Tổn thất do sâu bệnh hại trên cây sắn gây ra hàng năm là rất to lớn.Theo tính toán của các nhà khoa học, tại châu Phi vùng trồng sắn chính củathế giới, mức thiệt hại do bệnh khảm sắn CMD
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỘT SỐ SÂU BỆNH CHÍNH HẠI SẮN
1. MỞ ĐẦU
Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực đang trở thành
cây công nghiệp hàng hóa có tính cạnh tranh cao của nhiều nước trênthế giới Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Quốc tế (FAO) trongthông cáo báo chí ngày 28 tháng 5 năm 2013 đã khẳng định sắn là câytrồng tiềm năng của thế kỷ 21 FAO khuyến khích các nước bảo tồn vàphát triển sắn bằng cách xây dựng mô hình canh tác sắn bền vững, thânthiện với môi trường Cây sắn đã gia tăng sản lượng 60% trên phạm vitoàn cầu kể từ năm 2000 và đã được cộng đồng quốc tế thiết lập chươngtrình sắn toàn cầu để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển trong thập kỷ hiệntại
Tính đến nay trên thế giới có hơn 100 nước trồng sắn với tổng diệntích đạt 19,64 triệu ha, trải rộng khắp các châu lục Cũng như những câytrồng khác, cây sắn đang và đang bị nhiều loại dịch hại tấn công và gâynhiều tổn thất nghiêm trọng Kiểm soát dịch hại luôn được coi trọng vàmang tính sống còn trong canh tác sắn hiện nay, nó đòi hỏi sự hợp tácchặt chẽ và hiệu quả của mọi đối tượng liên quan nhất là những ngườitrồng sắn trực tiếp
Tổn thất do sâu bệnh hại trên cây sắn gây ra hàng năm là rất to lớn.Theo tính toán của các nhà khoa học, tại châu Phi vùng trồng sắn chính củathế giới, mức thiệt hại do bệnh khảm sắn (CMD- Cassava Mozaic Deaseas)
và bệnh bạc lá vi khuẩn (CBB-Cassava Bacterial Blight) khoảng 1 tỷ đô la
Mỹ mỗi năm Tại châu Á, bệnh Chổi rồng (Witches’ Broom) và Rệp sáp bộthồng (Pink Mealybug), Nhện đỏ (Red Mites) là những đối tượng chính gâyhại làm giảm năng suất nghiêm trọng và giảm thu nhập cho người trồng sắn
Trang 3rất lớn, nhất là tại các nước vùng Đông Nam Á Do vậy, việc nghiên cứusâu bệnh hại sắn là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay và đối với tất cả cácquốc gia trồng sắn Tiểu luận này là bản tổng kết sơ lược, tóm tắt các loạisâu bệnh chính hại sắn hiện nay
Tiểu luận này chỉ đề cập đến một số sâu bệnh hại sắn chủ yếutại một số nước vùng châu Á và đặc biệt là ở Việt Nam trong nhữngnăm gần đây và một số biện pháp phòng trừ
vô tình du nhập các loài gây hại từ Mỹ Latinh đến châu Phi hay châu Á,nơi chúng có thể gây ra thiệt hại to lớn do sự vắng mặt thiên địch tựnhiên của chúng Do vậy, hoàn toàn cấm trồng vật liệu thực vật từ lụcđịa khác, nước khác mà phải có giấy phép theo quy định trao đổi quốc tếtài nguyên di truyền cây trồng
Một số loài sâu bệnh vô tình cũng có thể được du nhập từ các loài
thực vật khác có liên quan chặt chẽ với sắn như cây Jatropha curcas, sử
dụng như cây cọc rào ở châu Á và gần đây phổ biến dùng cho nhiên liệusinh học Quan tâm đặc biệt phải được thực hiện dưới sự vận động giữa
Trang 4các quốc gia về vật liệu trồng của các loài liên quan, và các đồn điền
Jatropha lớn không nằm trong vùng trồng sắn
2.1.1. Ruồi trắng hại sắn
Ruồi trắng được coi là một trong những dịch hại nông nghiệp
nguy hiểm nhất, gồm cả ký chủ trung chuyển trực tiếp và vector virus;
chúng là dịch hại nguy hiểm nhất trên sắn ở cả ba châu lục Các loài
bướm trắng Bemisia tabaci là vectơ của một số bệnh virút nghiêm trọng
ở châu Phi, là vector bệnh sắn ở Sri Lankan và Ấn Độ, với virus khảm
được tìm thấy chủ yếu ở Ấn Độ Một loài đặc biệt khác ruồi trắng xoắn
ốc Aleurodicus dispersus, được tìm thấy ở một số nước châu Á và châu
Phi, nơi nó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho nguồn thức ăn và mất
năng suất
Ruồi trắng có sáu giai đoạn vòng đời - trứng, bốn giaiđoạn nhộng và trưởng thành Ba dạng thiệt hại mà chúng có
thể gây ra là:
• Thiệt hại trực tiếp bằng cách đâm xuyên và hút nhựa từ lá, dẫn đến lá
sắn suy yếu héo sớm vàng lá và hoại tử
• Thiệt hại gián tiếp bởi sự tích tụ chất ngọt do ruồi trắng sản xuất làm
chất nền cho sự phát triển của nấm mốc đen bồ hóng trên lá, dẫn đến
làm giảm quang hợp
Ruồi trắng là một trong những loài gây hại sắn nghiêm trọng nhất.
Trang 5• Là một vector virus lây truyền virus từ cây này sang cây khác Hiện có
hơn 40 loại bệnh cây được lan truyền bởi ruồi trắng trên toàn thế giới
Các thiệt hại năng suất của sắn có thể cao tới 76% nếu cây bị ảnh hưởng
nghiêm trọng
Nhiều nông dân phun thuốc trừ sâu để kiểm soát số lượng cao của ruồi
trắng nhưng điều này kém hiệu quả vì một số loài ruồi trắng có thể tăng
gấp đôi quân số của chúng chỉ trong 4,2 ngày Muốn phòng trừ ruồi
trắng phải áp dụng thường xuyên , điều đó là không kinh tế và phá vỡ
quá trình kiểm soát sinh học tự nhiên Phương pháp kiểm soát ruồi trắng
hiệu quả là quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM), bao gồm:
• Sử dụng giống sắn kháng ruồi trắng
• Tăng cường chức năng của các loài thiên địch với nhiều loài ký sinh,
động vật ăn thịt và ăn sâu bọ Những kỹ thuật này đang được tiếp tục
phát triển trong tương lai
• Sắn trồng xen với đậu đũa
• Phá vỡ vòng đời phát triển của ruồi trắng bằng cách tiêu hủy sắn và
các ký chủ khác của ruồi trắng trên đồng Điều này có thể khó hiệu quả
với các loài ruồi trắng có nhiều ký chủ như Bemisia tabaci.
2.1.2.
2.1.3. Rệp sáp hại sắn
Hom sắn đang được xử lý trong dung dịch thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm và vi chất dinh dưỡng trước khi trồng.
Trang 6Trong số khoảng 15 loài rệp sáp hại sắn có hai loài gây thiệt hại
lớn cho cây sắn ở châu Mỹ là Phenacoccus herreni và Phenacoccus manihoti Các loài trên đã vô tình đưa vào châu Phi những năm 1970
nhanh chóng lan rộng và gây thành đại dịch cho khắp các vùng trồngsắn của lục địa này Cùng một loài gần đây được vô tình đưa vào TháiLan và trong vòng một năm nó đã lan rộng khắp đất nước và các nướcláng giềng Lào và Campuchia, sau đó vào Việt Nam và bây giờ cũngđược báo cáo tại Indonesia
Một số loài khác của rệp sáp đã được xác định ở châu Á gồm
Phenacoccus gossypii, Phenacoccus grenadensis và Phenacoccus jackbeardsleyi Một thời gian ngắn sau khi bắt đầu nuôi, các rệp sáp nhỏ
sản xuất vật liệu sáp trắng tạo thành một lớp bao phủ cho côn trùng.Những rệp sáp này gây ra hai loại thiệt hại cho sắn:
• Thiệt hại cơ học trực tiếp do thói quen hút thức ăn của chúng, dẫn đếncây sắn vàng lá và rụng lá
• Thiệt hại gián tiếp gây ra bởi sự tích tụ của mốc bồ hóng trên bề mặt lá
do phân của rệp sáp, dẫn đến giảm quang hợp lá
Loài rệp sáp Phenacoccus herreni được tìm thấy chủ yếu ở miền bắc Nam Mỹ, trong khi Phenacoccus manihoti lần đầu tiên được tìm
thấy ở Paraguay, Bolivia và miền nam Brazil, nơi mà nó đã gây ra ítthiệt hại do kiểm soát sinh học có hiệu quả Tuy nhiên, sau khi nó vàochâu Phi và kế đến vào châu Á, nơi mà kẻ thù tự nhiên của nó không cómặt, chúng đã nhân lên rất nhanh chóng, lây lan nhanh và xa Chỉ saukhi du nhập vào châu Phi một số tác nhân kiểm soát sinh học chủ yếu làđộng vật ăn thịt và ký sinh từ khu vực của chúng có nguồn gốc ở miền
Trang 7nam Nam Mỹ, thì quần thể rệp mới được kiểm soát Từ kinh nghiệm
này, người ta thấy rằng các ký sinh Anagyrus lopezi, một con ong nhỏ,
có hiệu quả nhất trong việc tấn công rệp Phenacoccus manihoti Khi con cái của ong Anagyrus lopezi đẻ trứng trong rệp, ấu trùng phát triển của
ký sinh trùng sẽ giết chết ký chủ của nó Vì vậy, khi cùng một loài rệpđến châu Á, các nhà nghiên cứu Thái Lan nhanh chóng giới thiệu
Anagyrus lopezi từ châu Phi đã học được cách đại trà làm ong và phân
phối hàng triệu con ong bắp cày trên đồng ruộng của họ và đạt được kếtquả xuất sắc Người Thái cũng dạy nông dân cách ngâm hom trồngtrong một dung dịch 4 g Thiamethoxam trong 20 lít nước trong mườiphút trước khi trồng Cách xử lý hom giống này giết rệp sáp có mặt trêncác hom và ngăn chặn bất kỳ rệp ăn lá bùng lên ít nhất một tháng saukhi trồng
Đối với việc kiểm soát hiệu quả rệp sáp, các biện pháp sau đây có thểđược đề nghị:
• Xử lý hom sắn trong dung dịch Thiamethoxam 0,5-1,0 g/lít trước khitrồng
• Kiểm soát vật liệu sắn trồng từ vùng nhiễm bệnh sang vùng không bị
Có một số loài rệp sáp có thể làm thiệt hại nghiêm trọng cho cây sắn.
Trang 8• Hạn chế phun thuốc trừ sâu hóa học để bảo tồn các quần thể thiên địch
• Theo dõi các vùng trồng sắn mỗi lần trong 2-4 tuần để phát hiện cácđiểm trọng tâm của sự phá hoại (điểm nóng)
• Loại bỏ các phần bị nhiễm khuẩn, chồi đỉnh của cây và tiêu hủy chúng
• Hạn chế sử dụng giống sắn không rõ nguồn gốc từ vùng này sang vùngkhác
2.1.4. Nhện hại sắn
Nhện hại sắn có hơn 40 loài đã được báo cáo, trong đó quan trọng
nhất là nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus, Tetranychus kanzawai, Tetranychus urticae và nhện xanh Mononychellus tanajoa, Mononychellus caribbeanae Những loài nhện đỏ và nhện xanh này gây
thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng đối với sắn ở vùng đồng bằng có mùa
khô kéo dài Nhện đỏ Tetranychus sp có hai loài phổ biến nhất Tetranychus urticae và Tetranychus kanzawai đang là dịch hại sắn mùa
khô quan trọng nhất ở châu Á Tuy vậy, nhện xanh hại sắn cũng đã đượcbáo cáo gần đây
Nhện xanh hại sắn thích ăn mặt dưới lá non làm lá sắn chuyển màutrắng vàng, biến dạng và kích thước nhỏ lại Điều này dẫn đến lá sắn bịrụng bắt đầu từ đỉnh ngọn Khi những cơn mưa đến, bầy nhện xanh giảmđáng kể và sắn ra lá lần nữa
Bầy nhện đỏ có thể hình thành lên mức cao khi tồn tại điều kiện môitrường thuận lợi, đặc biệt là trong mùa khô Tùy theo độ tuổi của cây vàthời gian nhện đỏ tấn công mà thiệt hại năng suất sắn có thể từ 20 đến50% Nhện đỏ ban đầu tấn công các lá trưởng thành ở phần dưới của câysắn, trước khi chuyển lên lá phía trên Các triệu chứng đầu tiên thường
Trang 9xảy ra tại các gân lá dọc theo gân chính, trông như những chấm vàng
dọc theo tĩnh mạch lá chính, cuối cùng lan rộng trên toàn bộ lá, và lần
lượt thành màu đỏ, nâu, hoặc màu gỉ Lá bị nhiễm khuẩn nặng khô rơi
xuống, và thân sắn bị chết
Khi phải đối mặt với sự phá hoạinặng nề trên các cánh đồng sắn,nhiều nông dân bắt đầu áp dụng thuốc trừ sâu Tuy nhiên, điều này
không kinh tế và thực tế có thể phản tác dụng vì ngay cả liều thấp của
thuốc trừ sâu cũng có thể tiêu diệt thiên địch sâu hại trước khi giết
chúng Cách phòng trừ nhện hiệu quả chủ yếu là sử dụng giống sắn
kháng sâu bệnh Những nghiên cứu xa hơn là rất cần thiết để xác định
các thiên địch nhện đỏ hiệu quả nhất, đặc biệt ở khu vực châu Á Tuy
vậy mức độ tính kháng sâu bệnh của cây chủ nên được kết hợp với kiểm
soát sinh học có hiệu quả Việc này chỉ có thể khi không xịt thuốc trừ
sâu hóa học để kiểm soát loài gây hại như ruồi trắng hay rệp sáp
Trong 30 năm qua, nhiều cuộc điều tra đã được tiến hành tại 14 nước
châu Mỹ để thu thập và đánh giá các thiên địch tiềm năng của nhện
xanh Trong số này, 87 loài thiên địch được thu thập, đó là những con
nhện ăn nhện Chúng được tìm thấy có tiềm năng lớn nhất để kiểm soát
nhện hại sắn Một số loài thiên địch nhện hại sắn (phytoseiid) được vận
chuyển từ Colombia và Brazil, qua kiểm dịch tại Anh, đến châu Phi vào
Nhện đỏ (bên phải) là một dịch hại sắn phổ biến trong mùa khô ở châu Á, nhưng các con rệp xanh (bên trái) giờ cũng đã được báo cáo.
Trang 10năm 1993, có ít nhất ba loài từ Brazil được thiết lập và thành công trongviệc kiểm soát bầy nhện xanh của sắn đủ để giảm thiệt hại của chúngđến mức không còn gây thiệt hại kinh tế đáng kể Nghiên cứu tương tựcần được tiến hành cho việc kiểm soát nhện đỏ ở châu Á.
Kiến nghị hiện tại cho sự kiểm soát nhện hại sắn bao gồm:
• Trồng giống sắn kháng hoặc ít sâu bệnh hại (nếu có)
• Xử lý hom giống với Thiamethoxam ở những vùng nhện gây hạinghiêm trọng
• Sắn trồng vào vụ đầu mùa mưa để cây tăng trưởng tốt hơn
• Bón phân đầy đủ và cân đối để sắn nâng cao sức đề kháng sâu bệnh hại
• Phun nước lên lá sắn ở áp suất cao để giảm số lượng nhện hại sắn
• Dùng thuốc trừ sâu chọn lọc để bảo vệ thiên địch, vì nhện phytoseiid rấtnhạy cảm, ngay cả với liều thấp thuốc trừ sâu
• Thực hiện đúng các quy định kiểm dịch thực vật
Sâu hại khác có thể là quan trọng tại địa phương gồm sùng trắng và mối
Trang 11Black root and stem rot
Bệnh thối thân đen củ
Blight leaf spot : Bệnh cháy lá
Brown leaf spot : Bệnh đốm nâu
Cassava ash: Bệnh phấn trắng
Concentric ring leaf spot: Bệnh cháy lá hình nhẫn đồng tâm
Dematophora root rot (Rosellinia root rot): Bệnh thối củ do nấm DematophoraDiplodia root and stem rot: Bệnh thối thân, thối củ do nấm Diplodia
Fusarium root rot: Thối củ do nấm Fusasium
Phytophthora root rot: Bệnh thối củ do nấm Phytophlora
Pythium root rot: Bệnh thối củ do nấm Pythium
Rigidopurus root rot: Bệnh thối củ do nấm Rigidopurus
Rust: Bệnh rỉ sắt
Sclerotium root rot (southern blight): Bệnh Bạc lá Miền nam
Superelongation
Trang 12Verticillium root and stem rot: Bệnh thối thân, thối củ do nấm Verticillium
White leaf spot: Cháy lá trắng
Miscellaneous diseases and disorders: Hỗn hợp Bệnh do rối loạn dinh dưỡng
Post-harvest root rot: Bệnh thối củ sau thu hoạch
Root smallpox disease: Bệnh đậu mùa trên củ sắn
Viral and mycoplasmalike organism [MLO] diseases: Bệnh do Vius và Mycoplasma
African cassava mosaic: Bệnh khảm Châu Phi
Antholysis: Bệnh quăn lá
Cassava brown streak disease[1]
Cassava common mosaic: Bệnh Khảm lá sắn phổ biến
Cassava frogskin:Bệnh Da ếch
Cassava green mottle: Bệnh đốm xanh
Trang 13Cassava symptomless infections: Bệnh nhiễm trùng không triệu chứng
Cassava vein mosaic: Bệnh khảm tĩnh mạch
Indian cassava mosaic: Bệnh khảm Ấn Độ
Witches' broom: Bệnh chổi rồng
2.2.2 Một số bệnh chính hại sắn ở châu Á.
2.2.2.1 Bệnh khảm lá sắn ở Sri Lanka và Ấn Độ
Virus khảm lá sắn Ấn Độ (ICMV) và virus khảm lá sắn Sri Lanka
(SLCMV) là hai thể khảm riêng biệt, có liên quan chặt chẽ với virus gây
bệnh khảm lá sắn (CMD) ở châu Phi Một số giống sắn chống chịu
ICMV, nhưng nhiều nông dân ở bang Kerala của Ấn Độ thích giống sắn
bản địa của họ vì chất lượng ăn tốt hơn Việc giới thiệu gần đây của
giống sắn kháng CMD từ CIAT, như MNga-1 (được phát triển bởi IITA
ở Nigeria) và các giống sắn khác đang được sử dụng rộng rãi trong các
chương trình nhân giống sắn tại Ấn Độ để sản xuất giống kháng ICMV
với các đặc tính mong muốn khác
Những triệu chứng của bệnh khảm lásắn bao gồm những vết lốm đốm úa vàng trên lá xanh với lá biến dạng,
có thể dẫn đến rụng lá và cây còi cọc nghiêm trọng Lá cũng có thể bị
giảm kích thước, xoắn và biến dạng Triệu chứng xuất hiện chủ yếu
trong mùa mưa, khiến việc nhận biết các cây bị bệnh rất khó khăn trong
mùa khô Bệnh lây chủ yếu thông qua việc sử dụng các vật liệu trồng bị
nhiễm bệnh, cũng như bởi các ruồi trắng Bemisia tabaci.
Các triệu chứng của bệnh khảm sắn ở Sri Lanka và Ấn Độ.
Trang 14Để kiểm soát hiệu quả bệnh khảm lá sắn cần thực hiện những điềusau đây:
• Trồng giống sắn kháng bệnh
• Chọn vật liệu trồng có nguồn gốc từ mô phân sinh sạch bệnh, tiếp theo
là nhân dòng vô tính với kiểm tra định kỳ và loại bỏ các cây bị nhiễm
• Chọn giống sắn sạch bệnh trước khi bắt đầu mùa khô nóng
• Nhân giống sắn sạch bệnh ở vùng cao thì ruồi trắng rất ít hoặc không
có
• Sử dụng hom sắn đầu tiên từ những cây sạch bệnh tại vườn ươm gần
để ngăn chặn lây lan bệnh hại
• Thực hiện thông lệ kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt, tiêu hủy cây bệnhnhanh chóng kịp thời
• Trồng xen hoặc chuyển đổi vụ trồng cần đánh giá thêm để xác địnhhiệu quả
2.2.2.2. Bệnh bạc lá sắn (CBB)
Bệnh bạc lá sắn (CBB) lây lan rộng và có thể nghiêm trọng trong
mùa mưa nguyên nhân là do vi khuẩn Xanthomonas axonopodis pv Manihotis Triệu chứng bệnh này là sự hiện diện của những giọt gôm, xì
mủ (water-soaked), vết bệnh góc cạnh và hoại tử của lá Cuống lá có thể
bị héo một phần hoặc toàn bộ và dịch tiết dính có thể xuất hiện ở thânchính hoặc nhánh phụ Thân sắn có thể chết ngược (stem die-back) vàhoại tử của một số sợi mạch của thân và rễ Mức độ thiệt hại khác nhautùy thuộc vào mức độ chống chịu của giống sắn và giai đoạn sinh trưởngcủa cây