1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng trong Quốc triều hình luật

11 437 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 21,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCAMỞ BÀI1B NỘI DUNG21, Chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng trong bộ Quốc triều hình luật.22, Đánh giá về chế độ thừa kế giữa vợ và chồng trong bộ Quốc triều hình luật.6CKẾT LUẬN.10

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

A-MỞ BÀI

Quốc triều hình luật là bộ luật xưa nhất còn lưu giữ được đầy đủ cho tới ngày nay Các kết quả nghiên cứu gần đây cho biết bộ Quốc triều hình luật có thể được ban hành ngay từ thời

Lê Thánh Tông dưới niên hiệu Hồng Đức Quốc triều hình luật

là thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam, được ban hành trong thời kì phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, đặc biệt là luật thừa kế đã trở thành một chế định nổi bật nhất thể hiện những nét tiến bộ của pháp luật triều Lê Trong đó, chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng có nhiều điểm mới so với các bộ luật trước và sự tiến bộ chưa hề tìm thấy trong các bộ luật phong kiến khác Sau đây em

xin trình bày vấn đề : “Đánh giá chế độ thừa kế tài sản giữa vợ

và chồng trong Quốc triều hình luật”.

Trang 3

B- NỘI DUNG

1, Chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng trong bộ Quốc triều hình luật.

Theo quy định của bộ Quốc triều hình luật thì việc phân chia thừa kế tài sản tùy thuộc vào việc vợ chồng có con hay không có con Theo quy định tại các điều 374,375,376 Quốc triều hình luật thì tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản riêng của người chồng, được thừa kế từ gia đình mình (phu điền sản), tài sản riêng của người vợ do được thừa kế từ gia đình mình (thê gia điền sản) và tài sản do vợ chồng làm ra trong thời gian hôn nhân (tần tảo điền sản) Sự quy định rõ thành phần khối tài sản của vợ chồng là điểm rất tiến bộ và độc đáo của pháp luật nhà Lê và nó

vẫn được tiếp thu trong việc xây dựng pháp luật hiện nay

a, Nếu vợ chồng không có con mà một người chết trước thì

nảy sinh quan hệ thừa kế như sau (theo Điều 375):

*Nếu chồng chết trước:

Trang 4

- Ruộng đất cho nhà chồng đã cho ( nhà làm luật gọi là phu gia điền sản) được chia làm hai phần bằng nhau Một nửa thuộc

về người ăn thừa tự (bên họ chồng) để giữ việc tế tự, nửa kia người vợ được hưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng (nghĩa là không được bán), đến khi người vợ chết hoặc đi tái giá thì phần điền sản này lại thuộc về người thừa tự Nếu cha mẹ

hãy còn sống thì thuộc về cha mẹ cả

- Ruộng đất do hai vợ chồng cùng tần tảo làm lụng mua được (tần tảo điền sản) được chia làm hai phần bằng nhau Vợ được nhận một nửa làm của riêng (vì thực chất đây là phần công sức của người vợ) nửa của người chồng chết được chia làm ba phần, cho vợ hai phần để hưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng và khi vợ chết hay tái giá thì hai phần này để lại cho người

tế tự của chồng, cho người thừa tự của chồng một phần để giữ việc tế tự Phần về tế tự nếu cha mẹ chồng còn sống thì cha mẹ

Trang 5

giữ, nếu cha mẹ chồng không còn thì mới giao cho người thừa tự

giữ

* Nếu vợ chết trước, việc phân chia tài sản cũng tương tự như trên, chỉ có khác là chồng đi lấy vợ khác vẫn được chiếm dụng một đời Như vậy, trong quan niệm của nhà làm luật, ruộng đất của chồng gồm có các loại tần tảo điền sản, phu gia điền sản, thê gia điền sản và có hai người được hưởng thừa kế là vợ (hoặc chồng) còn đang sống, cha mẹ chồng (vợ) hoặc người thừa tự

bên nhà chồng (vợ) (nếu cha mẹ chồng(vợ) chết)

b, Trường hợp vợ chồng có con, một người chết trước, con

lại chết theo thì nảy sinh quan hệ thừa kế như trên nhưng khác ở chỗ Điều 376 dành cho người chồng nhiều quyền lợi hơn khi vợ chết trước so với Điều 375 Điểu 376 quy định nếu cha mẹ vợ còn sống thì thê gia điền sản được chia làm hai phần, cha mẹ vợ một nửa và chồng một nửa Khi chồng chết, phần này phải hoàn

về cha mẹ vợ hoặc người thừa tự Nếu cha mẹ vợ đã chết thì người chồng được toàn quyền sử hữu đối với 2/3 thê gia điền

Trang 6

sản đó bởi trong luật không nói người chồng trong trường hợp

này chỉ được sử dụng trong đời mình

Nếu so sánh Điều 376 và Điều 375 ta thấy gần giống nhau ở điểm một trường hợp không có con và một trường hợp con chết Song việc chia thê gia điền sản có sự khác nhau, Điều 376 dành cho người chồng nhiều quyền lợi hơn Điều 375 Vì cuộc hôn nhân đã có con (mặc dù sau đó con chết), mối liên hệ giữa người

chồng với gia đình vợ trở nên mật thiết hơn

Nếu người chồng chết trước thì cũng được chia như trên chỉ

có điều ngay cả khi không còn cha mẹ chồng, người vợ cũng chỉ được chiếm dụng 2/3 phu điền sản một đời; nếu chết hoặc cải

giá thì phải trả lại cho người thừa tự

c, Trường hợp vợ chồng có con, một người chết trước, người

kia đi lấy kẻ khác, không có con ở lần hôn nhân này thì người được hưởng thừa kế gồm con riêng của chồng (hoặc con riêng của vợ), người vợ sau hoặc người chồng sau( Điều 374) Để bảo tồn tài sản cho con cái sau này thừa kế, nhà làm luật đã cấm

Trang 7

người vợ khi đi tái giá và người chồng sau khi lấy vợ khác bán ruộng đất trong gia đình của lần hôn nhân trước (theo Điều 377

và theo tinh thần của một số điều khoản khác)

2, Đánh giá về chế độ thừa kế giữa vợ và chồng trong

bộ Quốc triều hình luật.

*Ưu điểm:

Điểm tiến bộ nhất trong Quốc triều hình luật là nó cho thấy vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các

bộ luật đương thời trong khu vực Qua các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong Quốc triều hình luật có thể thấy nhà làm luật đã phần nào hạn chế uy quyền của người chồng đối với vợ so với quan điểm của Nho giáo Bởi vì uy quyền của người chồng phụ thuộc vào mức độ độc quyền sở hữu tài sản Mức độ độc quyền sở hữu tài sản càng cao thì uy quyền càng lớn và ngược lại Theo quan điểm Nho giáo, gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội, là nền tảng của xã tắc Địa vị

Trang 8

của người phụ nữ theo triết lí Nho giáo rất thấp kém Họ không

có quyền gì trong gia đình mà bị ràng buộc bởi thuyết tam tòng

Do đó, theo quan điểm Nho giáo, hôn nhân là sự chuyển giao uy quyền đối với người phụ nữ từ người cha đến người chồng Tuy nhiên, với sự tiếp nhận các phong tục tập quán có lợi cho sự vững mạnh của triều đình, mặc dù các phong tục đó không phù hợp với triết lí Nho giáo, Bộ luật nhà Lê đã phản ánh một cách khá trung thực và điều chỉnh một cách hợp lí mối quan hệ giữa

vợ và chồng phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam Vì vậy, địa vị pháp lý của người vợ được cải thiện hơn hẳn so với quan niệm Nho giáo Người vợ có quyền thừa kế tài sản sau khi chồng chết

và vợ gần như là bình đẳng với chồng về hôn sản

Khác hẳn luật Trung Hoa và luật Gia Long, Luật Hồng Đức thừa nhận sự bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

Đây là điểm tiến bộ độc đáo của pháp luật nhà Lê Bộ Luật nhà

Lê công nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản

Trang 9

riêng Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản mà mỗi bên

vợ, chồng có trước khi kết hôn, do được thừa kế thì có quyền sở hữu riêng rẽ, mặc dù những tài sản này được quản lí chung bởi

vợ chồng và các lợi tức của nó là tài sản chung Những tài sản này chỉ tạm gộp vào để vợ chồng quản lý chung trong thời gian hôn nhân Người chồng không có quyền chiếm dụng tài sản mà

vợ được thừa kế từ dòng họ nhà mình và ngược lại, người vợ cũng vậy Sự thừa nhận người vợ có quyền sở hữu tài sản riêng

là điểm tiến bộ của Quốc triều hình luật mà không tìm thấy trong pháp luật phong kiến ở Trung Quốc Có sự khác biệt đó là

do ở Trung Quốc, con gái thường bị loại ra khỏi việc phân chia gia sản mà chỉ được một món hồi môn nhỏ khi đi lấy chồng Trong khi đó ở Việt Nam, quyền thừa kế ở con trai và con gái là như nhau và điều quan trọng hơn là người con gái còn được thừa

kế tài sản hương hỏa Sự bình đẳng giữa vợ và chồng cũng được thể hiện qua các quy định về tài sản chung của vợ và chồng

Trang 10

Trong trường hợp cần chia tài sản chung thì tài sản mà vợ chồng làm ra đều được chia đôi, mỗi người một nửa Việc chia đôi tài sản chung chứng tỏ rằng sự đóng góp của người vợ vào khối tài

sản chung là ngang bằng với người chồng

Bên cạnh đó, bộ Quốc triều hình luật đã có ý niệm phân biệt nguồn gốc các loại tài sản của vợ chồng (phu điền sản, thê điền sản, phu gia điền sản và thê gia điền sản) Quốc triều hình luật không nhắc tới động sản, chỉ đề cập đến điền sản, theo Vũ Văn Mẫu: “Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng

nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị”

*Hạn chế:

Bên cạnh những ưu điểm tiến bộ so với các bộ luật phong kiến khác, song, Quốc triều hình luật cũng tồn tại những nhược điểm nhất định Chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng trong

bộ luật này vẫn thể hiện rõ bản chất giai cấp và tính gia trưởng phong kiến, quyền lợi của nam giới trong gia đình ít nhiều vẫn được đề cao hơn Ví dụ như theo quy định tại Điều 376 thì khi

Trang 11

vợ chồng có con, một người chết trước, con lại chết theo thì chồng được toàn quyền sở hữu 2/3 thê gia điền sản trong trường hợp cha mẹ vợ không còn, còn vợ thì lại chỉ được chiếm dụng 2/3 phu điền sản trong trường hợp tương tự

C-KẾT LUẬN.

Chế định về thừa kế giữa vợ và chồng trong Quốc triều hình luật đã thể hiện rõ sự tiến bộ và tính nhân văn Mặc dù quyền lợi của người đàn ông phần nào vẫn được đề cao hơn nhưng quyền lợi của người phụ nữ vẫn được đảm bảo trong vấn đề tài sản và thừa kế Quốc triều hình luật là một niềm tự hào của dân tộc, là một di sản pháp luật mà những thế hệ trước đây đã dành nhiều công sức và trí tuệ để xây dựng, ban hành

Ngày đăng: 28/11/2016, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w