Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia. Tiểu luận về vai trò của giáo dục đào tạo tới mỗi quốc gia.
Trang 1A.LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới ngày càng phát triển,kéo theo đó là sự chạy đua về kinh tế, chính trị,
vũ trang…Điều đó giúp các quốc gia trang bị cho mình những chính sách, chiến lược phù hợp để giúp đất nước phát triển và bám trụ được trên ” chiến trường ” thời bình Để đạt được như vậy thì mỗi quốc gia phải có sự đầu tư đúng đắn và cần thiết về giáo dục Vì giáo dục là khởi đầu của nền văn minh nhân loại,là nền tảng của sự phát triển khoa học-kĩ thuật, kinh tế, văn hoá Bởi vậy việc đầu tư cho giáo dục là rất quan trọng Loài người tiến bộ đang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế
hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau Nói theo cách của Việt Nam: Thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục nên các nước trên thế giới rất chú trọng đến việc đầu tư cho giáo dục trong đó có Việt Nam.Do có sự khác nhau về nhiều mặt như tốc độ phát triển kinh tế,bản sắc văn hoá,trình độ dân trí nên sự đầu tư của mỗi quốc gia là khác nhau.Việt Nam ta cũng đang từng bước cải cách nền giáo dục theo hướng tích cực để nâng cao dân trí và phát triển khoa học-kỹ thuật.Tuy nhiên sự đầu tư của nước ta so với các quốc gia khác trên thế giới
là chưa cao
Trang 2B.NỘI DUNG:
Vậy giáo dục có nghĩa là gì?
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học Trong tiếng việt “giáo” có nghĩa là dạy,”dục” có nghĩa là nuôi;”giáo dục” là dạy dỗ nuôi dưỡng đủ cả trí-dục,đức-dục, thể-dục
Sự đầu tư về giáo dục của Mỹ
Con người được vũ trang bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của
sự phát triển kinh tế - xã hội Do vậy giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế.Mỗi quốc gia có
sự định hướng,phát triển và đầu tư giáo dục khác nhau Một trong những quốc gia
có nền giáo dục phát triển đó là Mỹ Trong quá trình xây dựng và phát triển của mình, Mỹ đặc biệt quan tâm đến giáo dục Do đặc thù đa dạng và linh hoạt của mình, do có những chiến lược đúng đắn cho giáo dục và đào tạo, đội ngũ các nhà tri thức được đào tạo cơ bản cùng với sự phát triển vượt bậc đi trước của khoa học công nghệ, hệ thống giáo dục Mỹ có những bước tiến dài và đạt được nhiều thành tựu rất cao với quy mô lớn Đầu tư cho giáo dục chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng GDP của Mỹ, hầu như mỗi năm Mỹ đều dành khoản 5- 6% ngân sách trong tổng GDP để chi tiêu giáo dục, nếu tính ra tiền đó thật sự là con số khủng lồ bởi vì không phải quốc gia nào cũng chịu đầu tư một khoản tiền quá lớn như vậy cho giáo dục Không những thế, sự ước tính đầu tư cho giáo dục Mỹ càng ngày càng tăng; điều đó chứng tỏ rằng người Mỹ quan tâm giáo dục và mong muốn phát triển, hoàn thiện nền giáo dục của mình hơn nữa Giáo dục của Mỹ chủ yếu được
Trang 3cung cấp bởi khu vực công, có kiểm soát và tài trợ đến từ 3 cấp độ: liên bang, tiểu bang và địa phương Giáo dục trẻ em là bắt buộc, đối với người Mỹ trẻ em là đối tượng rất quan trọng và đặc biệt phải lưu ý nhiều hơn; bởi vì đó là tương lai của nước Mỹ Năm 2006-2007, Mỹ dành khoảng $553 tỷ cho tiểu học và trung học, và
nó chiếm khoảng 4.2% trong tổng GDP của cả nước Đầu tư cho giáo dục không chỉ là việc tăng chi cho các cấp, ngành học mà phải đảm bảo mức lương dành cho người lao động hoạt động trong ngành nghề này, có mức lương hợp lý họ sẽ dành toàn bộ sức mình cho giáo dục Nhìn vào bảng trên ta có thể ước tính lương cơ bản của một giáo viên là khoảng trên $3000-5500/ tháng Bên cạnh đó, Mỹ cũng có nhiều chương trình hỗ trợ sinh viên như là: chương trình cho vay vốn; sinh viên vay vốn liên bang sẽ đóng thanh toán hàng tháng bằng 15% thu nhập của họ, để hoàn trả cho đến khi nào hết nợ, nếu trong vòng 25 năm mà chưa trả hết nợ thì số
dư nợ còn lại sẽ được miễn, áp dụng thi hành từ năm 2014 Như vậy có thể nói, Mỹ
đã đầu tư một cách toàn diện cho nền giáo dục của mình
Sự đầu tư về giáo dục của Nhật Bản
Là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển, Nhật Bản chỉ có thể người dân Nhận thức được điều đó, chính phủ Nhật Bản đặc biệt chú trọng tới giáo dục đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu Nhật Bản được biết đến không chỉ
là một nước hùng mạnh về kinh tế vào hàng đầu thế giới mà còn được coi là quốc gia có hệ thống giáo dục rất đa dạng và chất lượng Hệ thống giáo dục của Nhật Bản được đánh giá đứng thứ 3 thế giới (sau Mỹ và Anh) Nền giáo dục của Nhật Bản kết hợp hài hòa giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những tri thức phương Tây hiện đại Ở Nhật Bản gần như không có người mù chữ và hơn 72,5%
số học sinh theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung cấp, một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội một số quốc gia châu Âu Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại Ngay từ những năm 1950, Nhật Bản đã chú trọng xây dựng một nền giáo dục hiện đại Hệ thống giáo dục Nhật Bản được thiết lập ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai vào giữa những năm 1947 - 1950, lấy hệ thống giáo dục Mỹ làm kiểu mẫu, bao gồm 9 năm giáo dục bắt buộc (6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở), tiếp theo đó là 3 năm trung học phổ thông (không bắt buộc) và 4 năm đại học Tỷ lệ học sinh tiếp tục học lên trung học phổ thông và bậc đại học sau khi đã kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc ngày càng tăng
Trang 4Hệ thống giáo dục Nhật Bản được sửa đổi liên tục nhằm thực hiện hai ưu tiên:
Thứ nhất, giáo dục bắt buộc nhằm phổ cập hóa hệ thống giáo dục tiểu học; Thứ hai, thành lập các trường dạy nghề cho thanh niên đồng thời tổ chức đào tạo các khoá chuyên tu (nông, công, lâm, ngư nghiệp, thủy sản, dệt…) ở cấp trung học cơ
sở Hai ưu tiên này đã tạo ra những bước đi căn bản trong việc hình thành nguồn lực đảm bảo kế hoạch phát triển cho công cuộc “hiện đại hoá” nền kinh tế Nhật Bản
Chủ trương phát triển giáo dục cấp cao làm đầu tàu cũng được Chính phủ Nhật Bản quan tâm và hình thành rất sớm:
Đó là hệ thống đại học và sau đại học với các “Trường chuyên môn” (không kể trường Cao đẳng chuyên môn dành cho học sinh học hết cấp 2) Hệ thống giáo dục đại học của Nhật Bản được bắt đầu từ 6 trường đại học “hoàng gia” công lập, lần lượt được thành lập từ năm 1877 Sáu trường đại học đầu tiên của Nhật Bản là: Tokyo, Kyoto, Kyushu, Tohoku, Hokkaido và Osaka Bước vào thế kỷ 20, Nhật Bản cho phép thành lập đại học tư thục (Waseda, Keio, Doshisha…) từ các “trường chuyên môn” Cũng như nhiều nước trên thế giới, quá trình phát triển giáo dục Nhật Bản gắn liền với quá trình phát triển của chế độ chính trị, kinh tế và đời sống văn hóa-xã hội Từ một xã hội phong kiến tập quyền khép kín, kinh tế tiểu nông, công nghệ lạc hậu, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn , Nhật Bản đã mở cửa ra thế giới bên ngoài với những quyết sách cải cách mạnh mẽ của Minh Trị Thiên hoàng (1872-1912) trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Cùng với việc thành lập Bộ Giáo dục (1871), Nhật Bản đã sớm có chính sách phát triển hệ thống giáo dục tiểu học bắt buộc và bình đẳng đối với tất cả trẻ em bắt đầu từ 6 tuổi, không phân biệt nam nữ, tôn giáo, thành phần xã hội Chính sách giáo dục bắt buộc cũng được thực thi và điều chỉnh theo từng giai đoạn thích hợp Số năm học bắt buộc được nâng dần từ 3-4 năm (1886) lên 6 năm vào năm 1908 Tỷ lệ nhập học bậc tiểu học đã đạt 99% (1899) Giáo dục bắt buộc và miễn phí 9 năm (hết trung học cơ sở) được thực hiện từ năm 1947 với việc ban hành Luật cơ bản về Giáo dục và Luật giáo dục nhà trường Nhờ chính sách này mà ngay từ đầu thế kỷ
20, Nhật Bản đã sớm thực hiện thành công phổ cập tiểu học bắt buộc cho trẻ em
Trang 5trong độ tuổi - một thành tựu giáo dục cơ bản mà ở thời đó chưa nhiều nước thực hiện được
Điểm nổi bật nhất là Nhật Bản không cải cách giáo dục theo kiểu chắp vá mà
áp dụng mô hình Hà Lan cho tiểu học, mô hình Pháp cho trung học và mô hình Mỹ cho đại học – những nền giáo dục tốt nhất theo từng cấp học thời bấy giờ Năm
1961, Nhật Bản thay đổi quy định hệ thống giáo dục dạy nghề trong Luật giáo dục, cho phép lập “trường cao đẳng chuyên nghiệp” với học trình 5 năm (gồm 3 năm trung học phổ thông và 2 năm chuyên tu) cùng tồn tại song song với trường dạy nghề Năm 1975, để đáp ứng yêu cầu nhân lực, Bộ Giáo dục Nhật Bản cho phép thành lập trường “chuyên tu kỹ thuật” gọn nhẹ và tập trung đào tạo cán sự kỹ thuật nhằm bổ sung cho hệ thống “đại học ngắn hạn”(2-3 năm) hay hệ thống đại học chính quy (4 năm) Mục đích giảm bớt sức ép tranh nhau thi vào cửa hẹp đại học
do nhân khẩu trưởng thành tăng đột biến (“baby boom” – sự tăng vọt trẻ sơ sinh sau thế chiến thứ hai) và tạo cơ hội cho những học sinh bị rớt trong các kỳ thi tuyển vào đại học vào trường dạy nghề với thời gian học ngắn hơn Tỷ lệ người biết chữ cao nhất trên thế giới được xem là một thành tựu nổi bật của nền giáo dục Nhật Bản từ sau Thế chiến II Số người Nhật trẻ tuổi gia nhập vào lực lượng lao động với trình độ văn hoá cao hơn nhiều so với trước Năm 1950, hơn 45% học sinh Nhật Bản tốt nghiệp cấp 2, tức là sau khi hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc, bắt đầu đi làm việc ở độ tuổi 15, còn 43% học sinh vào trung học phổ thông để tiếp tục học Hiện tỷ lệ học tiếp trung học phổ thông của Nhật Bản đã đến mức 95 – 97%
Không giống như Mỹ, hệ thống giáo dục công lập Nhật Bản chiếm đa số, hơn 95%-98% ở cấp tiểu học và phổ thông cơ sở Chương trình giảng dạy cho bậc tiểu học, cấp 2 cơ sở và phổ thông trung học được ban hành và quản lý chặt chẽ bởi Bộ Giáo dục Sau khoảng 10 năm, Bộ Giáo dục lại ban hành giáo trình và sách giáo khoa theo tiêu chuẩn mới, với nội dung chi tiết hướng dẫn được viết ra cụ thể cho mỗi môn học tại trường tiểu học và các trường cấp 2 để hướng dẫn cho giáo viên Việc chỉnh sửa các chương trình giảng dạy và sách giáo khoa được đề ra bởi các hội đồng chuyên môn bao gồm các chuyên gia về giáo trình, giáo sư tại các trường đại học, giáo viên, thành viên của các ban ngành giáo dục tại địa phương và những bậc lão thành có kinh nghiệm khác trong xã hội Trường dạy nghề tư nhân chiếm tỷ
Trang 6lệ 80%-90% trong tổng số trường dạy nghề trên cả nước, trong đó ngành công nghệ thông tin chiếm đa số Ở các thành phố lớn có các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin và kỹ thuật hoạt động độc lập Các trung tâm này có chức năng đào tạo giáo viên giảng dạy, hoàn thiện tài liệu giảng dạy và nghiên cứu phương pháp giảng dạy Để sử dụng hiệu quả các nguồn ngân sách của nhà nước, trung tâm đào tạo ở các thành phố được trang bị các trang thiết bị đắt tiền như các hệ thống máy
vi tính quy mô lớn và các trung tâm cơ khí hiện đại
Để chuẩn bị bước vào thế kỷ 21, năm 1984 Nhật Bản tiếp tục tiến hành cải cách giáo dục với tư tưởng chủ đạo là hình thành hệ thống giáo dục suốt đời (life-long learning), xây dựng xã hội học tập, chuẩn bị một thế hệ trẻ phát triển toàn diện, năng động, tự chủ, sáng tạo, đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội hiện đại trong nền kinh tế tri thức với quá trình toàn cầu hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh của Nhật Bản trên trường quốc tế Nhờ đa dạng hóa các chương trình giúp Nhật Bản đạt được các kết quả cao trong các kỳ đánh giá chất lượng giáo dục quốc tế PISA (Programme for International Student Assesment) trong các năm 2000, năm 2003, năm 2006 và những năm gần đây Giáo dục đại học của Nhật Bản được “mở rộng” bắt đầu từ những năm 1960 - đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế nhanh Hệ thống giáo dục Nhật Bản bao gồm 3 khu vực: quốc gia, tư thục và nhà nước địa phương (cấp tỉnh) Năm 2008, Nhật Bản đã có đến 589 trường đại học tư thục, khoảng 86 đại học công lập cấp quốc gia (theo thể chế National University Corporation-NUC) và 90 đại học công lập địa phương (với thể chế Public University Corporation- PUC) Phần lớn chi tiêu quốc gia dành cho giáo dục đại học công lập NUC (chiếm gần 1,3% GDP), mặc dù phần lớn sinh viên đang theo học ở các đại học tư thục Trước năm 1998, sự phân bố các trường đại học phải đáp ứng được tiêu chí là: Đại học công lập thỏa mãn nhu cầu về nhân lực quốc gia; Đại học địa phương - thỏa mãn nhu cầu nhân lực cấp tỉnh và huyện; Đại học tư thục – đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường Tuy nhiên, sự phân bố như vậy càng bị phức tạp hóa hơn do tác động của “sự phân hóa chức năng” các trường đại học dẫn đến việc xóa bỏ ranh giới giữa 3 khu vực Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ở Nhật Bản ngày càng nhiều, hiện chỉ đứng sau Mỹ (khoảng 50%),Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của thế giới
Sự đầu tư về giáo dục của Philippines
Trang 7Dù là một nước đang phát triển, nhưng nền giáo dục Philippines từng là một nền GD tiên tiến của Châu Á, với hệ thống GD tiểu học, cơ sở, trung học và đại học uy tín Tuy nhiên, theo bảng xếp hạng các trường Đại học và cao đẳng trên toàn cầu của tổ chức Quacquarelli Symonds có trụ sở tại London, hiện không có một trường Đại học hàng đầu nào của Philippines được lọt vào top 300 Trong
“Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2011” do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố mới đây, Philippines cũng chịu cảnh tụt hạng tương tự Trong số 138 nền kinh tế,
hệ thống giáo dục Philippines được xếp ở vị trí 68 Còn trong khối ASEAN, Philippines đứng sau Singapore, Brunei, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam Hệ thống giáo dục Philippines đang suy giảm dần theo từng thập kỷ – hậu quả từ sự thất bại của các chính quyền trong việc đầu tư một cách kém hiệu quả vào lĩnh vực này
Quản lí giáo dục hạn chế, thiếu đầu tư của nhà nước, chất lượng giáo dục thấp không đủ tạo nên những bộ não bắt kịp thời đại… – giáo dục Philippines đang đứng trước sức ép cải cách và thật khó để bắt đầu từ đâu khi mà vấn đề ngân sách vẫn là bài toán không lời giải Giáo dục Philippines đang có vô vàng khó khăn Năm 2010 nước này thiếu 57.930 phòng học, 7,8 triệu cuốn sách giáo khoa và 20.874 giáo viên Hệ thống 45.000 trường công từ tiểu học đến cao đẳng của Philippines hiện đang thiếu ít nhất 2,5 triệu ghế ngồi và khoảng 60.000 phòng học Chỉ 6 trong số 1.000 học sinh tốt nghiệp lớp 6 sẵn sàng tâm thế vào học trung học; chỉ 2 trong số 100 học sinh trung học học tiếp lên được cao đẳng; chỉ 19 trong số
100 giáo viên trường công tự tin và có năng lực dạy tiếng Anh; xếp hạng quốc tế, học sinh Philippine đứng thứ 41 về kiến thức khoa học và thứ 42 về toán trong 45 nước nghiên cứu…Ngân sách giáo dục tính bình quân cho mỗi học sinh chỉ đạt 150 USD/năm, một con số nhỏ nhoi so với nước lân cận Thái Lan đầu tư trung bình
950 USD cho mỗi HS/năm Chưa kể là tổng số học sinh tăng bình quân hàng năm 2,8% trong khi ngân sách cho giáo dục dậm chân tại chỗ Ngân sách giáo dục năm
2005 có tăng 2,5 tỉ P (đơn vị tiền Philippine) so với năm 2004 nhưng thực chất xét
tỉ lệ với tổng ngân sách quốc dân thì “miếng bánh” cho giáo dục giảm từ 13,65% năm 2004 xuống 12,35% năm 2005
Ngân sách dành cho Bộ Giáo dục của nước này trong năm 2012 sẽ được tăng thêm 12,5% lên 238,8 tỷ peso (5,5 tỷ USD), so với 207,3 tỷ peso của năm 2011 Điều đó cũng nói lên rằng nhu cầu về GD là rất lớn.Chất lượng giáo dục Philippine
Trang 8đang suy giảm liên tục, giáo dục tiểu học và trung học thất bại trong việc tạo nên một thế hệ công dân có trách nhiệm, ham muốn lao động và có ước nguyện Những
lí do hàng đầu cho sự suy giảm này bởi trước tiên nước này không đầu tư đủ cho
hệ thống giáo dục và thứ hai là tổ chức giáo dục được quản lí một cách yếu kém
Sức ép cải cách đang đặt lên vai các quan chức giáo dục Philippine và họ cũng khó
mà làm thay đổi bộ mặt giáo dục một cách tức thời, đây là một vấn đề mang tính lâu dài và phụ thuộc vào quan điểm ưu tiên giáo dục của chính phủ Bộ Giáo dục Philippine đang đề xuất một khung chi tiêu ngân sách 5 năm cho giáo dục cơ bản
để có thể thực hiện một chiến lược dài hạn xây đủ phòng học và cung ứng đủ trang thiết bị giáo dục khác Bộ Giáo dục ước tính sẽ cần tăng 8 đến 9% ngân sách hàng năm trong 5 năm tới để thực hiện có hiệu quả các cải cách giáo dục
Sự đầu tư về giáo dục của Việt Nam
Là một nước đang phát triển,Việt Nam đang từng bước tiến lên công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước.Theo đó nền giáo dục của nước ta cũng đang từng bước thay đổi.Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng
và phát triển đất nước Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ đại học, trên đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, cũng như yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lãnh vực Với quan điểm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hình đào tạo đại học
Do vậy, tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh Hiện trên cả nước
có khỏang gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học công lập, bán công, dân lập và các học viện Tới đây
sẽ có thêm một số trường đại học tư thục ra đời Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng lên rõ rệt Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh Tuy nhiên, dù có phát triển như
Trang 9thế nào đi nữa thì chất lượng giáo dục, đào tạo vẫn luôn là vấn đề quan trọng cốt tư.̉ Thực tế hiện nay có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau khi đánh giá về chất lượng giáo dục đào tạo đại học của Việt Nam so với nhu cầu xã hội và trình độ thế giới
Nhận ra nều giáo dục Việt Nam còn tồn tại một số điểm sau:
1.Về phía người dạy:
Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế
2.Về phía người học:
Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho qua
“học theo hội chứng bằng cấp” , do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ Chỉ số chất lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước
3.Về chương trình đào tạo:
Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn
4 cho giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp:
Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại học mà nguyên nhân chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chế quản
Trang 10lý chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy
và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và rồi “Sản phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường, người học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm
ĐÁNH GIÁ VỀ NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM.
Tích cực:
- Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội
- Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ
- Tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở
- Công tác xã hội hoá giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu
- Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện
- Công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến
Tiêu cực:
- Mặc dù đã có nhiều chính sách,chỉ thị đổi mới nhưng nền giáo dục của nước ta vẫn còn mắc phải nhiều lỗi lớn,vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém
- Đội ngũ giáo viên chưa thật sự đáp ứng được nhiệm vụ giáo dục trong thời kì đổi mới
- Có những chính sách chưa phú hợp với nền giáo dục nước nhà
- Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn yếu kém lạc hậu
- Chất lượng giáo dục còn thấp so với nhu cầu xã hội và thế giới