1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nay

13 2,1K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 31,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nayĐổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nay

Trang 1

A.LỜI MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn: “Giáo dục cũng phải theo hoàn cảnh, điều kiện Phải ra sức làm nhưng làm vội cũng không được Từ đây ra cửa thì thứ nhất là bước thứ nhất, thứ hai mới đến bước thứ hai, rồi thứ ba mới đến bước thứ ba Vội thì ngã Phải làm

có kế hoạch, có từng bước”.

Như vậy để thấy được tầm quan trọng của Giáo dục, nhưng không phải phương pháp giáo dục nào cũng đúng Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập Hiển nhiên việc đổi mới giáo dục đang

là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặt lên hàng đầu Tuy nhiên, từ lý thuyết đên thực tế là

1 quãng đường dài

Nhưng đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không phải là một quá trình đơn giản,

dễ dàng; không phải chỉ vì nền giáo dục đang có nhiều yếu kém, bất cập, thiếu nguồn lực đầu tư, mà còn bởi nhiều vấn đề mới đang còn không ít nhận thức khác nhau, cần có những nghiên cứu sâu để tìm ra lời giải có căn cứ cả về lý luận khoa học và thực tiễn Hơn nữa giáo dục là một hệ thống xã hội lớn, khá phức tạp với nhiều chủ thể tham gia và liên quan, vận hành liên tục, năm này gắn với năm khác, bậc nọ gắn với bậc kia, không thể dừng lại một cách dứt đoạn, làm lại từ đầu cả hệ thống cùng một lúc Quá trình đổi mới này cũng không thể là công việc của một năm, 5 năm, mà là công việc của 10 năm và có thể lâu hơn Do đó, quá trình đổi mới này phải được triển khai thống nhất, đồng bộ, có bước đi phù hợp với những ưu tiên xác định, trên cơ sở gắn nghiên cứu khoa học với thử nghiệm, với tổng kết thực tiễn, với tổ chức triển khai rộng trên thực tế, rút kinh nghiệm và điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện, để không cho phép xảy ra những sai lầm nghiêm trọng Tất cả những vấn đề quan trọng liên quan đến quá trình đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục phải được nghiên cứu một cách thấu đáo, khoa học, khách quan và có hệ thống

Do tầm quan trọng, quy mô, tính chất và nội dung rộng lớn đó, nên công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không thể chỉ giao và là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục Đây là sự nghiệp lớn lao của cả Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Vì vậy cần có một

Trang 2

Ban Chỉ đạo Trung ương (hay Ban Chỉ đạo Quốc gia) về đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, với sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Nhà nước, với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp và những người am hiểu sâu sắc về giáo dục…, trong đó ngành giáo dục là nòng cốt

Vì những lý do trên mà tôi quyết định lựa chọn đề tài : Đổi mới nền giáo dục Việt Nam trong thời đại hiện nay” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần Giáo dục học đại cương

Trang 3

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY

- Giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt, chưa thực sự là quốc sách hàng đầu

- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên

- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…

- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối

- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước

- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp

- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm

- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập

- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ

Trang 4

chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội

Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo -quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy

đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích

Từ thực trạng đáng buồn nêu trên thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy và học là vô cùng cần thiết

II ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Xu hướng chính.

- Xu hướng thứ 1 : Phát triển công nghệ dạy học hiện đại (Technology of teaching): Đây

là hướng lý luận dạy học ứng dụng, nghiên cứu dạy học theo chiều phân hóa

– cá thể hóa theo nhịp độ riêng của quá trình lĩnh hội Sử dụng tối đa, trong

thế chọn lựa tối ưu các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại Đặc biệt

chú trọng tự học có hướng dẫn (Assisted Self – learring), có hệ đánh giá

định lượng kiến thức và kỹ năng của học sinh

- Xu hướng thứ 2 : Dạy học theo khuynh hướng sáng tạo học (Creatology): Một khuynh hướng mới, đang thịnh hành ở các nước tiên tiến Vượt chuẩn “công nghệ

cao”, họ bắt đầu quay về thu hút tất cả những ai có “chất xám” bất kể có

trình độ học vấn cỡ nào, ai cũng có thể học để phát huy sáng tạo Vận dụng

tất cả thế mạnh của các phương pháp dạy học nhằm kích thích và bảo đảm

đầy đủ cho năng lực và môi trường sáng tạo của người học Có hệ chuẩn

đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh theo năm cấp độ khác nhau

Đây là khuynh hướng rất quan trọng, đẩy mạnh sự học, chịu khó sáng

tạo khi học để “đuổi kịp người và thời đại”

- Xu hướng thứ 3: gọi là Cách tân truyền thống, chuyển mình đón

nhận những thành tựu dạy học hiện đại, lấy phương pháp nêu vấn đề - đối

Trang 5

thoại làm then chốt Vận dụng linh họat tất cả các phương pháp nhằm đạt

hiệu quả tối ưu trong giảng dạy Tùy tình hình cụ thể mà có một lộ trình

thích hợp, từng bước tiến tới đổi mới dạy học toàn diện

2 Nhiệm vụ trọng tâm.

- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hành động.

Các Bộ, ngành, địa phương, trước hết là ngành giáo dục và đào tạo, các cơ quan báo chí chủ động tổ chức việc học tập và thường xuyên tuyên truyền, giải thích các nội dung của Nghị quyết 29

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông

Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo và giữa các hình thức giáo dục, đào tạo Bên cạnh đó, triển khai phân luồng và định hướng nghề nghiệp ở giáo dục phổ thông; phân loại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu, ứng dụng và thực hành

Ngoài ra, tiếp tục triển khai việc sắp xếp các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp –hướng nghiệp và trung tâm dạy nghề cấp huyện

- Đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực

Với nhiệm vụ này, các cơ quan chức năng sẽ phải rà soát, hoàn thiện chương trình giáo dục mầm non bảo đảm mục tiêu giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1 Triển khai chương trình hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình và các nhóm trẻ độc lập, tư thục

Xây dựng và phê duyệt chương trình giáo dục phổ thông mới chú trọng việc tăng cường các hoạt động trải nghiệm thực tế nhằm giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện kỹ năng cho học sinh Khuyến khích cá nhân, tổ chức tham gia biên soạn sách giáo khoa (sách in

và sách điện tử) trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, sử dụng thống nhất trong toàn quốc

Cùng với đó, rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu về chất lượng đào tạo và nhân lực của từng ngành, nghề, địa phương, toàn

xã hội

Trang 6

- Đổi mới thi cử, tiến tới tổ chức một kỳ thi chung

Theo đó, hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục được đổi mới theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát triển

Trong đó, cần đổi mới việc tổ chức thi, công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh cao đẳng, đại học, tiến tới tổ chức một kỳ thi chung, lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và làm căn cứ tuyển sinh đào tạo nghề và đào tạo cao đẳng, đại học; thành lập các trung tâm khảo thí độc lập

- Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà giáo đầu ngành ở các cấp học

Về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cần đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp

Nghiên cứu, đề xuất chính sách tiền lương nhằm khuyến khích thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành giáo dục và đào tạo: mức lương nhà giáo được hưởng trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp; phụ cấp theo tính chất công việc, theo vùng; phụ cấp thâm niên nghề nghiệp tính cho thời gian trực tiếp giảng dạy Xây dựng cơ chế tín dụng để tạo điều kiện về nhà ở và học tập nâng cao trình độ cho giáo viên, giảng viên trẻ

- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo và dạy nghề

Cần sửa đổi, bổ sung cơ chế đầu tư, ưu đãi về đất đai, vốn để hỗ trợ các cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề ngoài công lập; cơ chế cho thuê cơ sở vật chất để phát triển giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập

Khuyến khích hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề; phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề với các cá nhân, doanh nghiệp có uy tín trong

và ngoài nước để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; bảo đảm sự công bằng về mọi chế độ, chính sách đối với học sinh, sinh viên giữa cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập

- Đổi mới công tác quản lý giáo dục, đào tạo và dạy nghề

Chương trình hành động cũng cho biết, Chính phủ sẽ xác định rõ trách nhiệm của các cơ

Trang 7

quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và dạy nghề; trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các Bộ, ngành, địa phương và trách nhiệm của các Hội, Hiệp hội Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực, tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề

- Tăng cường cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục đào tạo và dạy nghề công lập hiện có, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin, cơ sở vật chất rèn luyện thể lực

và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

Chính phủ xác định, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo và dạy nghề nhằm tranh thủ các nguồn lực, vận dụng có chọn lọc và sáng tạo kinh nghiệm của các mô hình giáo dục tiên tiến, đẩy nhanh tiến độ đổi mới chương trình và chất lượng đào tạo các trình độ phủ hợp với khu vực và quốc tế

Ngoài ra, xây dựng cơ chế thu hút chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại Việt Nam và cử chuyên gia, giảng viên của Việt Nam

ra nước ngoài nghiên cứu, giảng dạy…

III CÁC GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ NHẰM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC

Mỗi giảng viên phải có khả năng làm việc cường độ cao, có tinh thần

đổi mới, tiếp cận thực tế, thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức, kỹ

năng mới Giảng viên phải thành thạo trong các kỹ năng giảng dạy từ cách tổ

chức lớp học, bố trí thời lượng, đặt câu hỏi, tổ chức và khuyến khích học

viên thảo luận, dẫn đắt mạch thảo luận, nhận xét, phản biện… Giảng viên

phải là những chuyên gia trong lĩnh vực phụ trách, phải là những nhà nghiên

cứu khoa học giỏi Để đáp ứng yêu cầu trên cần thay đổi lại cơ chế tuyển

dụng giảng viên, chú trọng nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thực tiễn, xây dựng chiến lược huấn luyện, thực tập thường xuyên, lâu dài, khai thác tối đa

bộ phận trợ giảng Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế động viên như thêm thời

gian, điểm đánh giá, tài chính,…

Trang 8

1 Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm

trung tâm

Phương pháp giảng dạy “lấy người học làm trung tâm” không có nghĩa

là loại trừ phương pháp thuyết giảng Thực chất đó là sự kết hợp hài hoà nhuần nhuyễn giữa thuyết giảng và đối thoại với mục tiêu phát huy cao độ tính tích cực, năng động, độc lập , sáng tạo của người học Với phương pháp này yêu cầu người giảng không chỉ nắm vững những vấn đề cần trình bày

mà còn phải rất năng động nhạy bén và sáng tạo ngay trong giờ giảng, trên

cơ sở đó người giảng có thể truyền thụ những vấn đề cần thiết cơ bản đến người học một cách tự nhiên, sinh động và hứng thú

Để có thực hiện tốt phương pháp giảng dạy này, đòi hỏi:

- Ngay từ đầu môn học, giảng viên phải giới thiệu các tài liệu học tập đã chọn lọc theo từng vấn đề trong nội dung giảng dạy Trên cơ sở đó, giảng viên phải nêu vấn đề, gợi mở các vấn đề để sinh viên tự nghiên cứu tài liệu tham khảo từ đó giúp sinh viên tiếp nhận kiến thức trong sự so sánh đối chiếu, tạo thuận lợi cho sinh viên tích lũy được vốn kiến thức đa dạng, khám phá ra những ý tưởng mới, góp phần rèn luyện khả năng xử lý, tiếp nhận tri thức và phát huy tư duy sáng tạo

- Giảng viên phải chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng nội dung thảo luận và tăng cường các hình thức trao đổi thảo luận cả về lý thuyết và thực hành Trong qúa trình thảo luận, giảng viên không làm thay, chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên, giúp cho sinh viên tự chiếm lĩnh tri thức, tự bồi dưỡng niềm tin khoa học, từ đó giúp sinh viên nắm bắt nội dung học tập nghiên cứu một cách sâu sắc và đầy đủ

- Trong điều kiện thời gian có hạn, việc tổ chức thảo luận nhóm và học

đối thoại có thể làm “cháy” giáo án Do đó phải lựa chọn những vấn đề trọng tâm và phải xác định rõ thời lượng cho mỗi bài thảo luận

- Để cho sinh viên tự tin trong tham gia phát biểu thảo luận, đối thoại,

đòi hỏi giáo viên cần phải tạo cho lớp học một không khí học tập thoải mái thân thiện và không căng thẳng, mà vẫn không mất đi tính nghiêm túc của

Trang 9

- Kết cấu chương trình phải hợp lý sao cho sinh viên phải có quỹ thời

gian để đọc và nghiên cứu các tài liệu được giáo viên hướng dẫn

- Lớp học phải bố trí số lượng sinh viên vừa phải Nếu số lượng sinh

viên qúa đông thì khó có thể giảng dạy theo phương pháp mới một cách hiệu quả được

2 Nâng cao chất lượng giảng dạy

Chất lựợng giảng dạy có thể được đánh giá từ kết quả học tập của người học, từ những đánh giá dành cho giảng viên, từ nhận xét của người sử dụng

“sản phẩm”…Vậy tiêu chí cụ thể là gì và tiêu chí đó có thể phân chia thành yếu tố định tính và định lượng được không? Với ý kiến cá nhân, tôi mạnh dạn liệt kê các tiêu chí để đánh giá chất lượng và lấy đó làm cơ sở để xét đoán chất lượng giảng dạy thưc tế hiện nay của trường chúng ta như sau :

* Chỉ tiêu định lượng :

-Dựa trên kết quả đánh giá của đồng nghiệp

-Dựa trên tổng hợp ý kiến thăm dò của sinh viên

* Chỉ tiêu định tính :

-Có phương pháp giảng dạy thích hợp với từng đối tượng học, từng

chuyên đề, môn học

-Đảm bảo truyền đạt những thông tin chính yếu nhất mà môn học đòi

hỏi, thông tin được cung cấp có độ chính xác, logic, khoa học và có tính thực tiễn, có sự kết nối với các môn học có liên quan

* Cung cấp đầy đủ tài liệu:

Nêu tên tài liệu, hệ thống câu hỏi bài tập và có hướng dẫn cách thức tìm hiểu thông tin, phương pháp giải bài tập

* Nâng cao nhận thức :

Giúp cho người học nhận thức được khả năng ứng dụng kiến thức đã

học vào việc học các môn khác hoặc vào thực tiễn, các môn ngành có thể thao tác, xử lý được nghiệp vụ ngay khi còn đang học

* Phát huy được khả năng sáng tạo của sinh viên : hướng dẫn được cho

Trang 10

sinh viên cách thức nghiên cứu vấn đề, tạo sự hứng khởi, chủ động cho người học

* Biết sử dụng các phương tiện trợ giảng hợp lý.

Tuy nhiên các tiêu chí này cần được đặt trong một hoàn cảnh và môi

trường cụ thể, trong mối quan hệ giữa dạy và học cũng như sự hỗ trợ về cơ

sở vật chất, điều kiện, môi trường làm việc, cách thức quản lý thích hợp để xét đoán

3 Sử dụng hiệu quả các phương tiện giảng dạy hiện đại.

Phải chuẩn bị chu đáo và sử dụng hợp lý các phương tiện trợ giảng Tuy nhiên không nên qúa lạm dụng có thể gây phản tác dụng Vẫn còn tình trạng quá lạm dụng, ỷ lại phương tiện trợ giảng, không thoát ly được bài giảng, vì vậy khi xảy ra bất trắc -ví dụ như mất điện-các phương tiện trợ giảng không

sử dụng được thì giảng viên trở thành bị động

4 Chuẩn hoá hệ thống đánh giá kết quả học tập

Thực tế cũng cho thấy, một bộ phận lớn sinh viên đã tốt nghiệp vẫn chưa được xã hội chấp nhận do không đủ năng lực để phục vụ được các nhiệm vụ thực tế, mà sự bất cập trong hệ thống đánh giá kết quả học tập là một vấn đề rất đáng quan tâm

Giống như lợi nhuận trong kinh doanh, trong học tập điểm số chính là

dấu hiệu chỉ báo cơ bản phản ánh kỹ năng kiến thức của một sinh viên cần phải đạt được qua một khoá học Đánh giá quá trình học tập phải được thể hiện thông qua bảng điểm của sinh viên và hệ thống chuẩn mực dùng để xác định các điểm số đó Một nền giáo dục tiến bộ cần phải có một hệ thống điểm số đánh giá được chuẩn hoá, sao cho vừa có thể chuyển tải được hết mục đích của giáo dục, vừa giúp xã hội đánh giá chính xác mức độ có ích năng lực của sinh viên, đồng thời có thể giúp người học định hướng được mục tiêu và điều chỉnh được hành vi, để tự nâng cao kết quả học tập của bản thân

Điểm số tự thân nó cao hay thấp không phải là một vấn đề, mà vấn đề ở chổ chất lượng của hệ thống xác định nó Chất lượng càng cao mức độ

Ngày đăng: 28/11/2016, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w