Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian quý báu để mỗi sinh viên học hỏi, thu thập mọi kiến thức là hành trang bước vào cuộc sống mới với công việc của mình Xuất phát từ nguyện vọng của b
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
- -
DIỆP THÁI SƠN
Tên đề tài:
“ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở LỢN NÁI
NUÔI TẠI TRẠI ĐẶNG ĐÌNH DŨNG HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH
HÒA BÌNH VÀ ÁP DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Lớp :K43 - Thú y - N02 Khoa : Chăn nuôi thú y
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua sáu tháng thực tập tại cơ sở cũng như trong suốt thời gian học tập tại ghế nhà trường, nhờ sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, bạn bè và sự nỗ lực của bản thân tôi đã hoàn thành khóa lận tốt nghiệp để chuẩn bị ra trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, tới thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo Th.S Bùi Ngọc Sơn người đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt qúa trình thực tập và giúp
đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên tôi động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tực tập
Cũng qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên trong trại lợn Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
DIỆP THÁI SƠN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là nội dung cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian quan trọng với mỗi sinh viên, là cơ hội để áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian quý báu để mỗi sinh viên học hỏi, thu thập mọi kiến thức là hành trang bước vào cuộc sống mới với công việc của mình
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, yêu cầu của cơ sở, được sự đồng
ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y,Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Th.S Bùi Ngọc Sơn,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra tình hình một số bệnh sinh sản ở
lợn nái nuôi tại trại Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và
áp dụng một số phác đồ điều trị”
Do thời gian và trình độ còn hạn chế, bước đầu còn bỡ ngỡ với công tác nghiên cứu khoa học nên bản khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
DIỆP THÁI SƠN
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 38
Bảng 4.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 38
Bảng 4.3 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại Đặng Đình Dũng Lương Sơn Hòa Bình 39
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giống 41
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 43
Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ở lợn nái được nuôi ở các dãy chuồng 44
khác nhau 44
Bảng 4.7 Tỉ lệ nhiễm bệnh sinh sản theo tháng 45
Bảng 4.8 Kết quả điều trị một số bệnh sản khoa bằng 2 phác đồ 47
Bảng 4.9 Kết quả hạch toán chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 48
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giống 42 Hình 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh sinh sản theo lứa đẻ 44 Hình 4.3 Tỉ lệ nhiễm bệnh sinh sản theo tháng 46
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 26
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.1 Cơ cấu của đàn lợn nái của trại trong mấy năm gần đây 30
3.4.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh sinh sản toàn đàn nái của trại 30
3.4.3 Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh sinh sản bằng các phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 30
3.5 Phương pháp nghiên cứu 31
3.6 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 33
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
4.1.1 Công tác chăn nuôi 34
Trang 84.1.2 Công tác thú y 34
4.2 Kết quả nghiên cứu 38
4.2.1 Kết quả điều tra sự biến động về số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại 38
4.2.2 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại 39
4.2.3 Tình hình mắc bệnh sinh sản theo giống lợn 41
4.2.4 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻ 42
4.2.5 Tình hình mắc bệnh sinh sản ở lợn nái theo dãy chuồng 44
4.2.6 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo tháng 45
4.3 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 47
4.3.1 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của 2 phác đồ điều trị 47
4.3.2 Chi phí sử dụng thuốc trong điều trị 47
Phần 5 KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Tồn tại 50
5.3 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
I Tài liệu tiếng việt 52
II Tài liệu tiếng anh 54
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau thì chăn nuôi giữ một vị trí quan trọng, đã đóng góp một phần không nhỏ vào
sự phát triển của đất nước
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của người dân về nguồn thực phẩm, thì ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí hết sức quan trọng, vì nó cung cấp một khối lượng thịt, mỡ cho con người Thịt lợn là thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Sản phẩm phụ của ngành chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp phân bón với số lượng lớn cho ngành trồng trọt, da là nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Đi đôi với sự phát triển của ngành, thì hàng loạt các vấn đề quản lý kỹ thuật đang đặt ra đòi hỏi bà con chăn nuôi cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn
đề dịch bệnh đã và đang gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi công nghiệp, nhất
là các hộ gia đình chăn nuôi tập trung do trình độ hiểu biết còn hạn chế
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất đồng thời để thấy rõ hơn về tình hình nhiễm bệnh, triệu chứng, bệnh tích của lợn nái mắc một số bệnh sinh sản, góp phần khống chế bệnh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh tế trong
ngành chăn nuôi lợn hiện nay tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra tình
hình một số bệnh sinh sản ở lợn nái nuôi tại trại Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình và áp dụng một số phác đồ điều trị”
Trang 101.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Điều tra một số đặc điểm dịch tễ học một số bệnh sản khoa ở lợn nái nuôi tại trại lợn Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, nắm được những triệu chứng của lợn khi mắc bệnh
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tại cơ sở
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Nắm được các bước, quá trình đánh giá mức độ cảm nhiễm một số bệnh
sinh sản ở lợn nái nuôi tại trại lợn Đặng Đình Dũng huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình từ đó đưa ra được các biện pháp điều trị và phòng ngừa hiệu quả
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Trên cơ sở các đánh giá có ý kiến tư vấn đúng giúp người chăn nuôi
có biện pháp áp dụng kỹ thuật đúng để đảm bảo nâng cao chất lượng, số
lượng đàn lợn ở cơ sở đem lại hiệu quả kinh tế
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Đại cương về cơ quan sinh sản và sinh lý sinh sản của lợn nái
2.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo của cơ quan sinh dục của lợn nái
Cơ qua sinh dục của lợn nái bao gồm
- Buồng trứng
Buồng trứng nằm trong xoang bụng, gồm một cặp, thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormon sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai hoặc vào lúc con vật mới sinh ra Hình dáng và kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tuỷ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng
Miền vỏ bao gồm ba phần: Tế bào trứng nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non
(Fullicullooophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn
nang chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế
bào có hình hạt (Strarum glannulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các
tế bào nang tiêu tan tạo thành xoang chứa dịch Các tầng tế bào còn lại phát triển lồi lên trên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầy lên để
chứa trứng (Ovum)
- Ống dẫn trứng
Ông dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, được chia thành bốn đoạn: Tua diểm, phễu, phòng ống dẫn trứng và eo
Trang 12- Tử cung (dạ con)
Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung
Ở lợn, tử cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và
có độ dài đến hơn 1m trong khi thân tử cung lại ngắn Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng Các tuyến nội mạc tử cung có cấu trúc hình nhánh, cuộn hoặc hình ống chúng tiết ra dịch và đổ vào bề mặt nội mạc tử cung
Cổ tử cung là tổ chức sợi mà mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự
có mặt của một ít cơ trơn
- Âm đạo
Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ Âm đạo lợn dài 10-12 cm
Ở lợn, biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và thấp nhất ở các ngày 12-16, các lớp bề mặt của biểu mô âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng Sự co rút của âm đạo, dạ con và ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá trình kích thích trước lúc giao phối
Dịch âm đạo gồm chủ yếu là chất thấm qua thành âm đạo, hỗn hợp với các chất tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi, lẫn với dịch nhầy của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào bong ra từ biểu mô âm đạo
- Bộ phận sinh dục ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài bao gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (Vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có hai môi (Labia pudenda) Hai môi được nối với nhau bằng
Trang 13hai mép (Rima Vulae) Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi)
+ Âm vật (Clitoris): Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hổng như con đực
+ Tiền đình (Vestibulum): Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003) [8]
- Sinh lý sinh sản của lợn
- Sinh lý sinh dục của lợn nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái được biểu hiện ở các chỉ tiêu: Tuổi động dục lần đầu, chu kỳ động dục, thời gian động dục, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian động dục trở lại…
+ Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn nái hậu bị lần đầu tiên động dục Các giống lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [7]: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 – 5 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 – 25 kg; ở lợn nái lai F1 lúc 6 tháng tuổi, đạt 50 – 55 kg Lợn ngoại động dục muộn hơn (6 – 7 tháng) khi đạt 65 – 80 kg
Trần Văn Phùng và cs (2004) [18] cho biết: Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn
Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 – 5 tháng tuổi (121 – 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi
Trang 14Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa xuân (Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [1]
Theo Lê Xuân Thọ và Lê Xuân Cương (1979) [26] đối với lợn nái hậu
bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm HTNC có thể gây động dục
+ Tuổi phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [7] cho rằng: Không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy
đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần
bỏ qua 1 – 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 – 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 – 50kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 – 70 kg, nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn
mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản của lợn (Nguyễn Khánh Quắc và cs 1995) [20]
+ Tuổi đẻ lứa đầu: Theo Lê Hồng Mận cs (2004) [14], Lợn Ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11- 12 tháng tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 – 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 – 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại) (Nguyễn Văn Thiện và cs 1993) [24]
Lê Hồng Mận và cs (2004) [14] cho biết: Thường sau khi cai sữa lợn con 3 – 5 ngày, lợn mẹ động dục trở lại
+ Đặc điểm động dục của lợn nái: Ở lợn nái, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn: Trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực
Trang 15Trước chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, không cho con khác nhảy lên lưng Sự rụng trứng xảy ra sau 35 – 40h ở lợn ngoại và lợn lai,
25 – 30h ở lợn nội
Chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, đứng yên khi ấn tay lên lưng mông, âm hộ giảm sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày ở lợn ngoại, 28 – 30h ở lợn nội Nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai
Sau chịu đực: Lợn nái trở lại bình thường, âm hộ giảm sung, đuôi cụp, không cho con đực đến gần và nhảy lên lưng
+ Thời điểm phối giống thích hợp: Đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, sớm hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2002) [17], thời điểm phối giống ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối muộn đều cho kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
+ Mang thai: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày (113 – 115 ngày) Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kỳ I: Là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
Chửa kỳ II: Là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
- Năng suất sinh sản của lợn
Một lợn nái một năm trung bình có thể đẻ từ 1,8 – 2,2 lứa/năm Tuy nhiên, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thông qua các chỉ tiêu: Số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng lợn con sơ sinh và cai sữa, tỷ
lệ nuôi sống, số lứa đẻ/năm…
Trang 162.2.1.2 Một số bệnh sản khoa thường gặp ở lợn
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [19], bệnh sản khoa xuất hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường Khi con cái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận nằm sâu trong đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều điều đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Kỹ thuật đỡ đẻ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc bệnh
Bệnh mắc ở lợn nái có nhiều nguyên nhân khác nhau
Bệnh còn xảy ra khi điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý kém, lợn nái chửa ít vận động, thời tiết thay đổi đột ngột
Theo Nguyễn Xuân Tịnh (1996) [27], sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng Dinh dưỡng cần đảm bảo đủ cả về lượng và về chất
Trang 17- Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [19], bệnh xảy ra trên cả ở lợn nội và ngoại Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y
* Nguyên nhân gây bệnh
Theo Nguyễn Xuân Bình (1996) [2], bệnh thường xảy ra vào thời gian
1 – 10 ngày sau khi đẻ
Các nguyên nhân bao gồm: Dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [11]
Đoàn Thị Kim Dung và cs, (2002) [6] cho biết: Nguyên nhân gây ra bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus) và
tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli, Staplylococus pp
và Staphylococus auraus Đây là nguyên nhân chính gây bệnh
Khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
Trang 18Lợn nái luôn mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh Chỉ khi đẻ cổ tử cung mở, chất dịch tiết đọng lại, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây bệnh ( Nguyễn Hữu Phước, 1982) [19]
* Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [22], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như : thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật : Sáng sốt nhẹ 39 – 39,50C, chiều 40 – 410C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu
đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Viêm tử cung ở lợn có các thể sau :
+ Thể nhẹ (+) gọi là viêm tử cung nhờn : Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 33 – 39,50
C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ, 12-72 h sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ : Thân nhiệt cao 39,5 –
40oC Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ : Thân nhiệt tăng cao 39,5 – 40oC Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt, có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Trang 19Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7- 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh ảnh hưởng đến sản lượng sữa
* Hậu quả
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản http :www.pkh-vcn.org (2007) [35]
Lê Thị Tài và cs 2002 [21] cho rằng : Đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng thụ thai và sinh sản
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng của cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố spermiolysin có hại cho tinh trùng Các loại độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các dạng đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường bất lợi cũng dễ bị chết non Lê Văn Năm (1999) [15]
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hoá niêm mạc ) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
*Chẩn đoán
Dựa vào các triệu chứng lâm sàng như : Lợn nái luôn ở tư thế như rặn đái Kiểm tra đường sinh dục lợn nái bằng mỏ vịt, thấy cổ tử cung mở, từ tử cung, âm đạo chảy ra nhiều dịch nhầy lẫn mủ màu trắng đục mùi hôi khắm
Trang 20Trong trường hợp lợn nái mắc bệnh ở thể ẩn khó phát hiện có thể chẩn đoán lúc động hớn qua số lượng niêm dịch chảy ra nhiều đôi khi có những đám mủ từ khe sinh dục ngoài chảy ra Ngoài ra, lợn nái mắc bệnh thường khó thụ thai (A.V.Trekaxova và cs, 1983) [31].
Có thể tìm muxin trong dịch nhày từ âm hộ chảy ra rồi cho vào 1ml dung dịch axit axetic 1%, nếu phản ứng dương tính, muxin kết tủa là mắc bệnh và ngược lại Lê Văn Năm (1999) [15]
bộ và điều trị toàn thân Lê Văn Năm (1999) [15]
+ Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các loại dung dịch nước muối 0,09%, KmnO40,01% hoặc rivanol 0,1%, sau đó thụt 1 trong các loại kháng sinh sau: Penicillin, streptomycin, tetramyxin…
+ Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: Ampisep, genorfcoli, gentamycin, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicilli kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B.complex
- Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân
Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết: Khi lợn nái đẻ, nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn, thì các vi khuẩn, mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp, không giảm khẩu phần ăn trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ, lợn con không
Trang 21bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E Coli, streptococus, staphylococus, klebsiella spp
Lợn con mới đẻ có răng nanh, nếu không bấm, khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết Sữa ứ đọng là môi trường cho
vi trùng phát triển Trương Lăng (2000) [12]
Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm
Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng
Theo Phạm Tiến Dân (1998) [5] nghiên cứu, xác định vi khuẩn gây viêm vú ở lợn nái sinh sản gồm:
Trang 22* Triệu chứng
Bình bệnh viêm vú thường xảy ra ngay sau khi đẻ 4 – 5 giờ cho đến 7 –
10 ngày có con đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [23], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú, nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn bị đau
Lợn giảm ăn, nếu bị nặng bỏ ăn, sốt cao 40,5 – 420C Lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, ỉa chảy, xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100% (Lê Hồng Mận, 2004) [14] Vắt sữa
ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục cazein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Theo Đỗ Quốc Tuấn (1999) [28], viêm vú được chia thành các thể như sau:
- Thể thanh dịch: Tuyến vú bị xung huyết, dịch tiết ra nhiều, nước viêm thải ra thấm các nang sữa làm quá trình lưu thông mạch máu và lâm ba bị trở ngại Lá vú sưng to, có khi cả bầu vú Lúc đầu sữa biến đổi không rõ sau sữa loãng, chất lượng sữa giảm
- Thể cata: Trong nang sữa chứa nhiều dịch rỉ viêm, tế bào biểu bì phình to ra, bị thoái hóa và bong ra Vắt sữa có những cục nhỏ màu xanh hay vàng nhạt, cờ bầu vú thấy nóng
- Thể Fibrin: Lúc đầu lá vú chứa nhiều nước vàng fibrinogen và tế bào chết Fibrinogen dưới tác dụng của men do tế bào bị tổn thương tiết ra sẽ biến thành Fibrin Khi vắt sữa có một ít dịch màu vàng chứa Fbrin và cục casein bị đóng vón Nhiệt độ cơ thể lên tới 40 – 410C, vú viêm sưng, sờ thấy đau
- Thể cata có mủ: Trong nang sữa và ống dẫn có hồng cầu, mủ và tế bào hoại tử Sữa mất hẳn, thể tích vú tăng, màu đỏ Con vật có triệu chứng toàn thân: sốt cao, hô hấp và tuần hoàn tăng
Trang 23- Thể áp xe: Trong tuyến vú xuất hiện một hay nhiều bọc áp xe to hay nhỏ nằm sát dưới da hay ở sâu bên trong Sau đó bọc mủ phát triển to nổi rõ ở dưới da Vật ngừng tiết sữa vắt ra có đầy mủ và máu, casein
- Thể plegemol: Là loại viêm tích mủ dưới da và tổ chức liên kết của lá
vú Thường do kế phát từ viêm cata và viêm có mủ Lượng sữa ít, có nhiều gạch nhỏ, sờ bầu vú thấy nóng, con vật sốt, nhịp tim và mạch rối loạn
- Thể có màu: Là loại viêm cấp tính Thường kế phát từ viêm thanh dịch, cata hay viêm do phúc mạc Tuyến vú bị chấn thương, các tế bào tuyến sữa bị thấm dịch và hồng cầu Da vú có đám đỏ, vắt sữa con vật thấy đau Sữa loãng màu hồng hay đỏ, con vật sốt cao 40 – 410C
mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết Vũ Đình Vượng (1999) [30]
Nguyễn Xuân Bình (2000) [2] cũng khẳng định: Lợn nái mất sữa sau khi đẻ con kế phát từ viêm vú, viêm tử cung do khi viêm cơ thể mẹ thường hay sốt liên tục 2 – 3 ngày, mất nước, nước trong tế bào và mô bào bị giảm, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm, dần dẫn đến mất sữa Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế thường xảy ra ở các lứa đẻ tiếp theo
* Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng lâm sàng: Bằng mắt thường quan sát thấy bầu vú sưng đỏ, khi xoa bầu vú thấy cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt sữa thấy không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa đặc như bã đậu Một số trường hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy
Trang 24hiểm cho con vật, vì đó là viêm thối rữa rất khó điều trị Lợn nái thường nằm
úp và cho con bú ít, lợn con bú ít kêu la, gầy yếu, ỉa chảy
Kiểm tra qua kính hiển vi để tìm vi khuẩn: Nếu trong sữa có nhiều liên cầu, tụ cầu trùng và các vi trùng khác có thể xác định là bệnh viêm vú cata có
mủ Chuỗi vi trùng dài hay ngắn phụ thuộc vào thời kì bệnh: Bệnh cấp tính thì chuỗi vi trùng ngắn, bệnh mãn tính chuỗi vi trùng dài Nguyễn Hữu Ninh và
cs, (2002) [17]
* Điều trị
+ Điều trị cục bộ: Phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế bầu vú bằng novocain 0,25 – 0,5%, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 – 5 lần tránh lây sang vú khác
+ Điều trị toàn thân: Sử dụng một số loại kháng sinh như penicillin, ampicillin, lincomycin, tetramycin… đều đạt kết quả tốt
- Bệnh bại liệt sau đẻ
* Nguyên nhân
Bệnh thường xuất hiện do thai quá to, tư thế chiều hướng của thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương thần kinh tọa làm ảnh hưởng tới đám rối hông khum
Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu gây bại liệt
* Triệu chứng
Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục bộ, nhưng đi lại khó khăn, hay nằm bẹp một chỗ Nếu bệnh kéo dài thì lợn mẹ không đứng dậy được rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3 – 4 tuần lợn gầy dần rồi chết
Trang 25* Hậu quả
Làm cho lợn nái hoạt động đi lại khó khăn hoặc mất khả năng vận động, nếu bệnh kéo có thể bị loét từng mảng da do tiếp xúc lâu với nền chuồng Bệnh có khả năng gây chết lợn Đỗ Quốc Tuấn, (1999) [28]
* Nguyên nhân
- Đẻ khó do cơ thể mẹ:
Do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém, lợn mẹ bị suy nhược, sức khỏe yếu, nên lợn rặn đẻ yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy được thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó
Do cấu tạo các tổ chức phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có những chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn
Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn
nở kém, thai bị mắc trước của xoang chậu không ra được
Trang 26Ở thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, làm tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây khó đẻ
Do rối loạn hooc môn sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết
ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bất động háng, không giãn dây chằng xương chậu (không sụt mông) hoặc prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp
tử cung nên không tống thai ra ngoài được
- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai:
Chiều, hướng, tư thế thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [9], các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế
Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ
Thai bị dị hình hay quái thai
Hiện tượng đẻ khó do bào thai thường chiếm ¾ Những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hay kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế của thai không bình thường khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra ngoài được
* Triệu chứng
Lợn nái đến ngày đẻ, ối vỡ, nước chảy ra, nước nhờn có cứt su, có lẫn máu nhưng thời gian đẻ kéo dài, dịch ra hết làm thai bị khô, lực ma sát lớn làm thai khó ra
Tư thế nằm đẻ của lợn nái không thoải mái, lợn nái nín thở, chân co đạp xuống nền làm điểm tựa, rặn tích cực nhiều lần thai vẫn không ra Khi lợn
đã mệt, thở yếu, tần số co bóp giảm tốc độ rặn đẻ chậm, khoảng cách giữa thời gian con ra trước và ra sau kéo dài Một số con kêu rống lên, đứng lên nằm xuống không yên, thường thay đổi tư thế nằm
Đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai ở tư thế không bình thường
Trang 27* Hậu quả
- Tử cung co bóp mạnh, thai bị chèn dẫn đến lợn con bị chết
- Nếu mổ để lấy bào thai ra ngoài lợn mẹ hay bị chết
- Gây ra hiện tượng sót con, sót nhau dẫn đến viêm đường sinh dục
- Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây sát niêm mạc
tử cung hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một
số bệnh: Viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm Khi niêm mạc có những vết sẹo sẽ gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ dẫn đến sảy thai, đẻ non thậm chí là vô sinh
2.2.2.5 Một số hiểu biết về thuốc sử dụng trong đề tài
Đề giảm bớt thiệt hại do bệnh sinh sản ở lợn nái gây ra cho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinh khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc Vetrimoxin và Pen-strep để điều trị một số bệnh sinh sản
2.2.2.6 Vetrimoxin
Thuốc do công ty Phzer Mỹ sản xuất
Thành phần gồm: Amoxicillin :15g; Excipient q.s:100ml
Cơ chế tác dụng: Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm β – lactam nên
có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm Amoxicillin có tác dụng diệt khuẩn bằng cách ngăn cản sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡ tình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin tham gia vào giai đoạn cuối trong tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạo thành vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tế bào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân huỷ
2.2.2.7 Pen-strep
Thuốc do công ty TNHH thuốc thú y –thuỷ sản Minh Dũng sản xuất Địa chỉ : Thị trấn Phước Khánh, Huyện Tân Uyên,Tỉnh Bình Dương
Trang 28Thành phần gồm: Penicllin G Procain… 20.000.000 UI
Dihydrostreptomycine .20.000mg
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trần Minh Châu (1996) [3], điều trị viêm vú, viêm tử cung và cạn sữa điều trị bằng tiêm oxytoxin 5 – 10 UI cho lợn nái đến 200kg và dùng kháng sinh ampicillin 25 mg/1kg/ngày hoặc tetracycllin 30 – 80 mg/kg/ngày cho kết quả điều trị tốt
Theo Trương Lăng (2003) [13] cho rằng: bơm thụt rửa tử cung sau khi
đẻ xong bằng thuốc tím 1‰, hay rivanol 1‰ Bơm vào tử cung furazolidol hoặc đặt vào tử cung 4 viên chloranol / ngày
Tiêm streptomycin hoặc penicillin 1 – 2 vạn đơn vị/kg P
Phạm Sỹ Lăng và cs, (2003) [11], dùng phác đồ điều trị tiêm bắp thịt để điều trị bệnh viêm tử cung: streptomycin 15 – 20 mg/kgP dùng liên tục 3 – 4 ngày (cấp tính), 6 – 8 ngày (mãn tính)
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs, (2002) [17]:
Dùng benzyl penicillin (procaine ) 1.000.000 UI
Dùng gentamycin (sulfate) 200.000 UI
Tá dược vừa đủ trong 1 ống 2 gram
Điều trị viêm tử cung ở lợn, bò cho kết quả cao
Dùng viên nén chloteracilin (chcorlidrata) 1gram điều trị nhiễm trùng đường sinh dục sau đẻ như viêm tử cung, lộn tử cung, sát nhau, viêm âm đạo
Đoàn Thị Kim Dung và cs, (2002) [6] cho biết: Thụt rửa tử cung, âm đạo bằng rivanol 0.1% hay chloramphenicol 4% mỗi ngày rửa một lần,mỗi lần 50 – 100ml (các loại hoà tan trong nước ấm 40 – 450C) sau đó dùng một
số loại thuốc sau:
Trang 29Tiêm bắp thịt Kanamycin liều 10mg/kg/ngày, chia làm hai lần /ngày, tiêm bắp thịt gentamycin 4 UI /kg/ngày
Ketomycin bôi ngày 1 – 2 lần kết hợp uống 1 – 2 gram cho 30- 50 kgTT liên tục trong 3 – 5 ngày, dùng một trong những thuốc trên đồng thời kết hợp với thuốc bổ trợ VTM C, B, cafein cho kết quả tốt
Nguyễn Hùng Nguyệt (2007) [16] cho biết: Điều trị viêm vú bằng phương pháp châm cứu cho kết quả tốt
Bằng châm cứu:
Đơn huyệt: Bách Hội, Dương Minh, Vĩ Căn, Hội Âm, Túc Tam Lý, Hải Môn, Khai Phong
Châm theo phương pháp tả
Thời gian điều trị 7 – 10 ngày liên tục, nghỉ 2 – 3 ngày sau đó tiếp tục điều trị
Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm
Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro-cortizone
Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn có tiêm nhắc lại sau 1 ngày