Nó trang bị cho học sinh vốn từ ngữ phong phú,phương pháp sử dụng từ, đặt câu một cách chính xác, để giúp các em có thể diễnđạt được tư tưởng, tình cảm của mình một cách rõ ràng, bổ sung
Trang 1MỤC LỤC
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :……….Trang 2
a/ Cơ sở lí luận : ……….Trang 2b/ Cơ sở thực tiễn : ……….Trang 4II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :……….Trang 5
1/ Những thuân lợi và khó khăn - biện pháp giải quyết: ………Trang 5a/ Thuận lợi : ……… Trang 5b/ Khó khăn :……… Trang 5c/ Biện pháp giải quyết: ……….Trang 6III/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI : ………Trang 7IV/ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:……… Trang 18V/ KẾT LUẬN: ……… Trang 18
Trang 2I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
a) Cơ sở lý luận :
Truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam ta đã có từ lâu đời Chúng taphải học như thế nào để đạt được kết quả tốt, phát huy toàn diện về đức, trí, thể,
mĩ và công, dung, ngôn, hạnh…
Dạy học giúp phát triển năng lực và tính cách Ông cha ta thường khuyênbảo con cháu “Ăn vóc học hay” tận dụng mọi cơ hội để học, vừa học theo bài bản
“ Học ăn, học nói, học gói, học mở” vừa kết hợp với thực tiễn
“Đi một ngày đàng học một sáng khôn” lại cần phải tìm ra phương pháphọc cách học sao cho “ Học đi đôi với hành”
Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vìlợi ích trăm năm trồng người” Trồng người là sự nghiệp của toàn Đảng , toàndân trong đó ngành giáo dục giữ vai trò quan trọng hàng đầu Làm thế nào để sựnghiệp trồng người mang lại nhiều kết quả tốt? làm thế nào để có lớp người côngdân làm chủ đất nước có cả đức lẩn tài? Bởi “Có đức mà không có tài , làm việc
gì cũng khó – có tài mà không có đức là người vô dụng”
Song song với việc dạy chữ cho học sinh cần hết sức quan tâm việc “ dạyngười” Tiên học lễ, hậu học văn chân lí đó không bao giờ phai nhạt Việc giáodục tư tưởng đạo đức cho học sinh trong nhà trường là trách nhiệm của tất cả các
bộ môn mà trong đó môn ngữ văn đóng vai trò quan trọng
Việc giáo dục này cần được tiến hành một cách chu đáo ở tất cả các cấphọc, các lớp học
- Giáo dục là một loại hình cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giaocho các thế hệ kế tiếp những giá trị tinh thần của loài người đã được tích luỹ vàphát triển trong nhiều năm, đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu chomỗi cá nhân và cả cộng đồng
- Muốn nâng cao chất lượng dạy và học chúng ta cần đổi mới phương phápdạy và học, giúp phát triển ở học sinh năng lực hoạt động trí tuệ nhất là năng lực
tư duy, sáng tạo Tuyên truyền tri thức mới một cách hệ thống, chính xác phù hợpvới yêu cầu kiến thức đã học, quy định đối với từng tiết học phát huy trí lực và sự
Trang 3chủ động, sáng tạo của học sinh.
Bộ môn tiếng việt trong chương tình giảng dạy ở bậc trung học cơ sở cómột vị trí đặc biệt quan trọng Nó trang bị cho học sinh vốn từ ngữ phong phú,phương pháp sử dụng từ, đặt câu một cách chính xác, để giúp các em có thể diễnđạt được tư tưởng, tình cảm của mình một cách rõ ràng, bổ sung cho vốn sống củacác em một cách đầy đủ và phong phú hơn ở thực tại cũng như cho tương lai
Môn văn gắn bó nhiều nhất với nghệ thuật, một hoạt động kì diệu của conngười, một lĩnh vực của tình cảm của trực giác của tưởng tượng và của cái đẹp
Học văn vừa là học vừa là sống, phát triển năng lực văn học là phát triểnnăng lực sống, phát triển cá nhân do đó cũng phát triển con người, năng lực làmngười hiểu theo nghĩa bao quát của nó
Dạy môn văn học là chúng ta bồi dưỡng cho học sinh về nhiều mặt, trauđồi kiến thức về ngôn ngữ, về văn học, đời số tình cảm Giáo dục học sinh vềnhân cách, phẩm chất đạo đức lối sống
Tôi quan niệm tiếng việt là phân môn quan trọng bậc nhất của môn ngữvăn đòi hỏi và thử thách bản lĩnh của người giáo viên dạy văn, tiếng việt là quátrình tìm hiểu, phân tích khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương, giờ dạy vàhọc tiếng việt là cuộc tìm kiếm, đào bới và phát hiện những điều mới lạ của ngônngữ giao tiếp do đó đối tượng của phân môn là các mẫu chuyện các lời thoại,những từ, ngữ và câu trau dồi thêm vốn từ ngữ cho học sinh, giúp học sinh giaotiếp tốt với mọi người với xã hội, sử dụng từ ngữ để diễn dạt một cách chính xác,tinh tế phù hợp, đúng nơi, đúng chỗ đúng đối tượng
Văn học phản ánh đời sống bằng ngôn ngữ hình tượng, chính xác hàmxúc, đa nghĩa, tạo hình và biểu cảm, ngôn ngữ được xem là “ Yếu tố thứ nhất” củavăn học trong đó phân môn tiếng việt hổ trợ rất nhiều trong việc trau dồi vốn từ
Trang 4dồi vốn từ và phải cách sử dụng đúng người, đúng cảnh.
Người giáo viên dạy văn và người học văn cần phải hiểu rằng Trong vănhọc ngôn ngữ cần đảm bảo sự tinh tế, chính xác, đúng ngữ cảnh, có khả năng gợi
mở và phát triển cảm xúc theo hướng mới
Học tốt môn văn sẽ giúp các em hình thành tốt nhân cách, rèn luyện tốtphẩm chất đạo đức, hiểu rõ được giá trị tình cảm đạo đức lành mạnh, thúc đẩy các
em rèn luyện để có những phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội, từ đóđược mọi người yêu thương, tôn trọng
Giáo viên dạy văn phải khuyến khích học sinh đọc nhiều sách báo để tíchluỹ vốn kiến thức, vốn sống cho mình, bởi môn văn mang tính giáo dục cao, vềtình yêu yêu quê hương đất nước, con người về đạo đức lối sống, cách đối nhân
xử thế …
Muốn học tốt môn văn ta cần đọc nhiều sách, báo mang tính giáo dục caotrong cuộc sống, cần phải có phương pháp học tập tốt mới mong đạt kết quả caotrong học tập
b) Cơ sở thực tiễn :
Chương trình tiếng việt lớp 9 tập 1 có bài các phương châm hội thoại tôithấy rất thú vị khi dạy bài học này, bởi qua đây chúng ta rèn luyện cho các em kĩnăng giao tiếp trong cuộc sống
Môn tiếng việt áp dụng được nhiều vào thực tế, về giao tiếp, đối thoạicách trình bày một sự việc Một vấn đề giúp học sinh dùng từ, đạt câu chính xác,
rõ ràng Giúp học sinh giao tiếp tốt hơn trong từng hoàn cảnh, cách nói năng,xưng hô phù hợp với từng đối tượng, vai vế trong gia đình, ngoài xã hội
Nhưng từ thực tế cho thấy chất lượng môn ngữ văn chưa cao Nhiều họcsinh khi trình bày một bài văn còn lủng củng, đặt câu không đúng, diễn đạt ý lungtung, đặt dấu câu không đúng chổ, cấm phẩy tuỳ tiện, lộn xôn…
Nguyên nhân có thể kể nhiều nhưng trong những nguyên nhân chủ yêu đểdẫn đến tình trạng trên là do học sinh yếu về môn tiếng việt Vậy làm thế nào đểnâng cao chất lượng bộ môn này
Qua nhiều năm giảng dạy môn ngữ văn ở bậc trung học cơ sở, qua suy
Trang 5nghĩ và kinh nghiệm của bản thân, tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm nhỏ khidạy phần môn tiếng việt để tiết dạy đạt kết quả cao hơn, nhờ vậy chất lượng họctập của các em được nâng cao hơn
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
1/ Những thuận lợi và khó khăn - biện pháp giải quyết.
a/ Thuận lợi :
Được sự chỉ đạo và quan tâm của sở giáo dục – đào tạo , phòng giáo dụchuyện, ban giám hiệu và công đoàn trường sự nhiệt tình giúp đỡ của các đồngnghiệp
Đa số học sinh là con nhà nông , các em ngoan hiền, vâng lời thầy cô,chấp hành tốt nội quy của trường
Tất cả các em học sinh đều có đầy đủ trọn bộ sách giáo khoa, đó là điềucần thiết để các em học bài , làm bài tập, soạn bài trước ở nhà
Phần lớn cách em rất thích đọc sách – báo theo dõi tin tức thời sự trênnhiều phương tiện thông tin đại chúng, điều đó bổ sung cho môn văn rất nhiều.Các em cũng rất thích tìm tòi khám phá cái hay, cái mới từ sách vở mang lại
Về phía nhà trường: trang thiết bị đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên,sách tham khảo, đồ dùng dạy học (tranh ảnh, tư liệu màu sác đẹp, rõ nét, cho giáoviên, học sinh, ngoài ra giáo viên còn tự làm đồ dùng dạy học sưu tầm tranh,ảnh… thuận lợi cho việc dạy và học
b/ Khó khăn :
Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh không đồng đều, một số
em chưa có ý thức tốt trong học tập tiếp thu kiến thức còn chậm, nên việc tự họcrất hạn chế
Phần lớn các em là con gia đình nhà nông ngoài giờ lên lớp còn phải phụgiúp gia đình việc nhà, nên việc học ở nhà còn rất ít thiếu sự quan tâm của cácbậc phụ huynh, cha mẹ các em lo bươn chảy kiếm sống, trình độ học vấn thấp nênkhó khăn trong việc giáo dục các em…
Một số phụ huynh có quan niệm không đúng đắn, họ nghĩ rằng việc họckhông phải là con đường duy nhất để các em tiến thân, nên cũng không quan tâm
Trang 6cố gắng nghiên cứu thực hiện đề tài của mình
c/ Biện pháp giải quyết :
Trước tiên người thầy phải nhiệt tình giảng dạy, thật sự tha thiết với trò,say mê nghề nghiệp, người thầy đem hết năng lực ra giảng dạy, vượt qua mọi cảntrở, khó khăn, nhẫn nại, chịu khó đầu tư soạn giảng, đổi mới phương pháp giảngdạy cho phù hợp với trình độ học sinh, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn để các em hamhọc hỏi và chịu khó cố gắng học tập
Trong quá trình giảng dạy thầy cô luôn chú ý theo dõi phát hiện những em
có nhiều tiến bộ, tuyên dương, khen thưởng các em trước tập thể lớp để động viêntinh thần học tập của các em và khuyến khích các em khác noi theo
Đầu tư soạn bài tiếng việt sao cho phù hợp với từng dối tượng học sinh,những lời thoại, những mẫu chuyện mang tính thực tế, hấp dẫn lôi cuốn, dùngphương pháp gợi mở giúp các em tiếp thu dần dần
Giáo viên trao đổi với các em học sinh học yếu môn văn, tìm hiểu nguyênnhân cũng như nắm bắt được hoàn cảnh gia đình của các em
Trong những giờ lên lớp, tôi luôn chú ý đến các em học sinh thuộc diệnyếu kém, có những câu hỏi hoặc bài tập dành riêng cho các em, để các em có thểtiếp thu và làm bài được không cảm thấy tự ti vỉ thua sút các bạn khác
Trang 7Trong những giờ dạy tiếng việt tôi thường đưa ra những ví dụ, những mẫuchuyện từ thực tế cuộc sống những vấn đề liên quan đến đối tượng học sinh đểcác em dễ tiếp thu, giới thiệu cho các em những cuốn sách hay bổ ích cần đọc, từ
đó khơi dậy trong lòng các em học sinh niềm đam mê văn học, và tôi nhận thấycác em học sinh ngày càng yêu thích môn văn hơn
Ngày nay, trong bối cảnh thế giới và đất nước đổi mới nhanh chóng, khoahọc công nghệ phát triển mạnh đòi hỏi mỗi người giáo viên cần trang bị cho mìnhnhững kiến thức sâu rộng, tiếp cận với cái hiện đại, tiên tiến nhất
Ngoài thầy và sách học sinh có thể tích luỹ kiến thức trong cuộc sống, quabạn bè, gia đình và xã hội
III/ NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
BÀI : CÁC PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI
Qua bài các phương châm hội thoại giúp các em nắm được nội dung củaphương châm về lượng, phương châm về chất phương châm quan hệ, phươngchâm cách thức và phương châm lịch sử
Biết vận dụng những phương châm này trong giao tiếp, giúp các em giaotiếp phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh, môi trường
2/ Chuẩn bị :
- Những lời thoại
- Những tình huống giao tiếp
- Những mẫu truyện cười
- Tranh, ảnh minh hoạ
Trang 8b) Kiểm tra bài cũ : ( có thể kiểm tra sự chuẩn bị - tập bài soạn của học sinh– vì đây là bài đầu tiên trong chương trình).
c) Bài mới :
Từ kiểm tra bài cũ chuyển ý Ở chương trình tiếng việt lớp 8, các em đãđược học một số bài có nội dung liên quan đến hội thoại như: hành động nói, vaigiao tiếp, lượt lời trong hội thoại Tuy nhiên, trong giao tiếp có những quy địnhtuy không được nói ra thành lời nhưng những người tham gia vào giao tiếp cầnphải tuân thủ, nếu không thì dù câu nói không mắc lỗi gì, về ngữ âm, từ vững vàngữ pháp, giao tiếp cũng không thành công Những quy định đó được thể hiệnqua các phương châm hội thoại mà chúng ta tìm hiểu trong bài học này
d) Tiến trình tồ chức các hoạt động
Hoạt động 1
Tìm hiểu phương châm về lượng
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc
đoạn hội thoại
Khi An hỏi “ học bơi ở đâu?” mà ba trả
lời “ở dưới nước” thì câu trả lời có
mang đầy đủ nội dung mà An cần biết
không?
HS: trả lời và cần phân tích rõ vì sao
trả lời như vậy
Gv: nêu câu hỏi gợi ý thêm “ Bơi”
nghĩa là gì? di chuyển trong nước
hoặc trong hoặc trên mặt nước bằng cử
động của cơ thể
Nếu nói mà không có nội dung như
thế thì có thể coi đây là một câu nói
bình thường được không ?
Hs: tìm hiểu trả lời
I/ Phương châm về lượng:
Ví dụ 1: Đoạn hội thoại
An: - Câu có biết bơi không ? Ba: - Biết chứ, thậm chí còn bơi giỏi
An :- Cậu học bơi ở đâu vậy ?
Ba : - Dĩ nhiên là ở dưới nước chữ còn
ở đâu
Trong trường hợp này An cần câu trảlời cụ thể một địa điểm bơi nào đó
Trang 9Gv: chốt ý.
Câu trả lời của ba không mang đầy
đủ nội dung mà An cần biết, vì trong
nghĩa của “ Bơi” đã có “Ở dưới nước”
điều mà An muốn biết là một địa điểm
cụ thể nào đó như ở hồ bơi, sông …
Nói mà không có nội dung như thế là
một hiện tượng không bình thường
trong giao tiếp, vì câu nói ra trong giao
tiếp bao giờ cũng chuyển tải một nội
dung nào đó
Giáo viên:
Ba không trả lời vào điều An muốn
hỏi hoặc do Ba không hiểu, hoặc do Ba
muốn tránh câu trả lời nhằm mục đích
nào đó (để vui đùa để không nói ra sự
- Khi nói , câu nói phải có nội dung
đúng với yêu cầu giao tiếp Nếu không
cuộc đối thoại sẽ không thành công
Trong giao tiếp cũng không nên nói
nhiều hơn những gì giao tiếp đòi hỏi,
chúng ta cùng nhau tìm hiểu truyện
cười “ Lợn cưới áo mới”
- Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung,nội dung của lời
Nói phải đáp ứng yêu cầu của cuộc giaotiếp
Trang 10Hoạt động 2:
GV: Gọi học sinh đọc truyện cười
Học sinh tìm hiểu rồi trả lời câu hỏi
Vì sao truyện này lại gây cười ?
HS: Trả lời
GV: Kết luận Vì hai nhân vật trong
truyện nói nhiều hơn rất nhiều những gì
cần nói (Thừa thông tin)
Như vậy ta thấy Anh “ lợn cưới” chỉ
cần hỏi như thế nào
- Bác có thấy con lợn nào chạy qua đây
Như vậy, chúng ta cần phải tuân thủ
điều gì khi giao tiếp
Lợn Cưới Áo Mới
Có anh tính hay khoe Một hôm mayđược cái áo mới, liền đem ra mặc, rồiđứng hóng ở cửa đợi có ai đi qua người
ta khen Đứng mãi từ sáng tới chiều chảthấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm
- Đang tức tối, chợt thấy một anh , tínhcũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to
- Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy
ra đây không?
Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra bảo
- từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôichẳng thấy con lợn nào chạy qua đâycả
( theo truyện cười dân gian việt nam)
Không nên nói nhiều hơn những gì cầnnói
Trang 11giáo khoa nên giáo viên đọc truyện cười
“quả bí khổng lồ” (SGK trang 9 và 10)
Truyện cười này phê phán điều gì?
- phê phán tính nói khoác
vì sao ? vì trong thực tế không có quả bí
nào to bằng cái nhà và cũng không có
cái nồi đồng nào to bằng cái đình làng
Như vậy trong giao tiếp có điều gì cần
giao tiếp hàng ngày
Các nhóm thảo luận bàn bạc, đại diện
báo điều đó với các bạn không ?
Ví dụ 2: nếu không biết chắc vì sao bạn
mình nghĩ học thì em có trả lời với thầy
cô là bạn ấy nghỉ học vì bị ốm không?
Hs: tìm hiểu trả lời
II/ Phương châm về chất
Ví dụ : quả bí không lồ
Có thể tòm tắt truyện như sau
- Hai anh chàng đi qua một khu vườntrồng bí…
Anh bạn có tình hay nói khoác, cười
mà bảo rằng: tôi đã từng thấy… mộtquả bí to bằng cái nhà
Anh kia nói ngay
- Tôi còn nhớ một bận tôi trông thấymột cái nồi đồng to bằng cả cái đìnhlàng ta
* Ghi nhớ :
- Khi giao tiếp, đừng nói những gì màmình tin là không đúng sự thật
=> Đừng nói những gì mà mình không
Trang 12Gv: chốt ý
Trong giao tiếp đừng nói những điều
mà mình không có bằng chứng xác
thực
Gv: yêu cầu học sinh so sánh để làm
rõ sự khác nhau giữa yêu cầu được nêu
ở (phần 1 và 2)
sự khác nhau giữa yêu cầu đừng nói
những điều mà mình tin là không đúng
sự thực với yêu cầu đừng nói những
điều mà mình không có bằng chứng xác
thực ?
Sau khi học sinh trả lời xong
Gv: Chốt lại
Đừng nói những điều mà mình tin là
không đúngsự thực không nên nói
những gì trái với điều mà ta nghĩ
Đừng nói những điều mà mình không
có bằng chứng xác thực không nên nói
những gì mà mình chưa có cơ sở xác
định là đúng Nếu cần nói điều đó thì
phải nói cho người biết rằng tính xác
thực của điều đó chưa được kiểm
chứng Chúng ta có thêm một trong các
cụm từ ( hình như, dường như , tôi nghĩ
là… vào điều mình nói )
Giáo viên hệ thống lại kiến thức và
cho học sinh đọc ghi nhớ SGK trang10
có bằng chứng xác thực
VD: nếu không biết chắc vì sao bạnmình nghĩ học thì không nên nói vớithầy cô là bạn ấy ốm
Nên nói : thưa thầy cô hình như … hoặc
em nghĩ là bạn ấy bị ốm
Ghi nhớ (sgk)
III/ LUYỆN TẬP