhiều lần Một bộ phận không nhỏ CB, CC còn tắc trách trong công việc
Hiệu lực quản lý của chính quyền nhà nước còn yếu, nhất là cấp chính quyền cơ sở, thể hiện rõ nhất là trong quản lý xây dựng đô thị, quản lý đất đai, quản lý trật tự, vệ sinh và văn minh đô thị
Công tác điều hành bộ máy hành chính các cấp còn trì trệ, thiếu tập trung chỉ đạo, thiếu kiên quyết ở những nút trọng điểm, kỷ cương điều hành hành chính còn lỏng lẻo, yếu Cá biệt còn có một số cán bộ lãnh đạo trong bộ máy hành chính thiếu gương mẫu trong việc chấp hành kỷ cương quản lý của nhà nước
Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân chưa đi vào chiều sâu, bản chất gốc rễ của sự việc; một số trường hợp giải quyết thiếu dứt điểm, đùn đẩy, né tránh, làm mất lòng tin của nhân dân; tình trạng đơn thư vượt cấp còn nhiều
Một bộ phận nhân dân hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, lợi dụng dân chủ vi phạm các quy định về quản lý hành chính nhà nước: lấn chiếm đất công, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, làm nhà ở, xây dựng trái phép, đổ rác thải
ra hè đường làm mất vệ sinh môi trường
Trang 31Nguyên nhân khách quan:
Các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành Trung ương quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của công dân, về chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước cấp thành phố vừa thừa lại vừa thiếu, chưa được chỉnh lý và bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế đời sống xã hội; chưa có những quy định cụ thể, rõ ràng về QLNN theo ngành và theo lãnh thổ Đặc biệt là các văn bản pháp luật về quản lý đô thị, nhà đất đã gây cản trở cho việc thực hiện CCHC
Sự hạn chế và bất cập về trình độ, năng lực, kỹ năng hành chính, tư duy, nếp nghĩ cũ, cách làm cũ của không ít CB, CC đã làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện CCHC của thành phố
CCHC gặp trở ngại lớn do trực tiếp đụng chạm đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ quan hành chính ở thành phố và của bản thân đội ngũ cán bộ trong
bộ máy; chế độ, chính sách về tổ chức, cán bộ, về tiền lương còn nhiều điểm chưa phù hợp để tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách
Nguyên nhân chủ quan:
Công tác chỉ đạo điều hành của Thành ủy, UBND thành phố, các cấp
ủy Đảng, Sở, Ngành Thành phố, UBND các quận huyện trong việc tiến hành CCHC chưa đồng bộ, thiếu quyết tâm đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, cản trở việc thực hiện CCHC của thành phố Chương trình cải cách của Thành
ủy chưa được các cấp ủy Đảng và chính quyền triển khai cụ thể thành chương trình, kế hoạch hành động ở cơ sở Hầu hết các đơn vị được kiểm tra đều có chương trình CCHC nhưng phần lớn nội dung chỉ bao hàm các công việc quản lý hành chính nhà nước so chính quyền xây dựng, thiếu phần công tác của cấp ủy Đảng và các đoàn thể quần chúng Mặt khác, việc sơ kết, đánh giá
để chấn chỉnh trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện không được quan tâm thường xuyên
Trang 32Vai trò của các cấp ủy Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị trong việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện, kiểm tra công tác CCHC của ngành
và cấp mình còn hạn chế, chưa coi CCHC là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp ủy Đảng trong toàn thành phố
Công tác chỉ đạo giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước; việc quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết về CCHC của Trung uơng, thành phố đến tận cơ sở còn nhiều hạn chế cho nên nhận thức về CCHC ở nhiều cấp, nhiều ngành còn yếu
Việc đầu tư phương tiện vật chất và lực lượng để thực hiện CCHC còn
ít Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB, CC hành chính còn nhiều vấn đề chưa thiết thực; chưa bám sát được yêu cầu cụ thể của công việc để đào tạo đội ngũ công chức, nhất là đội ngũ cán bộ, viên chức ở xã, phường, thị trấn
Nhận thức được sâu sắc vấn đề CCHC với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội cho nên từ năm 2001 và những năm tiếp theo, Đảng bộ thành phố Hà Nội tiếp tục chỉ đạo thực hiện cải cách nền HCNN, coi CCHC là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá để phát triển kinh tế xã hội, xây dựng Thủ đô hiện đại, tiên tiến, nâng cao uy tín của Đảng và Chính quyền nhà nước đối với nhân dân
1.2 Chủ chương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hà Nội về cải cách hành chính nhà nước (2001 – 2005)
1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4 – 2001) đã nhận định: Nhân loại đã bước sang kỷ nguyên mới với nhiều tính chất phức tạp trên con đường phát triển, chỉ rõ những cơ hội lớn và thách thức lớn mà đất nước đang và sẽ đối mặt
Trước thực tế đó, Nghị quyết Đại hội chủ trương đẩy mạnh cải cách tổ
chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế:
Trang 33Nghị quyết bổ sung, phát triển hoàn thiện hơn về quan điểm, chủ trương cải cách xây dựng nền HCNN trên các nội dung sau:
Xác định rõ mục tiêu cải CCHC chính là: “Xây dựng một nền HCNN dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hóa” [9, tr 133]
Nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về vai trò của CCHC, Đảng xác định đẩy mạnh CCHC, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh là một nội dung lớn trong Chiến lược phát triển kính tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010); là một trong bảy nội dung của định hướng cơ chế chính sách và các giải pháp chủ yếu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 –
2005 Đảng khẳng định: “Đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt đông của hệ thống chính trị, trọng tâm là CCHC, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh” [11, tr 220] “Cải cách HCNN là một công việc quan trọng quyết định thành công của công cuộc đổi mới giai đoạn 2001 - 2005” [9, tr 137] Đảng đã nhận thức rõ tầm quan trọng của nền HCNN không chỉ đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, với sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn đối với hoạt động của hệ thống chính trị và đối với sự phát triển của công cuộc đổi mới đất nước
Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX (7 – 2002) kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII về công tác
tổ chức và cán bộ, Hội nghị đã nhấn mạnh: “Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy chính phủ và chính quyền các cấp” [50, tr 228]
Về xây dựng tổ chức bộ máy hành chính, tập trung sắp xếp các bộ theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, có quy mô phù hợp; giảm số cơ quan thuộc Chính phủ và Thủ tướng Nghiên cứu lập một số bộ, cơ quan ngang bộ mới, chuyển một số tổng cục, cục về trực thuộc bộ hoặc chuyển giao về bộ nhiệm vụ quản lý nhà nước của các cơ quan đó Làm rõ và cụ thể hóa chức
Trang 34năng, nhiệm vụ của các bộ Kiên quyết tách chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xác định rõ chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp, chức năng đại diện chủ sở hữu của hội đồng quản trị tổng công
ty nhà nước; đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế - xã hội cho địa phương, cho cấp dưới, đi đôi với tăng cường công tác quy hoạch và hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên; xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, xác định rõ chế độ trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu
Đối với công tác cán bộ, nhấn mạnh việc đổi mới về đánh giá cán bộ; tăng cường công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý; làm tốt việc luân chuyển cán bộ theo quy hoạch để đào tạo cán bộ lãnh đạo và chủ chốt; hoàn thiện các quy chế quản lý, chế độ phân công, phân cấp quản lý cán bộ; thực hiện cải cách cơ bản chế độ tiền lương cho CB, CC
Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX (1 – 2004) đã kiểm điểm, đánh giá nửa nhiệm kỳ đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, đồng thời nêu lên những nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội lần thứ IX trong những năm tiếp theo Nghị quyết Hội nghị đưa ra chủ trương: Đẩy mạnh đồng bộ cải cách HCNN, tập trung vào những nội dung sau:
Về xây dựng thể chế hành chính, Nghị quyết nhấn mạnh đi sâu vào cải
cách thế chế, đơn giản hóa các TTHC và thực hiện tốt cơ chế “một cửa”
Về xây dựng tổ chức bộ máy hành chính, “trọng tâm trong 2 năm tới là
điều chỉnh để làm rõ và thực hiện đúng chức năng của các cơ quan QLNN” [50, tr 205]; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý; đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan
Về xây dựng đội ngũ CB, CC hành chính, Nghị quyết nhấn mạnh áp
dụng các cơ chế, biện pháp để ngăn chặn và xử lý, khắc phục những tiêu cực trong đội ngũ CB, CC; kịp thời đưa ra khỏi bộ máy những người thoái hóa,
Trang 35biến chất, và thay thế kịp thời những người không đáp ứng được yêu cầu công việc Triển khai thực hiện chế độ dự bị công chức; có chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác ở cơ sở Thực hiện triệt để việc tách quản quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động của các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm về công việc, tổ chức, biên chế, tài chính, nhất là các bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu
Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ IX (2001 – 2006), nhận thức của Đảng về cải cách, xây dựng nền HCNN được phát triển lên một tầm cao mới Đảng chủ trương đẩy mạnh đồng bộ CCHC, trọng tâm đi sâu là cải cách thể chế, đơn giản hóa các TTHC và thực hiện tốt cơ chế “một cửa”; tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy, tách hệ thống cơ quan hành chính công quyền với hệ thống cơ quan sự nghiệp; đổi mới và nâng cao hiệu lực của chính quyền cơ sở; đẩy mạnh phân cấp trong hệ thống HCNN, nhất là giữa trung ương và địa phương, tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, triển khai thực hiện chế độ công chức dự bị và tiếp tục cải cách chế độ tiền lương
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIII, ngày 26/7/2001, Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình /07CTr-TU về CCHC nâng cao hiệu lực chính quyền giai đoạn 2001 – 2005
Về mục tiêu tổng quát của chương trình tổng thể cải cách hành chính
của Thành phố Hà Nội trong những năm 2001 – 2005 được xác định là: xây
dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, không phiền hà, tiến tới một nền hành chính hiện đại [37, tr 7] dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hà
Nội mà cơ quan đại diện là Thành ủy, cụ thể là:
Trang 36Cải cách thể chế: Cải cách công tác xây dựng văn bản pháp quy và các TTHC, đảm bảo các văn bản pháp quy và TTHC được ban hành phải gọn, dễ hiểu, mạch lạc, có tính khả thi cao; TTHC phải đơn giản, không phiền hà, thời gian giải quyết phải được rút ngắn và công khai
Tổ chức bộ máy: Rà soát chức năng, nhiệm vụ để sắp xếp lại bộ máy hành chính cho tinh giản hơn; xóa bỏ được sự trùng chéo chức năng, nhiệm
vụ Đến năm 2005, tách hẳn chức năng quản lý HCNN của các cơ quan HCNN ra khỏi chức năng quản lý sản xuất kinh doanh thuộc chức năng của các doanh nghiệp
Xây dựng đội ngũ CB, CC: Đội ngũ CB, CC phải có phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn trên cơ sở hoàn chỉnh hệ thống cơ cấu chức danh tiêu chuẩn cán bộ, công chức của thành phố; thực hiện tinh giảm được 15% biên chế hành chính nhưng vẫn đảm bảo hoàn thành được nhiệm
vụ Công chức Thủ đô phải là người có trình độ, trách nhiệm và tận tụy với công việc
Cải cách nền tài chính công: Quản lý tốt và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của thành phố
Đảng bộ thành phố Hà Nội còn quán triệt một số quan điểm khi thực hiện CCHC: Cải cách phải đặt trong khuôn khổ Luật pháp của nhà nước và các quan điểm, đường lối của Đảng; Cải cách là để hướng tới phục vụ nhân dân tốt hơn, nhằm tăng cường pháp chế, giữ vững trật tự, kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng bộ máy hành chính trong sạch, vững mạnh
và thật sự có hiệu quả; Cải cách phải tiến hành đồng bộ trong cả hệ thống chính trị, nhưng trọng tâm vẫn là CCHC Phải xác định các vấn đề trọng tâm, trọng điểm và có bước đi vững chắc, phù hợp với điều kiện của từng ngành từng cấp ở Thủ đô
Trang 37Về nhiệm vụ cần tập trung
Đối với thể chế hành chính:
Một là, tiếp tục rà soát các văn bản pháp qui, loại bỏ các văn bản đã lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu quản lý của thành phố, dù mới ban hành Cải cách phương thức xây dựng và ban hành các văn bản pháp qui, nâng cao chất lượng của các văn bản pháp qui, bao gồm cả các văn bản của cơ quan tham mưu thành phố và chính quyền cấp quận, huyện, xã, phường ban hành Văn bản pháp qui phải có nội dung gọn, dễ hiểu, dễ xử lý khi có tranh chấp, khiếu kiện, sát với hoàn cảnh thực tế và bảo đảm tính khả thi cao Đảm bảo tất cả các lĩnh vực quản lý trên địa bàn thành phố phải có các qui định quản lý
Báo cáo Chính phủ xem xét loại bỏ những thủ tục quy định không còn phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng hơn để giải quyết các yêu cầu của nhân dân và các tổ chức, giảm tối đa các việc không cần thiết phải xin phép Những việc đã xác định cần phải quản lý thì cũng phải quản lý cho chặt, cho nghiêm
Hai là, trong cải cách TTHC tiếp tục củng cố và hoàn thiện việc thực hiện quy chế “Tập trung một đầu mối” để giải quyết các TTHC theo yêu cầu của công dân và các tổ chức
Tiếp tục rà soát các TTHC đã ban hành ở các cấp, các ngành, các tổ chức hành chính trên các lĩnh vực, liên quan nhiều đến nhu cầu hàng ngày của dân để bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế bằng qui định TTHC mới tốt hơn, xóa bỏ ách tắc, phiền hà đối với nhân dân, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, dân sinh Trong những năm tới vẫn tập trung và kiên quyết đẩy mạnh cải cách TTHC ở các lĩnh vực trọng tâm, bức xúc, có nhiều quan hệ với công dân và các tổ chức, nhạy cảm đối với sự phát triển kinh tế xã hội, như là: quản lý trật
tự xây dựng đô thị, quản lý nhà đất, đầu tư xây dựng cơ bản, cấp vốn và ngân sách, giải phóng mặt bằng, quản lý các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
Trang 38Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, duy trì thực hiện chế độ thủ trưởng các đơn vị tiếp và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân và cơ sở ở tại địa phương
Đối với cải cách tổ chức bộ máy hành chính:
Một là, tiếp tục rà soát chức năng nhiệm vụ và sắp xếp lại các sở, ban ngành thành phố và các phòng ban chuyên môn của quận, huyện
Hai là, tập trung nghiên cứu chế, phương thức để các cơ quan HCNN chỉ thực hiện chức năng QLNN
Ba là, từ thực tiễn hoạt động quản lý và kết quả thực hiện phân cấp quản lý trong cải cách bộ máy hành chính, thành phố cần nghiên cứu phân cấp mạnh hơn nữa cho các cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước
Đối với việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ CB, CC:
Các cấp hành chính của thành phố phải chăm lo giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, CC Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển lựa và bố trí
CB, CC hành chính của thành phố thực sự khoa học, đáp ứng được những yêu cầu và nhiệm vụ của thành phố trong giai đoạn mới Nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng CB, CC phải gọn và có hiệu quả; gắn công tác học tập với thực tiễn, coi trọng bồi dưỡng kỹ năng quản lý và thực thi công vụ cho từng ngạch công chức Trước mắt tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ cho CB, CC ở xã, phường, thị trấn Phấn đấu đến năm 2005 có 90% số CB, CC ở trong bộ máy hành chính của thành phố có trình độ quản lý nhà nước tương đương ngạch chuyên viên hành chính trở lên
Đội ngũ CB,CC trong sạch, vững mạnh, hiện đại, tinh thông nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu QLNN đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, quản lý Thủ đô và yêu cầu phát triển của kinh tế tri thức, cụ thể là:
Hoàn thành cuộc tổng điều tra CB,CC
Trang 39Xây dựng xong hệ thống chức danh, tiêu chuẩn công chức và chương trình đào tạo chuẩn cho CB,CC
Hoàn thành việc đào tạo lại đội ngũ CB,CC, trước hết đối với CB, CC cấp cơ sở, đặc biệt là tổ chức đào tạo cán bộ nguồn, đáp ứng yêu cầu quản lý Thủ đô trong điều kiện kinh tế tri thức
Đối với cải cách tài chính công
Hệ thống tài chính công luôn gắn liền với hoạt động của khu vực công Nhiệm vụ của hệ thống tài chính công là nhằm phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước cho hoạt động của bộ máy và đầu tư có trọng điểm các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, thuộc trách nhiệm của các sở, ban, ngành thành phố và chính quyền các cấp Đây là một nội dung mới trong nhiệm vụ CCHC của thành phố, cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Tăng cường công tác quản lý tài chính để ngân sách nhà nước trở thành một công cụ quan trọng hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đề cao trách nhiệm của HĐND các cấp về thẩm quyền quyết định ngân sách Các
cơ quan quản lý tài chính của thành phố phải đổi mới phương thức hoạt động
và cách thức phân bổ nguồn lực, chi tiêu tài chính thực sự khoa học hướng nguồn lực vào các hoạt động ưu tiên, trở thành công cụ kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu và mục tiêu thực hiện của các cơ quan hành chính Những nội dung trên phải được thực hiện công khai, dân chủ, đồng thời phải chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chịu sự giám sát của nhân dân
Từng bước nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý tài chính về ngân sách, đề cao trách nhiệm và tính chủ động, năng động sáng tạo của các ngành, các cấp trong việc điều hành tài chính và ngân sách được phân cấp, tạo điều kiện để các đơn vị chủ động xử lý các công việc ở cơ sở được nhanh chóng, thuận tiện, giảm được các TTHC không cần thiết
Trang 40Tiếp tục rà soát, sửa đổi các quy định về phí, lệ phí, phân định rõ ràng các loại phí bắt buộc do cơ quan nhà nước thực hiện khi cung cấp dịch vụ công và phí phải đóng góp do cơ quan nhà nước thu để bù đắp chi phí; kiên quyết loại bỏ các loại phí thu ngoài chế độ đã quy định hoặc tự đặt ra các khoản thu không đúng với quy định và thẩm quyền được giao
Nghiên cứu xây dựng và thí điểm một số cơ chế tài chính, như: Cơ chế cho thuê đơn vị sự nghiệp công; cơ chế cho thuê đất để xây dựng trường học, bệnh viện, Cơ chế chính sách tài chính để thực hiện xã hội hóa; Cơ chế khoán hoặc đấu thầu thực hiện một số dịch vụ công (như: Vệ sinh đô thị, thoát nước, cây xanh công viên, cung ứng thủy lợi ); Cơ chế hợp đồng một số dịch
vụ trong cơ quan hành chính với bên ngoài; cơ chế khoán chi phí hành chính
sự nghiệp
Đổi mới công tác kiểm toán đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp, gắn trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị trong việc quản lý sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách theo dự toán đã được duyệt đúng với các quy định về chế độ chính sách của nhà nước đã ban
Nội dung về các mục tiêu và nhiệm vụ trong chủ trương của Đảng bộ thành phố Hà Nội trên đây được giao cho các ngành các cấp thực hiện trong
08 chương trình hành động, bao gồm: Chương trình cải cách thể chế hành chính do Ban Tổ chức chính quyền chủ trì; Chương trình cải cách phương thức soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Sở Tư pháp chủ trì; Chương trình cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan hành chính sự nghiệp; Chương trình nâng cao chất lượng, xây dựng đội ngũ CB,CC trong sạch, vững mạnh; Chương trình tinh giản biên chế (do Ban Tổ chức chính quyền thành phố chủ trì); Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp (chờ chỉ đạo của Chính phủ); Chương trình cải cách tiền lương (do sở Lao động thương binh xã hội chủ trì)