Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến GS.TS. Hoàng Minh Tấn người ñã tận tình hướng dẫn và giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Sinh lý thực vật Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã nhiệt tình giúp ñỡ và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến ban lãnh ñạo, tập thể cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Trung tâm Giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp Bắc Giang ñã góp ý, ñộng viên và tạo ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Qua ñây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ñình người thân, anh em, bạn bè, ñồng nghiệp những người luôn ủng hộ, ñộng viên và tạo ñiều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
ðẶNG VĂN TẶNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
HOÁ HỌC VÀ CƠ GIỚI ðẾN SỰ RA HOA, HÌNH THÀNH QUẢ
CỦA GIỐNG VẢI CHÍN SỚM BÌNH KHÊ
TẠI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG MINH TẤN
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thiện luận văn mọi sự giúp ñỡ ñều ñã ñược cám ơn và các trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
ðặng Văn Tặng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến GS.TS Hoàng Minh Tấn người ñã tận tình hướng dẫn và giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Sinh lý thực vật - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã nhiệt tình giúp ñỡ và tạo mọi ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến ban lãnh ñạo, tập thể cán
bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Trung tâm Giống cây ăn quả, cây lâm nghiệp Bắc Giang ñã góp ý, ñộng viên và tạo ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Qua ñây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia ñình người thân, anh em, bạn bè, ñồng nghiệp những người luôn ủng hộ, ñộng viên và tạo ñiều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn
Tác giả
ðặng Văn Tặng
Trang 42.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều trên thế giới và ở Việt Nam 152.4 Cơ sở sinh lý của việc hình thành hoa và quả ở vải thiều 19
4.1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vải của Bắc Giang qua các năm 314.1.2 Tình hình phát triển vải chín sớm ở Bắc Giang 34
Trang 54.1.3 Những tồn tại trong sản xuất vải ở Bắc Giang và phương hướng
4.3.1 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến khả năng ra hoa vải 504.3.2 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến số lượng và thành phần hoa vải 524.3.3 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến ñộng thái ñậu quả 544.3.4 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến năng suất và các yếu tố cấu thành
4.3.5 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến thành phần cơ giới quả 584.3.6 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến các chỉ tiêu phẩm chất quả 594.4 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến ra hoa và hình thành quả 604.4.1 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến khả năng ra hoa vải 614.4.2 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến số lượng và thành phần hoa vải 624.4.3 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến ñộng thái ñậu quả 644.4.4 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến năng suất và các yếu tố cấu thành
4.4.5 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến thành phần cơ giới quả 68
Trang 64.4.6 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến các chỉ tiêu phẩm chất quả 684.4.7 Hiệu quả kinh tế của việc phun ethrel cho vải 69
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ðHNNHN FAO KHKT NXB
TP
CN
TN Min Max
ðại học Nông nghiệp Hà Nội
Tổ chức nông lương thế giới Khoa học kỹ thuật
Nhà xuất bản Thành phố Cao nhất Thấp nhất Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Giá trị trung bình Khối lượng Nhiệt ñộ
ðộ ẩm Hàm lượng
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
2.1 Quan hệ giữa nhiệt ñộ và tỷ lệ hoa cái của vải 102.2 Mức ñộ thích nghi của cây vải thiều ñối với ñất ñai 132.3 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho ñất trồng vải tính theo tỷ lệ 144.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vải của tỉnh Bắc Giang qua một
4.2 Tình hình sản xuất vải của các huyện năm 2010 334.3 Tình hình sản xuất vải chín sớm ở các huyện trong tỉnh 35
4.5 Ảnh hưởng của cắt tỉa ñến thời gian ra hoa ñậu quả 414.6 Ảnh hưởng của cắt tỉa tới số lượng hoa và thành phần các loại hoa 42
4.8 Ảnh hưởng của cắt tỉa ñến năng suất và các yếu tố cấu thành
4.9 Ảnh hưởng của cắt tỉa ñến thành phần cơ giới quả 494.10 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến khả năng ra hoa 514.11 Ảnh hưởng của khoanh vỏ tới số lượng hoa và thành phần các
Trang 94.17 Ảnh hưởng của phun ethrel tới số lượng hoa và thành phần các
Trang 10DANH MỤC HÌNH
4.1 Ảnh hưởng của cắt tỉa ñến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính 43
4.4 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính 534.5 Ảnh hưởng của khoanh vỏ ñến ñộng thái ñậu quả 55
4.7 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính 634.8 Ảnh hưởng của phun ethrel ñến ñộng thái ñậu quả 65
Trang 11
1 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây vải (Litchi chinensis Sonn.), là một trong những cây ăn quả á nhiệt
ñới ñặc sản của Việt Nam Trong thành phần của quả vải có chứa các chất có giá trị dinh dưỡng cao như: ñường dễ tiêu, vitamin B, C, phốt pho, sắt, canxi Trên thị trường thế giới, quả vải ñược xếp sau dứa, chuối, cam quýt, xoài, bơ
Về chất lượng vải là cây ăn quả ñược ñánh giá cao với hương vị thơm ngon, giàu chất bổ ñược nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài
ăn tươi còn ñược chế biến như sấy khô, làm rượu vang, ñồ hộp, nước giải khát Ngoài ra hoa vải còn chứa một nguồn mật rất tốt, cây vải có tán lá xum xuê quanh năm có thể dùng làm cây cảnh, cây bóng mát, cây chắn gió, chống xói mòn
Quả vải có tính cạnh tranh lớn là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ cao ñối với nhiều nước Với ưu thế là loại cây có tính thích ứng rộng, dễ trồng, khả năng chịu hạn tốt nên có thể trồng trên nhiều loại ñất, trong ñó có ñất ñồi Một số tỉnh như: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hà Tây ñã
và ñang có kế hoạch ñẩy nhanh việc trồng vải với diện tích lớn Các tỉnh như Sơn La, Lạng Sơn, Hòa Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang ñã trồng hàng ngàn
ha vải
Diện tích cây ăn quả của tỉnh Bắc Giang ñến năm 2010 là 47.468 ha, trong ñó diện tích vải là 35.915 ha, năng suất ñạt bình quân 32,5 tạ/ha, sản lượng ñạt 116.253 tấn Giá trị thu nhập từ cây vải của tỉnh hàng năm từ 450 ñến 500 tỷ ñồng, chiếm 13% giá trị thu nhập của ngành nông nghiệp và chiếm 17% giá trị thu nhập của ngành trồng trọt Cây vải là loại cây ăn quả chiếm diện tích lớn nhất trong cơ cấu cây ăn quả của tỉnh hiện nay ðặc tính của cây vải có khả năng chịu hạn tốt, trồng ñược trên nhiều loại ñất, phù hợp với ñiều
Trang 12kiện tự nhiên của tỉnh, cho năng suất, chất lượng cao, do vậy cây vải ñã ñem lại hiệu quả kinh tế cao trong nhiều năm góp phần rất lớn vào công cuộc xóa ñói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bắc Giang nói chung và các huyện miền núi nói riêng
Một số năm gần ñây, do sản lượng vải ngày một tăng, trong khi ñó cơ cấu giống vải của tỉnh chưa thật hợp lý, tỷ lệ giống vải chính vụ chiếm quá cao gần 90% ñã tạo ra áp lực tiêu thụ khi vào vụ thu hoạch ðể rải vụ thu hoạch vải, tỉnh ñã có ñề án ghép cải tạo, cơ cấu lại giống vải tỉnh Bắc Giang, phấn ñấu ñến năm 2010 ñưa cơ cấu giống vải chín sớm của tỉnh lên từ 15-20% ðể mở rộng diện tích trồng giống vải chín sớm, giảm diện tích vải chính
vụ, giải pháp kỹ thuật áp dụng chính là ghép cải tạo giống vải chín sớm trên gốc vải chính vụ Thực hiện ñề án, trong những năm qua toàn tỉnh ñã ghép cải tạo ñược trên 500 ha vải chín sớm, trong ñó chủ lực là giống vải chín sớm Bình Khê
Kết quả thực tiễn việc ghép cải tạo giống vải chín sớm tại tỉnh Bắc Giang cho thấy ñây là biện pháp kỹ thuật có nhiều ưu ñiểm, ñược nông dân tích cực áp dụng Tuy nhiên do giống vải chín sớm Bình Khê có tốc ñộ sinh trưởng phát triển mạnh, một số diện tích vải chín sớm có tỷ lệ ra lộc ñông nhiều, ra hoa ñậu quả không cao ðể góp phần giải quyết hiện tượng ra quả cách năm hoặc ra hoa ñậu quả kém của các giống vải chín sớm trong ñó chủ
lực là giống vải chín sớm Bình Khê, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “
Nghiên cứu ảnh hưởng một số biện pháp hoá học và cơ giới ñến sự ra hoa, hình thành quả của giống vải chín sớm Bình Khê tại tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục ñích, yêu cầu
1.2.1 Mục ñích:
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật cơ giới
và hóa học ñến khả năng ra hoa và hình thành quả của giống vải chín sớm Bình Khê ñể ñề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao khả năng ra hoa,
Trang 13ựậu quả bổ sung vào quy trình ghép cải tạo giống vải chắn sớm Bình Khê trên giống vải thiều tại tỉnh Bắc Giang
- đánh giá năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của các biện pháp
xử lý ra hoa, ựậu quả ựối với giống vải Bình Khê trồng tại Bắc Giang
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ựề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp cơ giới và hóa học ựến khả năng ra hoa, ựậu quả của giống vải chắn sớm Bình Khê tại tỉnh Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo trong việc nghiên cứu và phát triển giống vải chắn sớm Bình Khê ở Bắc Giang và các tỉnh khác
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
đề xuất biện pháp kỹ thuật như cắt tỉa, khoanh vỏ và xử lý ethrel cho vải chắn sớm Bình Khê ghép trên gốc vải thiều chắnh vụ ựể nâng cao hiệu quả của sản xuất vải
Trang 14
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây vải thiều
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và giá trị của cây vải thiều
2.1.1.1 Nguồn gốc, phân bố
Cây vải có nguồn gốc ở vùng giữa miền Nam Trung Quốc, bắc Việt Nam, bán ựảo Malaysia và ựã ựược trồng trọt cách ựây trên 3.000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn có những cây vải tổ trên 1.000 năm tuổi ở huyện
Bồ điền tỉnh Phúc Kiến, trong ựó, cây to nhất có chu vi thân ựạt 5,6 m, ựường kắnh tán cây chỗ lớn nhất ựến 40 m, chiều cao cây trên 16 m và năm cho thu hoạch cao nhất ựến 1,5 tấn quả [18, 5-6], [37]
Nhiều tài liệu của Trung Quốc cho biết, ở nhiều nơi có cây vải dại như núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam Từ Tường Hạo và cộng sự căn cứ ựiều tra thực ựịa và từ góc ựộ lịch sử, hình thái và ựặc trưng quần lạc sinh thái ựã kết luận: đảo Hải Nam có nhiều cây vải dại Ngoài ra ở Dương Xuân, Hóa Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi lớn ở vùng giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây ựều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc phát sinh từ Trung Quốc [18, 5-6]
Cuối thế kỷ thứ 17, từ Trung Quốc, cây vải ựầu tiên ựược ựưa ựến Myanma, sau ựó ựược mở rộng sang đài Loan, Mautirius, Madagasca và Tây
Ấn Cuối thế kỷ 18, vải ựược ựưa sang Ấn độ, Anh, Pháp, Úc, Mỹ, (Singh, 1954), (Meulen, 1957), (Queens và Anon, 1962) đến thế kỷ thứ 19, cây vải ựược ựưa ựến trồng tại Israel Vào những năm 30 của thế kỷ 20, các công nhân Hoa Kiều gốc Quảng đông ựã ựưa vải vượt qua xắch ựạo vào Công Gô (Cao Lệ Hoa, 1985) [18, 11-12] Hiện nay, vải ựược trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở các nước vùng đông Nam Á, Châu đại Dương, các ựảo ở Thái Bình Dương và miền Nam Châu Phi
Trang 15Ở Châu Á, các nước trồng vải là: Trung Quốc, Ấn ðộ, Thái Lan, Việt Nam, Myanma, Bănglades, Campuchia, Lào, Malaixia, Philippin, Srilanca, Indonexia và Nhật Bản
Ở Châu Phi có: Nam Phi, Madagasca, Công Gô, Ga Bông, Mautirius và Rêuyniông
Châu ðại Dương có: Austraylia và Newzealand
Châu Mỹ có: Hoa Kỳ, Hondurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô
và Braxin [18, 11-12], [26]
Ở Việt Nam, cây vải ñược trồng cách ñây khoảng 2.000 năm và phân
bố từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra, nhưng chủ yếu vẫn là vùng ñồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ Sử sách ñã chép lại rằng: cách ñây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam phải ñem nộp cho các vua
Trung Quốc Năm 722, Mai Thúc Loan ñã hiệu triệu những người dân phu ñi
gánh vải quả cống nộp cho chính quyền nhà ðường [26, 6-14], [29, 8]
Theo các tài liệu ñã công bố, Việt Nam cũng ñược coi là một trong những nước có nguồn gốc phát sinh của cây Vải Theo tài liệu của Pháp ñể lại (C Petelot - 1952) có nói ñến nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi Ba Vì Theo
Vũ Công Hậu - 1982, cây vải ñã ñược phát hiện mọc ở chân núi Tam ðảo, tỉnh Vĩnh Phúc ðây là những cây vải dại, quả có hình dạng, mầu sắc và gai quả giống hệt giống vải trồng, chỉ khác quả nhỏ khoảng 6 - 8 gam, cùi mỏng,
ăn chua… Ở các vùng này người ta còn tìm ñược những cây vải dại quả nhỏ, gai dài, hạt to, ăn chua có ñặc ñiểm tương tự như một số giống vải trồng hiện nay [15], [29, 6-14]
Vùng Thanh Hà (Hải Dương) hiện còn cây vải nhà cụ Hoàng Văn Thu trên 130 tuổi ñược coi là cây vải tổ Từ vùng Thanh Hà - Hải Dương, cây vải
ñã ñược ñưa ñi trồng trọt ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, miền Trung và cả một
số tỉnh Tây Nguyên Ở thời ñiểm hiện tại, ñã hình thành một số vùng trồng
Trang 16vải mang tắnh sản xuất hàng hoá lớn như Thanh Hà, Chắ Linh, Tứ Kỳ (Hải Dương); đông Triều, Hoành Bồ (Quảng Ninh); Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế (Bắc Giang); đồng Hỷ, đại Từ (Thái Nguyên) Ở những nơi này cây vải thực sự ựóng vai trò tiên phong trong công cuộc xoá ựói, giảm nghèo cho người dân trồng vải [7], [21]
2.1.1.2 Phân loại
Vải (Litchi chinensis Sonn.) thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn
(Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn có 150 chi, với
khoảng 2.000 loài ựược phân bố ở vùng Nhiệt ựới và Á nhiệt ựới, chủ yếu tập trung ở vùng Châu Á và một số ắt loài thuộc Nam Mỹ, Châu Phi và Austraylia [20, 150-151], [45], [46]
Vải có 3 loài phụ:
Litchi chinensis: loài này tập trung các giống vải thương mại ngày nay có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc Hiện tại Trung Quốc có khoảng trên 100 giống trong ựó có 15 giống thương mại quan trọng, Ấn ựộ có khoảng trên 50 giống, Thái Lan trên 20 giống, Austraylia có trên 40 giốngẦ[38, 559-560]
Litchi philippinensis: ựược trồng nhiều ở Philippines và Papua New Guinea trên những vùng núi cao, cây sinh trưởng tốt, tán lá rậm rạp mầu xanh sẫm, quả nhỏ hình ô van, vỏ quả dày, gai quả nhọn, hạt to dài, cùi chỉ là một lớp mỏng bao quanh hạt, ăn có vị chua và chát
Litchi javenensis: loài phụ này có nguồn gốc từ Malay Peninsula, Indonesia, Trung Quốc, West Java và đông Nam Á, có ựặc ựiểm quả nhỏ, hạt
to, gai dài và ăn có vị chua
2.1.2 đặc ựiểm thực vật học cây vải thiều
2.1.2.1 đặc ựiểm thân, cành
Vải là cây thân gỗ, cây trưởng thành thường cao từ 8 - 10 m, thân to, vỏ phẳng, nhẵn, mầu nâu xám hoặc nâu ựen, gỗ có vân mịn mầu nâu, cây già có vân gỗ uốn lượn
Trang 17Tán cây vải có hình bán cầu, cây trưởng thành ñường kính tán thường có kích thước từ 7 - 12m, cành chính to khoẻ, phân nhánh nhiều, hơi cong, phân bố ñều về các phía Cây vải nhân giống bằng phương pháp chiết hay ghép từ khi trồng ñến 3 năm tuổi chủ yếu là sinh trưởng dinh dưỡng Trong thời kỳ này bộ khung tán phát triển mạnh, một năm có thể ra
5 - 6 ñợt lộc [18]
Theo Trần Thế Tục (2000), Vũ Mạnh Hải (1989), số ñợt lộc/cành, kích thước của mỗi ñợt lộc phụ thuộc vào tuổi cây, tình trạng sinh trưởng của cây, nước, phân bón, nhiệt ñộ chi phối Nếu có chế ñộ chăm sóc ñầy ñủ và ñiều kiện nhiệt ñộ thích hợp vải sẽ ra ñược nhiều ñợt lộc và lộc có kích thước lớn Ngược lại, số lộc sẽ ít và có kích thước nhỏ
Trong ñiều kiện ñủ phân, nước, nhiệt ñộ thích hợp thì từ khi nảy lộc ñến thành thục một ñợt lộc cần 50 ngày Cây ñã già chỉ mọc ñược 1 - 2 ñợt cành/năm [9, 104-106], [13, 129-133], [14], [29]
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991), do cây trong thời kỳ sinh trưởng, chất dinh dưỡng dự trữ không nhiều, từ ñó rất khó hình thành mầm hoa hoặc tỷ lệ hoa cái thấp, thông thường chỉ chiếm 20% trở xuống
ðối với cây 7 - 20 năm tuổi, bộ khung tán ñã cơ bản ổn ñịnh, sinh trưởng khoẻ nhưng không quá mạnh Thời kỳ này, quá trình sinh trưởng sinh thực chiếm ưu thế, lượng hoa quả nhiều Sau vài năm sai quả, cây sẽ bị suy yếu, nếu không bù ñắp lượng chất ñã bị tiêu hao trong quá trình ra hoa ñậu quả thì cây có thể rụng lá và già cỗi nhanh
Những cây trên 20 năm tuổi, lượng quả và khả năng sinh trưởng của cây bắt ñầu giảm, lượng cành phát sinh ít, cành yếu, cành khô nhiều, rễ mới ít,
bộ rễ suy yếu, cây sẽ già cỗi nhanh nếu không có biện pháp chăm sóc và cải tạo hợp lý (bón bổ sung dinh dưỡng, ñốn phớt, ñốn ñau, ñốn trẻ lại, phòng trừ sâu bệnh ) [18]
Trang 182.1.2.3 đặc ựiểm hoa, quả
Chùm hoa phần lớn mọc từ chồi ngọn hoặc từ 2 -3 chồi nách phắa dưới cành năm trước Một số ắt giống vải có số lượng khá lớn chồi nách (có khi ựến 12 chồi) dưới chồi ngọn có khả năng phát sinh chùm hoa Chùm hoa ắt khi mọc trên cành già và trên thân [18, 78-83], [26], [29]
- Hoa vải
Hoa vải nhỏ, ựường kắnh hoa chỉ xấp xỉ 4 - 5 mm, mầu vàng nhạt, phần nhiều không có cánh đài hoa của các giống thường có kắch thước khác nhau, trung bình 3 - 4 mm Nhị ựực và nhị cái mọc trên mâm hoa Hoa ựực nhỏ hơn hoa cái Cây vải phần lớn có hoa ựực và hoa cái khác biệt và ắt khi có cùng 1 loại hoa mọc trên cùng một chùm hoa Vải thường có 4 loại hoa: hoa cái, hoa ựực, hoa lưỡng tắnh, hoa biến thái
Trang 19- Quả vải
Theo Trần Thế Tục (2000) [26], sau khi ñậu ñược quả, quá trình phát
triển của quả vải ñược phân ra làm 3 giai ñoạn chính:
- Giai ñoạn 1: phôi phát triển, tế bào của vỏ quả và vỏ hạt tăng nhanh,
từ lúc hoa cái nở ñến lúc xuất hiện thịt quả mất 30 - 40 ngày Sau lúc hoa cái
nở khoảng 10 ngày, quả có ñộ lớn bằng hạt ñậu xanh là lần rụng quả ñầu tiên
- Giai ñoạn 2: hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và khối lượng, vỏ hạt cứng dần cho ñến lúc thịt quả bao kín lấy hạt, thời gian này là
18 - 25 ngày Lúc này thịt quả phát triển bao lấy 1/3 ñến 2/3 hạt Thời kỳ này,
do thiếu dinh dưỡng hoặc thiếu các chất kích thích sinh trưởng dẫn ñến rụng quả lần thứ 2
- Giai ñoạn 3: thịt quả phát triển rất nhanh và quả ñến giai ñoạn chín
Từ lúc thịt quả bao kín hạt cho ñến khi quả chín mất thời gian khoảng 19 - 25 ngày Thời kỳ này là lúc các chất dinh dưỡng trong quả tăng nhanh, cuống quả bắt ñầu có mầu ñỏ, hàm lượng ñường trong quả tăng lên Nếu gặp mưa liên tục sẽ dẫn ñến rụng quả ðợt rụng quả này thường xuất hiện một tuần
trước lúc thu hoạch và là ñợt rụng quả thứ 3
2.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cây vải
2.2.1 Yêu cầu về nhiệt ñộ
Groff (1921) cho rằng, năng suất vải thường cao ở vùng lạnh, nhiệt ñộ thấp từ (-1,1 ñến 4,40C) nhưng không có sương muối và có thời gian ngủ nghỉ trước phân hoá mầm hoa Nhiệt ñộ thấp ức chế việc sinh ra hooc môn sinh trưởng, từ ñó làm giảm sự phát lộc và tăng khả năng ra hoa Theo Nguyễn Thiếu ðường (1984) thì cây vải sinh trưởng tốt ở nhiệt ñộ bình quân là 21 - 250C Giống chín muộn ở nhiệt ñộ 00C và giống chín sớm ở nhiệt ñộ 40C thì sinh
trưởng dinh dưỡng bị ngừng trệ Khi nhiệt ñộ ở mức 8 - 100C thì cây bắt ñầu hồi
phục sinh trưởng, 10 - 200C cây sinh trưởng chậm, trên 210C thì sinh trưởng tốt,
Trang 20ở nhiệt ựộ 23 -260C sinh trưởng mạnh nhất Tổng nhiệt ựộ thắch hợp cho sinh trưởng, phát triển cả năm của vải là: 2.500 - 2.8000C [18, 93-94]
Theo thống kê của cục Nông nghiệp Quảng đông thì những năm ựược
mùa Vải là những năm có nhiệt ựộ thấp nhất trong phạm vi 1,5 - 140C Trong vòng 25 năm, có 10 năm ựược mùa vải thì nhiệt ựộ thấp nhất ựều nằm trong phạm vi này Nghê Diệu Nguyên (1985) cho rằng: cường ựộ và thời gian kéo dài của nhiệt ựộ thấp có ảnh hưởng ựến sự phân hoá mầm hoa của giống vải Hắc Diệp
Nhiệt ựộ cũng liên quan ựến tỷ lệ hoa cái và hoa ựực của vải trong thời gian phân hoá mầm hoa Từ tháng 1 ựến tháng 3, nhiệt ựộ bình quân trong ngày càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao, nhiệt ựộ tăng cao thì tỷ lệ hoa cái lại giảm (bảng 2.1) [18]
Bảng 2.1 Quan hệ giữa nhiệt ựộ và tỷ lệ hoa cái của vải
Nguồn: Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần - 1991
Quá trình phân hoá mầm hoa của vải liên quan chặt chẽ tới nhiệt ựộ thấp của mùa ựông Năm 1975, Bành Kắnh Ba theo dõi trên các giống vải Nếp
và Hoài chi cho thấy: nhiệt ựộ từ 0 - 100C thuận lợi cho phân hóa mầm hoa và chùm hoa phân nhánh Ở ựiều kiện 11 - 140C cành hoa và lá ựều có thể phát triển sớm trở thành các chùm hoa có giá trị kinh tế Nhiệt ựộ 18 - 190C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhỏ, nhiều lá nhưng không có giá trị
Trang 21về kinh tế Giống vải Trần tử trong những năm tích luỹ trên 200 giờ nhiệt ñộ dưới 70C, quá trình hình thành hoa và ñậu quả tốt, những năm không ñủ 150 giờ thì hình thành hoa và ñậu quả kém [18, 94-95]
Theo Vũ Công Hậu và Trần Thế Tục, nhiệt ñộ có ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng và phát triển của cây vải Những vùng trồng vải thường có nhiệt
ñộ bình quân 10 - 170 C, nhiệt ñộ thấp nhất không quá - 20, nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng là 24 - 290C [15], [30, 116-121]
Theo Phạm Văn Côn (2004), khi ra hoa, ñậu quả cây vải cần nhiệt ñộ hơi lạnh và khô, tổng tích ôn khoảng 2.500 - 2.6000C [4, 52]
2.2.2 Yêu cầu về ánh sáng
Vải là cây ưa sáng, vì vậy người Trung Quốc có câu: “ðương nhật lệ
chi, bối nhật long nhãn”, nghĩa là nhãn có thể chịu bóng râm, quay lưng về
phía mặt trời còn vải phải trồng ở chỗ có ánh sáng chiếu chính diện Cây vải
là cây cần ánh sáng quanh năm, nhất là tháng 11, 12, nắng càng nhiều càng thuận lợi cho sự phân hóa mầm hoa, tháng 2, 3, có nắng thì quá trình thụ phấn thụ tinh sẽ thuận lợi Cây vải cần tổng số giờ chiếu sáng trong năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991), với giống vải Hắc Diệp, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái trên một chùm tăng lên tương ứng [18, 97]
Ánh sáng thích hợp còn làm tăng khả năng quang hợp cho cây ñồng thời tăng tích luỹ chất khô, giảm sâu bệnh gây hại Từ ñó, cần phải bố trí khoảng cách trồng và cắt tỉa tạo tán hợp lý, tránh sự che khuất lẫn nhau giữa các cành trên cùng một cây và giữa các cây cùng trong vườn trồng
[16, 352-357]
2.2.3 Yêu cầu về ñộ ẩm và nước
Vải có nguồn gốc ở các vùng mà lượng mưa hàng năm dao ñộng trong
khoảng 1.250 - 1.700 mm, nhưng lượng mưa thích hợp nhất là 1.500 mm mỗi
Trang 22năm Những tháng có mưa nhiều, cây vải sinh trưởng mạnh, bộ lá xanh tốt
thường bị sâu bệnh phá hoại
ðộ ẩm là một trong những nhân tố quan trọng trong việc xác ñịnh vùng trồng vải Vùng trồng thường có gió nóng, khô trong mùa hè gây bất lợi cho
sự phát triển của vải (làm quả bị nứt, sau ñó làm hại ñến thịt quả), ñây chính
là nhân tố ảnh hưởng ñến sự mở rộng diện tích vải Trong thời kì sinh trưởng dinh dưỡng, vải yêu cầu lượng nước nhiều ñể phát triển thân lá, tạo tiền ñề cho năng suất cao ở giai ñoạn về sau Lượng mưa phân bố ñều sẽ tốt hơn là lượng mưa ñủ và tập trung Nếu lượng mưa không ñủ, cần phải có biện pháp
tưới nước kịp thời vào các giai ñoạn cần thiết cho cây
Những tháng mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng mạnh, yêu cầu lượng nước lớn Những tháng mùa ñông nếu mưa nhiều, vải dễ phát lộc ñông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa Theo Nghê Diệu Nguyên
và cộng sự, lượng mưa ảnh hưởng tới hoa vải chủ yếu trong giai ñoạn phân hóa trục chùm hoa và thời kỳ phân hóa hoa Nếu ñủ nước, tổng số hoa/chùm
và số hoa ñực/chùm giảm nhưng số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ
lệ hoa cái tăng [18, 158], [19]
Mưa nhiều trong thời gian hoa ñang nở sẽ làm thối hoa, tỷ lệ ñậu quả thấp, có thể dẫn ñến mất mùa Phấn hoa trong nước nửa giờ có một bộ phận bắt ñầu nẩy mầm, 1 - 1,5 giờ phần lớn hạt phấn nảy mầm, sau 2 giờ cơ bản ngừng nảy mầm Nếu ngâm phấn hoa trong nước quá nửa giờ, màng ngoài của 70% số hạt phấn bắt ñầu trương lên; ngâm khoảng 1 giờ, ñầu trên ống phấn hoa bị vỡ ra, nguyên sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trưởng
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, chế ñộ mưa và ẩm ñộ tương ñối thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây vải Mùa khô bắt ñầu vào các tháng 10, 11,
12 và cũng là lúc vải cần ñiều kiện khô, lạnh ñể phân hoá mầm hoa Mùa mưa bắt ñầu vào tháng 4, 5 cũng là lúc vải cần nhiều nước ñể nuôi quả, giúp quả lớn nhanh [4, 42-43]
Trang 232.2.4 Yêu cầu về ñất ñai
Cây vải có khả năng thích nghi với nhiều loại ñất khác nhau Các loại ñất phù xa, ñất có tầng canh tác dày, ñất giàu dinh dưỡng, ñất ñồng bằng thích hợp cho vải sinh trưởng, phát triển Theo Nghê Diệu Nguyên (1991): ñất núi, ñất ñồi ñịa thế cao, tầng ñất dày, tiêu nước tốt nhưng nghèo chất hữu cơ
và ñộ phì thấp, muốn trồng vải cho hiệu quả kinh tế cao cần cần phải cày xới, bón phân, tưới nước ñầy ñủ ñể cải tạo ñất, giúp bộ rễ ăn sâu, rộng, tăng ñược thế sinh trưởng của cây So với vải trồng ở vùng ñồng bằng, cây vải trồng ở vùng ñồi núi thường có tuổi thọ cao hơn, vỏ quả dày hơn, mã quả tươi hơn, vị
ngọt và chất lượng khá [18, 99]
Bảng 2.2 Mức ñộ thích nghi của cây vải thiều ñối với ñất ñai
Mức ñộ thích nghi Chỉ tiêu
Không thích hợp N
Theo các kết quả nghiên cứu của Trần Thế Tục, Vũ Thiện Chính (1997)
và của Vũ Thiện Chính (1999), ở nước ta, vải là loại cây không kén ñất, có thể trồng ñược trên nhiều loại ñất từ ñất bãi ven sông, ñất ruộng ñến ñất gò, ñồi Mức ñộ thích nghi của cây vải thiều ñối với các loại ñất ñược thể hiện ở
bảng 2.2 [5, 84-85], [17, 14], [28, 9-12]
Trang 242.2.5 Yêu cầu về dinh dưỡng
Menzel C.M và Simpson D.R (1992)[51, 36-40] ñã ñưa ra khoảng tối
thích về dinh dưỡng cho ñất trồng vải với cây trưởng thành (bảng 2.3)
Bảng 2.3 Hàm lượng dinh dưỡng thích hợp cho ñất trồng vải
Nguồn: Menzel C.M và Simpson D.R - 1992 [51]
Theo Nghê Diệu Nguyên (1991) [18] thì tỷ lệ các loại phân bón ñược coi
là thích hợp với cây vải trong thời kỳ cho quả ở Trung Quốc là: N : P : K = 1 : 0,4 : 0,6 - 0,8 hoặc: 1 : 0,4 : 1,6 - 1,8 Các loại phân vi lượng như: Mg, Mn,
Zn, Bo cũng ñược áp dụng phun bổ sung lên lá nhằm tăng khả năng chống chịu cho cây, tăng tỷ lệ ñậu quả, giữ quả, chống nứt quả và làm tăng phẩm chất quả [18]
Ở trong nước, khi nghiên cứu phản ứng ñối với phân bón N - P - K của cây vải thiều trồng trên ñất ñồi và ñất phù sa chua tại xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương và ðội 2, Nông trường Quốc doanh Lục Ngạn, các
Trang 25tác giả của Trường ðại học Nông nghiệp I - Hà Nội nhận thấy: phân bón N, P,
K có ảnh hưởng rõ rệt ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vải thiều trồng ở Lục Ngạn và Thanh Hà; có ảnh hưởng rõ ñến hàm lượng ñường, vitamin C, axít hữu cơ Lượng phân bón và tỷ lệ bón N, P, K thích hợp cho vùng Lục Ngạn - Bắc Giang là 180 - 150 - 225 (tỷ lệ N : P : K = 1,2 : 1,0 : 1,5); ñối với vùng Thanh Hà - Hải Dương là 135 - 225 - 225 (tỷ lệ N : P : K = 1,0 : 1,7 : 1,7) [3, 132-148]
Kết quả xác ñịnh liều lượng và tỷ lệ phân bón cho vải chín sớm trên ñất dốc thời kỳ ñầu kinh doanh (ñối với cây vải 5 năm tuổi) do Viện Nghiên cứu Rau quả thực hiện cho thấy: năng suất quả của các công thức bón phân 0,18 - 0,35 kg N; 0,10 - 0,20 kg P và 0,4 - 0,6 kg K dao ñộng từ 14,8 - 18,7 kg quả/cây Năng suất quả vải giữa các chế ñộ bón phân khác nhau có sự khác nhau, chênh lệch năng suất dao ñộng từ 0,2 - 3,9 kg/cây Trên nền 0,15 P2O5
và 0,50 K2O kg/cây bón N từ 0,25 - 0,45 kg N/cây làm tăng suất quả rõ rệt Công thức bón nhiều N nhất (0,45 kg N/cây) cho năng suất quả cao nhất (18,7 kg/cây), cao hơn nhiều so với mức bón của người dân Trên nền 0,35 N và 0,50 K2O kg/cây bón lượng P từ 0,1- 0,2 kg P2O5/cây cho năng suất cao nhất
ở công thức bón 0,15 kg P2O5/cây Trên nền 0,35 N và 0,15 P2O5 kg/cây bón
K từ 0,4 - 0,6 kg K2O/cây, cho năng suất cao nhất ở công thức bón 0,50 kg
K2O/cây [6, 34-43]
Kết quả khuyến cáo bón phân cho vải thời kỳ ñầu kinh doanh trên ñất dốc là 0,45 N : 0,15 P2O5 : 0,50 K2O (kg/cây) tương ứng với tỷ lệ N : P2O5 :
K2O = 1,0 : 0,33 : 1,11 ðây là mức phân bón cho năng suất quả cao nhất,
giúp sớm làm cho vải ổn ñịnh về năng suất trong thời kỳ ñầu kinh doanh
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất
Trên thế giới, hiện có trên 20 nước trồng vải, trong ñó các nước Châu Á
có diện tích trồng và sản lượng vải cao nhất Theo Trần Thế Tục [29], diện
Trang 26tắch trồng vải của thế giới năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 tấn Năm 2000 ựạt xấp xỉ 780.000 ha, tổng sản lượng ựạt tới 1,95 triệu tấn, trong
ựó các nước đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng ựạt xấp xỉ
1,75 triệu tấn (chiếm 77% diện tắch và 90% sản lượng vải của thế giới) [34]
Trung Quốc là nước ựứng ựầu thế giới về diện tắch và sản lượng vải Theo Mitra S.K (1999), diện tắch vải của Trung Quốc ựạt 530.000 ha với sản lượng là 950.000 tấn; năm 2001 là 584.000 ha với sản lượng ựạt 958.700 tấn quả tươi [40, 19-23], [42], [43], [49, 25-28]
Theo Singh H P., Babita B (1990) và Ghosh (2000), Ấn độ là nước ựứng thứ 2 trên thế giới về diện tắch và sản lượng vải Sản lượng vải của Ấn
độ năm 1990 mới chỉ ựạt con số 91.860 tấn thì ựến năm 2000 ựã là 56.200 ha, với sản lượng ựạt 428.900 tấn
Diện tắch vải ở Thái Lan năm 1999 ựạt 22.200 ha, với sản lượng 85.083 tấn [43]
Ở Bănglades, vải ựược trồng tập trung ở các huyện Dinajpur, Rangpur
và Rangshahi với tổng diện tắch trồng trọt năm 1998 ựạt 4.750 ha, sản lượng ựạt 12.755 tấn
Tại đài Loan, năm 1999 diện tắch trồng vải ựạt 11.961ha Trong ựó, diện tắch cho thu hoạch là 11.580 ha với sản lượng là 108.668 tấn Năm 2001, diện tắch trồng vải của đài Loan ựã tăng lên trên 12.000 ha [43], [48]
Ở Austraylia, năm 1986, diện tắch vải của Austraylia chỉ ựạt khoảng 350ha với sản lượng ước ựạt khoảng 60 tấn [39], [41], [43]
Vải là cây ăn quả Á nhiệt ựới quan trọng xếp sau xoài, dứa và ổi ở Nepal Vải ựã ựược trồng ở nước này cách ựây 104 năm Diện tắch vải của Nepal năm 1999 ựạt 2.830 ha với sản lượng là 13.875 tấn [43]
Châu Phi có 4 nước trồng vải theo hướng hàng hoá là: Nam Phi, Madagatca, Renyniông, Moritiuyt Trong ựó, Madagasca nằm ở phắa Tây Ấn
Trang 27độ Dương, sản lượng hàng năm ựạt 3,5 vạn tấn, là nước có sản lượng vải lớn nhất ở Châu Phi [29]
Ở Việt Nam, trong các cây ăn quả hiện nay, vải là cây có quy mô sản xuất lớn, tập trung và mang tắnh hàng hóa cao Sản phẩm quả tươi và các sản phẩm chế biến từ vải không những ựáp ứng ựủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu dưới dạng sản phẩm: vải ựông lạnh, vải nước ựường, vải sấy khô, purê vải Chắnh vì vậy, những năm gần ựây diện tắch vải tăng lên nhanh chóng [44] Năm 2000, diện tắch vải của cả nước ựạt trên 20.000 ha, trong ựó
có 13.500 ha ựang cho thu hoạch với năng suất bình quân ựạt 2 tấn/ha, sản lượng khoảng 25.000 - 27.000 tấn quả tươi [1] đến năm 2007, diện tắch trồng vải cả nước ựã ựạt 88.900 ha với sản lượng 428.900 tấn Sản xuất vải tập trung ở một số tỉnh như: Quảng Ninh (diện tắch 6.700 ha; sản lượng 22.465 tấn), Thái Nguyên (diện tắch 6.861 ha; sản lượng 17.219 tấn), Lạng Sơn (diện tắch 7.473 ha; sản lượng 12.684 tấn), Hải Dương (diện tắch 14.219 ha; sản lượng 47.632 tấn) Tỉnh có diện tắch và sản lượng lớn nhất là Bắc Giang (ựạt 39.835 ha chiếm 40,42% về diện tắch và 228.558 tấn chiếm 51,36 % sản lượng vải của cả nước) [34]
2.3.2 Tình hình tiêu thụ
Tổng sản lượng vải xuất nhập khẩu trên thị trường thế giới khoảng 100.000 tấn/năm Thị trường tiêu thụ vải lớn trên thế giới có thể nói ựến là thị trường Hồng Kông và Singapore Trong tháng 6 và tháng 7, thị trường này tiếp nhận khoảng 12.000 tấn vải từ Trung Quốc, đài Loan và Thái Lan đức
và Pháp nhập 10.000 - 12.000 tấn vải từ Madagasca và Nam Phi trong tháng
10 ựến ựầu tháng 3 năm sau Một lượng nhỏ ựược nhập từ Israel trong tháng 7 ựến tháng 8 và từ Austraylia trong tháng 10 ựến tháng 3 năm sau Sau năm
1980, vải từ Thái Lan, đài Loan, Trung Quốc ựược bán sang Châu Âu, năm
1990, một lượng nhỏ ựược xuất sang Ấn độ Vải hộp chất lượng tốt ựược xuất sang Malaixia, Singapore, Mỹ, Austraylia, Nhật và Hồng Kông [40]
Trang 28Năm 2000, Thái Lan xuất khẩu 12.475 tấn vải tươi và sấy khô trị giá 15,4 triệu đôla Mỹ sang Singapore, Hồng Kong, Malaysia và Mỹ [36]
Theo Xuming H., Lian Z (2003), gần một nửa sản lượng vải của Trung Quốc tiêu thụ tại thị trường nội ựịa Hàng năm, Trung Quốc chỉ xuất khẩu một lượng vải khoảng 10.000 ựến 20.000 tấn (chiếm khoảng trên 2% sản lượng vải) Thị trường xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là Hồng Kông, Singapore và một số nước đông Nam Á Giá vải của Trung Quốc giao ựộng
từ 0,5 ựến 2,5 USD/kg tuỳ thuộc vào chất lượng quả và thời vụ thu hoạch, cao nhất là giá của các giống No Mai Chee và Kwai May hạt nhỏ với giá 10,0 USD/kg, giá trung bình tại Singapore và Anh là 6 USD/kg; tại Nam Mỹ là 15 USD/kg [42], [49]
đài Loan hàng năm xuất khẩu khoảng 5.700 tấn vải cho các nước, trong ựó: Philippines: 2.000 tấn; Nhật: 1.000 tấn; Singapore: 500 tấn; Mỹ: 1.200 tấn; Canada: 1.000 tấn [49]
Austraylia là nước sản xuất vải với số lượng ắt, nhưng lại tập trung chủ yếu cho xuất khẩu Khoảng 30% sản lượng vải của Austraylia xuất khẩu cho Hồng Kông, Singapore, Châu Âu và các nước Ả rập Tuy nhiên, Austraylia lại phải nhập khẩu vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ
Thị trường nội ựịa là thị trường tiêu thụ vải tươi chủ yếu của hầu hết các quốc gia sản xuất vải trên thế giới Các nước hàng năm chỉ xuất khẩu một lượng vải rất nhỏ trên thị trường thế giới [42]
Ở Việt Nam, khoảng 75% sản lượng vải của cả nước ựược tiêu thụ ngay trong thị trường nội ựịa, phần còn lại ựược sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Các sản phẩm sơ chế và chế biến gồm vải sấy khô, vải lạnh ựông, vải nước ựường Thị trường xuất khẩu vải tươi còn rất hạn chế do nhiều nguyên nhân như: khả năng bảo quản của quả vải ngắn, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và ựiều kiện vệ sinh cơ sở hạ tầng sau thu hoạch còn hạn chế
Trang 29Thị trường tiêu thụ vải tươi chủ yếu ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh Vải sấy khô chủ yếu ñược bán sang Trung Quốc và một phần sang Lào, Campuchia Sản phẩm vải một phần ñược tiêu thụ qua các tổ chức thương mại, một phần do tư thương tổ chức thu mua, tiêu thụ Thị trường xuất khẩu vải của nước ta chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Mỹ, một số quốc gia khác trong khu vực và thị trường Châu
Âu [1], [2], [35]
2.4 Cơ sở sinh lý của việc hình thành hoa và quả ở vải thiều
2.4.1 Phân hoá mầm hoa
Quá trình phân hoá mầm hoa vải có thể chia thành 3 thời kỳ:
+ Thời kỳ hình thành
Trước khi phân hoá mầm hoa, chóp sinh trưởng có thể tích nhỏ, chồi ngọn cành mẹ vừa nhú hoặc sau khi nhú mầm Trong ñiều kiện thích hợp thì chóp sinh trưởng phình to thành hình bán cầu, ñó là thời kỳ hình thành nền hoa tự Thời kỳ này, yêu cầu các ñiều kiện môi trường thích hợp và ñiều kiện nội tại ñể các mầm nguyên thủy cảm nhận và phân hoá ðối với các giống chín sớm, thời kỳ này từ giữa tháng 10 ñến cuối tháng 11, giống chín chính vụ
và chín muộn từ giữa tháng 12 ñến cuối tháng 2
+ Thời kỳ phân hoá các cấp cành nhánh hoa tự
Nền hoa tự kéo dài thành trục chính của hoa tự hình trụ, ñồng thời phân hoá lá kép từ dưới lên trên, giữa nách lá sản sinh nền cành thứ nhất to, mập (trục bên), mắt thường dần dần nhìn thấy ở nách lá, cành non xuất hiện ngày càng nhiều các chấm trắng rõ rệt, giai ñoạn này thường gọi là trỗ bông
Do việc phân cành hoa tự phát sinh từ dưới lên trên, vào cuối kỳ phân hoá cành hoa tự, khi ñầu trục chính còn tiếp tục sản sinh cành nhánh mới thì trục chùm hoa nhỏ trên cành nhánh phát sinh sớm ở giữa và phía dưới ñã bắt ñầu phân hoá cơ quan hoa Như vậy, sự phân nhánh chùm hoa tự và quá trình phân hóa cơ quan hoa diễn ra ñồng thời [26], [29]
Trang 30+ Thời kỳ phân hoá các bộ phận của hoa
Trục chính hoa tự và ñầu cuối cành nhánh các cấp hình thành 3 hoa ðoạn ñầu của trục chính và cành nhánh thứ nhất, thứ hai thường chỉ có 1 hoa ở giữa có thể hoàn thành phát dục, hai hoa hai bên thường ngừng phát dục nửa vời nên trở thành trạng thái hoa ñơn Cơ quan hoa phân hoá từ ngoài vào trong theo thứ tự: ñài, nhị ñực, nhị cái, phần nhiều không thấy phân hoá cánh hoa
Hoa vải từ lúc bắt ñầu phân hoá mầm hoa cho ñến khi cơ quan hoa tự của cả chùm hoa hoàn thành phân hoá cần 3 - 4 tháng Quá trình từ khi phân hoá hoa ñến lúc hoa nở tiến hành liên tục không có giai ñoạn nghỉ giữa chừng
Theo nghiên cứu của Lương Vũ Nguyên (1986), trong quá trình phân hoá mầm hoa, với cây năm sai quả (hình thành hoa nhiều), hàm lượng IAA và gibberellin ở ngọn cành hơi thấp ðiều này chứng tỏ hàm lượng các chất này
thấp có lợi cho sự phân hoá mầm hoa
2.4.2 Sự phát triển của chùm hoa và quá trình nở hoa của vải
- Sự phát triển của chùm hoa
Tốc ñộ phát triển của chùm hoa phụ thuộc vào giống và vùng trồng Các giống chín sớm nói chung, chùm hoa xuất hiện vào tháng 12, nở hoa trong tháng 1; các giống chín chính vụ và chín muộn ra hoa vào cuối tháng 1, ñầu tháng 2, nở hoa vào tháng 3
Tỷ lệ ñậu quả của các loại chùm hoa có quan hệ khá chặt chẽ với thời tiết Thời gian ra hoa nếu không mưa, nắng ấm áp thì tỷ lệ ñậu quả của chùm ngắn cao Trái lại nếu thời tiết mưa, không có nắng thì chùm dài mọc ngoài tán do nhanh ñược gió thổi khô nước nên tỷ lệ ñậu quả cao Những chùm hoa ngắn mọc sâu trong tán lá khó bị gió thổi khô nước thậm chí còn làm cho hoa
bị thối nên tỷ lệ ñậu quả thấp [18], [26], [27], [29], [30]
- Loại hình nở hoa
Cây vải nở hoa theo thứ tự từ dưới lên Trên một chẽ hoa, hoa ở giữa
Trang 31nở trước rồi ñến hoa 2 bên nở sau Trong cùng một chùm, thời gian hoa ñực
nở rộ và hoa cái nở rộ cũng không khớp nhau
Hoa cái của cây vải thường chiếm khoảng 30% trở xuống Có những giống tỷ lệ hoa cái ñạt trên 50% Hoa vải nở cả ngày và ñêm nhưng thông thường, lượng hoa nở từ 8 giờ sáng ñến 4 giờ chiều chiếm 70% tổng lượng hoa nở cả ngày và ñêm Trong cùng một ngày, lượng phấn hoa tung từ 8 giờ sáng ñến 2 giờ chiều chiếm nhiều nhất Hoa cái nở chủ yếu vào buổi sáng, buổi trưa, còn buổi chiều nở rất ít Quá trình nở hoa thường kéo dài 15 - 20 ngày [16], [33]
2.4.3 Quá trình ñậu quả và quá trình phát triển của quả vải
- Quá trình ñậu quả
Tỷ lệ ñậu quả của vải phụ thuộc vào nhiều các yếu tố khác nhau: ñặc tính ra hoa, môi giới truyền phấn, ñiều kiện nhiệt ñộ, ñộ ẩm, lượng mưa hay hàm lượng các chất dinh dưỡng cũng như các loại phytohoocmon trong cây
Quá trình ñậu quả của vải xảy ra phụ thuộc nhiều vào sự thụ phấn và thụ tinh Quá trình thụ tinh diễn ra khi hạt phấn bắt ñầu nảy mầm và hình thành ống phấn Ống phấn kéo dài, gặp noãn ñể tiến hành quá trình thụ tinh và hình thành phôi Thời kỳ này, gặp thời tiết không thuận lợi (mưa nhiều) có thể xảy ra hiện tượng vỡ ống phấn khi ñang kéo dài gây khó khăn cho thụ tinh hoặc xảy ra quá trình thụ tinh không hoàn toàn dẫn ñến rụng quả trong quá trình phát triển Ngoài ra, môi giới truyền phấn (côn trùng, gió ) cũng ñóng vai trò tích cực trong việc làm tăng tỷ lệ ñậu quả [26], [27]
- Giai ñoạn phát triển của quả
Nghê Diệu Nguyên (1991) [18, 87-93], khi quan sát trên các giống vải Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và vải Nếp cho thấy: sau khi thụ tinh xong, bầu nhụy bắt ñầu phát triển Tiến trình phát triển của quả vải ñược chia làm ba giai ñoạn: Giai ñoạn phát triển của phôi, giai ñoạn tăng tưởng của lá mầm và giai ñoạn tăng trưởng của cùi và chín quả
Trang 32- Sự rụng quả: Quả vải có ba thời kỳ rụng quả tập trung: rụng quả non (rụng quả sinh lý ñợt 1), rụng quả ñang phát triển (rụng quả sinh lý ñợt 2) và rụng quả trước khi thu hoạch
Nguyên nhân rụng quả là do quá trình thụ tinh không hoàn toàn, sự tranh chấp dinh dưỡng và nước, thiếu auxin nội sinh và quan trọng là do ñiều kiện thời tiết bất thuận
2.5 Etylen và ứng dụng cho cây ăn quả
2.5.1 Etylen [22], [24]
Etylen là một phytohormon ở dạng khí có công thức hóa học ñơn giản là: CH2=CH2 Nó ñược hình thành trong tất cả tế bào, nhưng nhiều nhất là mô già và ñặc biệt là trong quả ñang chín và cơ quan sắp rụng Khác với các phytohormon khác ñược vận chuyển trong hệ thống mạch, etylen chỉ vận chuyển bằng con ñường khuếch tán qua các tế bào
Etylen có vai trò ñiều chỉnh nhiều quá trình phát triển quan trọng trong cây Hiệu quả ñặc trưng nhất của etylen là ñiều chỉnh quá trình chín của quả Hàm lượng etylen trong quả quyết ñịnh tốc ñộ mức ñộ chín của quả Với các quả hô hấp bột phát thì hàm lượng etylen tăng rất nhanh và gây nên sự chín nhanh của quả Vì vậy người ta gọi etylen là “hocmon của sự chín”
Etylen ñiều chỉnh sự rụng của cơ quan như lá, hoa và quả Etylen hoạt hóa sự tổng hợp các enzym phân hủy thành tế bào như xelulaza, pectinaza làm tầng rời xuất hiện nhanh chóng
Etylen kích thích sự ra hoa, ñặc biệt là sự ra hoa trái vụ Hiệu quả này rất quan trọng trong việc ñiều chỉnh sự ra hoa của cây ăn quả
Ngoài ra etylen là hocmon gây ra giới tính cái, nên nó thường ñược sử dụng ñể tăng số lượng hoa cái cho cây ăn quả
2.5.2 Ethrel và ứng dụng cho cây ăn quả
Ethrel là một chất ñiều hòa sinh trưởng tổng hợp ñược sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất nhất là ngành cây ăn quả Etylen ở dạng khí nên không
Trang 33thể sử dụng trực tiếp cho cây trồng, vì vậy mà người ta tổng hợp nên một chất
ở dạng lỏng có chứa etylen là CEPA (Clor Etylen Photphoric Axit) có tên thương mại là ethrel hay ethephon
Ethrel ñược sử dụng rộng rãi cho các cây ăn quả:
- ðiều chỉnh quá trình chín của quả ở trên cây hoặc sau thu hoạch Xử
lý ethrel làm quá trình chín nhanh, mẫu mã quả ñẹp và không gây ñộc hại
- Một hiệu quả mà ethrel ñược sử dụng nhiều nhất ñối với cây ăn quả là ñiều chỉnh sự ra hoa ñậu quả và tăng năng suất quả
Các nghiên cứu ethrel về ñiều chỉnh ra hoa trái vụ của dứa: Trong sản xuất dứa hiện nay người ta sử dụng ethrel ñể xử lý ra hoa với liều lượng khoảng 4 kg chất hữu hiệu pha trong 1.000 lít nước phun cho 1 ha dứa Ưu ñiểm sử dụng ethrel xử lý ra hoa dứa là: Thời ñiểm xử lý có thể vào ban ngày
Trang 34và chỉ cần phun 1 lần, khối lượng thuốc cần ít, quả phát triển bình thường, ñường kính lõi bé [21, 147-149]
ðối với cây hồng sử dụng ethrel ñể phun vào thời kỳ rụng lá tự nhiên thì lá của cây rụng nhanh hơn, chỉ sau 6-9 ngày lá hồng rụng hoàn toàn, trong khi ñó nếu không phun ethrel ñể rụng tự nhiên phải mất 18 ngày Phun ethrel cho cây hồng còn làm cho lộc ra tập trung, nâng cao tỷ lệ cành mang hoa cái [21]
ðối với cây vải sử dụng ethel phun cho vải có tác dụng làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ ñậu quả Nồng ñộ ethrel thích hợp phun cho vải là 1000 ppm [21, 154] Trong một công trình nghiên cứu trên giống vải Phú Hộ, Nguyễn Thị Thanh và cộng sự [33, 30-37] ñã tiến hành phun ethrel vào trung tuần tháng 11, lúc cành mẹ mang quả- cành thu ñã thành thục, chuẩn bị vào giai ñoạn tiền phân hóa hoa Kết quả thu ñược cho thấy phun ethrel làm nâng cao số cành ra hoa, giúp giảm số hoa/chùm, nhưng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ ñậu quả ñều tăng lên Tác giả Nguyễn Văn Dũng, trong các thực nghiệm tiến hành trên giống vải chín sớm Yên Hưng, ñã sử dụng ethrel
ñể diệt lộc ñông, góp phần thúc ñẩy quá trình phân hóa mầm hoa Kết quả ñã
có tác dụng diệt lộc ñông tốt ở nồng ñộ phun 800 và 1000 ppm [8, 81-84]
Ngoài ra người ta còn sử dụng ethrel ñể ñiều chỉnh giới tính tăng số lượng hoa cái cho: bầu bí, dưa chuột, dưa hấu, nhãn, vải
Trang 353 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 địa ựiểm, vật liệu và thời gian nghiên cứu
3.1.1 địa ựiểm nghiên cứu
Nghiên cứu ựược tiến hành tại vườn cây ăn quả, Trung tâm Giống Cây
ăn quả- cây lâm nghiệp tỉnh Bắc Giang
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Giống vải Bình Khê: đây là giống ựã ựược Bộ Nông nghiệp và PTNT
công nhận giống chắnh thức năm 2005:
Giống vải này có nguồn gốc: Xã Bình Khê - Huyện đông Triều - Tỉnh Quảng Ninh
đặc ựiểm giống:
Cây sinh trưởng rất khỏe, tán cây hình bán cầu dẹt, lá có mầu xanh tối Khối lượng quả trung bình lớn 33,5g (28 - 35 quả/kg), tỷ lệ phần ăn ự-ược trung bình 71,5%, ựộ Brix 17 - 20% Năng suất trung bình cây 30 tuổi 94,2kg/cây (12 - 15 tấn/ha) Thời gian cho thu hoạch 5/5 - 15/5
Mắt ghép của giống vải Bình Khê ghép cải tạo trên giống vải thiều 5 năm tuổi, từ lúc ghép ựến nay ựược 3 năm và có thể coi giống vải này là 8 năm tuổi
- Ethrel: dạng nước, ựóng trong lọ nhựa 5 ml và 1 lắt, hoạt chất 48% của Trung Quốc Công thức: Cl-CH2-CH2-H2PO3;
Khi hòa tan ethrel trong nước xảy ra phản ứng:
Cl-CH2-CH2-H2PO3 + H20 C2H4 + H2PO4- + Cl-
C2H4 có tác dụng kắch thắch phân hóa hoa
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7 năm 2010 ựến tháng 10 năm 2011
Trang 363.2 Nội dung nghiên cứu:
- đánh giá hiện trạng sản xuất vải chắn sớm tại tỉnh Bắc Giang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa tán ựến khả năng ra hoa
và hình thành quả của giống vải chắn sớm Bình Khê
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ ựến khả năng ra hoa hình thành quả
- Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý ethrel ựến ra hoa và hình thành quả của giống vải chắn sớm
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trắ thắ nghiệm
năng ra hoa, hình thành quả của giống vải chắn sớm Bình Khê:
Thắ nghiệm gồm 4 công thức:
+ Công thức 1: đối chứng cây vải không cắt tỉa (sau khi thu hoạch quả vẫn tỉa cành tăm theo quy trình chăm sóc)
+ Công thức 2: Cắt tỉa khi lộc thu dài 5-7 cm, tỉa bỏ chỉ giữ lại 2-3 lộc
to khỏe, không bị sâu bệnh/cành
+ Công thức 3: Cắt tỉa lộc thu kết hợp tỉa hoa Tỉa lộc thu kết hợp với tỉa các hoa dị dạng, hoa nhỏ, hoa bị sâu bệnh, thời gian tỉa hoa ở giai ựoạn cây
ra hoa
+ Công thức 4: Cắt tỉa lộc thu kết hợp tỉa hoa và quả Tỉa bỏ toàn bộ quả nhỏ, quả dị dạng, quả sâu bệnh ựể quả ựược phân bố ựều trên chùm Thời gian tỉa quả khi rụng quả sinh lý lần 2
Thắ nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời ựiểm khoanh vỏ ựến
khả năng ra hoa, hình thành quả
Thắ nghiệm gồm 3 công thức:
+ Công thức 1: đối chứng (cây vải không khoanh vỏ)
Trang 37+ Công thức 2: Khoanh 1 lần vào ñầu tháng 11 khi lộc ñã thành thục + Công thức 3: Khoanh cành khi quả mới ñược hình thành
Khoanh các cành cấp 1, dùng dao sắc hoặc dụng cụ chuyên dụng khoanh bỏ hết lớp vỏ ñến phần gỗ, chiều rộng vết khoanh 0,3 cm, sau ñó xử
lý thuốc nấm bệnh
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý ethrel ñến ra hoa hình
thành quả của giống vải chín sớm
Thí nghiệm gồm 4 công thức:
+ Công thức 1: ðối chứng (phun nước lã)
+ Công thức 2: Phun dung dịch ethrel nồng ñộ 400 ppm
+ Công thức 3: Phun dung dịch ethrel nồng ñộ 600 ppm
+ Công thức 4: Phun dung dịch ethrel nồng ñộ 800 ppm
Phun vào thời ñiểm ñầu tháng 11, phun ướt toàn bộ tán cây
Các thí nghiệm ñược bố trí theo khối ngẫu nhiên trên vườn trồng sẵn với
3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại gồm 3 cây Trên mỗi cây có các lần nhắc lại cho các chỉ tiêu theo dõi, trong ñó số lần nhắc lại tuỳ thuộc vào tổng chỉ tiêu
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác ñịnh:
* ðối với lộc:
+ Thời gian xuất hiện lộc: 10% số cây bắt ñầu có lộc (ngày)
+ Thời gian ra lộc rộ: 70% số cây kết thúc xuất hiện lộc (ngày)
+ Chiều dài lộc (cm), ñường kính lộc (cm), số lá trên lộc thành thục (lá)
* Các chỉ tiêu về hoa:
- Tỷ lệ ra hoa (%), tỷ lệ cành ra hoa (%)
- Thời gian ra hoa: Thời gian xuất hiện hoa (10% số cây ra hoa), thời gian nở hoa rộ (70% số cây nở hoa) và kết thúc nở hoa (80% số cây kết thúc nở hoa)
- Kích thước chùm hoa: Chiều dài chùm hoa, chiều rộng chùm hoa, số nhánh phụ trên chùm hoa
Trang 38- Tỷ lệ hoa ñực, tỷ lệ hoa cái + hoa lưỡng tính:
Tổng số hoa cái + hoa lương tính/chùm
Tỷ lệ hoa cái + lưỡng tính(%) = x 100
Tổng số hoa trên chùm
* Các chỉ tiêu về quả:
- Tỷ lệ ñậu quả ban ñầu (sau khi tắt hoa ban ñầu)
Tổng số quả sau tắt hoa
Tỷ lệ ñậu quả(%) = x 100 Tổng số hoa cái + hoa lưỡng tính + hoa ñực
- Tỷ lệ rụng quả sau khi tắt hoa 15; 30; 45; 60 ngày và trước khi thu hoạch
Thành phần cơ giới của quả: Lấy 30 quả trên 1 công thức ñể theo dõi các chỉ tiêu:
- Khối lượng quả (g/quả)
Trang 39- Mầu sắc hình dạng quả
- Số quả/chùm: Mỗi cây lấy 4 chùm theo 4 hướng
- Số quả/cây = Số quả/chùm x số chùm/cây
* Phân tích chất lượng quả:
Phân tích các chỉ tiêu chất lượng quả bao gồm:
+ ðộ Brix: Dùng Brix kế
+ Hàm lượng ñường tổng số: Phương pháp Bectran
+ Hàm lượng Vitamin C: Phương pháp quang phổ
+ Hàm lượng Axit tổng số: Theo phương pháp chuẩn ñộ
(Các chỉ tiêu về chất lượng quả ñược phân tích tại Viện Nghiên cứu Rau quả)
* Tính hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế = Tổng thu nhập/ ha – tổng chi phí/ ha
3.3.3 Phương pháp quan trắc và biện pháp kỹ thuật tác ñộng
* Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các số liệu về hiện trạng
phát triển vải của Bắc Giang thông qua niên giám thống kê của Cục Thống kê
tỉnh Bắc Giang ðề án: “Cơ cấu lại giống vải tỉnh Bắc Giang giai ñoạn
2006-2010” và các báo cáo kết quả sản xuất vải tỉnh Bắc Giang của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang từ năm 2005 ñến năm 2010
* Phương pháp quan trắc:
- Các chỉ tiêu sinh học:
Theo dõi trực tiếp ngoài ñồng ruộng theo phương pháp thí nghiệm trên cây lâu năm, lấy mẫu ñại diện bằng cách ñánh dấu cây theo dõi
Trang 40Lượng phân bón (g/cây) Lần
bón
Thời gian và mục ñích bón
Năm tuổi ðạm
Urê
Lân Supe
Kali Clorua
Phân chuồng (kg)
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm
Số liệu thu thập ñược xử lý theo phương pháp thống kê toán học và chương trình IRRISTAT 4.0 trên máy tính bao gồm:
- Phân tích phương sai sai số thí nghiệm (CV%)
- Kiểm tra sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD 5% và LSD 1%)