1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên

60 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 800,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CRD có thể xếp theo 3 dạng sau: + Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng stress, lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường nhiễm một số vi khuẩn thứ cấ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016

Thái Nguyên – năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 – TY – N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Từ Quang Hiển

Thái Nguyên – năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Suốt 4 năm học tập trên giảng đường đại học, thời gian thực tập là khoảng thời gian mà mỗi sinh viên chúng ta đều mong đợi Đây là khoảng thời gian để cho tất cả sinh viên có cơ hội đem những kiến thức đã tiếp thu được trên ghế nhà trường ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

Sau gần 6 tháng thực tập tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tại trường cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Từ Quang Hiển,

PGS.TS Từ Trung Kiên, TS Trần Thị Hoan đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn,

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Qua đây tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân

và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Cuối cùng tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong giảng dạy và trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

Bảng 4.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản 31

Bảng 4.2 Lịch dùng vacxin cho gà sinh sản 32

Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm CRD của gà Ai Cập theo tuần tuổi 36

Bảng 4.5 Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD 39

Bảng 4.6 Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin và MG-200 41

Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 43

Bảng 4.8 Khả năng sản xuất trứng và tỉ lệ cho trứng của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 45

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2.Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD) 3

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22

2.3 Vài nét giống gà thí nghiệm 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.2.1 Địa điểm 25

3.2.3 Thời gian 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

Trang 7

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 25

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 26

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 28

4.1.1.Công tác chăn nuôi 28

4.1.2.Công tác thú y 32

4.1.3.Tham gia các công việc khác 34

4.1.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 35

4.2 Kết quả nghiên cứu 36

4.2.1 Tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà thí nghiệm 36

4.2.2 Bệnh tích của gà bị nhiễm bệnh CRD 39

4.2.3 Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin và MG-200 41

4.2.4 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 42

4.2.5 Khả năng sản xuất trứng thương phẩm của đàn gà thương phẩm Ai Cập 44

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gia cầm nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Các sản phẩm từ chăn nuôi gia cầm như thịt, trứng là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có thể chế biết được thành nhiều món ăn phong phú, phù hợp với khẩu vị người dùng Lông gia cầm cũng là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội, Đảng và Nhà nước ta đang không ngừng quan tâm, đầu tư phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng nhằm mở rộng quy mô sản suất tập trung với số lượng đàn lớn đạt chất lượng cao

Với những thuận lợi về công tác nghiên cứu và những tiến bộ về khoa học – kĩ thuật ngày càng phát triển, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng được hoàn thiện, quy trình phòng trị bệnh ngày càng chặt chẽ, công tác thú y được chú ý hơn… đây là nền tảng và là điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gia cầm phát triển cả ở hiện tại và tương lai

Tuy nhiên trong chăn nuôi, vấn đề dịch bệnh luôn được quan tâm hàng đầu bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp Trong những năm gần đây có nhiều bệnh xảy ra gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi gia cầm như cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, viêm đường hô hấp mãn tính (CRD)

Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống, đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết ở nhiều khâu từ những người làm chăn nuôi đến những người làm

Trang 9

công tác thú y… mở rộng các chương trình phòng chống dịch bệnh và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh

Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình

mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường đại học Nông lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nắm bắt tình hình mắc và phòng trị bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường đại học Nông lâm Thái Nguyên và cách giải quyết

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Chẩn đoán nhanh, chính xác và xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh CRD do

Mycoplasma gallisepticum trên đàn gà thương phẩm

- Nhận biết triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của gà nhiễm bệnh CRD

- Xác định được tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm

- Đánh giá hiệu lực phòng, trị bệnh của thuốc tylosin và MG-200

- Theo dõi khả năng đẻ trứng của đàn gà thương phẩm

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Đóng góp cho ngành chăn nuôi thú ý những thông tin về tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà đẻ trứng thương phẩm giống Ai Cập nuôi tại Thái Nguyên và điều trị bệnh CRD

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Nắm bắt tình hình mắc bệnh và phòng trị bệnh CRD nhằm góp phần nâng cao năng suất chất lượng chăn nuôi tại cơ sở

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)

2.1.1.1 Giới thiệu chung

Bệnh CRD còn gọi là bệnh “hen gà”, chúng lây lan nhanh qua đường

hô hấp, khi không khí, bụi bẩn nhiễm vi khuẩn này Bệnh truyền dọc từ đời

mẹ sang con qua trứng, lây qua tiếp xúc trực tiếp gà bệnh, qua thức ăn

Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia cầm,

do nhiều loài Mycoplasma gây ra Trong đó, quan trọng nhất là Mycoplasma

gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra Mầm bệnh MG là

nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, giảm chất lượng thân thịt, tiêu tốn thức ăn cao Ngoài ra, tăng chi phí trong điều trị, các chương trình phòng và chống bệnh, bao gồm các chương trình giám sát (huyết thanh học, nuôi cấy, phân lập và giám định) và tiêm phòng bằng vacxin góp phần làm tăng chi phí cho bệnh ở mức nhiều nhất trong ngành chăn nuôi trên thế giới

MG chỉ có khả năng gây bệnh trên một số loại gia cầm nhất định và không gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người

CRD có thể xếp theo 3 dạng sau:

+ Bệnh đường hô hấp mãn tính chính: nguyên nhân bị bệnh là do căng thẳng (stress), lượng vi khuẩn MG tăng làm phát bệnh, thường nhiễm một số

vi khuẩn thứ cấp như: E.coli, Streptococcus,…

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính thứ cấp: xuất phát từ gà đã bị bệnh khác như cầu trùng, viêm phế quản truyền nhiễm,… làm cơ thể yếu đi,

có dịp cho vi khuẩn MG bùng lên sinh bệnh

Trang 11

+ Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính giả: thể hiện triệu chứng, bệnh

tích ở túi khí của một số bệnh khác như bệnh Mycoplasma

2.1.1.2 Lịch sử và địa dư

Bệnh được Dodd mô tả lần đầu tiên trên gà tây vào năm 1905 tại Anh với

tên gọi “Infectious pneumoenteritis” Năm 1935, Nelson đã mô tả căn bệnh với tên gọi thể hiện cầu trực khuẩn “ Coccobacilliform” liên quan đến bệnh viêm mũi truyền nhiễm ở gà (Infectious coryza) Năm 1938, Dickinson và Hinshaw gọi tên bệnh viêm xoang ở gà tây “Infectious sinusitis” Năm 1943 Delaplane và

Stuart đã nuôi cấy được trên phôi gà tác nhân gây bệnh được phân lập từ gà bị bệnh CRD và gà tây bị viêm xoang Sau đó một số tác giả như Markham và Wong (1952); Van Roekel và Olesiuk (1953) ghi nhận đã nuôi cấy thành công mầm bệnh phân lập được từ gà, gà tây và cho rằng chúng đều thuộc nhóm gây

viêm phổi màng phổi (Mycoplasma spp)

Mặc dù với số lượng lớn các loài Mycoplasma đã được phân lập nhưng

chỉ có một số nhỏ trong số đó gậy bệnh cho gia cầm Các nhà khoa học thường

quan tâm đến các loài gây bệnh cho gia cầm là MG, MS, Mycoplasma

meleagridis (MM),và Mycoplasma iowae (MI) Đối với chăn nuôi gà công

nghiệp, hai loài Mycoplasma đáng quan tâm là MG và MS Chủng MG và MS

gây cho cả gà và gà tây nhưng hai chủng MM và MI chỉ gây bệnh cho gà tây

Tháng 5 năm 1961, Tổ chức thú y thế giới (IOE) đã đổi tên “Bệnh viêm

phổi màng phổi” thành “Bệnh Mycoplasma ở gia cầm” hay “Bệnh viêm đường

hô hấp mãn tính” (Chronic respiratory disease, viết tắt là CRD) Hiện nay bệnh

do M.gallisepticum ở gia cầm được IOE xếp vào danh sách các bệnh truyền

nhiễm nguy hiểm của gia cầm nhóm B Những tổn thất của bệnh gây ra rất lớn Đối với thịt gà giảm khả năng tăng trọng từ 20 – 30%, tỉ lệ chết từ 5 – 10% Ở đàn gà giống và gà đẻ, bệnh có thể làm giảm 10 – 20% sản lượng trứng, tăng 5 – 10% tỉ lệ chết phôi cao (Sato, 1996)

Trang 12

Bệnh sảy ra ở khắp các nước trên thế giới có chăn nuôi gia cầm Ở Việt

Nam bệnh do Mycoplasma đã gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm

Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [3] cho biết, hầu hết các loại gia

cầm đều mẫn cảm với Mycoplasma Đặc biệt ở gà nuôi theo hướng công nghiệp

thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Bệnh này xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây, người ta sử dụng một số kháng sinh như: tylosin, tiamulin, enrofloxacin,… để điều trị nên đã khống chế được bệnh này

Nhu Vân Thu và cs (2002) [23] cho biết, CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M.gallisepticum, M.synoviae, M.meleagridis Nhưng chủ yếu là loài

M.gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi

thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân; gallisepticum có nghĩa là

“gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng được giảm đáng kể

Theo Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2], Mycoplasma có kích thước

ngang khoảng 150 - 300 ηm thường là 250 ηm khó thấy dưới kính hiển vi quang

học bình thường Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính

đa hình thái, có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…), không mẫn cảm với penicillin, xicloserin, xephalosporin, baxitraxin và các kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào

Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho

nên chúng dễ bị biến đổi hình dạng, là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh giới

có đời sống dinh dưỡng độc lập Vi khuẩn có hình dạng nhỏ riêng lẻ hay tập trung từng đôi, từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại Gram

âm khó bắt màu thuốc nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp nhuộm

Giemsa mới quan sát được Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng nguyên

Trang 13

sinh chất dày từ 70 - 100Å Trong tế bào Mycoplasma có thể thấy các hạt

riboxom và thể nhân

Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc, nhiệt độ

thích hợp cho Mycoplasma là 370C, pH: 7,0 - 8,0 Chúng có thể phát triển tốt trên phôi gà và trên một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa hemoglubin, xistein Trên môi trường thạch, chúng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong (trứng ốp nếp) Khi phát triển trên môi trường

dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo thành những kết tủa Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma làm dung huyết

mẫn cảm với sự khô cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và bị ức chế bởi các chất

kháng sinh có khả năng ngăn cản quá trình tổng hợp protein của Mycoplasma

như: Tetracyclin, erythomycin,…

2.1.1.3 Căn bệnh

* Hình thái, cấu trúc

Vi khẩn MG có độc lực, thuộc giống Mycoplasma, họ Mycoplasmataceae

Mycoplasma (hay các mollicute – vỏ bọc mềm) là vi khuẩn không có thành tế bào

nên đa dạng về hình thái Người ta coi Mycoplasma là cơ thể có kích thước nhỏ

nhất, tồn tại độc lập vì chúng có thể phát triển trong môi trường nhân tạo MG

được phân loại là thuộc serotype A trong số các Mycoplasma gây bệnh cho

gia cầm

MS bắt mầu tốt với thuốc nhuộm Giemsa nhưng bắt màu nhuộm Gram

âm kém Dưới kình hiển vi thường, vi khuẩn có dạng hình cầu, kích thước khoảng 0,25 – 0,5μm Dưới kính hiển vi điện tử, quan sát vi khuẩn có các cấu trúc lỏng hoặc có hình đầu chóp, trên có các cơ quan bám dính giúp MG bám vào thành tế bào vật chủ và đóng vai trò nhất định trong đặc tính gây bệnh

Trang 14

Hội bác sỹ thú y (2008) [31] cho biết, Mycoplasma là vi cơ thể sống

không có thành tế bào mà chỉ có thành nguyên sinh chất Nó là cơ thể sống có khả năng tự nhân đôi có kích thước nhỏ nhất Trong phân loại học,

Mycoplasma thuộc lớp Mollicutes (Mollis nghĩa là mềm, cutes là da, vỏ bọc)

Hai đặc điểm phân biệt Mycoplasma với vi khuẩn khác là kích thước genome

và thành phần các bazo nitơ của ADN

* Tính chất nuôi cấy

Quá trình phát triển của MG đòi hỏi cần phải có môi trường dinh dưỡng tổng hợp, bổ sung từ 10 – 15% huyết thanh lợn, ngựa hoặc gia cầm Các điều kiện thích hợp cho nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường lỏng là pH = 7,8, nhiệt

mờ, ở giữa hơi lồi (dạng trứng ốp nếp) Đường kính của khuẩn lạc thường là 0,2 – 0,3mm hoặc nhỏ hơn, thường mọc dọc theo các đường cấy Hình thái khuẩn lạc của vi khuẩn phân lập từ các loài gia cầm khác nhau cũng có sự khác nhau Trên môi trường thạch, chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ

bé, khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong Khi

phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và

tạo thành những kết tủa

Các loại Mycoplasma khác nhau có tốc độ mọc khác nhau và khuẩn lạc

của chúng cũng khó phân biệt Không có một môi trường nào phù hợp cho tất

cả các Mycoplasma, đó cũng là một khó khăn trong công tác chẩn đoán và

phân lập

Trang 15

MG có khả năng lên mem đường glucose và maltose, nhưng không có khả năng sinh hơi; không lên mem các loại đường lactose, dulcito, salisin; ít khi lên mem đường sucrose; lên mem không ổn định với các đường galactose, fructose, trehalose và mannitol; không thủy phân arginie và không sản sinh mem phosphatase MG gây dung huyết hoàn toàn trên thạch máu ngựa; có khả năng gây ngưng kết hồng cầu gà và gà tây

Khi gây bệnh bằng cách tiêm vào túi lòng đỏ của phôi gà 7 ngày tuổi,

MG sẽ gây chết phôi sau 5 – 7 ngày, Bệnh tích đặc trưng của phôi là còi cọc, phù thũng toàn thân, gan hoại tự, lách sưng to

* Sức đề kháng

Các chất sát khuẩn thông thường như phenol, formalin, merthiolate,… đều có khả năng diệt khuẩn Trong canh trùng nuôi cấy, MG có thể sống 3 – 4 năm ở điều kiện -300

C; sống trong canh trùng nuôi cấy đã được đông khô bảo quản ở 40C trong vòng 7 năm, trong xương sườn của gà nhiểm bệnh đã được đông khô bảo quản ở 40

C trong vòng 13 – 14 năm MG trong trứng gà ấp nhiễm bệnh sẽ bị bất hoạt trong vòng 12 – 14 giờ sau khi sử lí nhiệt ở 560C Mycoplasma

có thể sống trong phân gà 1 – 3 ngày ở 200C; ở trên quần áo 3 ngày ở 200C và 1 ngày ở 370C; trong lòng đỏ trứng 18 tuần ở 370

C và 6 tuần ở 200C

* Cơ chế sinh bệnh

Trừ các trường hợp bệnh lây qua trứng, thường MG xâm nhập vào cơ thể gia cầm qua đường hô hấp hoặc qua màng kết Chúng ký sinh và gây viêm nhẹ niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc xoang mũi và các xoang quanh mũi, thành các túi hơi và từ đó MG đi đến các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể Niêm mạc phù nhẹ, lớp dưới bị nhiễm các tế bào lympho và tổ chức tế bào tạo nên các hạt lấm tấm Nếu sức đề kháng của cơ thể tốt, các bệnh tích này sẽ nhẹ,

có khi không nhìn thấy Nhưng nếu sức đề kháng giảm, bệnh tích sẽ nặng lên

và lan tràn

Trang 16

Khả năng bám dính của MG vào tế bào biểu mô đóng vai trò rất quan trọng trong cơ chế sinh bệnh Những biến đổi ở lớp biểu mô khí quản do MG

có thể đóng vai trò nguyên phát hoặc kế phát gây bệnh

Trong nuôi cấy tế bào, các nhà nghiên cứu thấy rằng MG có thể nhân lên trong các tế bào không có chức năng thực bào, khiến cho chúng đề kháng lại với vật chủ cũng như kháng lại kháng sinh trong điều trị, gây bệnh ở thể mãn tính, qua niêm mạc đường hô hấp để gây nhiễm trùng toàn thân

Theo Hội bác sỹ thú y (2008) [31], mầm bệnh Mycoplasma không có

thành tế bào nên hình dạng của nó không cố định Nó có thể là hình cầu, hình sợi mảnh, có cơ quan bám dính ở một đầu, cơ quan này có hình bán cầu, nhô

ra và được gọi là “blebs” Khi mầm bệnh xâm nhập vào vật chủ, nó chui vào giữa các nhung mao niêm mạc đường hô hấp hoặc đường sinh dục, phần

“blebs” của vi khuẩn gắn vào phần đuôi sialic của thụ quan sialoglycoprotein hoặc sialoglycolipit của tế bào vật chủ Sự bám dính này đủ chắc để nó không

bị đào thải ra ngoài bởi nhu động và quá trình phát triển dịch của niêm mạc

Vì nó không có thành tế bào nên cũng có hiện tượng hòa nhập màng tế bào vật chủ và màng nguyên sinh của vi khuẩn Các enzyme thủy phân:

neuraminidase, peroxidase, heamolysin và các loại độc tố khác được đưa vào

tế bào vật chủ Những độc tố đó có thể dẫn đến tế bào bị tổn thương, thoái hóa

và cơ thể có thể có những đáp ứng miễn dịch và sốt Hơn nữa, sự xâm nhập của tế bào đơn nhân tới phần mô của hạ niêm mạc, một số lượng lớn tế bào lympho và đại thực bào dẫn tới sự dày lên của phần tổ chức bị tấn công

Trang 17

tuổi khác, bệnh thường hay phát vào vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, độ

ẩm không khí cao

Trong phòng thí nghiệm, người ta có thể sử dụng các giống gà nuôi

SPF, gà không nhiễm mầm bệnh Mycoplasma, gà tây mà trứng có phôi của

chúng để gây bệnh; ngoài ra, chim vẹt đuôi dài Úc, chim trĩ, chim sẻ cũng có thể dùng làm thí nghiệm

*Phương thức lây truyền

MG rất dễ dàng nhiễm từ con này sang con khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp Khi MG cư trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua hô hấp và ho Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác nữa như nồng độ amoniac ở môi trường cao, thời tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh như virus Newcastle, Gumboro, cúm,… thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG (Hội bác sỹ thú y, 2008) [31]

Theo Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [3], CRD nếu chỉ có một

mình loại Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế phát thì nặng hơn hoặc

bệnh phát ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường

ẩm thấp, dơ bẩn thì bệnh sẽ nặng hơn Đặc biệt, nếu ghép với 3 bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh cúm thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa được

Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ (phân, lông,…) khác nhau (từ 1 - 14 ngày), tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám Vì vậy việc

vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi kém thì đó cũng là một con đường truyền lây của bệnh Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 50C, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng

Trang 18

đỏ, mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 370

C, 6 tuần ở 200C Như vậy, những quả trứng giập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh Điều đáng chú ý là mầm bệnh có thể tồn tại ở trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh

Một con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh MG không những được phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng lòng đỏ trứng tươi Trong một số trường hợp cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vacxin virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh MG còn được tìm thấy ở trong tinh dịch của gà trống bị bệnh vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua con đường thụ tinh từ gà trống truyền cho gà mái

2.1.1.5 Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh thường từ 16 – 21 ngày Những triệu chứng chung nhất trong đàn gia cầm trưởng thành mắc bệnh tự nhiên bao gồm: khí quản có tiếng ran, chảy nước mũi, gà thở khò khè do nhiều dịch đọng ở đường hô hấp trên Gà khó thở, há hốc mồm ra thở, vảy mỏ, chảy nước mắt, nước mũi Bệnh tiến triển chậm, lúc đầu nước mũi loãng, sau đặc dần và đọng lại ở xoang mặt làm cho mặt gà sưng lên Gà gầy nhanh rồi chết Các xoang lúc đầu viêm, chứa thanh dịch loãng sau biến thành fibrin đặc

Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản và các túi hơi liên hệ với nó cũng bị viêm Con vật ngày càng khó thở, mào yếm tím bầm, kiệt sức dần rồi chết Nhiều trường hợp gà bệnh chết rất sớm do ngạt thở; tiêu thụ thức ăn giảm, giảm tăng trọng

Ở đàn gà đẻ, bệnh làm năng suất trứng giảm xuống và thường giữ ở mức thấp Trứng ấp, số lượng bào thai chết ở ngày thứ 10 - 12 và trước khi nở tăng lên Số còn lại nở ra thành những gà ốm yếu

Trang 19

Một số các biểu hiện khác bao gồm: sưng khớp, què, nất điều hòa thần kinh, sưng đầu, kém ăn, mỏ và chân khô, chân kém bóng láng Một số đàn có thể có kết quả kiểm tra huyết thanh dương tính nhưng không có triệu trứng lâm sàng điển hình của bệnh, đặc biệt khi gà nhiễm mầm bệnh trong thời kỳ con non và qua được Gà trống thường để hiện các biểu hiện lâm sàng trước

và bệnh thường nặng hơn vào mùa đông

Trong tự nhiên, bệnh thường tiến triển theo thể mãn tính, chủ yếu ở gà lớn Nếu gà con bị bệnh, tỷ lệ chết có thể 5 - 40% Tổn thất kinh tế chủ yếu của bệnh này là giảm trọng lượng của gà thịt và giảm sản lượng trứng của gà đẻ

Gà con và gà dò bị bệnh thường viêm kết mạc, chảy nước mắt, ít dịch thanh mạc ở lỗ mũi và mí mắt Nhiều con mí mắt sưng tấy và dính vào nhau, thở khò khè có tiếng ran khí quản, dễ phát hiện vào buổi đêm yên tĩnh Gà xù lông, thở khó, bỏ ăn Bệnh kéo dài làm gà gầy nhanh và chết (Nguyễn Thanh Sơn và Lê Hồng Mận, 2004) [15]

Trường Giang (2008) [26] cho biết, trên gà thịt: Bệnh hay xảy ra lúc đàn gà được 4 - 8 tuần, triệu chứng thường nặng hơn so với các loại gà khác

do sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác mà thông thường nhất là E.coli, vì vậy trên gà thịt người ta còn gọi là thể kết hợp E.coli - CRD (C-CRD) với các

triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi, xuất hiện âm ran khí quản, ho, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết sau khi mắc bệnh 3 - 4 ngày, số gà chết có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn Trên gà trưởng thành - gà đẻ: Bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng, chuyển chuồng, cắt mỏ,… các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng ấp nở cho ra các gà con yếu ớt Ở một số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng trứng, gà con yếu, tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không thấy xuất hiện Khi gây bệnh cho gà bằng chủng MG và virus gây bệnh viêm phế quản

Trang 20

truyền nhiễm, gà có biểu hiện viêm màng kết Phần da mặt xung quanh mí mắt gà bị sưng phù, chảy nước mắt, mạch quản ở màng kết bị sung huyết Gà tây bị nặng hơn, nhiều con mắt sưng tới nỗi không mở được, gây khó khăn trong việc ăn uống Chin và cộng sự (1991) đã thông báo gà tây 12 – 16 tuần tuổi có biểu hiện viêm não kèm theo triệu chứng trẹo cổ và chết với tư thế opisthotonus

Ngoài ra, bệnh CRD thường ghép với một số bệnh, từ đó triệu chứng cũng thể hiện rất phức tạp như: Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền

nhiễm, CRD ghép với sổ mũi truyền nhiễm, CRD bị bội nhiễm với E.coli,…

2.1.1.6 Bệnh tích

* Bệnh tích đại thể

Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2004) [3] cho biết, trong giai đoạn cấp tính, mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong Trong giai đoạn mãn tính, màng túi khí dày và đục trắng phồng như chất bã đậu nhão

Nếu có kế phát các bệnh khác như E.coli thì trên bề mặt gan, màng ngoài bao

tim và màng bao xung quanh phúc mạc đều thấy tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột

Xác chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu Niêm mạc mũi và các xoang cạnh mũi sưng phù chứa đầy dịch nhớt màu vàng hoặc màu vàng xám Niêm mạc họng xung huyết, sưng, đôi chỗ bị xuất huyết phủ nhiều niêm dịch trong Phổi phù thũng, mặt phổi phủ fibrin, rải rác một số vùng bị viêm hoại tử Thành các túi hơi dày lên, thủy thũng Xoang túi hơi chứa đầy chất dịch màu sữa, nếu bệnh chuyển thành mãn tính thì chất chứa quánh lại, cuối cùng thành một chất khô, bở, màu vàng Bệnh biến này xảy ra ở cả túi hơi vùng bụng và vùng ngực Ngoài ra, gà bệnh còn bị viêm ngoại tâm mạc, viêm quanh gan và viêm phúc mạc Lách có thể hơi sưng

Trang 21

Trong những phôi gà bị chết do lấy trứng ấp từ những con gà giống bị nhiễm CRD, phôi thường chết trước khi nở, ở túi khí của phôi có những chất dịch nhầy như bã đậu màu trắng

Phổi: xuất hiện các vùng phổi viêm và các nang lympho cũng như các tổn thương dạng hạt Trong mô phổi có tăng sinh lympho dạng nang, đặc biệt trong phế quản cấp 3, viêm phổi dạng dịch với các tế bào khổng lồ

Cũng theo Công ty Vemedim (2009) [20] cho biết, các biến đổi đều tập trung ở đường hô hấp: Niêm mạc vùng thanh khí quản phù nề kèm theo xuất huyết, bị phủ một lớp dịch nhầy, đôi khi bịt kín cả phế quản Túi khí viêm tích dịch (dày và đục) Bề mặt túi khí đôi khi bị phủ một lớp màng, hay có các

chất như bã đậu đóng thành cục Nếu bệnh ghép với E.coli sẽ thấy màng bao

quanh tim và màng bụng viêm, sưng Mắt gà sưng, có một số gà bị mù bởi tuyến lệ bị viêm, loét Trong một vài trường hợp gà bị viêm khớp, mổ khớp

gà ta thấy khớp gà bị sưng chứa nhiều dịch vàng loãng

Kiểm tra não những trường hợp viêm não có liên quan đến MG cho thấy não bị viêm từ mức trung bình đến trầm trọng, mạch máu sơ hóa, nhu mô não bị hoại tử và viêm màng não

Trang 22

Hiện tượng viêm vòi trứng đặc trưng bởi sự dày lên của niêm mạc ống dẫn trứng do sự tăng sinh của tế bào biểu mô và sự thâm nhiễm của tế bào lympho

2.1.1.7 Phương pháp chẩn đoán

Cần phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: phân lập và xác định nguyên nhân gây bệnh, chẩn đoán huyết thanh học và chẩn đoán phân biệt về lâm sàng với các bệnh khác

* Chẩn đoán phân biệt

Bệnh do MG gây ra cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác cũng có các triệu chứng đường hô hấp tương tự như: bệnh Newcastle,

bệnh viêm phế quản truyền nhiễm và bệnh do Ecoli gây ra Ngoài ra còn phân

biệt với bệnh viêm mũi truyền nhiễm, bệnh tụ huyết trùng gia cầm

Hoàng Huy Liệu (2002) [29] khuyến cáo, nên phân biệt CRD với các bệnh dưới đây:

Bệnh Newcastle: bệnh Newcastle lây lan nhanh hơn CRD, thường biểu hiện triệu chứng thần kinh, xác định bằng phản ứng HI

Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: lây nhanh hơn bệnh CRD, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phẩm chất trứng Dùng phản ứng HI hoặc ELISA để chẩn đoán bệnh này

Bệnh sổ mũi truyền nhiễm: Biểu hiện viêm xoang, dung dịch xuất tiết trong xoang phân lập được Hemophilus para gallinarum

Bệnh tụ huyết trùng mãn tính ở gà: Gây những ổ viêm dạng bã đậu hóa

và viêm xoang Bệnh phân lập được Pasteurella multocida

* Phân lập mầm bệnh

Phân lập và xác định mầm bệnh là phương pháp chính xác nhất trong chẩn đoán bệnh do MG gây ra Mẫu bệnh phẩm bao gồm: túi khí, phổi, dịch nhày, tổ chức trong xoang, trong họng hoặc đường sinh dục, buồng trứng,

Trang 23

dịch hoàn, lỗ huyệt và các tổ chức cơ quan khác Với gà mắc bệnh và còn sống, có thể dùng tăm bông vô trùng lấy dịch ở lỗ mũi, họng để phân lập Tiêm truyền dịch tiết hoặc dịch huyền phù đã sử lý của bệnh phẩm cho phôi trứng 7 ngày tuổi vào túi lòng đỏ cũng là một biện pháp hữu hiệu, giúp phân lập mầm bệnh dễ dàng hơn Một số phương pháp có thể giám định khuẩn lạc

Mycoplasma bao gồm: phản ứng miễn dịch huỳnh quang, phản ứng miễn dịch

peroxidase, phản ứng PCR,…

* Chẩn đoán huyết thanh học

Chẩn đoán huyết thanh học thường được dùng để kiểm soát sự có mặt của kháng thể kháng MG trong cơ thể vật chủ và thường áp dụng trong các điều tra tình hình nhiễm bệnh ở các đàn nuôi tập trung Kết quả chẩn đoán huyết thanh học, kết hợp với các thông tin về quá trình mắc bệnh, triệu chứng, bệnh tích của bệnh cũng có thể giúp cho công tác chẩn đoán bệnh có cơ sở trong khi chờ đợi kết quả nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Sử dụng phản ứng chẩn đoán huyết thanh học định kỳ với đàn bố mẹ (cứ 3 tuần đối với gà tây, 2 tuần đối với gà) là phương pháp tốt nhất để tránh được hiện tượng mầm bệnh truyền qua trứng

Trong năm 1960 – 1970, phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm được

sử dụng rộng rãi để chẩn đoán bệnh CRD, nhưng hiện nay ít được sử dụng Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học được sử dụng phổ biến hiện nay là phản ứng ngưng kết trên phiến kính với kháng nguyên chuẩn, cho kết quả nhanh, chính xác, rẻ tiền, độ nhạy cao, được sử dụng để phát hiện đàn bị bệnh Tuy nhiên, có thể xảy ra phản ứng chéo với MS hoặc nhầm lẫn với những đàn đã được tiêm vacxin Để khắc phục, vacxin phải được pha loãng theo cơ số 2 Nếu hiệu giá đạt từ 1/8 trở lên sẽ được coi là dương tính

Trang 24

2.1.1.8 Phòng bệnh

* Vệ sinh phòng bệnh

Các biện pháp quản lý đàn và vệ sinh môi trường, cách ly khỏi các nhân tố truyền lây là biện pháp quan trọng bậc nhất Nên thực hiện tốt phương thức chăn nuôi “Cùng vào, cùng ra”

Cần phải kết hợp phương pháp vệ sinh chuồng trại, đảm bảo môi trường chăn nuôi sạch sẽ, thông thoáng, dùng kháng sinh cho uống định kỳ cùng với việc dùng vắc-xin phòng bệnh Mật độ chuồng nuôi phải thích hợp cho từng loại gia cầm, chuồng trại phải thoáng mát Điều trị dự phòng đàn giống bằng các loại kháng sinh hoặc hóa dược có hiệu quả cao để giảm thiểu

sự lây lan qua trứng Xử lý trứng bằng các phương pháp như tiên kháng sinh hay nhúng kháng sinh để hạn chế sự lây truyền mầm bệnh

Có thể sử dụng các loại kháng sinh mẫn cảm với Mycoplasma để trộn

vào thức ăn hoặc pha với nước uống để phòng bệnh Tuy nhiên phương pháp này có thể gây ra hiện tượng kháng thuốc và tồn dư kháng sinh trong trứng

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [7] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh có hiệu quả như sau:

- Ăn uống đảm bảo số lượng và vệ sinh tốt Cho uống bổ sung vitamin nhóm B định kỳ 2 lần/tháng

- Chuồng nuôi sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm

áp, thoáng khí vào mùa đông tránh gió lùa, đặc biệt đối với gà dưới 5 tuần tuổi

- Kiểm tra hàng ngày để phát hiện gà bị bệnh, có biện pháp xử lý

Trang 25

Theo Trần Văn Bình (2008) [1] có thể giảm thiểu tác hại của bệnh bằng các cách sau:

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chuồng trại thông thoáng, mật độ thích hợp Sau khi xuất hết đàn, vệ sinh sát trùng kỹ mới nhập đàn mới về nuôi Nếu đàn gà đang bị bệnh CRD mà nhập đàn mới vào thì chắc chắn bệnh sẽ lây qua đường mới

Trong số kháng sinh và Sulphamid chỉ có 3 nhóm kháng sinh sau có hiệu lực với Mycoplasma:

+ Nhóm Tiamulin gồm: oxyTiamulin, doxycycline

+ Nhóm Macrolides gồm: erythromycin, tylosine, lincomycin, spiramycin, tiamuline

+Nhóm Quinolones (Fluoroquinolones) gồm: Norfloxacin, tiamulin

Để việc phòng CRD bằng kháng sinh có hiệu quả, nhất thiết phải lựa chọn kháng sinh phù hợp và nhạy cảm, đồng thời thực hiện tốt các vấn đề vệ sinh chuồng trại, quản lý tốt tiểu khí hậu, dinh dưỡng hợp lý và loại thải các gà nhiễm bệnh thường xuyên, (Công ty trách nhiệm hữu hạn Long Đình, 2004)

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8] cho biết, việc dùng kháng sinh như

dihydrostreptomycin, erythomycin hoặc tylosin để sát trùng trứng ấp đã đạt được một kết quả rất lớn trong việc khống chế truyền lây mầm bệnh MG qua trứng ấp Người ta có thể sử dụng các phương pháp sát trùng trứng như sau:

Trang 26

- Nhúng trứng: Fabricant và Levine (1962) và một số tác giả khác dùng cách nhúng trứng là biện pháp chính để đưa kháng sinh vào trứng ấp nở nhằm chống lại việc reo rắc mầm bệnh Trứng được ấp ở nhiệt độ 37,80C được nhúng vào nước lạnh 1,7 - 4,40

C có hòa với kháng sinh tylosin nồng độ 400 - 1000 ppm, trong vòng 15 - 20 phút Do chênh lệch nhiệt độ nên thuốc kháng sinh có thể thẩm thấu qua vỏ trứng vào bên trong Nhìn chung, phương pháp này đã giảm được đáng kể quá trình lây lan bệnh qua trứng, nhưng không thể khống chế hoàn toàn việc lây truyền của MG

- Tiêm trứng: Việc tiêm lincomycin và spectinomycin vào trong túi khí của trứng đang ấp là một phương pháp hiệu quả nhất để khống chế bệnh lây truyền qua đường ấp nở, nhưng rất tốn công và cũng không giải quyết được triệt để sự lây lan của MG

Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [21] cho biết, ngoài các phương pháp nhúng trứng và tiêm trứng, người ta còn dùng phương pháp đun nóng trứng Trứng ở nhiệt độ phòng sau đó được đưa lên tới 460C,

Mycoplasma có thể chết ở nhiệt độ này, thời gian đạt được nhiệt độ trên kéo

dài từ từ trong khoảng 12 - 14 giờ Phương pháp này có thể làm giảm tỉ lệ nở đến 12% và nó cũng không có hiệu quả đối với MG

Vacxin vô hoạt nhũ dầu chế từ chủng có độc lực cao chủng R hoặc A596, chủ yếu sử dụng cho gà mái tơ thương phẩm để tạo miễn dịch bảo hộ,

Trang 27

hạn chế việc giảm sản lượng trứng do nhiễm MG trong những co sở chăn nuôi

gà đẻ có nhiều lứa tuổi

2.1.1.9 Điều trị

Không có thuốc nào diệt hoàn toàn mầm bệnh CRD, chỉ có thể ngăn cản bệnh phát triển Khi có dịch cần tăng cường vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng, dùng kháng sinh và bổ sung vitamin A, B, D, MG rất mẫn cảm với các loại kháng sinh như: Streptomycin, oxytetracyclin, tylosin, tiamulin,

Chú ý MG cũng có hiện tượng kháng hoặc kháng chéo với các loại kháng sinh thường dùng nên phải dùng kháng sinh liều cao để điều trị Nếu dùng kháng sinh liều thấp liên tục sẽ làm vi khuẩn đề kháng với thuốc

Theo Lê Hồng Mận (2003) [12] có thể trị bệnh CRD bằng một số loại thuốc sau:

+ Tiamulin 1 g/4 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ Tylosin 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ Suanovil 0,5 g/1 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

+ MG-200 1 g/2 lít nước cho uống 3 - 5 ngày

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đào Thị Hảo và cs (2007) [4] cho biết, sử dụng phương pháp chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ đặc hiệu với MG1, MG2 có kết quả tốt trong việc chẩn đoán bệnh CRD Kháng huyết thanh được chế đạt tiêu chuẩn

đã giúp cho việc xác định được vi khuẩn Mycoplasma gây bệnh phân lập

được từ gà mắc bệnh CRD Việc chế tạo thành công kháng huyết thanh kháng

MG, MS trên thỏ, ngoài việc có giá trị lớn về mặt kinh tế, còn giúp cho công tác chẩn đoán bệnh CRD bằng phương pháp ngưng kết nhanh có độ tin cậy cao, có thể áp dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm

Trang 28

Hoàng Huy Liệu (2002) [29] cho biết, ở Việt Nam CRD được Đào Trọng Đạt phát hiện ở gà công nghiệp vào năm 1972 Đào Trọng Đạt cho biết, CRD có ở tất cả các giống gà nuôi công nghiệp với tỷ lệ mắc bệnh rất cao Tương tự như vậy, những nghiên cứu sau đó của tác giả Phan Lục (1994)

đã đưa ra kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi tại các xí nghiệp gà ở phía Bắc đều bị nhiễm MG ở mức độ cao thấp khác nhau, dao động từ 0,82 -

11,97% trong đó cao nhất là giống Plymouth (11,97%) và thấp nhất là

Lerghorn (0,82%)

Tác giả Nguyễn Tăng Huy trong nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp thuộc các tỉnh Tây Nam Bộ (1996) cũng đưa ra các kết quả là tất cả 8 trại gà nuôi công nghiệp thuộc các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang đã kiểm tra đều nhiễm MG, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9 - 6,2% (Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8])

Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001) [21], tác nhân gây

bệnh CRD là Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam

là 51,6% ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30%

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8] cho biết, bệnh CRD có thể làm giảm tỷ

lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14% và giảm trọng lượng của

gà thịt thương phẩm tới 16% Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như: Newcastle, Viêm phế quản truyền nhiễm, Tụ huyết trùng, bệnh do

E.coli, đã gây nên những vụ dịch với tỷ lệ chết cao

Theo Nhu Vân Thu và cs (2002) [23], lần đầu tiên đã thiết lập phản ứng PCR lồng dựa trên trình tự gen 16S rARN của MG Với độ nhạy cảm rất cao (có thể phát hiện ở nồng độ nhỏ hơn một đơn vị khuẩn lạc trong một phản ứng)

đó có thể khắc phục được vấn đề chẩn đoán bệnh ở bệnh phẩm, và cho phép phát hiện mầm bệnh ở các loại mẫu khác nhau như: nền chuồng, nước uống, phôi gà, mà các phương pháp khác khó hoặc không thể phân biệt được

Trang 29

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Việc lưu thông hàng hoá giữa các nước, đặc biệt là xuất, nhập khẩu trứng và gà giống đã tạo điều kiện cho bệnh CRD lây lan mạnh

Nguyễn Lân Dũng và cs (2007) [2] cho biết: Năm 1898, Nocard E lần

đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng phổi

truyền nhiễm Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm phổi màng phổi (PPO:

Pleuropneumonia organism) Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ

các động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm phổi màng phổi (PPLO:

Pleuropneumonia like organism) Từ năm 1955, PPO và PPLO được chính

Mycoplasma gây bệnh viêm xoang truyền nhiễm Họ cũng đã thấy mức độ

nghiêm trọng khi cùng một lúc gà nhiễm cả hai loại vi khuẩn này (Theo Hoàng Huy Liệu (2002) [29]

Kojima và cs (1997) [22] đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện

mầm bệnh thuộc 9 loài Mycoplasma của gia cầm trong vacxin sống tạo từ

phôi gà với độ nhạy cảm khá cao Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được

khẳng định là đặc trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại

vi khuẩn khác

Woese và cs (1980) [24] đã phân tích, so sánh trình tự gen 16S rARN

của đại diện các giống Mycoplasma, Spiroplasma, Acholeaplasma và họ cho

rằng, các giống này được tiến hóa ngược từ một nhánh vi khuẩn yếm khí là tổ

tiên của họ Bacillus và Lactobacillus ngày nay

Trang 30

Yogev và cs (1988) [25] đã sử dụng mẫu dò trên gen rARN để phát hiện sự khác nhau bên trong và giữa hai loài MG và loài MS

Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8] cho biết, năm 1984 Glison và Kleven

đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vacxin nhược độc và vacxin chết nhằm khống chế lây truyền MG qua trứng

Mohammet và cs (1987) đã đánh giá về sự thiệt hại kinh tế do MG

và M.synoviae gây ra tại các trại gà đẻ ở vùng Califonia Việc nhiễm MG

đã làm giảm 5 - 12 quả trứng/đầu gà đẻ so với gà không bị nhiễm MG Tổng số thiệt hại do MG gây ra cho đàn gà nuôi ở Califonia năm 1984 là

7 triệu đôla (Yogev và cs, 1998 [25])

Cũng theo tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8], đến tháng 5/1951, Hội nghị tổ chức dịch tễ thế giới đã cho phép đổi tên bệnh viêm đường hô hấp

mãn tính thành Mycoplasmosis, gây ra do Mycoplasma gallisepticum

2.3 Vài nét giống gà thí nghiệm

Gà Ai Cập có tên gọi là gà Ai Cập VC – 123 được Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn nhập về từ Ai Cập và giao cho Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương nghiên cứu vào tháng 4/1997

Giống gà Ai Cập là một loại giống gà mới rất dễ nuôi, dễ chăm sóc, gà nhanh nhẹn Đặc điểm: da trắng, màu lông đen và đốm trắng, chân cao thích hoạt động và bay nhảy Chúng chỉ khác với gà trong nước là màu lông và màu da

Giống gà Ai Cập có nhiều ưu điểm: 22 tuần tuổi chúng đã đẻ và năng suất trứng đạt tỷ lệ cao, 180 quả/1năm, trứng nhỏ lòng đỏ to, trông rất giống trứng gà

ta, ăn thơm ngon Thịt của gà mái loại thải dai, rắn chắc,thơm ngon như thịt gà ta

Tỷ lệ dinh dưỡng cao Giá trứng bán cao hơn các loại trứng khác từ 700 đến 800 đồng/quả

Giống gà này có thể nuôi thả vườn, nuôi công nghiệp hoặc bán công nghiệp Chúng có khả năng chống đỡ bệnh tật và tỷ lệ nuôi sống cao Tỷ lệ

Ngày đăng: 28/11/2016, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bình (2008), Bệnh quan trọng ở gà và biện pháp phòng trị, Nxb Khoa học Tự Nhiên & Công Nghệ, tr.52, 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh quan trọng ở gà và biện pháp phòng trị
Tác giả: Trần Văn Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự Nhiên & Công Nghệ
Năm: 2008
2. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (2007), Vi sinh vật học, Nxb giáo dục, tr.44, 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
3. Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2004), 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, tr.29 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 109 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên (2007), “Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ để xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 14 số 3 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế kháng huyết thanh tối miễn dịch qua thỏ để xác định vi khuẩn gây bệnh CRD ở gà”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Đào Thị Hảo, Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên, Đỗ Ngọc Thúy, Nguyễn Xuân Huyên
Năm: 2007
5. Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới (2008), Vi sinh vật bệnh truyền nhiễm vật nuôi, Nxb giáo dục, Hà Nội, tr.223 - 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật bệnh truyền nhiễm vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Doanh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2008
6. Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân
Năm: 1998
7. Hội chăn nuôi Việt Nam (2002), Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, tập 2 tr.141 - 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp tr.109 - 129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh mới do vi khuẩn và Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp tr.109 - 129
Năm: 2002
9. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993), “Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao”. Nxb Nông nghiệp, tr.21- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao”
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
10. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), “Yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách gà trống mái gà HV 85 từ 1 - 63 ngày tuổi”. Thông tin gia súc gia cầm số 1 tháng 3/1993, trang.17, 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu protein trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách gà trống mái gà HV 85 từ 1 - 63 ngày tuổi”. "Thông tin gia súc gia cầm số 1
Tác giả: Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán
Năm: 1993
12. Lê Hồng Mận (2003), Hướng dẫn kĩ thuật chăn nuôi gà công nghiệp, Nxb Lao động xã hội, tr.146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kĩ thuật chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2003
13. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), “Chọn giống và nhân giống gia súc”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chọn giống và nhân giống gia súc”
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
14. Lê Văn Năm (2003), Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ghép phức tạp ở gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
15. Nguyễn Thanh Sơn, Lê Hồng Mận, (2004), Kỹ thuật nuôi gà ri và gà ri pha, Nxb Nông nghiệp, tr.137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà ri và gà ri pha
Tác giả: Nguyễn Thanh Sơn, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
16. Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền (2007), Vi sinh vật học nông nghiệp, Nxb Đại học sư phạm, tr.75 - 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành, Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2007
17. Nguyễn Văn Thiện (1995), “Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi”, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc và Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
19. Nguyễn Văn Thiện (1995), “Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi”, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1995
20. Công ty Vemedim (2009), Bệnh hô hấp trên gà: CRD và tụ huyết trùng, Thông tin kỹ thuật, chuyên đề tháng 11/2009: Bệnh gia cầm, tr.10 -11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin kỹ thuật, chuyên đề tháng 11/2009
Tác giả: Công ty Vemedim
Năm: 2009
21. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001), Bệnh gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh gia cầm
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 33)
Bảng 4.1.  Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản (Trang 38)
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 42)
Bảng 4.5. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.5. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh CRD (Trang 46)
Bảng 4.6. Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin và MG-200 - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.6. Hiệu lực điều trị bệnh CRD của thuốc Tylosin và MG-200 (Trang 48)
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi (Trang 50)
Bảng 4.8. Khả năng sản xuất trứng và tỉ lệ cho trứng của gà thí nghiệm - Tình hình mắc bệnh CRD trên đàn gà thương phẩm tại trại gia cầm khoa chăn nuôi thú y, trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 4.8. Khả năng sản xuất trứng và tỉ lệ cho trứng của gà thí nghiệm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w