1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới.

16 2,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 29,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới. Tiểu luận về việc giáo dục mầm non trong giai đoạn mới.

Trang 1

Lời mở đầu

Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của mỗi quốc gia thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà còn là đòn bẫy để phát triển nước nhà Tổng Bí thư Đỗ Mười đã từng nói: “ Con người là nguồn lực quý báu nhất đồng thời là mục tiêu cao cả nhất Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người Trong đó trí tuệ là nguồn tài nguyên lớn nhất của mỗi quốc gia Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của đất nước “ Để đạt được điều đó thì đất nước cần phải thiết lập một nền giáo dục tốt và toàn diện Do đó, cần phải phát tiển hệ thống giáo dục một cách toàn diện và bắt đầu từ những gì sơ đẳng nhất Cho nên, sự quan tâm hàng đầu nên dành cho giáo dục mầm non và việc phát triển giáo dục mầm non Qua đây, em xin trình bày bài tiểu luận về một số hiểu biết của bản thân trong việc phát triển giáo dục mầm non ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Do kiến thức hạn hẹp nên bài viết còn nhiều hạn chế

và chưa sâu sắc Mong thầy(cô) thông cảm và chỉ dạy thêm

Trang 2

Nội dung

I Chính sách của Đảng nhà nước ta trong việc phát triển giaó dục mầm non trong giai đoạn mới

1 Quan điểm chỉ đạo

-Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của giáo dục quốc dân đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam Việc chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng

và sự quản lý của nhà nước

-Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư phát triển giáo dục mầm non; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về

cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cong tác xã hội hóa; nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư pháy triển giáo dục mầm non ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, biên giới

-Việc chăm sóc, giáo dục trẻ em phải được thực hiện với sự phối hợp, gắ kết chặt chẽ giữa nhà tường với gia đình và xã hội Coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến kến thức chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc phụ huynh, cha mẹ của trẻ nhằm thực hiện

đa dạng hóa phương thức giáo dục trẻ em

-Từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục mầm non theo nguyên tắc bảo đảm đồng bộ, phù hợp, tiên tiến, gắn với đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1, góp phần tích cực, thiết thực nâng cao chất lượng giáo dục

2 Mục tiêu

Trang 3

Mục tiêu chung

Phát triển giáo dục mầm non nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản, vững chắc và toàn diện, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ; củng cố, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt chú trọng đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng chính sách cho giáo viên mầm non theo quy định Phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng

Mục tiêu cụ thể

- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non, phấn đấu để có 80% giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo năm 2010 và 100% năm 2015, trong đó có 8% đạt trình độ trên chuẩn năm 2010 và 15% năm 2015;

-Củng cố, mở rộng mạng lưới trường, lớp, nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, nhóm trẻ từ 15% năm 2005 lên 20% năm 2010 và đạt 30% năm 2015; trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 58% năm 2005 lên 67% năm

2010 và đạt 75% năm 2015; trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 92% năm 2005 lên 95% năm 2010 và 99% năm 2015;

-Nâng tỷ lệ các cơ sở giáo dục mầm non đạt chuẩn quốc gia từ 9% năm 2005 lên 20% vào năm 2010 và 50% vào năm 2015;

-Đối với các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo: nâng tỷ lệ trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp mẫu giáo

Trang 4

đạt 43% năm 2005 lên 55% năm 2010 và đạt 62% năm

2015 Phấn đấu để tỷ lệ trẻ 5 tuổi ở các vùng này đến lớp mẫu giáo đạt bằng tỷ lệ chung của toàn quốc;

-Củng cố và hoàn thiện các cơ sở giáo dục mầm non ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo Từ năm 2006 đến 2010 đầu tư kinh phí trang bị cơ

sở vật chất, thiết bị dạy học và đào tạo giáo viên theo các tiêu chí đạt chuẩn cho khoảng 2500 cơ sở giáo dục mầm non ở các vùng này; xây dựng kế hoạch đầu tư để đào tạo và bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn cho khoảng 3.000 giáo viên

-Nâng chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non, phấn đấu để tỷ lệ trẻ

em đạt chuẩn phát triển là 80% năm 2010 và 95% năm

2015, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 12% năm 2010 và dưới 10% năm 2015;

-Nâng tỷ lệ lên 70% năm 2010 và 90% năm 2015 số lượng cha, mẹ trẻ em được phổ biến, cung cấp kiến thức

cơ bản về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ

3 Một số chính sách phát triển giáo dục mầm non

Đối với trẻ em

- Trẻ em mẫu giáo 5 tuổi được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định tại Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày

09 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015

- Trẻ em mẫu giáo dân tộc rất ít người được hưởng chính sách theo quy định tại Quyết định số

Trang 5

2123/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015

-Trẻ em mẫu giáo 3 và 4 tuổi có cha mẹ thường trú tại các xã biên giới, núi cao, hải đảo, các xã và thôn bản đặc biệt khó khăn, hoặc cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ không nơi nương tựa hoặc bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế, được ngân sách nhà nước hỗ trợ 120.000

đồng/tháng và được hưởng theo thời gian học thực tế, nhưng không quá 9 tháng/năm học để duy trì bữa ăn trưa tại trường

Đối với giáo viên

-Giáo viên (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, dân lập được Nhà nước hỗ trợ ngân sách để các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện trả lương theo thang bảng lương giáo viên mầm non, được nâng lương theo định kỳ, được tham gia đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm

y tế và các chế độ chính sách khác như giáo viên có cùng trình độ đào tạo đang hợp đồng làm việc tại các cơ

sở giáo dục mầm non công lập

-Giáo viên mầm non công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục được Nhà nước hỗ trợ chi phí bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Đối với các cơ sở giáo dục mầm non

Trang 6

-Ủy ban nhân dân các địa phương bảo đảm quy hoạch diện tích đất và áp dụng các phương thức giao đất, cho thuê đất, thuê cơ sở vật chất để phát triển mạng lưới các

cơ sở giáo dục mầm non, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn, địa phương -Nhà nước đầu tư thông qua Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên, đồng thời lồng ghép với các Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và các nguồn kinh phí khác để xây dựng cơ sở vật chất các trường mầm non công lập theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo đủ phòng học, phòng chức năng, sân chơi và các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn và các quy định hiện hành Ưu tiên thành lập và xây dựng mới các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng nông thôn, các xã và thôn bản đặc biệt khó khăn, các xã miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa và các xã, phường có mức sống thấp của thành phố, thị xã

-Thực hiện các chính sách ưu đãi về đất đai, về tín dụng, về thuế, để khuyến khích phát triển trường, lớp mầm non ngoài công lập, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất và những nơi tập trung đông dân cư

Kinh phí thực hiện

-Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2011 - 2015, gồm có: ngân sách chi thường xuyên giáo dục và đào tạo, vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Trang 7

tập trung, các Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ, vốn ODA

- Nguồn thu học phí

- Nguồn tài trợ, viện trợ, quà tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

- Vốn góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng mới, cải tạo mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục mầm non

- Vốn vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng ưu tiên với lãi suất ưu đãi

- Các nguồn vốn hợp pháp khác

II Sự phát triển của giáo dục mầm non ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1 Các loại hình giáo dục mầm non hiện nay

Hiện nay,nước ta có một số loại hình mầm non như: -Nhà trẻ trường mẫu giáo

-Nhà trẻ trừng mẫu giáo hợp nhất

-Các loại hình giáo dục mầm non khác:

+Nhà trẻ thu nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi

+Trường mẫu giáo thu nhận trẻ từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi

Ngoài ra còn có các loại hình giáo dục mầm non khác nữa như:

*Lớp mẫu giáo 5 tuổi dành cho trẻ em 5 tuổi

mà chưa qua lớp giáo nhỏ

*Nhóm trẻ gia đình Đây là nhóm trẻ dưới sáu tuổi được chăm sóc và dạy dỗ tại gia đình( ở nước ta thì

Trang 8

loại hình này tồn tại ít và chủ yếu là ở các gia đình có điều kiện)

2 Những thành tựu đạt được trong việc phát triển giáo dục mầm non hiện nay

Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non ngày càng phát triển.Ðảng và Nhà nước ta đã có chính sách

cụ thể nhằm phát triển giáo dục mầm non (GDMN) như: Ðầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất; đổi mới phương pháp giảng dạy; cải tiến chế độ tiền lương đối với giáo viên mầm non; "xã hội hóa" giáo dục mầm non

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết năm học 2012-2013 gióa dục mầm non nước ta đã đạt được những thành tựu lớn:

-Chương trình giáo dục mầm non mới đã được triển khai ở hầu hết các cơ sở GDMN, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được nâng lên

-Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tăng lên từng năm, đặc biệt trẻ 5 tuổi đi học đạt 99,7%., trẻ khuyết tật 78,4%(trong tổng số trẻ khuyết tật theo độ tuổi)

- Các trang thiết bị, cơ sở vật chất từng bước được chuẩn hóa: Phòng học kiên cố 59,8%, bán kiên cố 32,7%, số còn lại là phòng học tạm, học nhờ

-Tỷ lệ nhóm lớp có đầy đủ thiết bị, đồ chơi theo quy định là 68%

- Số nhóm lớp học 2 buổi/ngày có tổ chức bán trú là 89%,

-Trẻ 5 tuổi học 2 buổi/ngày là 92,1%,

- 100% trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số đi học được chuẩn bị tiếng Việt

Trang 9

Tính đến năm học 2011-2012, cả nước đã có 13.446 trường mầm non, trong đó:

-Trường quốc lập chiếm 75%(11.462)

-Trường ngoài công lập chiếm 25% ( trong đó

536 trường bán công, 112 trường dân lập và 1336 trường tư thục )

Quy mô của giáo dục mầm non ngày càng tăng, thu hút hầu hết các trẻ trong độ tuổi đến trường Theo số liệu của năm học 2011-2012 thì:

-Tỷ lệ trẻ vào nhà trẻ là 21,5%

-Tỷ lệ trẻ vào mẫu giáo là 82,5%

-Trẻ em mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 98,6% Phần lớn trẻ 5 tuổi đã được tạo điều kiện chuẩn bị tâm thế bước vào học tập ở lớp 1 tiểu học

-Tỷ lệ trẻ được ăn bán trú ở nhà trẻ là 91% và mẫu giáo là 76,8% Tỷ lệ suy dinh dưỡng giãm

-Đội ngũ giáo viên mầm non hiện có 186.312 người, tỷ lệ gióa viên đạt chuẩn trình độ cao là 96,2% Nhà nước ta có triển khai đề án phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi và kết quả bước đầu đến ngày 30/07/2011 đã huy động được 1.331.603 trẻ 5 tuổi đến trường, chiếm

tỷ lệ 98,6% so với số trẻ trong độ tuổi, tăng 13.111 trẻ

so với năm 2010

Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ngày càng được nâng cao và đảm bảo những yêu cầu khoa học của việc nuôi dạy trẻ Các phương thức chăm sóc giáo dục trẻ đã được đa dạng hóa theo những phương pháp khoa học đã nghiên cứu và công nhận Nội dung và phương thức giáo dục mầm non được đổi mới theo phương thức học thông qua chơi Qua các hoạt động của trẻ nội dung học

Trang 10

tập đã được lồng ghép vào cho phù hợp với lứa tuổi của các em, tạo điều kiện cho trẻ phát huy hết những tiềm năng vốn có của mình Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giãm xuống mức thấp Các trường mẫu gióa mầm non thực sự trở thành ngôi nhà tuổi thơ là nơi để bố mẹ các

em có thể tin cậy gởi găm các em

Việc đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non cũng đang được Đảng và nhà nước ta quan tâm Hệ thông các trường lớp mầm non đang được xây dựng sửa chữa Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp với yêu cầu giáo dục

Các loại hình giáo dục mầm non cũng đang được đa dạng hóa, Có nhiều loại hình các trường mầm non Nước ta hiện tại có các loại hình mầm non như: công lập, bán công và dân lập

Phần lớn các trường mầm non ở nước ta hiện nay đều đạt chuẩn quốc gia

Các chính sách dành cho gióa iên mầm non cũng đang được quan tâm thích đáng

3 Những hạn chế của việc phát triển giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong giai đoạn hiện nay thì giáo dục mầm non vẫn còn những mặt hạn chế sau:

-Giáo dục mầm non vẫn còn gặp nhiều khó khăn ở khu vực vùng sâu vùng xa, ở các đối tượng người khuyết tật, người dân tộc thiểu số

-Mạng lưới trường lớp chưa đáp ứng được yêu cầu, giáo dục trẻ em ở nhiều địa phương còn trong tình trạng

Trang 11

khó khăng, thiếu thốn ( hiện vẫn còn 12.530 phòng học nhờ, mượn ), tỷ lệ phòng học kiên cố là 59,8%, tỷ lệ nhóm lớp có đủ thiết bị đồ dùng, đồ chơi đạt thấp

61,2%

-Nhiều địa phương do thiếu trường, lớp, phai bố trí ố trẻ vượt quá quy định ( trên 40 trẻ/lớp )

-Nhiều nhóm lớp độc lập tư thục ( chủ yếu cho nhà trẻ ) chưa được cấp phép do các điều kiện về cơ sở vật chất, giáo viên không đảm bảo, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục mầm non

-Đến cuối năm 2013, vẫn còn 309 xã chỉ có lớp mà chưa có trường, không đảm bảo an toàn cho trẻ

-Tình trạng thiếu giáo viên vẫn chưa được khắc phục

Tỷ lệ giáo viên/lớp đối với mẫu giáo 5 tuổi tuy đạt bình quân 1,6 giáo viên/lớp nhưng còn hơn 1/3 số tỉnh, thành phố mới đạt tỷ lệ từ 1,0 đến 1,1 giáo viên/lớp rất khó khăn cho trẻ học 2 buổi/ngày để thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới

-Cả nước còn thiếu 21.058 phòng học, 22.800 giáo viên Ngoài ra, kinh phí dành cho giáo dục mầm non còn rất hạn chế.( theo số liệu năm 2011 )

-Đầu tư ngân sách cho giáo dục mầm non trong thời gian qua mới chỉ đủ để chi trả lương cho một bộ phận giáo viên và các bộ quản lí thuộc biên chế, chưa đủ mạnh để nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bi giáo dục nên chưa huy động được nhiều trẻ ra lớp

-Các nhóm trẻ ga đình tự phát mở tràn lan với quy mô nhỏ lẻ mang tính tự phát, manh mún, thiếu ổn định, không đủ các điều kiện tối thiểu

Trang 12

-Người trông trẻ hầu hết không có chuyên môn nghiệp

vụ nuôi day trẻ do không được đào tạo ở các trường sư phạm mầm non các cấp, nên không có đủ trình đọ để chăm sóc giáo dục trẻ theo phương pháp khoa học -thậm chí có nhiều nhà trẻ gia đình còn “ thả rông trẻ “ hay còn bạo hành đối với trẻ làm cho trẻ bị stress dẫn đến sự hạn chế tăng trưởng thể lực, gây sang chấn tâm

lý, tinh thần và tình cảm cũng như sự pát triển các tổ chất, tiềm năng của trẻ

-Các pương thức chăm sóc giáo dục tre rở các cơ ở mầm non chưa được đa dạng hóa đồng bộ đảm bảo tính khoa học cho phù hợp với lứa tuổi của các em để các em

có thể phát triển một cách toàn diện các khả năng của mình, tỉ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn ở mức cao so với khu vực và trên thế giới

-Có một khoảng cách khá xa giữa giáo dục mầm non thành thị và nông thôn, giữa đồng băng ven biển và vùng núi Đó là nững nguyên nhân khách quan về điều kiện phát triển kinh tế xã hội cũng như trình độ nhận thức và mức sông ở những vùng miền khác nhau

-Qui mô của giáo dục mầm non chưa được mở rộng hợp lí, các loại hình giáo dục mầm non chưa phát triển hợp lí cho phù hợp với yêu cầu cuuar một nền giáo dục hiện đại

-Nhà nước và nhân dân chư chú trọng đến việc giáo dục mầm non

4 Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong giáo dục mầm non hiện nay

-Ngân sách đầu tư cho giáo dục mầm non còn quá thấp, chưa có sự bình đẳng giữa các cấp giáo dục

Ngày đăng: 28/11/2016, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w