1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

20 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈPHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Xã hội hiện nay ngày càng phát triển, phát triển con người là vấn đề trọng tâm của mỗi quốc gia Giáo dục quyết định cho bản tính con người trong tương lai “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” là khẩu hiệu thường thấy ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Nước Việt Nam ta cũng không ngoại lệ Giáo dục đang là mối quan tâm lớn của toàn xã hội Chúng ta đang nỗ lực để xây dựng và thực hiện chương trình cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nhân lực của xã hội hiện đại ngày nay Cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ trên thế giới cũng như ở Việt Nam đòi hỏi giáo dục và nhà trường phải chuyển biến theo cho phù hợp Trong thời đại bùng nổ thông tin, thị trường lao động đòi hỏi nhà trường phải đào tạo những con người năng động, có khả năng thích ứng nhanh nhạy với biến đổi không ngừng của cuộc sống Họ phải có khả năng tự học tự nghiên cứu để cập nhật thông tin, nhất là khi không còn ngồi trên ghế nhà trường Học tập suốt đời là phương châm sống của mỗi người trong thời đại chúng ta Do đó, nhà trường phải trang bị cho người học phương pháp tự học, tự nghiên cứu Trên tất cả những cơ sở đó, tôi xin trình bày đề tài: “PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY BẬC ĐẠI HỌC - CAO ĐẲNG THEO HƯỚNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ” Tinh thần cốt lõi của dạy học theo học chế tín chỉ chính là dạy học tích cực và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học Dạy học tích cực hay phương pháp tích cực đều có cùng đặc điểm với tinh thần “dạy học lấy người học làm trung tâm” Cách dạy của thầy không còn là truyền thụ một chiều, chỉ cung cấp thông tin nữa mà là dạy cách học, cách học của trò không chỉ là tích lũy kiến thức mà phải nắm lấy cách tự học Các nghiên cứu về phương pháp dạy học trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã cho thấy chừng nào thầy còn dạy theo kiểu truyền thụ một chiều, trò còn học theo kiểu ghi nhớ kiến thức, kiểm tra đánh giá nặng về kiến thức, coi nhẹ kĩ năng, tư duy thì chất lượng đào tạo còn hạn chế, sản phẩm đào tạo không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 43/2007/QĐ- BGDĐT ngày 15 tháng

8 năm 2007 về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” Đó là bước đột phá chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, cao đẳng ở nước ta

Trang 2

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

2.1: Ý nghĩa lý luận:

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời không chỉ để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại có tính năng động ngày càng cao mà còn để đáp ứng nhiều mục tiêu, trong đó có sự thay đổi về quan niệm giáo dục Từ quan niệm một nền giáo dục dựa trên quyền lực- theo

đó người học chỉ có nhiệm vụ là phục tùng, là chấp nhận vô điều kiện chương trình mà

cơ sở đào tạo quy định và nội dung mà người dạy truyền đạt, đến quan niệm dân chủ trong giáo dục Quan niệm giáo dục lấy người học làm trung tâm chính là biểu hiện tập trung nhất của việc trao quyền dân chủ cho người học càng ngày càng nhiều hơn

2.2: Ý nghĩa thực tiễn:

Nước Mỹ có một hệ thống giáo dục Đại học tốt nhất trên thế giới Theo những bảng xếp hạng đáng tin cậy nhất, 17/20 trường đại học tốt nhất trên Thế giới lag Đại học Mỹ, còn trên bảng xếp hạng 50 thì Mỹ chiếm 35.Các trường đại học này đang sử dụng 70% những người đoạt giải Nobel, những người này chiếm 30% số lượng các bài nghiên cứu khoa học trong khoa học và kĩ thuật trên Thế giới, và là tác giả của 44% những trích dẫn phổ biến nhất trên các bài nghiên cứu khoa học trên toàn Thế giới Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đặc điểm ấn tượng của Đại học Mỹ là họ đã duy trì được chất lượng xuất sắc như vậy với một số lượng sinh viên lớn hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới

Vì vậy, Việt Nam và các nước đang phát triển khác đang đối mặt với áp lực từ cả hai phía: sự bùng nổ số lượng và yêu cầu về chất lượng, đang nghiên cứu hệ thống giáo dục Mỹ để khám phá bí quyết ấy Nhìn chung, những nước này đang tập trung chú ý đến một nhân tố quản lý vốn là sáng kiến của hệ thống giáo dục Mỹ, đó là hệ thống phân chia/ tích lũy học phần, hay còn được biết đến với tên gọi “hệ thống đào tạo theo tín chỉ”

PHẦN NỘI DUNG

I Định nghĩa tín chỉ và học chế tín chỉ:

1 Tín chỉ là gì?

Trang 3

Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người

Mĩ gốc Trung Quốc James Quann thuộc Đại học Washington Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa

hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau:

Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài…; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần

Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ và thực tế đào tạo của đơn vị, tín chỉ theo cách hiểu của ĐHQGHN được cụ thể hóa như sau:

Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn

2 Học chế tín chỉ:

Học chế tín chỉ là một hình thức đào tạo được hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng Bản chất của học chế tín chỉ là “cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục đại học cho số đông”, với triết lý “hướng về người học”; “lấy người học làm trung tâm” Học chế này tạo điều kiện và bắt buộc người học phải chủ động trong việc học tập của

Trang 4

mình Đây chính là mục tiêu của giáo dục đại học: người học có khả năng tự học, tự nghiên cứu, có khả năng giải quyết vấn đề, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Hiệu quả đào tạo được tăng lên do người học được học theo nhu cầu, khả năng học tập và hoàn cảnh kinh tế của mình

Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, người học giữ vị trí đặc biệt quan trọng, vị trí

“trung tâm” trong đào tạo tín chỉ Nhưng nếu những “trung tâm” này không hoạt động, hoạt động yếu hoặc thiếu chủ động thì dù có cố gắng đến mấy thì những tương tác đến những “trung tâm” ấy sẽ mất tác dụng, từ đó sẽ dẫn đến thất bại trong đào tạo Những sinh viên mới với những thói quen, cách học, cách tư duy cũ ở bậc trung học khi bước chân vào giảng đường Đại học chắc chắn còn nhiều lạ lẫm, bỡ ngỡ và chưa thể trở thành ngay những trung tâm, hạt nhân tích cực trong quá trình học tập ở đại học

Như vậy, làm thế nào để người học – những sinh viên mới nhập trường trở thành

“trung tâm” tích cực trong đào tạo theo học chế tín chỉ là một trong những việc cần phải làm tốt để có thể tổ chức đào tạo theo tín chỉ có hiệu quả

II Vai trò và nhiệm vụ của người dạy và người học trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ:

1 Vai trò và nhiệm vụ của người dạy:

- Đào tạo hệ thống tín chỉ không phải là việc giảm giờ dạy trên lớp một cách máy móc Cái làm nên sự thay đổi căn bản về chất của học chế tín chỉ là sự thay đổi quan niệm về đào tạo Việc thay đổi quan niệm này tất yếu phải dẫn đến thay đổi về phương pháp dạy học Thật vậy, việc thay đổi từ quan niệm lấy người dạy làm trung tâm sang quan niệm lấy người học làm trung tâm đã dẫn đến việc thay đổi căn cơ vai trò của người dạy: phương pháp truyền đạt kiến thức hoặc cách tiếp cận nội dung được thay bằng cách tiếp cận mục tiêu sao cho người học đạt được mục tiêu xây dựng những kỹ năng cao cấp, như phân tích, tổng hợp, phản biện, ra quyết định, giải quyết vấn đề…

- Nhà giáo Đại học hiện nay không còn là người đơn thuần truyền thụ kiến thức mà là người hướng dẫn, hỗ trợ và tư vấn cho sinh viên tìm chọn và xử lý thông tin Do đó người thầy phải nắm bắt được nhu cầu của người học và tổ chức để họ quản lý được thời gian của mình, có tính đến sự khác biệt cá thể, đồng thời động viên họ tích cực tham gia vào quá trình nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển các

Trang 5

kỹ năng học tập độc lập như tự quyết định mục tiêu của bản thân, tự tìm kiếm và xử lý thông tin, tự đánh giá năng lực và chất lượng học tập của mình để sản phẩm đào tạo của đại học có thể là những thực thể tiếp tục phát triển sau khi tốt nghiệp và suốt đời

- Vị trí của nhà giáo đại học không phải được xác định bằng sự độc quyền về thông tin và tri thức có tính đẳng cấp, mà bằng trí tuệ và sự từng trải của mình trong quá trình dẫn dắt SV tự học

- Điểm cơ bản và quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy-học đại học hiệu quả là người thấy nêu vấn đề và phát huy tối đa khả năng tự học và tư duy độc lập của sinh viên Các cách dạy học theo lối truyền thống truyền đạt - lĩnh hội cần được thay đổi bằng những cách làm mới cùng với sự hỗ trợ của phương tiện mới hiện đại

- Luôn liên hệ với thực tiễn đang thay đổi

- Làm cho SV biết hợp tác và chia sẻ

- Tận dụng sự hỗ trợ của phương tiện dạy học

- Nghiên cứu khoa học cũng là một yêu cầu đối với giảng viên và đồng thời nó khẳng định “tính đại học”, là thành tố không thể thiếu trong việc hình thành phương pháp dạy-học mới trong các trường đại học, giúp thầy tìm kiếm, phát hiện, giúp trò gắn học với hành, phát triển tư duy logic và rèn luyện phương pháp luận sáng tạo Dựa trên những định hướng nghiên cứu lớn của từng trường, mỗi giảng viên phải xây dựng cho mình một hướng đề tài nghiên cứu lâu dài, trên cơ sở đó xác định kế hoạch nghiên cứu khoa học cho từng thời kỳ Có thể huy động những khả năng to lớn của sinh viên vào việc cùng thực hiện từng phần của đề tài Nghiên cứu khoa cũng chính là phương thức hiệu quả nhất để thầy có thể nâng cao chất lượng chuyên môn của mình

2 Vai trò và nhiệm vụ của người học:

 Vì mục tiêu đào tạo theo tinh thần mới là rèn luyện các kỹ năng cao cấp như quan sát, phân tích, so sánh, phê phán… nên hình thức học vẹt, học nhồi nhét kiến thức không

Trang 6

còn phù hợp nữa Đào tạo theo hướng sư phạm tích cực đồng nghĩa với việc tự học và tự nghiên cứu

- Người học quyết định lộ trình học tập: Người học kế hoạch hóa quá trình đào tạo

của mình, tùy theo quỹ thời gian của mỗi người Theo tinh thần đó, người học sẽ quyết định sau khi hoàn tất chương trình phổ thông họ sẽ vào học đại học ngay hay tham gia vào lao động xã hội để giải quyết vấn đề tài chính gia đình Khi vào đại học, họ sẽ lên kế hoạch hoàn tất chương trình học trong thời gian phù hợp với họ: cơ sở đào tạo ấn định ngưỡng thời gian ngắn nhất và dài nhất cho một khóa đào tạo: một chương trình đào tạo 4 năm có thể được người học thực hiện trong 3 năm hoặc 8 năm, tùy theo hoàn cảnh gia đình của mỗi người Đây là một nỗ lực nhằm hướng đến sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học

- Người học quyết định nội dung của quá trình đào tạo: Khác với phương thức đào

tạo truyền thống, ở đó người học phải trải qua một chương trình đào tạo được quy định chung cho mọi người, phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhằm cá thể hóa quá trình đào tạo, nghĩa là người học sẽ tự thieets kế chương trình đào tạo cho chính mình Người học sẽ chọn những học phần nào họ cảm thấy hứng thú hoặc phù hợp với năng khiếu, sở thích và định hướng nghề nghiệp của mình Vì thế, một cơ sở đào tạo có năng lực đáp ứng nhu cầu xã hội, có sức thu hút là cơ sở có khả năng cung cấp càng nhiều môn học tự chọn càng tốt để việc chọn lựa càng phù hợp với người học Hệ thống tự chọn đem lại cho sinh viên một cơ hội để phân biệt bản thân mình với người khác, theo đuổi những mối quan tâm riêng của mình và xây dựng tương lai nghề nghiệp dựa trên thế mạnh và tài năng của mình

- Người học tham gia vào việc quyết định cách thức học tập của từng môn học: Về

khía cạnh thụ đắc kiến thức, hệ thống đào tạo mới này dựa trên quan điểm của lý thuyết kiến tạo xã hội Theo đó, thái độ tiếp thu kiến thức một cách thụ động trong nền giáo dục truyền thống là đi ngược lại với bản chất của việc hình thành tri thức Vì thế, nó đòi hỏi người học phải thay đổi thái độ trong học tập, phải xây dựng kiến thức cho mình qua quá trình tự nghiên cứu Chính vì thế, giờ học trên lớp được quan niệm là nơi “cọ xát” giữa

Trang 7

những kiến thức mà người học có được từ nhiều nguồn khác nhau Phương châm tự chủ trong học tập đã trở thành chìa khóa then chốt trong phương pháp sư phạm tích cực

 Tóm lại, đào tạo theo hệ thống tín chỉ là tăng cường ý thức trách nhiệm của người học đối với việc đào tạo của bản thân mình, là thực hiện dân chủ hóa trong giáo dục: người học tham gia vào tất cả các khâu trong tiến trình đào tạo của mình, từ việc cơ cấu các môn học dựa trên hệ thống tự chọn, đến việc quy hoạch lộ trình thực hiện tiến trình đào tạo đó tùy theo điều kiện và năng lực về tài chính, về quỹ thời gian của mình

III Những phương pháp trong dạy và học theo học chế tín chỉ:

1 Các phương pháp (PP) thu nhận thông tin:

- PP đọc sách và ghi chép: Đọc từng đoạn, từng chương, từng nội dung của tài liệu và

ghi chép những vấn đề cơ bản, tóm tắt nội dung hoặc đề cương là giúp người học nắm được tổng thể kết quả nội dung đã học là gì, có khi làm sáng tỏ vấn đề người học đang cố tìm hiểu thêm về một đối tượng, một nội dung trong quá trình học Đây cũng là cách thu nhận thông tin thường xuyên nhất của người học Trong quá trình dạy học, giảng viên (GV) yêu cầu sinh viên đọc một tài liệu hoặc một số trang của của tài liệu, tìm hiểu và tóm tắt nội dung trước khi đến lớp Cũng có khi giao phần đọc thêm sau khi đã học một nội dung để bổ sung kiến thức, làm rõ thêm vấn đề mà GV không giảng trên lớp Kiểm tra bằng kết quả tóm tắt của SV, trả lời một số câu hỏi (CH) do GV đưa ra

- PP hỏi: Hỏi là tự mình đặt CH trong quá trình học để tìm hiểu và giải đáp một số vấn

đề chưa rõ, cần làm sáng tỏ Hỏi và tìm câu trả lời là cách thức không chấp nhận dễ dàng một vấn đề khi chưa hiểu rõ và thể hiện tư duy tích cực trong quá trình học tập Biết cách đặt câu hỏi cũng là biết cách nhận diện, khám phá các khía cạnh của vấn đề, cần dành thời gian cho SV hỏi, hoặc sử dụng trong khi SV thảo luận, hoặc sau khi một nhóm trình bày kết quả thảo luận của mình, GV yêu cầu các nhóm khác thảo luận, chất vấn nhóm vừa trình bày GV hướng dẫn SV sử dụng các câu hỏi có các từ hỏi: Cái gì, là gì? Tại sao, vì sao? Ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Khuyến khích SV hỏi và có thể cộng điểm cho

SV, cho nhóm nếu hỏi được câu hỏi đúng và hay

Trang 8

- PP nghe giảng: Nghe giảng là điều cần thiết của HS, SV để thu nhận thông tin từ

GV Nghe giảng giúp HS, SV biết được những điều đơn giản của nội dung bài học qua người đã nghiên cứu, có kinh nghiệm, có hiểu biết về nội dung cần học, đồng thời được phân tích, minh họa qua các ví dụ Cách trình bày, tiếp cận, nhấn mạnh những điều cơ bản của GV qua cử chỉ, giọng nói làm cho HS, SV chú ý, hiểu và ghi nhớ hơn, thu nhận thông tin tốt hơn Yêu cầu SV đi học chuyên cần, có ghi chép và kiểm tra là cách giúp SV nghe giảng thường xuyên, không bỏ qua các bài giảng của GV

- PP nhớ: Ghi nhớ những vấn đề cơ bản để sử dụng trong các trường hợp cần thiết là

yêu cầu bắt buộc ở một số nội dung trong quá trình học, ví dụ khái niệm, định nghĩa, quy tắc, quy trình, định lý, định luật, công thức tính… Ghi nhớ là cách thu nhận thông tin cơ bản không thể thiếu trong quá trình học, bằng cách lặp đi lặp lại một vài lần, hoặc ứng dụng một số lần cho đến khi thuộc Có thể nhớ nội dung, cũng có thể nhớ phương pháp, cách tìm nó ở đâu, như thế nào Yêu cầu SV học thuộc, nhớ những điều cơ bản, hỏi đi hỏi lại SV, hướng dẫn SV cách học và nhớ, vận dụng sẽ giúp SV nhớ và nhớ lâu hơn

- PP dùng từ điển, sử dụng CNTT: Từ điển giúp người học tra cứu để làm rõ khái

niệm, từ đó hiểu nội hàm khái niệm, có thể có ví dụ minh họa Tra từ điển cũng là cách thu nhận thông tin nhanh và bổ ích cho HS SV khi cần tìm hiểu một khái niệm bắt gặp mà chưa có lời giải thích hoặc chưa hiểu rõ nội hàm của nó GV yêu cầu SV tìm hiểu, giải thích các thuật ngữ, tạo điều kiện cho SV tra từ điển, học qua từ điển Bản thân GV khi giảng, trình bày cũng liên hệ theo từ điển thì từ, cụm từ, thuật ngữ đó được hiểu như thế nào để SV có thói quen sử dụng từ điển trong học tập và cuộc sống

- PP học trong sự tập trung tư tưởng cao độ: Học trong sự tập trung tư tưởng cao độ

giúp người học nhớ và hiểu được những vấn đề cơ bản của tri thức, tính logic của nội dung, thông tin thu được nhiều và nhanh hơn Thường thì tập trung tư tưởng cao độ sẽ giúp người học hiểu kỹ hơn, nhớ lâu hơn, do vậy cũng là PP thu nhận thông tin tích cực

Ở lớp, GV yêu cầu SV tập trung chú ý, thỉnh thoảng hỏi lại vấn đề vừa trình bày, làm cho

SV phải tập trung chú ý Yêu cầu SV về nhà phải có kế hoạch học tập và tập thói quen

Trang 9

tập trung tư tưởng học trong khi thực hiện kế hoạch học tập trong một thời gian nhất định

2 Các PP xử lý thông tin:

- Diễn đạt ý kiến: Diễn đạt ý kiến là trình bày cho người khác hiểu một nội dung theo

cách hiểu của mình Bằng cách sắp xếp và trình bày theo một ý tưởng nào đó, hình thức nào đó, diễn đạt ý kiến chính là xử lý thông tin theo cách riêng của mình theo một logic xác định GV thường xuyên tạo điều kiện, yêu cầu SV lần lượt thay nhau trình bày trong nhóm, không có ai không có ý kiến riêng của mình sẽ giúp SV diễn đạt tốt hơn trong quá trình học

- Học bằng PP tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống là xem xét sự vật trong một thể

thống nhất với các yếu tố có quan hệ, ràng buộc lẫn nhau, phụ thuộc nhau, ảnh hưởng đến nhau Khi thay đổi một thành phần, một yếu tố trong hệ thống thì các yếu tố khác cũng có sự thay đổi Vì vậy, PP tiếp cận hệ thống giúp cho HS, SV gắn các đối tượng có liên quan trong một chỉnh thể để xem xét, phát hiện các mối quan hệ giữa chúng trong quá trình học Yêu cầu SV lập đề cương, lập sơ đồ tóm tắt một chương sau khi học sẽ giúp SV sắp xếp, liên kết các vấn đề thành hệ thống, theo một cấu trúc nào đó và có sự giải thích cũng là một cách giúp SV tiếp cận hệ thống

- Đặt câu hỏi (CH): Đặt CH để tìm hiểu, để phân loại, sắp xếp đối tượng theo một cấu

trúc, hệ thống nào đó Đó cũng là cách xử lý thông tin một cách tích cực từ người học Bản thân GV cần đặt CH và yêu cầu SV đặt CH trong quá trình học

- Nghiên cứu theo nhóm: Nghiên cứu theo nhóm giúp các thành viên trong nhóm giải

quyết các vấn đề khác nhau do nhóm đặt ra và phân công cho các thành viên Đó là cách xử lý thông tin theo PP liên kết mạng Nghiên cứu theo nhóm không chỉ giúp người học thu nhận thông tin của nội dung cần nghiên cứu một cách tổng thể mà còn thu nhận thông tin qua PP thực hiện, xử lý thông tin của các thành viên trong nhóm GV giao việc, hướng dẫn SV hoạt động nhóm và kiểm tra kết quả để giúp SV nghiên cứu theo nhóm và xử lý thông tin trong quá trình học

Trang 10

- Lập sơ đồ: Là một cách sắp xếp các thông tin theo một kiểu nào đó làm nổi bật đặc

tính của sự vật, hiện tượng, có sự so sánh, đối chiếu với một chuẩn nào đó Lập sơ đồ và cách xử lý thông tin, đưa thông tin vào mối quan hệ, so sánh, đối chiếu với các định mức, tiêu chuẩn cần thiết Tùy vào nội dung bài học mà GV yêu cầu SV lập sơ đồ, biểu bảng phù hợp

- Viết đoạn văn: Viết đoạn văn với những yêu cầu trình bày, diễn tả nội dung có liên

quan đến việc mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp một vấn đề Có khi sử dụng trong thuyết minh một vấn đề, bảo vệ một luận điểm bằng ngôn ngữ Đó cũng là cách xử lý thông tin bằng ngôn ngữ thông thường khi cần thiết

- Sắp xếp khái niệm: Sắp xếp khái niệm là xử lý thông tin theo một trật tự logic, một hệ

thống, một đặc điểm hoặc một tính chất nào đó Khi có nhiều khái niệm khác nhau, GV cho SV sắp xếp các khái niệm để hiểu rõ mối quan hệ giữa các khái niệm, làm cho SV hiểu rõ hơn nội dung bài học

- Viết tóm tắt từ các bảng ghi chép: Đây là cách xử lý thông tin qua cách hiểu của

người học bằng cách thu thập, tổng hợp, chắt lọc, sắp xếp lại các tri thức theo một yêu cầu nào đó sau khi đã ghi chép một số nội dung

3 PP nghiên cứu khoa học:

- Bài tập nghiên cứu; Khóa luận tốt nghiệp; Luận văn tốt nghiệp là những PP giúp

người học trình bày những vấn đề nghiên cứu theo một trình tự, hệ thống, logic về các kiến thức, kỹ năng học được trong quá trình học tập Nó thể hiện cao nhất kết quả học tập của người học Nó cũng thể hiện năng lực, trình độ, khả năng phân tích, tổng hợp, cách trình bày, diễn đạt một vấn đề của người học Những quy định về các phương pháp thực hiện hình thức học tập này có các quy định riêng có thể tham khảo ở các tài liệu khác mà chúng tôi không trình bày ở đây

4 PP rèn luyện tư duy:

Ngày đăng: 28/11/2016, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w