Một nguyên nhân chủ quan, tác giả là người sinh sống tại địa phương địa bàn nghiên cứu và xuất thân từ một hộ nghèo nên tác giả hiểu rất rõ được những khó khăn, thiếu thốn những vướng mắ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ KIM THẮNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ GIẢM NGHÈO
Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ IANAN,
HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ KIM THẮNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ GIẢM NGHÈO
Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ IANAN,
HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Bình
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài: Công tác xã hội với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Khắc Bình Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực, tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 04 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Kim Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN Sau gần sáu tháng thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã hoàn tất được những yêu cầu, những nhiệm vụ đặt ra
Có được kết quả và thành công đó tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Khắc Bình - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận luận văn này Tôi cũng chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các thầy cô trong khoa cùng nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi
có thể hoàn thành luận văn đúng thời gian quy định
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo, UBND và người dân tại xã Ianan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tiến hành khảo sát, thu thập thông tin trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù luận văn đã hoàn thành nhưng tác giả còn hạn chế về chuyên môn, kinh nghiêm, thời gian nghiên cứu nên khó tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Học viên
Lê Kim Thắng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 8
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
8 Giả thuyết nghiên cứu 11
9 Phương pháp nghiên cứu 11
10 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ GIẢM NGHÈO CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 14
1 Cơ sở lý luận 14
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 14
1.1.1 Cách tiếp cận lý thuyết hệ thống 14
1.1.2 Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức hành vi 16
1.1.3 Lý thuyết nhu cầu 18
1.2 Các khái niệm công cụ 20
1.2.1 Một số khái niệm về công tác xã hội 20
1.2.2 Một số khái niệm về nghèo đói và người dân tộc thiểu số 22
1.3 Nhu cầu hoạt động nghề công tác xã hội trong công tác giảm nghèo24 1.4 Quan điểm của Đảng, nhà nước trong công tác xóa đói giảm nghèo 27 2 Cơ sơ thực tiễn 29
Trang 62.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 29
2.1.1.2 Đặc điểm dân cư 29
2.1.2 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÁC RÀO CẢN CẢN TRỞ VIỆC THOÁT NGHÈO Ở NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ IANAN, HUYỆN ĐỨC CƠ, TỈNH GIA LAI 32
1 Thực trạng tình hình nghèo ở người DTTS tại xã Ianan 32
1.1 Quy mô và mức độ nghèo 32
1.2 Đặc trưng của các hộ nghèo DTTS được khảo sát 33
1.2.1 Đặc điểm về giới tính, độ tuổi 33
1.2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 34
1.2.3 Đặc trưng về nhân khẩu 35
1.2.4 Thu nhập và chi tiêu của các hộ nghèo DTTS 36
1.2.5 Các điều kiện sống cơ bản của các hộ nghèo DTTS 37
1.2.5.1 Về nhà ở 37
1.2.5.2 Về nhu cầu sử dụng điện 38
1.2.5.3 Nguồn nước sinh hoạt 38
1.2.5.4 Nhà vệ sinh của người nghèo DTTS 40
1.2.5.6 Về đất canh tác và hiệu quả sử dụng đất canh tác 40
1.2.5.7 Giáo dục 42
1.2.5.8 Y tế 43
1.2.5.9 Tín dụng 44
1.2.5.10 Sở hữu tài sản 45
1.2.5.11 Mức độ tham gia vào các hoạt động cộng đồng của người nghèo 47
2 Các nguyên nhân cản trở việc thoát nghèo ở các hộ nghèo 47
2.1 Nhóm nguyên nhân về bản thân người nghèo 48
Trang 72.2 Nhóm nguyên nhân về điều kiện tự nhiên 50
2.3 Nhóm nguyên nhân về cơ chế chính sách xã hội 51
2.4 Nhóm nguyên nhân liên quan đến xã hội 51
CHƯƠNG 3TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHÈO VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI 55
1 Vai trò của Công tác xã hội và sự cần thiết Công tác xã hội trong việc thoát nghèo ở địa phương 55
2 Trợ giúp người nghèo và vai trò của công tác xã hội nhằm giúp các hộ nghèo trên địa bàn xã Ianan thoát nghèo 58
2.1 Cung cấp các dịch vụ xã hội hỗ trợ cho các hộ nghèo 58
2.1.1 Cung cấp các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản 59
2.1.2 Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế 60
2.1.3 Các dịch vụ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo 63
2.2 Hỗ trợ các điều kiện để phát triển kinh tế hộ gia đình 66
2.3 Thay đổi nhận thức 72
2.4 Trợ giúp phòng ngừa tái nghèo 74
KẾT LUẬN 78
1 Về mặt lý luận 78
2 Về thực tiễn nghiên cứu 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 84
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng 2.1: Số hộ nghèo trong toàn xã [4] 32 Bảng 2.2 Sở hữu tài sản của các hộ nghèo 46
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ thể hiện nguyên nhân gây nghèo 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạnđất nước đang chuyển mình từ một quốc gia nông nghiệp trở thành một quốc gia công nghiệp, gắn liền với hội nhập sâu rộng, toàn diện điều này đã mang lại rất nhiều thành quả về kinh tế, văn hóa, xã hội
Đi song song với những thành quả mà công cuộc đổi mới, hội nhập mang lại thì nước ta cũng đang phải đối mặt với các vấn đề như thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèo, khai thác tài nguyên quá mức, ô nhiễm môi trường Trong
đó thì vấn đề về khoảng cách giàu nghèo diễn ra rất nhanh, nếu không tích cực xóa đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bình đẳng
Trong chính sách kinh tế xã hội giai đoạn 1996-2000 nhà nước đã xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia Trong đó chương trình xóa đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề đơn thuần mà nó còn là vấn đề kinh tế xã hội quan trọng Do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội Điều này được thể hiện rõ nét hơn trong Nghị quyết 80/NQ-CP
về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 – 2020
Xuất phát từ những điều kiện thực tế ở nước ta hiện nay, xóa đói giảm nghèo về kinh tế là tạo điều kiện tiên quyết để xóa đói giảm nghèo về mặt văn hóa xã hội Vì vậy phải tiến hành xóa đói giảm nghèo cho người dân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, nhằm phá vỡ thể chế sản xuất tự cung tự cấp, độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên tầm quốc gia, theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, tận dụng lao động ở nông thôn vào hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để thoát nghèo Chuyển dịch cơ cấu ở nông thôn
Trang 11được xem như là một giải pháp thực hiện tạo bước ngoặt để phát triển ở nông thôn, nhằm xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, giữa các dân tộc có trình độ phát triển cả về kinh tế, văn hóa xã hội là rất khác nhau.Trong đó dân tộc Kinh là dân tộc chiếm ưu thế cả về mặt dân số cho tới kinh tế, chính trị.Dân tộc thiểu
số gặp những bất lợi khá lớn trong việc tiếp cận các chương trình, chính sách
để phát triển kinh tế xã hội Do đó tỷ lệ nghèo đói và nghèo cùng cực ở các dân tộc thiểu số luôn luôn chiếm tỷ lệ lớn
Khi vấn đề đói nghèo được giải quyết thì sẽ góp phần vào giải quyết các vấn đề xã hội như giảm tình trạng thất học, bỏ học, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm khoảng cách về kinh tế giữa người Kinh và người DTTS, tăng sự đoàn kết trong cộng đồng góp phần giữ vững tình hình chính trị xã hội của địa phương
Một nguyên nhân chủ quan, tác giả là người sinh sống tại địa phương (địa bàn nghiên cứu) và xuất thân từ một hộ nghèo nên tác giả hiểu rất rõ được những khó khăn, thiếu thốn những vướng mắc mà người nghèo gặp phải.Vì vậy tác giả muốn mang những kiến thức đã học được từ trường lớp, thầy cô cộng với những kinh nghiệm mà gia đình đã thoát nghèo để giúp những người dân tại địa phươngtừng bước vươn lên.Do đó, tác giả chọn đề tài
“Công tác xã hội với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” làm đề tài luận văn cho mình
2 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về nghèo đói, công tác xóa đói giảm nghèo và công tác xã hội đối với đói tượng nghèo đói là lĩnh vực thu hút nhiều nhà nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước quan tâm Trong phạm vi nghiên cứu luận văn
Trang 12này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu
- Nghiên cứu: “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” của UNDP (Chương
trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) (1995) Điểm nổi bật trong nghiên cứu này
là đã làm rõ được nguyên nhân gây ra đói nghèo ở Việt Nam và phân tích tác động của các nhóm giải pháp được thực hiện tương ứng với các nguyên nhân Trong đó, một số chính sách XĐGN (Xóa đói giảm nghèo) như: chính sách đất đai, chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách xây dựng CSHT (Cơ sở hạ tầng) cũng được đánh giá khá chi tiết Có thể nói, trong giai đoạn này các nghiên cứu trên đều có một điểm chung là đã đề cập đến một số chính sách liên quan trực tiếp đến XĐGN và các kết quả nghiên cứu đó đã góp phần quan trọng cho chính phủ Việt Nam trong xây dựng chương trình XĐGN giai đoạn 1998- 2000 Sau khi triển khai chương trình XĐGN (giai đoạn 1998-2000), với hệ thống các chính sách trực tiếp tác động đến người nghèo, một loạt các nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ được thực hiện với mục tiêu tiếp tục
hỗ trợ chính phủ Việt Nam xây dựng chương trình XĐGN giai đoạn tiếp theo
- Nghiên cứu:“Về phương pháp đánh giá tác động của chính sách
XĐGN và xây dựng chiến lược XĐGN đến năm 2010” của tác giả Trần Thị
Vân Anh thực hiện năm 2003 Theo tác giả, việc đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo đã được dựa trên các nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng do các nhà khoa học, điều tra nghiên cứu được, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập trực tiếp từ người nghèo và cộng đồng nghèo Bên cạnh đó, tác giả cũng phát hiện có những trường hợp chính sách đã không được đánh giá đầy đủ do những người thực hiện thường thiên về trình bày thành tích mà thiếu sự phân tích các vấn đề tồn tại; quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động
cụ thể mà thiếu chú ý đến các vấn đề có tính cơ chế, chính sách; quan tâm nhiều đến các ngành, các lĩnh vực chuyên biệt mà ít coi trọng các vấn đề ở
Trang 13tầm vĩ mô chung Cũng trong nghiên cứu của mình, tác giả đã nêu được mối quan hệ giữa đánh giá chính sách và hoạch định chính sách Tác giả nhận định, việc đánh giá chính sách càng khách quan, toàn diện bao nhiêu thì càng
có căn cứ vững chắc để hoàn thiện các chính sách cũng như đề xuất các chính sách mới có tính khả thi bấy nhiêu
- Luận án tiến sĩ: “Tài chính vi mô hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại tỉnh
Đồng Nai đến năm 2020” của tác giả Lê Kiên Cương (2013) Tác giả cho rằng:
tài chính vi mô là một hướng quan trọng trong công cuộc XĐGN của Tỉnh; Phát triển tài chính vi mô hỗ trợ XĐGN là trách nhiệm của các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn dân tỉnh Đồng Nai; Phát triển tài chính vi mô cần phải có trọng điểm, phát triển dần từ nhỏ đến lớn, phù hợp với điều kiện mỗi vùng; Phát triển tài chính vi mô tập trung trước tiên tại những cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế Phát triển tài chính vi mô hỗ trợ XĐGN hướng tới mục tiêu kinh tế và xã hội; Góp phần vào tăng trưởng kinh tế; Tạo thêm công
ăn việc làm; Nâng cao thu nhập của người nghèo; Đảm bảo an sinh xã hội, trợ giúp người nghèo có thể vươn lên bằng chính sức lực của mình Tác giả đưa ra
một số giải pháp thực hiện: Xây dựng các tổ chức tài chính vi mô bán chính
thức; Khuyến khích sự mở rộng các chi nhánh tài chính vi mô của tỉnh bạn; Phát triển tổ chức tài chính vi mô chính thức: Liên doanh với một số ngân hàng Tài chính vi mô quốc tế Nghiên cứu gợi mở cho đề tài luận văn về vai trò của tài chính vi mô trong việc giảm nghèo cũng như cách thức trợ giúp các hộ nghèo tại khu tái định cư tiếp cận với các nguồn tài chính vi mô hiện nay
- Luận văn “Thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở
tỉnh Bình Định” của tác giả Trần Thị Kim Chung, trường Đại học Sư phạm
Quy Nhơn Trong nghiên cứu này, tác giả nêu bật thực trạng nghèo đói ở tỉnh Bình Định và chỉ ra một số nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói như: thiếu vốn sản xuất; neo đơn, mất sức lao động; rủi ro, đau ốm; thiếu kinh nghiệm
Trang 14làm ăn, thiếu đất canh tác Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm xóa đói giảm nghèo: giải pháp về kinh tế; giải pháp về vốn; giải pháp về chính sách: như hỗ trợ người dân khi gặp hoạn nạn khó khăn, chính sách miễn giảm học phí cho học sinh nghèo, chính sách đào tạo nghề cho lao động nghèo.v.v
- Luận án tiến sĩ “Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế
xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam” của Nguyễn Thị Nhung có đề cập đến
các vấn đề như thực tiễn xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, thực trạng về tình hình nghèo đói ở các tỉnh Tây Bắc Tác giả nêu lên những đặc điểm về nghèo đói, khó khăn, hạn chế, nguyên nhân trong việc nâng cao vai trò của công tác xóa đói giảm nghèo đối với phát triển kinh tế xã hội Đưa ra quan điểm phương hướng và một số giải pháp cơ bản để thực hiện xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh Tây Bắc
- Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) với tên gọi “Đánh giá nghèo
đói và chiến lược”(2010) nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng đói nghèo
của Việt Nam, bước đầu đưa ra các giải pháp và các chính sách trực tiếp tác động tới giảm nghèo ở Việt Nam Nghiên cứu khẳng định để tiến hành xóa đói giảm nghèo có hiệu quả không chỉ thực hiện bởi các chính sách thúc đẩy tang trưởng kinh tế mà phải có các chính sách tác động trực tiếp đến người nghèo trong đó bao gồm các chính sách về đất đai, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo duc…
- Bùi Minh Đạo – Bùi Bích Lan “Thực trạng nghèo đói và một số giải
pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại chỗ tại Tây Nguyên”
và Bùi Minh Đạo và các cộng sự “Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc
thiểu số Việt Nam” Các công trình này tác giả đề cập đến thực trạng nghèo
đói ở các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên cũng như trên toàn quốc Thêm vào
Trang 15đó, tác giả cũng có đề cập đến các nguyên nhân và các nhóm giải pháp nhằm từng bước giảm tình trạng nghèo đói ở đồng bào dân tộc thiểu số
- Phạm Thái Hưng và các tác giả “Nghèo đói của dân tộc thiểu số ở Việt
Nam thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn” đã đề cập đến các
khía cạnh quan trọng về mức sống ở đồng bào dân tộc thiểu số Nghiên cứu
mô tả một cách toàn diện về tình trạng vấn đề nghèo đói và mức sống của nhóm dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn, mô tả tập chung ở các khía cạnh nghèo về thu nhập và các khía cạnh phi kinh tế như tiếp cận giáo dục, dịch vụ
y tế, phát huy tính chủ động Đồng thời nghiên cứu về các yếu tố quyết định giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số khác nhau bằng cách phân tích thu nhập về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc Hai là những khác biệt về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực Ba là tìm hiểu các dân tộc thiểu số nghèo được hưởng các chính sách và các chương trình hiện tại như thế nào Sau cùng là tác giả có những kiến nghị cho các chính sách và chương trình trong tương lai, nhằm đưa ra những hỗ trợ hiệu quả trong việc nâng cao mức sống cho các dân tộc thiểu số
- UBDT “Đánh giá cuối kỳ trương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói
giảm nghèo và chương trình 135-I”.Nghiên cứu này đã đánh giá toàn bộ việc
thực hiện mục tiêu quốc gia – giảm nghèo và chương trình kinh tế xã hội các
xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực DTTS và miền núi giai đoạn I ở Việt Nam và đồng thời cũng đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc phục
vụ thiết kế các chương trình giảm nghèo trong tương lai nói chung và cải thiện chương trình mục tiêu quốc gia- giảm nghèo nói riêng cho giai đoạn 2006-2010
- UBDT (2008) nghiên cứu đề tài “Báo cáo phân tích điều tra cơ bản
chương trình 135-II” đã cung cấp một cơ hội rất tốt để đưa ra những đóng
Trang 16tại Việt Nam, đặc biệt là đưa ra được bức tranh tổng thể về điều kiện sống của các gia đình ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc khu vực DTTS và miền núi và
sự tham gia của họ vào chương trình 135
- Hà Quế Lâm (2002)“Xóa đói giảm nghèo ở vùng DTTS nước ta hiện
nay- thực trạng và giải pháp” NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Cuốn sách
này đề cập tới các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của các vùng DTTS sinh sống, thực trạng nghèo đói của các DTTS trên phạm vi toàn quốc Đánh giá công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những năm 1992-
2000 cũng như mức chi tiêu của chính phủ cho các hoạt động này Bên cạnh
đó tác giả cũng giới thiệu một số dự án của Đảng và Nhà nước giúp cho các
hộ đói nghèo ở nước ta thoát khỏi cảnh nghèo đói Trong nội dung của cuốn sách này, tác giả cũng đề cập tới các nguyên nhân, và cách phân loại các hộ gia đình nghèo Những bài học kinh nghiệm trong công tác xóa đói giảm nghèo
- Công trình nghiên cứu “Xóa đói giảm nghèo ở Gia Lai – thực trạng và
giải pháp” của Nguyễn Hoàng Lý (Luận văn thạc sĩ Kinh tế- chính trị) là
công trình “gần gũi” với luận văn của tác giả Trong luận văn của Nguyễn
Hoàng Lý có chỉ ra được các quan điểm về nghèo đói chung trên thế giới và ở Việt Nam xét theo quan điểm kinh tế- chính trị Bên cạnh việc nêu lên các quan điểm về nghèo đói, tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân, thực trạng, đánh giá hiệu quả của các công tác xóa đói giảm nghèo tại Gia Lai Dựa trên kết quả nghiên cứu, phân tích nguyên nhân, thực trạng tác giả đưa ra các giải pháp Tuy nhiên, những giải pháp này mang tính vĩ mô, nhằm vào thay đổi các chính sách công, mang đậm yếu tố chính trị mà bỏ qua những tiềm năng sẵn
có, đặc trưng của cộng đồng
- Bên cạnh đó còn có một số các công trình nghiên cứu, bài viết như:
“Xóa đói giảm nghèo ở Gia Lai; một chính sách đi vào lòng dân” Tạp chí
Trang 17Lao động và xã hội số 258 năm 2005 của tác giả Trần Duy Hưởng; “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững”, Tạp
chí Lý luận chính trị số 3 năm 2007 của tác giả Nguyễn Hữu Dũng; “Xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc tiểu số tỉnh Kon Tum kết quả và một số kinh nghiệm”, Tạp chí Sinh hoạt lý luận số 5 của tác giả
Phạm Văn Hồ (2008)
Nhìn chung, các công trình nói trên đều đã tiến hành nghiên cứu về thực trạng nghèo đói ở các dân tộc thiểu số và các chính sách có liên quan, từ đó đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm giúp các dân tộc thiểu số thoát nghèo Nhưng điểm hạn chế của các công trình nghiên cứu nói trên là phạm vi nghiên cứu lớn nên các khuyến nghị, giải pháp đang còn mang tính vĩ mô, chung chung Ít có công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề thoát nghèo dựa vào việc khai thác các tiềm năng nội lực của cộng đồng, của khách thể nghiên cứu Chỉ khi nào người dân trong cộng đồng khai thác được hết nội lực của bản thân, của cộng đồng thì khi đó sự thoát nghèo mới mang tính triệt để và bền vững Vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong công tác xã hội trong các hoạt động xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số là một nội dung được tác giả đề cập xuyên suốt trong luận văn này Đó là tính mới của luận văn so với các công trình nghiên cứu trước
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Luận văn sẽ chỉ ra những biểu hiện và mức độ tác động của các nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo đói ở DTTS Làm rõ thêm bức tranh về vấn đề nghèo đói và công tác giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu đặc biệt là giảm nghèo cho người DTTS, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá của mọi người về tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo nói chung và hoạt động công tác xã hội đối với người nghèo nói riêng
Trang 18Nghiên cứu cung cấp cho chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu
có quan tâm về thực trạng nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói của người DTTS tại địa bàn xã Ianan và tính hiệu quả trong công tác giảm nghèo tại địa phương, và cần thiết của hoạt động Công tác xã hội đối với người nghèo hiện nay
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trợ giúp người nghèo
Luận văn cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho những nhân viên công tác xã hội, các cơ quan, tổ chức làm việc với đối tượng người nghèo, người dân tộc thiểu số, những dự án phát triển cộng đồng có liên quan đến đối tượng tương tự
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác xã hội với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
5.1 Giới hạn thời gian: 6 tháng (từ tháng 4/2015 – tháng 9/2015)
5.2 Giới hạn không gian: Nghiên cứu các khách thể trên địa bàn xã Ianan,
huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
5.3 Giới hạn về nội dung:Nghiên cứu nghèo đói, công tác xã hội với người
nghèo;đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu một số nội dung; lý luận về công
Trang 19tác xã hội; lý luận nghèo đói; công tác xã hội với người nghèo; thực trạng nghèo tại xã Iananvà hoạt động cụ thể của công tác xã hội đối với người nghèo trên địa bàn xã Ianan
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo trên địa bàn xã Ianan hiện nay diễn ra như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thoát nghèo ở người DTTS tại địa phương;Yếu tố nào là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất?
Địa phương, nhà nước đã có những can thiệp nào để giải quyết vấn đề nghèo đói?
Công tác xã hội có vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ người DTTS thoát nghèo?
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác xã hội đối với công tác giảm nghèo của người dân dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai để đề xuất giải pháp công tác xã hội đối với vấn đề giảm nghèo của người dân dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 20- Đề xuất một số giải pháp công tác xã hội đối với vấn đề giảm nghèo ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
8 Giả thuyết nghiên cứu
Có rất nhiều yếu tố tác động đến tình trạng nghèo của người dân DTTS trong đó yếu tố về bản thân người nghèo yếu tố tác động mạnh nhất
Người dân tộc thiểu số đang gặp rào cản rất lớn trong việc tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ để thoát nghèo như các rào cản về ngôn ngữ, trình độ học vấn…
Công tác xã hội có vai trò quan trọng nhằm trợ giúp người dân (bao gồm
cả người DTTS) thoát nghèo thông qua nhiều hình thức và biện pháp hỗ trợ như: cung cấp kết nối các nguồn lực, dịch vụ xã hội khác nhau; thay đổi nhận thức;tăng năng lực; hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình; phòng ngừa tái nghèo giúp người nghèo vươn lên cuộc sống khá giả hơn
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp bằng trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, với những tiêu chí và khoảng cách phù hợp với nội dung nghiên cứu
- Đối tượng: Những hộ gia đình người dân tộc thiểu số là hộ nghèo trên địa bàn nghiên cứu
- Dung lượng mẫu:Bao gồm 90 hộ gia đình đang sinh sống tại địa bàn
Trang 21trở việc thoát nghèo của các hộ gia đình nghèo đói ở địa bàn nghiên cứu Trên
cơ sở những thông tin có được, giúp xác định các nhiệm vụ cụ thể của công tác
xã hội trong việc giúp đỡ, hỗ trợ người dân tộc thiểu số thoát nghèo hiệu quả
9.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu có liên quan như các báo cáo về công tác xóa đói giảm nghèo của xã, các văn bản pháp lý, tài liệu từ các nguồn sách báo, báo điện tử, công trình nghiên khoa học của nhiều tác giả liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
9.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
- Đối tượng: Một số hộ gia đình thuộc diện nghèo, Già làng, cán bộ xã
- Dung lượng mẫu: 09 mẫu
Thông qua việc phỏng vấn người dân, mục đích thu thập các thông tin chuyên sâu về tình hình nghèo đói tại địa bàn xã, khả năng tiếp cận các nguồn lực của hộ nghèo và mức độ quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành trong vàngoài xã
Phương pháp phỏng vấn sâu dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến nhằm tìm hiểu thật sâu một chủ đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu, thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang quan tâm Tác giả tiến hành phỏng vấn những trường hợp đặc biệt cần thiết khi cần có hiểu biết sâu
về một một nhóm đối tượng đặc thù, vấn đề và tình huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại một cách nhìn sâu sắc về hiện tượng đang quan tâm
9.4 Phương pháp quan sát
Bản thân tác giả là người đang sinh sống ở địa bàn nghiên cứu nên có rất nhiều thuận lợi khi tiến hành phương pháp nghiên cứu này Trước tiên tác giả tiến hành quan sát, tham dự nhằm tìm hiểu các thông tin về quan niệm,
Trang 22cứu Với phương pháp quan sát cho phép tác giả tìm hiểu các thông tin về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu Bản thân tác giả
có thể có thể quan sát trực tiếp các hành vi thực tế hoặc có thể quan sát các dấu hiệu của hành vi Hoặc quan sát gián tiếp dấu hiệu phản ảnh hành vi
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: mục lục, danh mục các bảng, hình vẽ, mở đầu, kết luận,
và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác xã hội về giảm nghèo của người dân tộc thiểu số và thực tiễn công tác xã hội đối với giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
Chương 2.Thực trạng đói nghèo và các rào cản cản trở việc thoát nghèo
ở người dân tộc thiểu số tại xã Ianan, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
Chương 3 Trợ giúp người nghèo và vai trò của công tác xã hội
Trang 23- Hệ thống: là bất cứ đơn vị, tổ chức nào có những giới hạn xác định được với những bộ phận tương tác, những đơn vị, tổ chức này có thể mang tính vật chất, tính xã hội, mang tính kinh tế hoặc mang tính lí luận Nói cách khác, hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống Tiểu hệ thống là
hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới Đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn
- Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống cá nhân này lại bao gồm các tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng
Trang 24- Theo Pincus và Minahan (năm 1970) thì Hệ thống mà nhân viên CTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống
xã hội, môi trường văn hoá mà con người hiện đang tồn tại
Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân Có thể đó là sự tác động tích cực hoặc tiêu cực Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với
cá nhân này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác lại là hệ thống xã hội Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối Hoặc có thể đối với cá nhân một là hệ thống chính thức, nhưng đối với cá nhân khác đó lại là hệ thống xã hội
Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Germain & Gitterman và Germain (1980) cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi trường Ngược lại môi trường cũng ảnh hưởng đến con người
Nguyên tắc cơ bản của sinh thái là mỗi cơ thể sống có quan hệ qua lại liên túc với các thành phần khác tạo nên môi trường của chúng (những hệ thống sinh thái là một khoa học khác với khoa học môi trường)
Lý thuyết hệ thống sinh thái được coi như là mô hình về cuộc sống Mô hình này chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết sinh thái Mô hình này còn có tên gọi là “con người trong môi trường” (Person In Environment PIE), trong đó người ta tác động lẫn nhau và tác động vào môi trường sống Mục tiêu của CTXH là làm thế nào để con người phù hợp với môi trường sống của họ [21] Vận dụng lý thuyết hệ thống và sinh thái trong nghiên cứu, giúp tác giả đưa
ra một số định hướng sau: Thứ nhất, người nghèo ở tại địa bàn nghiên cứu là
một hệ thống nằm trong những hệ thống khác lớn hơn như: Hệ thống các làng, xã; hội; hệ thống các chính sách có liên quan đến người nghèo và chịu sự tác động của những hệ thống đó Vì vây, khi trợ giúp người nghèo nhân viên công
Trang 25tác xã hội cần tác động và huy động sự trợ giúp từ nhiều hệ thống để tạo nêntổng sức mạnh trợ giúp cho người nghèo vươn lên thoát nghèo, chẳng hạn: huy động
sự trợ giúp từ hệ thống chính sách liên quan đến vốn tín dụng, chính sách liên quan đến bảo hiểm y tế, sự hỗ trợ từ hội phụ nữ, hội thanh niên Tuy nhiên, tùy vào khả năng của từng hộ gia đình và năng lực của từng cá nhân mà khả năng tiếp cận của họ đối với các hệ thống là khác nhau Do đó, khi làm việc với thân chủ (người nghèo), nhân viên công tác xã hội cần có những cách thức tiếp cận và
hỗ trợ khác nhau Thứ hai, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa
nên ít có cơ hội tiếp xúc với các hệ thống khác, có xu hướng giữ vững những gì trong hệ thống sẵn có, ít tiếp thu, chịu ảnh hưởng từ các hệ thống bên ngoài khác Do đó giữa các hệ thống ít có sự trao đổi với nhau, có cũng là một phần nguyên nhân khiến vấn đề nghèo đói tồn tại dai dẳng ở cộng đồng người dân tộc
thiểu số Thứ ba, môi trường sống cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
cuộc sống và khả năng thích nghi của những hộ nghèo Môi trường ở đây xét theo góc độ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Chính vì vậy, để trợ giúp các hộ nghèo, nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến việc tạo ra sự thay đổi
về môi trường sống của các hộ nghèo Chẳng hạn, giúp người nghèo cải thiện về môi trường không bị ô nhiễm; cải thiện việc thực hiện các chính sách hỗ trợ; tư vấn sử dụng vốn, đất sản xuất cho hộ nghèo.v.v
1.1.2 Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức hành vi
Đại biểu của trường phái này là A.Ellis (1913-1970), Sheldon, và Beck Trong Công tác xã hội, nếu như nhận thức là cách nhìn nhận của một người
về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoăc tiêu cực thì trị liệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận thức tiêu cực của họ
Theo các nhà hành vi thì hành vi của con người là một cách trả lời, ứng
xử với một tác nhận kích thích tương ứng Nhưng trên thực tế thì hành vi của
Trang 26con người còn phức tạp hơn nhiều chứ không phải đơn thuần là do những tác nhân kích thích Những nhà tâm lý học cho rằng con người có suy nghĩ rất phức tạp không thể quan sát và những suy nghĩ này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến hành vi của các nhân Họ cho rằng nhận thức sai lầm là tâm điểm của những hành vi sai lầm Muốn thay đổi hành vi sai lầm, phải tạo ra một mô hình nhận thức mới hợp lí
Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập trung xung quanh khái niệm tư duy Sự tư duy của cá nhân được định hình bởi
xã hội và hoàn cảnh trực tiếp của người ấy Trên chiều cạnh này tư duy quyết định cảm xúc lẫn hành vi Như vậy việc thực hiện chức năng xã hội của một
cá nhân bị khiếm khuyết thì có nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo Chính vì vậy, muốn hành vi của con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải thay đổi theo Do đó, muốn biến đổi hành vi bất thường, phải tạo ra
mô hình nhận thức mới hợp lí Như vậy vận dụng lí thuyết này vào hoạt động công tác xã hôi với người nghèo NVXH phải giúp cho mọi người trong cộng đồng nhận ra những suy nghĩ không phù hợp của họ sau đó đưa ra những liệu pháp nhằm tạo ra những mô hình nhận thức mới tích cực hơn từ đó sẽ tạo những hành vi đúng đắn tương ứng [11]
Vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào trong hoạt động công tác xã hội với người nghèo: Một trong những yếu tố quyết định đến việc giải quyết vấn đề nghèo đói đó chính là yếu tố con người Bản thân đối tượng có muốn thoát nghèo hay không, hay là họ an phận ở lại cùng với nghèo đói để nhận được những nguồn lực hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước Có rất nhiều những dự
án của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ nhằm hướng tới sự thoát nghèo cho người dân như các dự án về hỗ trợ về vốn, tín dụng Nhưng trên thực tế thì hiều quả mang lại của các dự án này vô cùng hạn chế và cái nghèo vẫn dai dẳng bám
Trang 27theo người dân Nguyên nhân chính là đối tượng thụ hưởng không biết sử dụng nguồn vốn đã được vay ưu đãi vào trong hoạt động sản xuất, phát triển sinh kế
Xét về mặt lý thuyết hoạt động trợ giúp của công tác xã hội là cho “cần
câu” chứ không cho “cá” Trên thực tế nếu hoạt động trợ giúp chỉ dừng lại ở
việc cho “cần câu” thì chưa mang lại kết quảtriệt để Bởi vì họ (thân chủ) có
“cần câu” rồi nhưng không biết “câu” như thế nào Do vậy, ngoài việc cho
“cần câu”NVCTXH còn phải chỉ cho họ phương pháp“câu”,cùng với sự nỗ
lực, lòng kiên nhẫn để chờ đợi thành quả
Đối với người dân tộc thiểu số (tại địa bàn nghiên cứu) việc thay đổi nhận thức cho họ là vô cùng quan trọng và tương đối khó khăn Với một cá nhân từ khi sinh ra sống trong một cuộc sống khó khăn, nghèo khó, và họ đã quen với cuộc sống như vậy, đó là điều bình sinh đối với họ Nếu so sánh ý chí thoát
nghèo giữa một người nghèo theo với tính chất“cha truyền con nối” với một
người nghèo do các yếu tố khách quan (thiên tai) thì chắc chắc rằng ý chí thoát nghèo vượt qua hoàn cảnh của người nghèo do yếu tố khách quan sẽ mạnh hơn
rất nhiều so với người nghèo “cha truyền con nối” Do đó, muốn thoát nghèo
hiệu quả, bền vững thì NVXH phải tạo cho họ một ý chí, niềm tin thoát nghèo, vượt qua hoàn cảnh hiện tại Chỉ khi nào họ nhận thức thực sự sâu sắc về những thiệt thòi của mình do nghèo đói mang lại khi đó họ mới nỗ lực, tự thân, tìm kiếm nguồn lực để thoát nghèo, cùng với sự giúp đỡ từ bên ngoài (NVXH, các chính sách xã hội) hỗ trợ thì khi đó hoạt động xóa đói giảm nghèo cho người dân mới mang lại hiểu quả cao, bền vững
1.1.3 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy
Trang 28theo trình độ nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn:
Nhu cầu cơ bản:bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người đây là các
nhu cầu phục vụ cho mục đích sinh tồn như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn này thể hiện ở mặt thể chất và
tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gây hấn,
đe dọa…
Nhu cầu về xã hội:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn
thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh
Nhu cầu tôn trọng:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó
thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho con người có suy nghĩ tích cực hơn, cảm thấy tự tin hơn
Trang 29Nhu cầu được phát triển: Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là
chính mình, được làm những cái mà mình muốn Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được phát huy hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để đạt được các thành quả trong xã hội [21]
Theo A.Maslow ông cho rằng việc thỏa mãn các nhu cầu ở bậc thấp (bậc cơ bản) thì cá nhân mới nảy sinh các nhu cầu ở bậc cao hơn Do đó, trong hoạt động công tác xã hội với người nghèo NVCTXH phải hết sức lưu ý rằng việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản là rất cần thiết, nó tạo tiền đề để phát triển nhu cầu cao hơn
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm hiểu nhu cầu của những hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow Trong các hoạt động công tác xã hội với người nghèo NVCTXH luôn phải lấy thuyết nhu cầu của A.Maslow làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình Phải hướng các hoạt động của mình vào các nhu cầu của người nghèo và đáp ứng được các nhu cầu của họ Chỉ khi nào người nghèo thấy được lợi ích, thấy được các nhu cầu, mong muốn của bản thân được đáp ứng, được thỏa mãn thì khi đó họ mới chủ động tham gia vào tiến trình hoạt động thay đổi.Khi nhu cầu cấp thấp được đáp ứng sẽ nảy sinh nhu cầu cấp cao hơn, chủ thể sẽ tiến hành hành động để đáp ứng các nhu cầu của bản thân Đó là động lực cho phát triển 1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Một số khái niệm về công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội
Trang 30Công tác xã hội: Theo từ điển bách khóa ngành CTXH (1995) thì
“Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những biến chuyển xã hội và đem lại nền tảng an sinh xã hội cho người dân trong xã hội”
Theo liên đoàn Công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada (2004) cho rằng: “Công tác hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra những thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn
đề xã hội vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng cho mỗi
cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã hội là giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người”
Trong bài giảng CTXH nhóm(2014) của Đỗ Thị Ngọc Phương.“Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ cho cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục ấy”
Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu công tác xã hội như sau: “Công tác
xã hội là một nghề trợ giúp cho cá nhân, nhóm, cộng đồng cácnhóm yếu thế, những người có nhu cầu cần trợ giúp Tạo ra những thay đổi về xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội, phát triển tiềm năng, nâng cao năng lực
để họ có cuộc sống hài hòa, tốt đẹp”
- Phát triển cộng đồng: PTCĐ thực chất là quá trình tăng trưởng kinh
tế cộng đồng cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giá trị chân, thiện, mỹ
- Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (1956) : “PTCĐ là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện
Trang 31các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia”
Theo tài liệu của Nguyễn Thị Oanh (2000) Giáo trình Phát triển cộng đồng, NXB Trường Đại học mở bán công TPHCM có ghi phát triển cộng đồng là“Những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống
quốc gia”
Theo Murray và Ross :
“Tổ chức cộng đồng là một diễn tiến qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu hay mục tiêu của mình, sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu nầy, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm kiếm tài nguyên (bên trong và bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy Thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng”
- Công tác xã hội với tình trạng nghèo: là tiến trình tổ chức, hoạt động của tác viên công tác xã hội với người nghèo và cộng đồng của họ bằng việc thúc đẩy nhận thức, nâng cao năng lực, khả năng tự vươn lên của người nghèo trong việc tìm ra nguyên nhân của sự nghèo đói, xác định ý thức, trách nhiệm, khả năng
và tự lựa chọn giải pháp của bản thân và khai thác các yếu tố sẵn sàng giúp đỡ của cộng đồng để thoát nghèo Mặt khác tác viên phải huy động tài nguyên, tính sẵn sàng của cộng đồng giúp đỡ người nghèo thoát nghèo, tạo ra sự hài hòa của quan
hệ giữa người nghèo với cộng đồng [Bài giảng CTXH với người nghèo, của Đỗ
Huy Hoàng, Trường Đại học KHXH & NV Hà Nội – 09/2011]
1.2.2 Một số khái niệm về nghèo đói và người dân tộc thiểu số
- Người dân tộc thiểu số:Theo nghị định số Số: 05/2011/NĐ-CP về Công tác dân tộc thì tại điều 4 khoản 2 có đưa ra khái niệm dân tộc thiểu số là
Trang 32những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có
số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc
Có thể hiểu một cách đơn giản là dân tộc thiểu số để chỉ các tộc người không phải là người Kinh – tộc người đa số tại Việt Nam và người Hoa
- Khái niệm nghèo
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP (Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc)tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng:“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân
cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương” Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo và được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
- Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.[Phan Thị Huệ (2011) Luận văn thạc sĩ kinh tế học – Đại học Đà Nẵng]
Các mức nghèo ở Việt Nam: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo
có nhu cầu tối thiểu
Trang 33- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo
có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét
- Khái niệm hộ cận nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo
- Khái niệm hộ nghèo: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo
- Khái niệm đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới
13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND) [Thông báo Số
1751/LĐ-TB&XH của bộ LĐ-1751/LĐ-TB&XH ngày 20/5/1997.]
- Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ
1.3 Nhu cầu hoạt động nghề công tác xã hội trong công tác giảm nghèo
Trong những năm qua, thành tựu trong lĩnh vực giảm nghèo của Việt Nam luôn đưa ra làm ví dụ điển hình cho nỗ lực giảm nghèo trên phạm vi toàn cầu, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Từ năm 1993 đến năm 2000,
Trang 34Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, kết thúc giai đoạn tăng trưởng 10 năm đầu cho mục tiêu trở thành một quốc gia công nghiệp, Việt Nam đã chính thức trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình Cơ sở của thành công này chính là nền tảng đa dạng và vững chắc của hệ thống chính sách giảm nghèo với hiều những hoạt động hướng đến sự hỗ trợ toàn diện cho
người nghèo.[12]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nỗi bật, lĩnh vực giảm nghèo của Việt Nam trong nhiều năm qua vẫn tồn tại những dai dẳng nhiều hạn chế đặc biệt là tính bền vững Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự ỷ lại, trông chờ của người dân vào chính sách hỗ trợ của nhà nước đang khiến cho hiệu quả của hệ thống chính sách giảm nghèo bị ảnh hưởng đáng kể Quá trình tăng trưởng, giảm nghèo của Việt Nam chưa thực sự hướng đến mục tiêu đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng các chính sách xã hội quan trọng này Đang còn có sự bất bình đẳng giữa các vùng và nhóm dân cư trong nước Phần đông người nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ, xã hội và kinh tế Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy, lợi ích thực sự của tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm người chịu thiệt thòi này
Hiện tại các chương trình, chính sách giảm nghèo của Việt Nam đang
tập trung vào việc “bảo trợ” người nghèo áp dụng cho tất cả các đối tượng
người nghèo mang tầm vĩ mô Chính sách giảm nghèo chưa xây dựng các mô hình giảm nghèo mang tính riêng biệt, đột phá cho từng vùng, từng nhóm, đối tượng người nghèo Các mô hình giảm nghèo ở cấp cơ sở đang còn rất hạn chế về số lượng Điều này đã làm cho một bộ phận người nghèo có tâm lý trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát nghèo, chấp nhận cái nghèo để nhận sự trợ giúp của nhà nước Do đó, vai trò của các cán bộ CTXH là hết sức quan trọng với các lĩnh vực giảm nghèo, bởi bản thân các cán bộ CTXH không phải là
Trang 35người làm thay cho người nghèo mà là những người giúp bản thân người nghèo nhận ra và phát huy tốt nhất năng lực của mình cũng như gia đình để từ
đó vươn lên thoát nghèo bền vững Đây cũng là mục tiêu mà hầu hết các chương trình giảm nghèo hiện nay đang hướng đến
Sau khi chuẩn nghèo mới được áp dụng từ năm 2011, Việt Nam có khoảng trên 3 triệu hộ nghèo, như vậy số lượng người nghèo, cần sự giúp đỡ,
hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước nói chung và từ các cán bộ CTXH nói riêng là rất lớn, đặc biệt là tại cấp cơ sở vì đây là những cán bộ gần gũi nhất với đời sống của người nghèo Đối với các hoạt động CTXH liên quan tới vấn
đề giảm nghèo có thể kể ra một số lĩnh vực sau:
- Hỗ trợ người nghèo trong việc tiếp cận và thụ hưởng các chính sách của nhà nước
- Tăng cường năng lực tự thoát nghèo của người nghèo
- Hỗ trợ người nghèo trong việc mở rộng các mạng lưới xã hội để thoát nghèo
- Hỗ trợ các công tác, chương trình giảm nghèo của các cấp chính quyền [12]
Hiện nay năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cũng là một thách thức quan trọng đối với hệ thống chính sách giảm nghèo của Việt Nam Đa phần những cán bộ hoạt động trong lĩnh giảm nghèo ở tuyến cơ sở,
họ là những người làm “tay ngang”trái ngành, cộng với khối lượng công việc
nhiều mà đội ngũ cán bộ thì hạn chế đang đặt ra nhiều vấn đề về tính hiệu quả Chính vì thế, khi Chính phủ quyết định phát triển nghề CTXH theo hướng chuyên nghiệp ở Việt Nam, mỗi xã phường đều có ít nhất 02 NVCTXH chuyên nghiệp, việc bố trí cán bộ CTXH tham gia thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo là hết sức cần thiết, chú trọng vào mục
Trang 36tiêu cải thiện ý thức thoát nghèo, giúp người nghèo tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững
1.4 Quan điểm của Đảng, nhà nước trong công tác xóa đói giảm nghèo
Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất nhanh.Nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại
Xuất phát từ điều kiện thực tế nước ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội Vì vậy, phải tiến hành thực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển công nghiệp nông thôn, mở rộng thị trường nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao động ở nông thôn vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ là con đường cơ bản để xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn phải được xem như là một giải pháp hữu hiệu, tạo bước ngoặt cho phát triển ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Đó là con đường để cho mọi người vượt qua đói nghèo, để nhà nước có thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động xoá đói giảm nghèo Thực hiện thành công chương trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo thêm thu nhập chính đáng cho người nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá đói giảm
Trang 37nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới đất nước Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội Xoá đói giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp họ có thể tự mình vươn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng, xây dựng được các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm được khoảng trống ngăn cách giữa người giàu với người nghèo, ổn định tinh thần,
Có niềm tin vào bản thân, từ đó có lòng tin vào đường lối và chủ trương của đảng và Nhà nước Đồng thời hạn chế và xoá bỏ được các tệ nạn
xã hội khác, bảo vệ môi trường sinh thái
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ
và yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết được xu hướng gia tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và
xã hội làm chệch hướng XHCN của sự phát triển kinh tế -xã hội Không giải quyết thành công các chương trình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững sẽ không thể thực hiện được Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá đói giảm nghèo sẽ không thể tạo được tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm đưa nước ta đạt tới ttrình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước
và là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo,
Trang 38phát triển kinh tế - xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước
và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo
2 Cơ sơ thực tiễn
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Xã Ianan nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai, cách thành phố Playku khoảng 70 km, phía Bắcgiáp thì giáp với xã IaDom phía Tây là đường biên giới giáp Campuchia, phía Nam và phía Đông giáp xã Ia Pnôn Có các trục đường quan trọng đi qua địa bàn xã như quốc lộ 19 là tuyến quốc lộ nối liền Việt Nam
và Campuchia chạy theo hướng Đông – Tây, quốc lộ 14C chạy theo hướng Bắc – Nam Ianan mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa mưa (từ tháng 4- 10) và mùa khô (từ tháng 11 – 3 năm sau) Địa hình cao nguyên tương đối bằng phẳng với diện tích đất đỏ Bazan rộng lớn rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp lâu năm như Cà phê, Hồ tiêu, Điều, Cao
su và chăn nuôi gia súc lớn như bò, dê
2.1.1.2 Đặc điểm dân cư
Xã Ianan có hơn 30% dân số là người DTTS chủ yếu là dân tộc Rajai (dân tộc bản địa) ngoài ra các dân tộc thiểu số như người Tày, Mường chiếm
tỷ lệ không đáng kể Những năm gần đây tình trạng nhập cư trên địa bàn xã chiếm tỷ lệ tương đối cao, luồng người nhập cư chủ yếu là từ các tỉnh Đông Nam Bộ và các tỉnh phía Bắc Sự đa dạng trong thành phần dân cư đã tạo nên
sự đa dạng về văn hóa, sinh hoạt trong cộng đồng Điều này góp phần tạo nên nét phong phú, đa dạng trong văn hóa cộng đồng Tuy nhiên cũng thường
Trang 39xuyên nảy sinh những mâu thuẫn xuất phát từ những bất đồng về văn hóa, sinh hoạt của các tộc người khác nhau, vùng miền khác nhau
2.1.2 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu
Như đã nói ở trên, đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Ianan đa số là người dân tộc Rajai Dân tộc Rajai là một dân tộc có nguồn gốc lâu đời sống trên địa bàn xã Họ có bề dày lịch sử và kho tàng văn hóa dân gian phong phú như ngôn ngữ, tín ngưỡng, kiến trúc, lễ hội, trang phục đặc sắc Tuy nhiên cho tới ngày nay có rất nhiều truyền thống văn hóa của người Rajai ở địa phương đang dần bị mai một như lễ hội đâm trâu, cúng Giàng, Mừng lúa mới chỉ còn được tổ chức thưa thớt với rất nhiều sự thay đổi của các nghi lễ, tập tục này Trang phục truyền thống cũng chỉ hiện diện chủ yếu trong các nghi lễ của cộng đồng Về nghệ thuật kiến trúc là nhà Rông, nhà dài chỉ tồn tại rải rác, và chức năng của nhà Rông là địa điểm để sinh hoạt văn hóa cộng đồng ngày nay cũng không còn rõ nét
Người Rajai tại xã Ianan sinh sống tập chung tạo thành những làng nhỏ
Về hoạt động sản xuất và đời sống trước đây của người dân tộc Rajai theo lối
du canh du cư gắn mình với công việc làm rẫy luân khoanh và chăn nuôi gia súc lớn kết hợp với săn bắt, sản xuất theo lối tự cung tự cấp Cây trồng chủ yếu là các cây lương thực ngắn ngày như lúa đồi (chủ yếu), ngô, ngoài ra họ còn trồng xen vào nương lúa các loại cây như mía, bầu, dưa… Phương thức canh tác còn khá thô sơ theo lối đốt, phát, chọc tỉa, không dùng đến phân bón,
áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên năng suất không cao và thất thường
Về chăn nuôi, người Rajai chủ yếu chăn thả các gia súc lớn như bò, lợn Bò thả rông, lợn được nuôi nhốt dưới gầm nhà sàn, có thể nói kiểu nuôi nhốt này khá mất vệ sinh và tiềm ẩn nhiều nguy cơ dịch bệnh Cũng giống
Trang 40cho sinh hoạt gia đình, cộng đồngvào những dịp lễ, đám, làm của hồi môn…ít mang tính chất thương mại
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên khá cao trung bình mỗi hộ gia đình có nhiều hơn ba con và vẫn còn tình trạng tảo hôn, nối dây
Về các đặc điểm tâm lý xã hội: Người Rajai ở địa phương sống thành từng làng nhỏ nên văn văn hóa, phong tục của buôn làng ảnh hưởng đến cá nhân vô cùng sâu sắc Văn hóa làng xã khiến họ có xu hướng ít giao lưu, trao đổi với bên ngoài, khép kín Chính đặc điểm tâm lý này nên khiến họ bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực, các dịch vụ xã hội, nghèo nàn về vốn
xã hội…
Người Rajai theo chế độ mẫu hệ nên vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cộng đồng luôn được đề cao, con cái sinh ra mang họ mẹ Con gái có quyền được thừa kế tài sản của bố mẹ, con trai phải đi ở rể Mặc
dù theo chế độ mẫu hệ nhưng tình trạng bất bình đẳng giới ở người dân tộc Rajai tại địa bàn xã hiện nay khá phổ biến Phụ nữ gánh vác rất nhiều công việc trong gia đình từ các công việc sản xuất đến các công việc tái sản xuất, tỷ
lệ đến trường của học các em nữ luôn thấp hơn so với các em nam
Ngày nay, trong đời sống, xã hội của người Rajai đã có những biến đổi mạnh mẽ Lối canh tác du canh du cư đã được thay thế bằng định canh định
cư và trồng các cây công nghiệp phổ biến của vùng là cà phê, cao su, điều, tiêu trong đó diện tích trồng cây điều là lớn nhất và bền vững nhất, ngoài ra
họ còn thâm canh và trồng xen cây sắn (khoai mì) trong khoảng thời gian chờ đợi các cây công nghiệp cho thu hoạch Trong chăn nuôi loại hình thả rông bắt đầu chuyển sang loại hình bán nuôi nhốt nên năng xuất dần được nâng cao.Do đó, về đời sống vật chất của người dân cũng dần được cải thiện