1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội

179 661 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án Luận án được thực hiện nhằm mục đích đánh giá các mối quan hệ tương hỗ trong đời sống vật chất, tình cảm cũng như mối quan hệ chăm sóc giữa n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NGỌC LÂN

NGƯỜI CAO TUỔI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH GIÀ HÓA DÂN SỐ

VÀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Chuyên ngành: XÃ HỘI HỌC

Mã số: 62 31 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Có được thành quả nghiên cứu này, tác giả Xin chân thành cảm ơn:

GS TS Nguyễn Hữu Minh, người hướng dẫn khoa học đã có những gợi

ý, nhận xét góp ý cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu!

Chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện để tôi được tham gia khóa đào tạo NCS!

Chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nghiên cứu thực tế, thông tin và kỹ thuật trong quá trình thực hiện nghiên cứu này!

Xin được tri ân đến Bạn bè, người thân đã động viên, khích lệ giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu những năm qua!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình Luận án tiến sĩ do tôi thực hiện

và chưa từng công bố ở một nơi nào khác

Hà nội, ngày 4 tháng 11 năm 2016

Tác giả Luận án

Lê Ngọc Lân

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

CHƯƠNG 3 MỐI QUAN HỆ VỀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT GIỮA NGƯỜI

3.1 Một số nét cơ bản về đời sống vật chất của người cao tuổi hiện nay 52 3.1.1 Mức sống và điều kiện sống của người cao tuổi 52 3.1.2 Các nguồn thu nhập và mức độ đảm bảo cuộc sống 54 3.2 Vai trò kinh tế và sự hỗ trợ của người cao tuổi trong gia đình 61 3.2.1 Người cao tuổi và các hoạt động kinh tế hiện nay 61 3.2.2 Cùng con cái góp phần tạo thu nhập cho gia đình 62

3.3 Sự chu cấp, hỗ trợ của con cái với cha mẹ cao tuổi về đời sống vật chất 71

CHƯƠNG 4 MỐI QUAN HỆ VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN TÌNH CẢM

4.1 Một số hoạt động và hưởng thụ văn hóa tinh thần của người cao tuổi 84 4.2 Mức độ trò chuyện, lắng nghe tâm sự giữa NCT và con cháu 87

4.4 Người cao tuổi trong mối quan hệ với các cháu trong gia đình 102

Trang 5

CHƯƠNG 5 CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRONG GIA ĐÌNH

5.2.1 Tình trạng sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi 120

5.3 Một số vấn đề đặt ra trong chăm sóc người cao tuổi 127

5.3.2 Biến đổi xã hội và việc chăm sóc người cao tuổi hiện nay 132

Phụ lục 1 Một số bảng biểu số liệu được sử dụng trong phân tích 156 Phụ lục 2 Một số sản phẩm liên quan đến nội dung luận án đã công bố 171

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

quốc

Trang 7

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1 Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi, 60 tuổi trở lên, 65 tuổi

trở lên và chỉ số già hóa, 1989 - 2014

10

Bảng 1.2 Dự báo xu hướng biến đổi dân số cao tuổi (% tổng dân số) 11

Bảng 3.1 Tỷ lệ người cao tuổi có các nguồn thu nhập chia theo giới tính 57

Bảng 3.2 Tỷ lệ người cao tuổi có góp phần tạo thu nhập cho gia đình

phân theo các nhóm của người cao tuổi

63

Bảng 3.3 Mô hình hồi quy về tác động của các yếu tố đến việc trợ giúp

con cái của NCT

64

Bảng 3.4 Mô hình hồi quy về tác động của các yếu tố đến việc trợ giúp

con cái của NCT bằng phổ biến kinh nghiệm

Bảng 4.1 Mức độ hoạt động văn hóa, giải trí của người cao tuổi 85

Bảng 4.2 Tỷ lệ người cao tuổi có các hoạt động văn hóa, giải trí hàng

ngày

86

Bảng 4.3 Đối tượng tâm sự, trò chuyên khi có chuyện vui, buồn của

người cao tuổi

89

Bảng 4.4 Mức độ cha mẹ đẻ lắng nghe khó khăn tâm sự của con cái (theo

nhận định của người con)

90

Bảng 4.5 Mức độ trò chuyện với cha mẹ cao tuổi trong gia đình 94

Bảng 4.6 Mức độ con cái lắng nghe khó khăn tâm sự của cha mẹ đẻ là

người cao tuổi (theo nhận định của người con)

95

Bảng 4.7 Mức độ con cái lắng nghe khó khăn tâm sự của cha mẹ chồng/

vợ là người cao tuổi (theo nhận định của người con)

96

Bảng 4.8 Mức độ gặp mặt con không sống cùng của người cao tuổi chia

theo khoảng cách sống

98

Bảng 4.9 Mức độ các cháu gặp gỡ ông bà hai bên- theo nhóm mức sống 108

Bảng 5.1 Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của Người cao tuổi 121

Bảng 5.2 Quan hệ đối xử với người cao tuổi trong gia đình 130

Trang 8

DANH MỤC BIỂU

Biểu 3.1 Mức độ đảm bảo cuộc sống của người cao tuổi (%)-Tp Hồ

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Luật người cao tuổi Việt Nam, những người từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi Hiện nay, số người cao tuổi (NCT) đã chiếm 10,2% dân số Kết quả phân tích các cuộc điều tra dân số và nhà ở qua các năm cũng cho thấy, chỉ số già hóa1

xu hướng ngày càng gia tăng Năm 1989, chỉ số này là 18,2%, năm 1999 là 24,3%, năm 2009 là 35,5% đến năm 2014, tỷ số này đã là 43,3% [43, tr.35] Việt Nam hiện nay đang trong xu thế “dịch chuyển mạnh mẽ về cơ cấu dân số theo độ tuổi Số người cao tuổi sẽ tăng nhanh khiến Việt Nam trở thành một trong những nước có dân số già hóa nhanh nhất thế giới và làm cho tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động giảm xuống Đến năm 2035, tỷ số người cao tuổi phụ thuộc (tỷ số giữa số người từ

65 tuổi trở lên so với số người trong độ tuổi từ 15 - 64) sẽ tăng từ gần 10/100 hiện nay lên gần 22/100, trong khi số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm” [39, tr XXX]

Hiện nay, đa số người cao tuổi đang sống ở nông thôn cùng con cháu trong các gia đình và phụ thuộc vào con cái trưởng thành cũng như các thành viên khác về chăm sóc và các nhu cầu vật chất Tuy vậy, tỷ lệ người cao tuổi sống cùng con cháu ngày càng có xu hướng giảm Do tình hình di cư từ nông thôn đến thành thị, nên

“Tỷ lệ người cao tuổi sống với con cái đã giảm nhanh, trong khi tỷ lệ hộ gia đình người cao tuổi sống cô đơn hoặc chỉ có vợ chồng người cao tuổi tăng lên đáng kể Phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn… Di cư từ nông thôn ra thành thị là một nguyên nhân của tình trạng này và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tỷ

lệ hộ gia đình người cao tuổi bị “khuyết thế hệ”2

[47, tr.6] Quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu là một trong các mối quan hệ rường cột của gia đình Để cuộc sống gia đình ổn định và bền vững, bên cạnh việc thúc đẩy và xây dựng mối quan hệ giữa

vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, thì gìn giữ và phát triển mối quan hệ giữa các

hế hệ trong gia đình, đặc biệt giữa cha mẹ cao tuổi và con cháu trong gia đình trong điều kiện xã hội mới cần đặc biệt chú ý

Trang 10

2

Ngày nay, cùng với những biến đổi trong cơ cấu dân số và đời sống kinh tế -

xã hội, sự phụ thuộc của người cao tuổi vào con cái trong gia đình đang gặp những khó khăn, thách thức Những thay đổi trong đời sống xã hội, sự mở rộng giao lưu kinh tế và văn hoá khiến sự khác biệt về các nhu cầu văn hoá, sinh hoạt, quan niệm, giá trị, và lối sống giữa các thế hệ đang ngày càng gia tăng Trên thực tế, người cao tuổi đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nảy sinh trong cuộc sống Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam hiện nay sống ra sao? Họ đang được chăm sóc như thế nào từ phía gia đình? Làm thế nào để củng cố mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình trong bối cảnh tác động của xã hội biến đổi?

Để góp phần trả lời, lý giải các vấn đề đặt ra trên đây, Luận án Người cao tuổi

trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội góp phần

đánh giá thực trạng đời sống, những mối quan hệ của người cao tuổi với các thế hệ trong gia đình, về đời sống vật chất, tinh thần và sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau và những vấn đề đang đặt ra hiện nay

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

Luận án được thực hiện nhằm mục đích đánh giá các mối quan hệ tương hỗ

trong đời sống vật chất, tình cảm cũng như mối quan hệ chăm sóc giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình hiện nay; tìm hiểu những khó khăn mà các gia đình đang gặp phải cũng như các yếu tố biến đổi xã hội tác động thế nào đến mối quan

hệ của người cao tuổi với các thế hệ con cháu trong gia đình

Trên cơ sở số liệu và các thông tin thu thập được từ các cuộc điều tra khảo

sát, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là: Vận dụng các lý thuyết được áp dụng

trong nghiên cứu, trên cơ sở các số liệu, dữ kiện thu thập được để phân tích, đánh giá một số vấn đề cơ bản liên quan đến người cao tuổi Việt Nam trong gia đình hiện nay như: đời sống của người cao tuổi và sự chăm sóc lẫn nhau giữa con cháu với người cao tuổi (về vật chất và tinh thần tình cảm, sức khỏe); những vấn đề đang đặt ra trong mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình Việt Nam hiện nay

Trang 11

3

3 Đối tượng, phạm vi, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là các mối

quan hệ tương hỗ về đời sống vật chất và tinh thần giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình; gia đình với việc chăm sóc người cao tuổi

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng kết quả, các bộ số liệu điều tra,

khảo sát về gia đình có liên quan ở cấp quốc gia, các khu vực trong những năm gần đây và phân tích kết quả từ một nghiên cứu bổ sung trong quá trình làm luận án Các số liệu được thu thập, phân tích so sánh từ các nghiên cứu - trừ bộ số liệu quốc gia làm cơ sở (Điều tra gia đình Việt nam, 2006), các cuộc nghiên cứu khác hầu hết được tiến hành trong khoảng 5 năm gần đây (2010-2015) nhằm làm rõ các mối quan

hệ hỗ trợ, chăm sóc giữa người cao tuổi và các các thế hệ trong gia đình hiện nay Nghiên cứu này chưa có điều kiện khảo sát riêng nhóm NCT cô đơn hoặc nhóm NCT có con cái đi làm ăn xa

3.3 Câu hỏi nghiên cứu Luận án được thực hiện nhằm trả lời một số câu hỏi

nghiên cứu cơ bản như: Đặc điểm về người cao tuổi và đời sống của họ trong gia

đình hiện nay như thế nào? Mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu (sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thế hệ) trong các lĩnh vực đời sống vật chất

và tinh thần ra sao? Việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình hiện nay như thế nào và các gia đình đang gặp những vấn đề gì trong chăm sóc người cao tuổi?

3.4 Giả thuyết nghiên cứu Luận án được thực hiện nhằm kiểm chứng 2 giả

thuyết đặt ra là: i) Trong các gia đình Việt Nam hiện nay mối quan hệ giữa các thế

hệ cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của gia đình truyền thống, giữa ông bà- cha mẹ và

con cái vẫn có sự quan tâm, gắn bó chăm sóc lẫn nhau và ii) Đã có những tác động

của các yếu tố hiện đại hóa đến các mối quan hệ gia đình, sự thay đổi trong cách quan tâm chăm sóc với người cao tuổi đòi hỏi các thế hệ cần có những điều chỉnh

để phù hợp hơn trong bối cảnh xã hội mới

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận Để nhận diện được mối quan hệ giữa người cao tuổi

và các thế hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay, cần thiết phải xác định được các nguyên lý, quan điểm và hệ lý thuyết tiếp cận vấn đề để phân tích các dữ liệu thực

Trang 12

4

tế Phương pháp luận chung nhất cho nghiên cứu vấn đề này là phải nhìn mối quan

hệ giữa người cao tuổi với các thế hệ trong gia đình từ nhiều chiều, trong một tổng thể, với cả những mặt đối lập (tích cực và hạn chế); xem xét các mối quan hệ trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, chịu sự ảnh hưởng, tác động của các yếu tố văn hóa, kinh

tế và môi trường xã hội đang biến đổi

Vận dụng các lý thuyết được lựa chọn, cơ sở tiếp cận cũng như sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học xã hội học trong phân tích các tình huống, các hiện tượng xã hội và các dữ liệu thu thập được từ thực tiễn (các chỉ số, chỉ báo, dữ liệu ) Hệ thống lý thuyết được lựa chọn và vận dụng trong nghiên cứu này là lý thuyết về vị thế vai trò (để nhìn nhận đánh giá được vai trò của các thế hệ trong mối quan hệ tương hỗ trong gia đình); lý thuyết hiện đại hóa (để phân tích những yếu tố mới của xã hội trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa có ảnh hưởng, tác động như thế nào đến các mối quan hệ gia đình) Ngoài ra tiếp cận vấn

đề từ góc độ văn hóa, xã hội học gia đình sẽ giúp nhìn thấy những thay đổi về cấu trúc, chức năng từ truyền thống sang hiện đại và các xu thế mới của sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thế hệ trong gia đình

Các biến số phụ thuộc (nhận diện các quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình hiện nay về đời sống vật chất, tinh thần tình cảm, sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau) là kết quả của sự vận dụng hệ lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu trong phân tích các cứ liệu, thông tin thu thập được

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu và những vấn đề đặt ra, một số phương pháp

được sử dụng trong nghiên cứu này gồm:

4.2.1 Tổng quan phân tích một số tài liệu, kết quả nghiên cứu sẵn có về người

cao tuổi và mối quan hệ với con cháu trong gia đình: các số liệu thống kê, các kết quả nghiên cứu liên quan đến người cao tuổi trong nước và ở nước ngoài những năm gần đây Phân tích tài liệu sẵn có sẽ cho phép nhìn nhận, đánh giá vấn đề thực

tế hơn Kết quả của giai đoạn này sẽ cho phép xác định những vấn đề cần đi sâu, làm rõ để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đặt ra

4.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng sẽ giúp lượng

Trang 13

5

hoá, đánh giá các chỉ báo cụ thể liên quan đến vai trò, những đóng góp của người cao tuổi; đời sống của họ và thực tế việc quan tâm chăm sóc người cao tuổi của các thế hệ hiện nay trong gia đình Nghiên cứu định lượng trước hết được sử dụng trong phân tích số liệu thứ cấp: phân tích sâu số liệu một số cuộc điều tra gần đây như

Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 và một số kết quả nghiên cứu về gia đình, về

người cao tuổi liên quan đến mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu Các cuộc điều tra khảo sát sử dụng công cụ bảng hỏi do tác giả thực hiện tại Thành phố

Hồ Chí Minh (2010) và tại Bắc Ninh (2013) trong quá trình nghiên cứu về chủ đề này cũng như trong quá trình làm luận án

Về mẫu phân tích định lượng : 1) Bộ số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam

2006 Cho đến nay đây là cuộc điều tra có quy mô lớn nhất về những vấn đề cơ bản

của gia đình, trong đó có những chỉ báo đánh giá về mối quan hệ giữa các thế hệ của gia đình 9.300 hộ tại 64 tỉnh/ thành phố trên cả nước đã tham gia cung cấp thông tin Trong các hộ gia đình này, có 2.664 người từ 61 tuổi trở lên được phỏng vấn về tình hình đời sống cũng như một số quan niệm về quan hệ gia đình Trong số người cao tuổi đã được điều tra, có 1.205 nam và 1.459 nữ, chiếm tỷ lệ tương ứng là 45,2% và 54,8%

2) Điều tra Những vấn đề cơ bản của người cao tuổi tại TP Hồ Chí Minh

(2010) do Viện Gia đình và Giới thực hiện với 300 mẫu định lượng là người cao tuổi ở khu vực nội thành và ngoại thành (một phường tại Quận 10 và một xã tại huyện Bình Chánh) Trong đó, 41,5% là nam giới cao tuổi và 58,5% nữ giới cao tuổi 50,2% người cao tuổi sống ở khu vực thành thị và 49,8% người cao tuổi sống

ở khu vực nông thôn

3) Số liệu khảo sát về Nhận thức và thái độ về gia đình của người dân Hà Nội

(Điều tra gia đình Hà Nội 2010) do Viện Gia đình và Giới thực hiện với 1.219 đại diện hộ gia đình Sử dụng số liệu này để phân tích, tác giả đã lọc ra 584 gia đình có người cao tuổi và 227 người trả lời là người cao tuổi để phân tích sâu các thông tin

có liên quan đến đề tài

4) Khảo sát về Một số yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa người cao tuổi và

con cháu trong gia đình hiện nay tại Thành phố Bắc Ninh (2013) được thực hiện

Trang 14

6

trong quá trình làm luận án, với mẫu được chọn là 300 đại diện hộ gia đình còn cha/

mẹ cao tuổi (cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ/chồng sống chung hoặc sống riêng) nhằm tìm hiểu một số vấn đề trong quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình Địa bàn nghiên cứu

là Phường Kinh Bắc và xã Kim Chân thuộc thành phố Bắc Ninh

Một số kết quả phân tích số liệu khác cũng được tham khảo, so sánh trong quá

trình thực hiện đề tài luận án, như số liệu điều tra Một số vấn đề cơ bản trong chính

sách xã hội đối với người cao tuổi vùng đồng bằng sông Hồng năm 2008; Số liệu

Điều tra về phúc lợi và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Khánh Mậu, Ninh Bình (2010); Số liệu Điều tra quốc gia về người cao tuổi (2011); Số liệu khảo sát đánh giá 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi (2015)

4.2.3 Nghiên cứu định tính Trong nghiên cứu người cao tuổi, sử dụng phương

pháp nghiên cứu định tính là một lợi thế Phỏng vấn sâu người cao tuổi sẽ giúp hồi

cố những kinh nghiệm, suy nghĩ của họ về từng thời kỳ, từng giai đoạn sống mà họ

đã trải qua trong gia đình cũng như xã hội Các công cụ khác như thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ chốt, đại diện các thế hệ con, cháu được sử dụng để thu thập thông tin Luận án sử dụng các kết quả nghiên cứu định tính của các cuộc điều tra khảo sát đã nêu Tại Bắc Ninh (2013), nghiên cứu định tính được thực hiện với 30 phỏng vấn sâu (đại diện hộ gia đình, trẻ vị thành niên, người cao tuổi và đại diện quản lý cộng đồng); 60 lượt người tham gia các thảo luận nhóm (2 cuộc thảo luận nhóm vị thành niên; 2 Thảo luận nhóm đại diện hộ gia đình; 2 thảo luận nhóm người cao tuổi và 2 thảo luận nhóm cán bộ cấp

xã /phường)

Một số phương pháp khác như phân tích tổng hợp, quy nạp, phân tích hồi quy

đa biến cũng được sử dụng trong quá trình thực hiện luận án

4.3 Khung phân tích của Luận án

Khung phân tích lấy bối cảnh chung là sự biến đổi của yếu tố kinh tế -xã hội, già hóa dân số tác động đến gia đình Vì quá trình phân tích dựa trên một số bộ số liệu có sẵn và mẫu khảo sát mới, nên một số biến độc lập được lấy theo hai tuyến: những đặc trưng nhân khẩu xã hội của người trả lời (người cao tuổi hoặc đại diện hộ) và những đặc trưng nhóm xã hội của gia đình Các biến trung gian bao gồm vai

Trang 15

7

trò của các thế hệ trong thực hiện các chức năng kinh tế, tâm lý tình cảm và chăm sóc trong gia đình cũng như một số khác biệt về quan niệm, giá trị, nếp sống của các thế hệ trong gia đình Biến phụ thuộc chính là kết quả của quá trình phân tích, là các đánh giá về mối quan hệ giữa các thế hệ trên các khía cạnh đời sống gia đình

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Nghiên cứu về người cao tuổi nói chung đã được quan tâm những năm gần đây Một số nghiên cứu tiếp cận từ góc độ an sinh xã hội, đánh giá các khía cạnh liên quan đến hệ thống trợ giúp đối với người cao tuổi Tuy nhiên, những nghiên cứu xã hội học từ cách tiếp cận nhóm liên quan đến các vấn đề xã hội của người cao tuổi gắn với đời sống và các quan hệ trong gia đình của người cao tuổi còn hiếm, hoặc chỉ được đề cập như là một khía cạnh liên quan trong các nghiên cứu đã có

Về khách thể nghiên cứu Khác với những nghiên cứu chuyên biệt khác,

nghiên cứu này tiếp cận khách thể đa dạng hơn, từ bản thân người cao tuổi; đại diện

hộ gia đình có người cao tuổi và trẻ em trong những gia đình 3 thế hệ nhằm có những thông tin nhiều chiều giúp cho việc phân tích, đánh giá các mối quan hệ gia

Thực hiện các vai trò trong gia đình

Đặc trưng nhóm xã hội của gia đình:

- Số thế hệ

- Mức sống

- Khu vực

- Mô hình sống

Các đặc trưng nhân khẩu xã hội của NTL:

Tuổi Học vấn Nghề nghiệp Giới tính Khu vực sống

về đời sống vật chất

Mối quan

hệ về đời sống tinh thần

Mối quan hệ chăm sóc NCT

Trang 16

8

đình toàn diện hơn Đối với thế hệ người cao tuổi trong mối quan hệ với con cái, những số liệu phân tích, so sánh được khai thác toàn diện hơn: NCT là cha mẹ đẻ/cha mẹ vợ chồng; kể cả sống chung hay sống riêng Cạnh đó, một số yếu tố liên quan đến các dịch vụ chăm sóc tập trung người cao tuổi cũng được đề cập để làm rõ hơn bối cảnh chăm sóc người cao tuổi trong tình hình mới

Về lý luận, tiếp cận từ góc độ già hóa dân số và biến đổi xã hội, Luận án đã vận

dụng hai lý thuyết cơ bản để nghiên cứu phân tích làm rõ các mối quan hệ tương hỗ giữa các thế hệ trong gia đình Đó là lý thuyết vị thế vai trò, trong đó có vai trò giới;

lý thuyết hiện đại hóa và biến đổi xã hội Với việc mở rộng phạm vi nghiên cứu không chỉ những người cao tuổi sống chung trong gia đình mà cả những người cao tuổi không sống chung (cả bố mẹ đẻ và bố mẹ vợ/chồng) của các khách thể nghiên cứu, mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu được đặt trong một tổng thể rộng hơn các quan hệ gia đình Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung hiểu biết về những yếu tố ảnh hưởng tới các mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình trong bối cảnh già hoá dân số đang gia tăng

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi về vai trò và đặc

điểm của các mối quan hệ tương hỗ trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người cao tuổi với các thế hệ trong gia đình Việt Nam hiện nay Trong bối cảnh biến đổi về cơ cấu và quy mô gia đình, di cư lao động cũng như những khác biệt thế

hệ trong quan niệm về giá trị, kết quả nghiên cứu cho thấy xu hướng chuyển từ

chăm sóc truyền thống trực tiếp sang gián tiếp, “tiền tệ hóa” sự chăm sóc ở một bộ phận các gia đình; một bộ phận người cao tuổi có khuynh hướng chuyển từ sự “hy sinh” sang “hưởng thụ”; có sự thay đổi trong quan niệm và hành vi về mối quan hệ

hỗ trợ của các thế hệ và về các mô hình chăm sóc người cao tuổi Những phát hiện

này góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính sách xã hội đáp ứng các yêu cầu xã hội của thời kỳ dân số già Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra một

số khuyến nghị về việc làm thế nào để các gia đình có điều kiện chăm sóc tốt hơn đối với thế hệ người cao tuổi hiện nay, cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo về Quan hệ vợ chồng người cao tuổi; về Người cao tuổi và vai trò trong gia đình con cái đi làm ăn xa

Trang 17

9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận Vận dụng các lý thuyết vị thế vai trò, lý thuyết hiện đại hóa, xã

hội học gia đình một cách thiết thực trong phân tích các mối quan hệ thế hệ trong gia đình; nhận diện những yếu tố ảnh hưởng đến các mối quan hệ thế hệ, đến việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình trong bối cảnh biến đổi xã hội và già hóa dân số Nghiên cứu cũng góp phần hệ thống lại những vấn đề lý luận và phương pháp trong nghiên cứu về gia đình nói chung, nghiên cứu về người cao tuổi trong các mối quan hệ gia đình hiện nay nói riêng

Về thực tiễn Quá trình thu thập và xử lý thông tin trong nghiên cứu giúp nhận

diện tổng thể về người cao tuổi trong các quan hệ gia đình hiện nay; những vấn đề

về chăm sóc người cao tuổi trong gia đình trong bối cảnh xã hội biến đổi Kết quả nghiên cứu cũng góp phần củng cố các bằng chứng thực tiễn, đưa vấn đề chăm sóc người cao tuổi nói chung, người cao tuổi trong gia đình nói riêng là vấn đề cấp thiết cần quan tâm, cần có cách nhìn nhận mới để xử lý những khó khăn, các yếu tố phi truyền thống trong chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu xã hội học về gia đình; giúp xã hội có cái nhìn cởi mở hơn về chăm sóc người cao tuổi cũng như cung cấp một số luận cứ thực tiễn đề điều chỉnh, xây dựng các chính sách xã hội về người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận

án được kết cấu thành 5 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Các khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận

Chương 3 Mối quan hệ về đời sống vật chất giữa người cao tuổi và con cháu

trong gia đình

Chương 4 Mối quan hệ về đời sống tinh thần tình cảm giữa người cao tuổi và

con cháu trong gia đình

Chương 5 Chăm sóc người cao tuổi trong gia đình Việt Nam hiện nay và

những vấn đề đặt ra

Trang 18

10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Ở các nước phát triển, những người từ 65 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho tất cả các quốc gia, nhưng Liên Hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân

ra làm 3 nhóm là sơ lão (60-69 tuổi), trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (trên 80 tuổi) Già hóa dân số đang trở thành vấn đề lớn của các nước đang phát triển, nơi dân số

bị già đi nhanh chóng trong nửa đầu thế kỷ 21

Trong những thập kỷ qua, cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng lên; và tỷ lệ người cao tuổi (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh Nếu lấy năm 1979 làm cơ sở thì trong giai đoạn 1979-2009, tổng dân số tăng 1,6 lần; dân số trẻ em giảm gần một nửa; dân số trong độ tuổi lao động tăng 2,08 lần, còn dân số cao tuổi tăng 2,12 lần Như vậy, dân số cao tuổi tăng nhanh nhất so với tất cả các nhóm dân số khác trong giai đoạn này Đây chính là đặc điểm đầu tiên, nổi bật nhất

của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam [47, tr.16]

Dự báo của Tổng cục Thống kê (2010) cho giai đoạn 2009-2049 cho thấy, hệ quả của xu hướng biến đổi cơ cấu tuổi dân số là chỉ số già hóa sẽ tăng lên nhanh chóng; chỉ số già hóa sẽ vượt ngưỡng 100 vào khoảng năm 2032 Đây là thời điểm Việt Nam bắt đầu có dân số cao tuổi nhiều hơn dân số trẻ em

Bảng 1.1 Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi, 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên

và chỉ số già hóa, 1989 - 2014

Nguồn: TCTK 2015: Kết quả Điều tra dân số giữa kỳ 2014

Theo kết quả các cuộc Điều tra Dân số, nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 8% năm 1999 và đến 1/4/2014 đã chiếm 10,2% dân số Do tỷ lệ người già tăng lên

Trang 19

11

trong khi tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh, nên “chỉ số già hoá” của dân số Việt Nam ngày càng tăng (sau 10 năm từ 24,3% năm 1999 lên 35,5%) và năm 2014 đã là 43,3% [43, tr.35] (bảng 1.1)

Đặc điểm thứ hai của “quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm

già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80

tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn (Bảng 1.2) Số liệu từ bốn cuộc Tổng Điều tra Dân số

và Nhà ở giai đoạn 1979-2009 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm tuổi thấp nhất (từ 60 đến 69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm cao tuổi trung bình

(70-79) và già nhất (80+) có xu hướng tăng nhanh hơn” [47, tr.18] Sự thay đổi cơ

cấu dân số theo hướng "già hóa" tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng và xã hội Dân số già hóa nhanh cũng sẽ gây những ảnh hưởng tương tự như gia tăng dân số nhanh, tạo áp lực cho hệ thống hạ tầng, dịch vụ xã hội và gia đình trong chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi

Bảng 1.2 Dự báo xu hướng biến đổi dân số cao tuổi (% tổng dân số)

Nguồn: Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và 2009

và Dự báo Dân số của GSO (2010)- Dẫn theo UNFPA, 2011

Hiện nay, đa số người cao tuổi đang sống cùng con cháu trong các gia đình và phụ thuộc vào con cái trưởng thành cũng như các thành viên khác trong gia đình về chăm sóc và các nhu cầu vật chất Số liệu từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình giai đoạn 1993-2008 chỉ ra xu hướng thay đổi, đó là: (i) tỷ lệ người cao tuổi sống với con cái vẫn cao nhưng có xu hướng giảm xuống (từ gần 80% vào năm 1992/93 xuống 62% vào năm 2008); (ii) tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn và tỷ lệ hộ gia đình chỉ có hai vợ chồng người cao tuổi có tăng lên; (iii) tỷ lệ hộ gia đình “khuyết thế

hệ”, dù chưa cao nhưng cũng đã tăng hơn hai lần [dẫn theo 47, tr 22]

Trang 20

12

Một điểm đáng chú ý là, trong những năm qua, tỷ lệ người cao tuổi sống với con cái với vị thế là người sống phụ thuộc ở mọi lứa tuổi lại có xu hướng giảm đi nhanh chóng [35] Điều này có thể là do vị thế kinh tế của người cao tuổi được được cải thiện, nhưng cũng có thể là do mô hình gia đình ở Việt Nam đang thay đổi theo

xu hướng mà ở đó con cái ngày càng độc lập với cha mẹ

Để cuộc sống gia đình ổn định và bền vững, bên cạnh việc thúc đẩy và xây dựng mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, thì gìn giữ và phát triển mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình, đặc biệt giữa cha mẹ cao tuổi và con cháu trong gia đình cần đặc biệt được chú ý Để đánh giá được thực trạng các mối quan hệ này trên cơ sở đó gợi mở, thảo luận về những giải pháp nhằm củng cố

và nâng cao chất lượng các mối quan hệ gia đình… thì việc tìm hiểu, đánh giá các nghiên cứu liên quan đến người cao tuổi và mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình là một việc làm cần thiết Từ đó, phát hiện những yếu tố còn thiếu, cần phân tích sâu thêm hoặc nghiên cứu bổ sung để có câu trả lời đầy đủ hơn

1.1 Các nghiên cứu quốc tế và trong khu vực

Vào năm 2006, trên thế giới có khoảng 500 triệu người từ 65 tuổi trở lên Dự báo đến năm 2030, số người trên 65 tuổi sẽ khoảng 1 tỷ người và già hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia đang phát triển với tốc độ tăng dự kiến khoảng 140% vào năm 2030 [66] Già hoá dân số được coi là một thành tựu nhờ những tiến bộ trong y học, chăm sóc sức khoẻ, và phát triển kinh tế Song đó lại đang là nguyên nhân của những khó khăn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội, lương hưu và đang thách thức các mô hình hỗ trợ xã hội hiện nay Cùng với những biến đổi trong cấu trúc gia đình, tuổi thọ con người đang tăng lên trong khi các cặp vợ chồng có ít con hơn khiến cho người cao tuổi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ và chăm sóc trong gia đình Một số nhóm vấn đề đã được các tác giả nước ngoài phân tích liên quan đến lĩnh vực này là:

Sự hỗ trợ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay là vấn đề đang thu hút

nhiều nhà nghiên cứu về già hóa dân số và tuổi già Ở cả các nước phát triển và đang phát triển, các nghiên cứu về chủ đề này không chỉ dừng ở mô tả sự hỗ trợ,

Trang 21

13

tương tác qua lại giữa các thế hệ mà còn tìm hiểu về các mạng lưới hỗ trợ, quá trình tương tác qua lại giữa các thế hệ, tác động của di cư đối với các mạng lưới hỗ trợ tuổi già, hướng di chuyển của các dòng tài sản và sự biến đổi trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa già hóa, sự tương tác giữa các thế

hệ và những yếu tố kinh tế vĩ mô [63]

Nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ trong gia đình bắt đầu vào những năm 1960 với sự xuất hiện của nhiều chương trình phát triển nhằm đưa thế hệ con cháu gần gũi hơn với người cao tuổi Sự quan tâm đến các hoạt động nhằm tăng cường mối liên hệ giữa các thế hệ đã càng gia tăng khi quy mô của các gia đình thay đổi Ban đầu, các nghiên cứu về mối quan hệ gia đình chủ yếu là trong gia đình hạt nhân Đến những năm 1980, nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ tập trung vào mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thành viên trong gia đình Sussman

(1991) cho rằng hiện đại hoá là nhân tố chính ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa các

thế hệ trong gia đình Nghiên cứu về tác động của hiện đại hóa giúp đánh giá khả

năng của các gia đình hiện nay trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi trong gia đình khi có mối quan ngại rằng xã hội sẽ khó khăn khi giải quyết các nhu cầu về chăm sóc và hỗ trợ người cao tuổi do sự biến đổi chức năng gia đình, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển [74]

Mặc dù có những biến đổi trong cấu trúc gia đình ở nhiều nơi trên thế giới thì gia đình, chủ yếu là con cái, vẫn là nguồn chăm sóc chủ yếu và là không gian đặc biệt của mối quan hệ giữa các thế hệ Chẳng hạn, ở Canada, gia đình là nguồn cung cấp sự hỗ trợ cao nhất cho người cao tuổi, ở đó, người cao tuổi có thể nhận được những hỗ trợ về tình cảm, vật chất và giao tiếp Số liệu của cuộc Tổng điều tra Xã hội 1990 và 1985 của Cục Thống Kê nhà nước và cuộc Khảo sát quốc gia về Già hoá và Sự phụ thuộc (năm 1991), cho thấy, phần lớn người cao tuổi Canada sống trong các gia đình hạt nhân (bạn đời và con cái) và tham gia các mạng lưới xã hội trong cộng đồng Ulyssee, cho rằng, phần lớn người cao tuổi thường liên lạc hay gặp mặt con cái khi thấy cần, nhưng họ cũng nhấn mạnh rằng vai trò của người bạn đời, đặc biệt là người vợ là nguồn hỗ trợ quan trọng nhất [78]

Trang 22

14

Do chức năng của gia đình, việc chăm sóc hằng ngày với người cao tuổi bắt nguồn từ sự ràng buộc về tình cảm và những chuẩn mực xã hội khiến họ trở nên có trách nhiệm với nhau và đôi khi bị đổ lỗi nếu họ không thực hiện trách nhiệm với người cao tuổi Con cái thực hiện việc chăm sóc hỗ trợ cha mẹ cho dù cảm giác hay tình cảm của họ với cha mẹ có tốt hay không Xã hội đặt lên vai người con trách nhiệm chăm sóc cha mẹ mà con cái không thể trốn tránh nếu không muốn bị lên án

Nguyên tắc có đi có lại chi phối mối quan hệ vật chất giữa cha mẹ cao con cái Sự hỗ trợ giữa cha mẹ và con cái bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ trao đổi

tuổi-dựa trên nguyên tắc có đi có lại Nếu người cao tuổi hỗ trợ con cái về mặt tài chính thì con cái hỗ trợ cha mẹ về mặt chăm sóc và làm các công việc nhà hoặc ngược lại, con cái hỗ trợ cha mẹ về tài chính, nuôi dưỡng thì cha mẹ lại hỗ trợ con cái về việc nhà hoặc chăm sóc các cháu Trong một số trường hợp, người cao tuổi đôi khi sử dụng áp lực tài chính của mình để tăng vai trò quyền lực đối với con cái nhưng, chính nhu cầu phải được chăm sóc sức khoẻ khiến người cao tuổi trở thành yếu thế Cũng từ nghiên cứu ở Canada cho thấy, mối quan hệ hỗ trợ giữa các thế hệ chịu ảnh hưởng của các yếu tố như tầng lớp xã hội, giới, và loại hình gia đình Theo đó, cha

mẹ thuộc tầng lớp lao động nhận sự giúp đỡ của con cái nhiều hơn so với cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu Con cái các gia đình trung lưu có xu hướng hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc quà cáp Người cao tuổi nữ thuộc tầng lớp lao động có xu hướng sống với con cái nhiều hơn để đổi lấy sự hỗ trợ của con cái Sự giúp đỡ qua lại nhằm đổi lấy sự chăm sóc của người cao tuổi thường gặp ở tầng lớp lao động hơn [78]

So với các nước phương Tây phát triển, ở các nước đang phát triển, cha mẹ nhận sự hỗ trợ về tài chính và vật chất từ con cái nhiều hơn và ít hỗ trợ được cho con cái hơn Nhưng họ lại giúp đỡ con cái nhiều ngoài tiền bạc, ví dụ như trông coi nhà cửa, chăm sóc và dạy dỗ các cháu Sự giúp đỡ này giúp ích rất nhiều để người phụ nữ trong gia đình có thể tham gia vào sản xuất nông nghiệp hoặc việc làm nơi công sở Vai trò của ông bà trong việc chăm sóc và dạy dỗ các cháu là không thể phủ nhận Một nghiên cứu cho kết quả rằng 38% người cao tuổi ở Philippines và 23% ở Đài Loan chăm sóc cháu trong số những người cao tuổi sống cùng con cháu; 32% ở Thái Lan và 70% ở Singapore Số liệu ở các nước Bắc Âu cho thấy người bà

Trang 23

15

thường chăm sóc các cháu để giúp đỡ con cái họ thực hiện các nghĩa vụ gia đình và công việc [63] Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, người chăm sóc thường gặp phải vấn đề khó xử vì một mặt họ muốn được giải thoát khỏi gánh nặng chăm sóc mặt khác họ cảm thấy phải có nghĩa vụ buộc phải chăm sóc [58]

Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, hiện đang diễn ra theo một số xu hướng

Chẳng hạn, vai trò của phụ nữ được nhấn mạnh trong chăm sóc người cao tuổi

Không chỉ bởi họ là người tham gia vào việc chăm sóc cha mẹ cao tuổi nhiều hơn

so với nam giới mà con gái cũng giúp đỡ cha mẹ những lúc họ cần sự giúp đỡ nhiều hơn so với con trai Con trai chỉ chiếm 29% trong số những người giúp đỡ cha mẹ

so với 64% ở con gái Nam giới chủ yếu chỉ đóng góp những hỗ trợ tài chính, kinh

tế và vật chất còn trách nhiệm của phụ nữ là giải quyết những nhu cầu cụ thể của người cao tuổi [78]

Cạnh đó, mặc dù những giá trị truyền thống vẫn được bảo tồn nhưng ở một bộ phận gia đình, sự hỗ trợ chăm sóc chỉ diễn ra một chiều Theo truyền thống của

người Đông Á và Đông Nam Á, con cái có trách nhiệm phải chăm sóc cha mẹ già

nhưng những thế hệ con cái ngày nay đang dần đánh mất giá trị này Một nghiên

cứu về người cao tuổi của Trung tâm nghiên cứu những vấn đề về người cao tuổi thuộc Viện Khoa học Xã hội Quảng Đông (Trung Quốc) thực hiện năm 2010 với gần 1.300 NCT sống ở đô thị cho thấy 40% đang thực hiện công việc chăm sóc các cháu và 20% đang giúp đỡ con cái việc nhà; hơn 10% NCT đang phải hỗ trợ tiền bạc cho con cái hàng tháng và có đến 1/3 trong số người cao tuổi thường xuyên phải cho con cái tiền bạc Có 16% người trả lời đã cho rằng thực hiện điều này là khó khăn đối với họ vì họ phải dành một phần tiền lương hưu của mình cho con và vì vậy chất lượng cuộc sống của họ bị ảnh hưởng nhiều [80]

Người cao tuổi cũng đang thay đổi, chuyển quan niệm từ “hy sinh” sang

“hưởng thụ” Ở Australia, người cao tuổi đang thay đổi quan điểm về sự hỗ trợ cho

con cái Giờ đây họ đang chuyển từ quan điểm “hy sinh” sang “hưởng thụ cho bản thân” Ngày càng nhiều người cao tuổi nhận thức rằng họ sẽ phải tự mình trang trải

và giải quyết các vấn đề tuổi già mà không nhờ đến sự giúp đỡ của con cái Trước đây nhiều người hỗ trợ cho con cái tiền để mua nhà vì giá nhà tăng cao và con cái

Trang 24

16

thường gặp khó khăn để có thể mua được ngôi nhà cho mình Nhưng ngày nay, nhiều người cao tuổi thay đổi hình thức hỗ trợ này sang cho vay, hầu hết là không lãi suất nhưng cũng có những trường hợp tính lãi Giờ đây, những người cao tuổi này cho rằng họ không nên chắt bóp mà nên hưởng thụ cho bản thân nhiều hơn [67] Liệu đây có trở thành xu hướng của người cao tuổi Việt Nam khi xã hội và nền kinh tế phát triển hơn?

Mức độ thường xuyên qua lại và mối quan hệ về đời sống tinh thần giữa cha

mẹ cao tuổi-con cái cũng là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Sự gắn

kết tình cảm giữa con cháu với người cao tuổi có liên quan đến mức độ thường xuyên hai bên qua lại hoặc liên lạc với nhau và mối quan hệ tình cảm của cha mẹ

dành cho họ Những quan hệ tình cảm cha mẹ dành cho con cái thời kỳ trước khi

trưởng thành cũng có những tác động, ảnh hưởng đến mối quan hệ của họ ở tuổi già Những người hoạt động thực tiễn về gia đình biết rằng các thành viên gia đình luôn có những hình thức giao tiếp riêng và quan niệm về quan hệ gia đình theo cách của mình Nghiên cứu của Whitbeck và các đồng nghiệp (2001) cho biết, các hình thức giao tiếp này được phát triển theo thời gian và ảnh hưởng tới khả năng gia đình trong việc đáp ứng nhu cầu của cha mẹ khi về già theo ít nhất là 2 cách: thứ nhất, mối quan hệ và cách thức giao tiếp của cha mẹ và con cái trong quá khứ có thể ảnh hưởng đến xu hướng con cái trưởng thành hỗ trợ, giúp đỡ cha mẹ; thứ hai, ngay cả khi con cái sẵn sàng hỗ trợ thì nếu con cái và cha mẹ ít có liên lạc, giao tiếp với nhau thì cũng rất khó có thể thương lượng các điều khoản hỗ trợ [83]

Mối quan hệ giữa các thế hệ chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là sự giao tiếp Sebatian và Sekher chỉ ra, con gái thường dành nhiều thời gian trò chuyện với cha mẹ già hơn so với con trai Hơn một nửa số người cao tuổi tham gia cung cấp thông tin cho nghiên cứu cho biết thế hệ các cháu của họ phải đảm đương quá nhiều trách nhiệm vì vậy chúng không có đủ thời gian

để dành cho người cao tuổi [68]

Người cao tuổi có nhiều kinh nghiệm sống, họ giúp đỡ con cái công việc gia đình và nhiều người vẫn đóng góp vào thu nhập của gia đình Trong các nghiên cứu

về mối quan hệ giữa ông bà (thế hệ thứ nhất) và cháu (thế hệ thứ 3) của Chin-Chun

Trang 25

17

Yi và Ju-Ping Lin (2009), cho thấy ông bà là những người có ảnh hưởng nhất định

đối với sự phát triển của các cháu Đặc biệt, mối quan hệ giữa các thế hệ ở thành thị

và nông thôn có những điểm khác biệt Các cháu ở tuổi vị thành niên ở nông thôn thường xuyên gặp gỡ với ông bà và được ông bà nội giúp đỡ rất nhiều Mặc dù

nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa ông bà và cháu nhưng mối quan hệ

giữa bố mẹ già và con cái chính là cầu nối liên kết giữa các thế hệ Mối quan hệ

giữa thế hệ ông bà và thế hệ bố mẹ tốt thì các cháu và ông bà thường xuyên gặp gỡ hơn và duy trì được sự gần gũi Những mối quan hệ giữa các thế hệ tốt thì con cháu

có cơ hội nhận được nhiều sự giúp đỡ hơn

Những biến đổi trong đời sống xã hội đang khiến nhiều người cao tuổi ở đô thị phải tự xoay xở cuộc sống.Cũng trong nghiên cứu về người cao tuổi của Trung tâm nghiên cứu những vấn đề về người cao tuổi thuộc Viện Khoa học Xã hội Quảng Đông (Trung Quốc, 2010) cho thấy 62% người cao tuổi ở đô thị đang sống riêng mà không sống cùng con cái Kết quả đáng chú ý là 48% người cao tuổi chỉ mong con cái về thăm họ 1 lần/tuần; 28% mong con cái về thăm 1 lần/tháng và 24% chỉ hy vọng con cái đến thăm họ 1 lần/năm Ngay cả những người đang sống cùng con cái thì hầu hết số họ đều cho biết họ cảm thấy rất cô đơn Có đến 75% người cao tuổi mong muốn con cái hỗ trợ cha mẹ về mặt tình cảm, tinh thần nhiều hơn[80]

Một số nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố tác động đến cuộc sống của người

cao tuổi như tình trạng hôn nhân, sức khỏe và vị thế kinh tế xã hội

Kết hôn và sống với vợ/chồng Các kết quả nghiên cứu cho biết so với những

NCT không kết hôn, những người kết hôn có sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt hơn Phụ nữ thường là người chăm sóc chính đối với người chồng, vì vậy, goá vợ thường được cho là yếu tố có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người cao tuổi nam Ở những nước có tư tưởng gia trưởng khiến phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn lực kinh tế và xã hội, bởi vì phụ nữ kết hôn thường phụ thuộc vào người chồng về mặt kinh tế nên sự thiếu vắng người chồng trong cuộc sống khiến người cao tuổi nữ gặp nhiều khó khăn như có ít hỗ trợ kinh tế hơn và vị thế trong xã hội và gia đình cũng suy giảm Người cao tuổi nam và nữ có những vai trò xã hội và văn hoá khác nhau và nhận được các lợi ích khác nhau từ việc sống chung với con cháu [73]

Trang 26

18

Ngược lại, cũng có xu hướng người cao tuổi không thích sống cùng con cái do khác biệt về nhu cầu, thói quen sinh hoạt Một nghiên cứu ở Australia (2005) cho biết mặc dù việc lựa chọn sống chung với con cái sẽ mang lại nhiều lợi ích cho

cả người cao tuổi và con cái vì họ có thể dễ dàng giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết, nhưng phần lớn người cao tuổi trong số 6.789 người từ 50 tuổi trở lên cho biết

họ không lựa chọn sống chung với con cái Nguyên nhân là họ không cùng chung những sở thích với con cháu, đặc biệt là thường phàn nàn về các cháu Hầu hết những người trả lời cho rằng những khó khăn trong mối quan hệ của họ với con cháu bắt nguồn từ các giá trị hiện đại và các vấn đề nảy sinh trong xã hội Họ cho rằng việc sống chung luôn tiềm ẩn những rắc rối và mâu thuẫn, xung đột là không thể tránh khỏi [67]

Sức khỏe Các nghiên cứu cũng cho thấy ngay cả những NCT sống riêng với

con cháu cũng có xu hướng trở về sống với con cái khi tuổi cao hơn và sức khoẻ yếu hơn [57] Nghiên cứu của Zimmer (2005) cũng cho kết quả rằng phụ nữ có sức khoẻ kém mong muốn sống với con cái nhiều hơn so với nam và yếu tố sức khoẻ hầu như ít có ảnh hưởng đến mô hình sống của nam giới Có thể nguyên nhân là do khả năng chăm sóc của nam giới không tốt bằng phụ nữ và khi người vợ/người phụ

nữ bị đau yếu thì lựa chọn mà cả hai cho là hợp lý là chuyển đến sống với con cái Ngược lại, nam giới khi đau yếu thì người chăm sóc chính lại là người vợ Nếu người vợ còn đủ sức khoẻ và khả năng chăm sóc chồng thì con cái hoặc những thành viên khác trong gia đình hầu như không cần tham gia Về khía cạnh giới, người phụ nữ bằng việc chăm sóc con cháu và thực hiện các công việc thuộc về nghi lễ của gia đình thì càng ngày càng xây dựng mối liên hệ chặt chẽ với gia đình

và quan hệ tình cảm sâu sắc với các thành viên khác (con cái) Con cái và những thành viên khác trong gia đình có thể cảm thấy có nhiều tình cảm với mẹ (bà) hơn

so với bố (ông) và như vậy, họ có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề sức khoẻ của mẹ (bà) Song cho đến nay thì những nghiên cứu đã có chưa tìm hiểu cụ thể về giả định này và cần thêm các nghiên cứu để giải thích thấu đáo hơn [69]

Kinh tế Chẳng hạn, ở Ấn Độ vẫn còn một tỷ lệ đáng kể người cao tuổi đang

sống cùng con cháu và sự tương tác giữa các thế hệ giờ đây đã có những thay đổi

Trang 27

19

Sự khác biệt thế hệ ngày càng lớn do những thay đổi về lối sống, toàn cầu hoá, di cư của những người trẻ tuổi, và sự ảnh hưởng của những luồng tư tưởng khác biệt nhau Người cao tuổi có nguồn lực tài chính, chăm sóc gia đình, tham gia tạo thu nhập cho gia đình và đóng góp vào thu nhập gia đình thường nhận được sự chăm sóc tốt hơn và được đối xử tốt hơn Ngược lại, những người không có nguồn lực, trong nhiều trường hợp đã bị con cháu vô tình hoặc cố tình từ chối nghĩa vụ chăm sóc [68]

Với những biến đổi nhanh chóng trong xã hội, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển trong khu vực, trong đó có Việt Nam, câu hỏi đặt ra là liệu các giá trị truyền thống về lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ (chữ hiếu) sẽ được gìn giữ như thế nào và sẽ mang lại hiệu quả như thế nào trong việc gìn giữ sự hài hoà trong xã hội khi các quốc gia áp dụng chính sách hỗ trợ an sinh tuổi già theo cách kết hợp giữa sức mạnh của các giá trị truyền thống về lòng hiếu thảo và sự hỗ trợ của nhà nước vốn có nguồn lực hạn chế

Một số chính sách của các quốc gia liên quan đến hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi

Chính sách về nhà ở Nhằm khuyến khích các gia đình có từ 3 thế hệ cùng

chung sống, nhiều chính phủ ở châu Á đã áp dụng chính sách khuyến khích gia đình chăm sóc người cao tuổi bằng cách có các chương trình hỗ trợ để tạo điều kiện về nơi ở cho các gia đình nhiều thế hệ chung sống Từ năm 1982, Singapore điều chỉnh chính sách nhà ở dành nhiều ưu đãi đối với những gia đình nhiều thế hệ chung sống nộp đơn xin mua nhà, như các chương trình Chế độ tuyển chọn (Joint Selection Scheme), Chương trình cư trú gần cha mẹ (Reside Near Parents/Married Children Scheme), Chương trình tài trợ chi phí về nhà ở (CPF Housing Grant Scheme) và chương trình Nhà ở cho các gia đình nhiều thế hệ (Multi-Tier Family Housing Scheme) Theo chính sách này, những cặp vợ chồng sẽ cảm thấy thuận lợi hơn nếu sống cùng cha mẹ, vì họ sẽ được ưu tiên khi mua nhà Nhưng, cũng có ý kiến cho rằng thay vì đi ngược lại với các giá trị văn hoá và nỗ lực duy trì các chuẩn mực của gia đình châu Á, các chính sách nên chuyển sang hướng công nhận những thay đổi trong thái độ Người cao tuổi nên được khuyến khích để sống độc lập hơn thay vì dựa vào các chính sách này và người trẻ tuổi nên có thêm cơ hội được tự do thử sức

Trang 28

20

mình để tách khỏi gia đình và phát triển nghề nghiệp ở các nước khác [70]

Lựa chọn mô hình chăm sóc Sự gia tăng tỷ lệ người cao tuổi và tốc độ già hoá

dân số diễn ra mạnh mẽ khiến cho nhu cầu chăm sóc lâu dài gia tăng Ở khu vực châu

Á, phần lớn người cao tuổi vẫn sống phụ thuộc vào con cái về mặt kinh tế và chăm sóc Với các nước này, chăm sóc người cao tuổi là một nghĩa vụ đạo đức Tuy nhiên, do những biến đổi trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, cơ cấu gia đình đang thay

đổi, nên khả năng chăm sóc người cao tuổi của gia đình đang giảm đi rõ rệt

Mặc dù con người ngày càng sống lâu hơn do những tiến bộ về y học và dinh dưỡng, nhưng khả năng đi lại và sinh hoạt bình thường của người cao tuổi lại chưa được cải thiện Rất nhiều người cao tuổi hiện đang gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày Trung Quốc gần đây đang thực hiện các giải pháp dịch vụ chăm sóc tại nhà và chăm sóc dựa vào cộng đồng nhằm cải thiện cuộc sống cho người cao tuổi Vào thập niên 80, quá trình hiện đại hoá được thúc đẩy bởi việc thực hiện thành công các kế hoạch phát triển kinh tế đã dẫn đến sự thay đổi cấu trúc gia đình, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động, sự suy giảm các giá trị gia đình và gia tăng các xung đột trong gia đình liên quan đến việc chăm sóc cha mẹ lớn tuổi trong xã hội Hàn Quốc Cũng từ đó, vấn đề người cao tuổi được xem như

một vấn đề xã hội nghiêm trọng ở đất nước này Năm 1981, luật Phúc lợi cho người

cao tuổi ra đời, trong đó có quy định việc thành lập nhà dưỡng lão và nhà ở cho

người cao tuổi Năm 1989 và năm 1993, Luật phúc lợi cho người cao tuổi được sửa đổi để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người cao tuổi vốn ngày càng trở nên đa dạng Theo đó, các dịch vụ như dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại nhà và tại cộng đồng bắt đầu thu hút được sự quan tâm của xã hội Các dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng bao gồm: chăm sóc tại nhà theo ngày, trợ giúp các công việc tại nhà, chăm sóc tại nhà trong một thời gian ngắn theo yêu cầu [71] Sự thay đổi chiến lược từ chủ yếu (hoặc dự định) dựa vào phúc lợi của Nhà nước của Hàn Quốc, chuyển sang đa dạng hóa đầu tư và dựa vào nguồn lực xã hội là một gợi ý tốt cho định hướng cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam

Trên thực tế, ngoài việc khẳng định vai trò của các thế hệ trong gia đình trong chăm sóc người cao tuổi, nhiều quốc gia cũng theo đuổi những mô hình khác nhau

Trang 29

21

trong các chính sách hỗ trợ Xây dựng nhiều nhà bảo trợ, nuôi dưỡng người cao tuổi (Nhật Bản trước đây) hay hỗ trợ bằng các chính sách xã hội (Singapore) hoặc kết hợp nhiều loại chính sách, dịch vụ xã hội (Hàn Quốc, Trung Quốc) để hỗ trợ gia đình trong chăm sóc người cao tuổi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội cũng là những tiền đề gợi mở trong nghiên cứu và xây dựng chính sách đối với người cao tuổi ở Việt Nam

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu về người cao tuổi trong những năm gần đây đều chỉ ra rằng quá trình già hoá dân số đang diễn ra với tốc độ cao ở Việt Nam Kèm theo đó là một số đặc điểm nổi bật của người cao tuổi hiện nay như học vấn thấp, tỷ lệ đang làm việc cao, chủ yếu sống ở nông thôn và mất cân bằng giới tính gia tăng Số lượng người cao tuổi nữ giới luôn cao hơn so với nam giới, đặc biệt, mức chênh lệch về giới tính người cao tuổi có xu hướng ngày càng gia tăng ở các nhóm tuổi cao, từ 80 trở lên

Có thể khái quát một vài đặc điểm chính về người cao tuổi ở nước ta hiện nay qua các số liệu thống kê Kết quả Tổng Điều tra dân số - nhà ở 2009 và các cuộc điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê hay nghiên cứu của Giang Thanh Long (2007) đều cho thấy tỷ lệ biết chữ của nhóm người cao tuổi thấp hơn các nhóm tuổi trẻ hơn và chênh lệch rõ rệt giữa nam và nữ Về cơ cấu giới tính và độ tuổi, đối với những người từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ đã được đào tạo chuyên môn kỹ thuật của nam cao gấp 2,4 lần so với nữ, tỷ lệ này giảm xuống còn 1,6 lần ở nhóm tuổi 55-59, tiếp tục giảm dần ở các nhóm tuổi thấp hơn cho đến khi cân bằng giữa nam và nữ ở nhóm tuổi thanh niên 15-24 tuổi [5]

Người cao tuổi còn làm việc dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn chiếm một tỷ

lệ khá lớn Xét theo khu vực, người cao tuổi sống ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ cao trong số người cao tuổi còn làm việc Những người cao tuổi sống ở thành thị, người goá, phụ nữ, những người trên 70 tuổi và những người sống phụ thuộc có tỷ

lệ làm việc thấp hơn các nhóm khác [35] Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà

ở năm 2009, người 60 tuổi trở lên ở nông thôn chiếm tỷ trọng trong lực lượng lao động cao hơn ở khu vực thành thị Số người cao tuổi đang làm việc chiếm 35,2%

Trang 30

22

Phân tích theo giới tính, có 41,7% nam giới cao tuổi đang làm việc tạo thu nhập và

tỷ lệ này ở nữ là 30,3%

Về tình trạng sức khỏe, theo kết quả Điều tra quốc gia về người cao tuổi

(2011), một tỷ lệ lớn người cao tuổi đang gặp khó khăn về vận động, về sinh hoạt hằng ngày và về nghe, nhìn Các khó khăn về vận động như đi bộ, nâng hay mang vác vật nặng khoảng 5kg, trong đó nữ cao tuổi gặp khó khăn nhiều hơn người cao tuổi là nam; khoảng 30% người cao tuổi gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày như về ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo hay đi đại tiểu tiện; ở nhóm 80+

tỷ lệ gặp khó khăn lên đến trên 50% Có 25,6% người cao tuổi cần sự trợ giúp để khắc phục khó khăn nhưng chỉ 30% trong số họ là được đáp ứng Ở nhóm tuổi 80+ cũng chỉ có hơn 55% nhận được sự trợ giúp khi gặp khó khăn hằng ngày

Với tỷ lệ cao người cao tuổi đang sống chung với con cháu, một mặt là điều kiện thuận lợi trong việc chăm sóc, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thế hệ chung sống Tuy nhiên, vì còn một tỷ lệ lớn hộ có người cao tuổi là hộ nghèo, chiếm 35,4% [7] nên cũng đặt ra “gánh nặng” đối với nhóm hộ này trong việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi trong khi các chính sách hỗ trợ của nhà nước thực tế còn ít và thường chỉ tập trung vào nhóm đặc thù, được hưởng chính sách

Đề cập đến mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chú trọng phân tích trên các bình diện chăm sóc người cao tuổi trong gia đình, vai trò của người cao tuổi trong gia đình hiện nay Để tập trung phân tích về các mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trong gia đình, phần dưới đây sẽ tổng quan một số nghiên cứu trong nước về chủ đề này trên 3 khía cạnh: mối quan hệ về đời sống vật chất, đời sống tinh thần và sự quan tâm chăm sóc sức khỏe

Mối quan hệ hỗ trợ về vật chất giữa người cao tuổi và con cháu

Các nghiên cứu liên quan đến đời sống của người cao tuổi những năm qua đều cho thấy một kết quả khá thống nhất là hiện có khoảng trên dưới 50% số người cao tuổi cơ bản đảm bảo được đời sống vật chất từ lao động hoặc chế độ trợ cấp/hưu trí của mình (chẳng hạn, Điều tra gia đình Việt Nam 2006; điều tra của UBQG NCT, 2007…) Nhóm NCT còn lại phải nhờ các nguồn hỗ trợ khác từ gia đình và xã hội

Trang 31

23

để đảm bảo cuộc sống Việc con cháu hỗ trợ về vật chất cho NCT đảm bảo cuộc sống ở các mức độ khác nhau là thể hiện đạo lý, trách nhiệm và nghĩa vụ của các thế hệ với ông bà, cha mẹ trong gia đình Ngược lại, với NCT ở các hoàn cảnh khác nhau, họ cũng có những hình thức, mức độ hỗ trợ, giúp đỡ con cháu trong đời sống bằng tiền bạc, vật dụng hoặc kinh nghiệm làm ăn trong xây dựng và đảm bảo cuộc sống chung của gia đình

Con cái hỗ trợ cha mẹ cao tuổi Con cái hỗ trợ cha mẹ cao tuổi về đời sống

vật chất thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau và chịu ảnh hưởng bới nhiều yếu tố Con cái sống chung thể hiện sự quan tâm chăm sóc qua nuôi dưỡng và quà tặng (bằng tiền hoặc hiện vật) Con cái sống riêng có thể thông qua các hình thức biếu tiền hoặc hiện vật, giúp đỡ công việc sản xuất, việc nhà…

Kết quả nghiên cứu của Bùi Thế Cường về nguồn lực vật chất của người cao tuổi dựa trên số liệu cuộc khảo sát năm 1996 tại đồng bằng sông Hồng cho thấy, giúp đỡ từ con cái đứng thứ hai sau nguồn thu từ kinh tế hộ gia đình nông nghiệp Ngoài sự chu cấp trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật, con cái còn trợ giúp cha mẹ già trong sản xuất kinh doanh phổ biến nhất là con cháu làm giúp trên mảnh ruộng khoán ở người cao tuổi nông thôn Cũng về chủ đề này, nghiên cứu của Trương Sĩ Ánh và cộng sự (1997) hay của Bùi Thế Cường (1999) cho thấy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình quan trọng hơn sự hỗ trợ từ bên ngoài và việc cung cấp thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng khác là mối liên hệ khá thường xuyên giữa người cao tuổi và con cái Babieri (2006) cũng chỉ ra việc gửi tiền và hàng hóa là hình thức thay thế chủ yếu cho các loại hình chăm sóc truyền thống của con cái đối với cha mẹ Trong vòng 12 tháng trước thời điểm điều tra, đã có khoảng 20% người cao tuổi nhận được sự hỗ trợ này từ những người con không sống chung với họ Con trai có xu hướng gửi tiền, quà thường xuyên hơn con gái và người cao tuổi ở nhóm tuổi lớn hơn thường nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn Người cao tuổi ở thành thị hoặc có mức sống cao hơn nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn những người cao tuổi ở nông thôn hoặc có mức sống thấp [xem thêm 35, tr.148]

Có sự khác biệt về giới hay nhóm tuổi, mô hình sống trong việc hỗ trợ của con cái với cha mẹ Kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam 2006 cho biết, có 1/3 số

Trang 32

24

người được hỏi là đại diện hộ gia đình có hỗ trợ tiền cho bố mẹ để đảm bảo cuộc

sống [7] Phân tích trên cơ sở bộ số liệu này, Lê Ngọc Lân và đồng nghiệp [27] cho

thấy con cái ở nhóm tuổi cao hơn có tỷ lệ hỗ trợ tiền bạc cho bố mẹ đẻ cao hơn Các yếu tố dân tộc, nơi cư trú, khu vực sống của con cái có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng hỗ trợ tiền bạc cho bố mẹ đẻ Kết quả này cũng có những nét tương đồng với phân tích của Lê Thị Thúy Hằng [15] về những khía cạnh ảnh hưởng đến sự giúp đỡ của con cái với cha mẹ già ở đồng bằng sông Hồng Một số nghiên cứu khác với mục đích đánh giá, xây dựng chính sách về người cao tuổi cũng đã cho thấy những

cơ sở thực tế khác nhau để phân tích ở các khía cạnh về sự trợ giúp, hỗ trợ của con cái đối với cha mẹ cao tuổi [37], [49]

Có thể thấy trong mối quan hệ về kinh tế, vật chất giữa con cái với người cao tuổi, tùy vào điều kiện hoàn cảnh của từng người mà có những hình thức, mức độ

hỗ trợ cha mẹ khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy dù có sự khác biệt giữa con trai, con gái; dù ở chung hay ở riêng… thì sự hỗ trợ, giúp đỡ của con cái với cha mẹ cao tuổi vẫn là nguồn hỗ trợ quan trọng để đáp ứng, ổn định đời sống về vật chất của họ, trong khi những nguồn hỗ trợ khác từ phía chính quyền, cộng đồng và các tổ chức còn hạn chế

Cha mẹ cao tuổi hỗ trợ con cháu Tuy còn ít, nhưng các nghiên cứu liên quan

đến mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu về đời sống vật chất đã chỉ ra các

hình thức hỗ trợ của cha mẹ cao tuổi với con cái: góp phần tạo thu nhập cho gia đình;

hỗ trợ con cái về tiền bạc; hỗ trợ, truyền thụ kinh nghiệm sản xuất kinh doanh Hỗ trợ

con cháu bằng cách góp phần tạo thu nhập chứng tỏ vị thế của người cao tuổi vẫn được khẳng định trong gia đình; mặt khác thể hiện sự trách nhiệm trong việc nuôi sống gia đình mở rộng, giúp đỡ con cái trong đời sống kinh tế, vật chất

Theo Lê Ngọc Lân và cộng sự (2009), khi phân tích số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy, 46,0% người cao tuổi giúp đỡ con cháu bằng cách

góp phần tạo ra thu nhập Nam giới hỗ trợ nhiều hơn nữ giới, người cao tuổi là nữ

giới có tỷ lệ giúp đỡ con cháu ít hơn về mặt thu nhập có thể là do sức khỏe kém hơn hoặc là do họ thường đảm nhận đỡ đần công việc nội trợ Ngoài việc góp phần vào thu nhập chung của gia đình, người cao tuổi còn hỗ trợ con cháu về kinh tế dưới các

Trang 33

25

hình thức khác, như góp vốn cho con cái, truyền thụ kinh nghiệm sản xuất kinh

doanh Tuy nhiên, đây là lĩnh vực còn ít được chú ý, chủ yếu mới được nhóm tác

giả của Viện nghiên cứu Gia đình và giới phân tích từ số liệu Điều tra gia đình Việt Nam 2006 [25] Kết quả này cũng khá gần với những đánh giá về vai trò kinh tế của người cao tuổi trong gia đình của UBQGNCT Việt nam năm 2007

Trong mối quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu, hầu hết người cao tuổi nhận được sự trợ giúp về vật chất, kinh tế từ phía con cháu, dù họ sống cùng con cháu hay sống riêng Người cao tuổi không chỉ là đối tượng được giúp đỡ mà còn là người giúp đỡ con cháu trong gia đình Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một số tương quan cơ bản, mô tả số liệu, chưa chỉ ra những yếu tố tác động thật sự đến mối quan hệ tương tác này; một số chỉ báo về sự

hỗ trợ về vật chất của con cái với cha mẹ cũng chưa lượng hóa đầy đủ Việc bổ sung phân tích mối quan hệ này từ các nghiên cứu với nhóm khách thể là người cao tuổi hoặc bổ sung phân tích những yếu tố kinh tế-xã hội, văn hóa khác tác động đến mối quan hệ này sẽ cho một góc nhìn rõ hơn, chỉ ra những cơ sở thực tiễn để củng cố, nâng cao chất lượng mối quan hệ này trong gia đình

Mối quan hệ tình cảm giữa người cao tuổi và con cháu

Mối quan hệ tinh thần, tình cảm giữa người cao tuổi và con cháu được một số nghiên cứu đánh giá trên các khía cạnh: mức độ tâm sự /trò chuyện và hỗ trợ con cái chăm sóc giáo dục các cháu của người cao tuổi và việc thăm hỏi động viên/ lắng nghe… của con cái đối với người cao tuổi

Cha mẹ cao tuổi với con cháu Các nghiên cứu đều cho thấy, đối tượng tâm

sự của người cao tuổi thường là người trong gia đình Theo số liệu Điều tra gia đình

Việt Nam 2006, những khi vui, buồn có khoảng 1/3 người cao tuổi cho biết họ

thường trò chuyện, tâm sự với vợ hoặc chồng của mình; một tỷ lệ xấp xỉ như vậy thường tâm sự, trò chuyện với các con (con trai, gái, con dâu) Có sự khác biệt giới

giữa người cao tuổi là nam hoặc nữ trong lựa chọn đối tượng trò chuyện khác nhau Phụ nữ thường nói chuyện với con, trong khi nam giới chủ yếu tâm sự với vợ của mình So với nam giới, mỗi khi có chuyện vui, buồn, phụ nữ cao tuổi thường ít chia

sẻ, tâm sự hơn Kết quả khảo sát người cao tuổi năm 2008 do Viện Gia đình và Giới

Trang 34

26

thực hiện tại đồng bằng Bắc bộ cũng cho thấy những phát hiện tương tự [51]

Yếu tố nghề nghiệp, nhóm tuổi hoặc khu vực sống cũng có những ảnh hưởng

nhất định đến việc lựa chọn đối tượng tâm sự của người cao tuổi Có thể do yếu tố thời gian và sự gần gũi, nên những người cao tuổi làm nông nghiệp hoặc hưu trí có

tỷ lệ chọn vợ/chồng để tâm sự buồn vui nhiều hơn các nhóm nghề nghiệp khác; những người cao tuổi ở nhóm tuổi trẻ nhất trò chuyện với vợ/chồng nhiều hơn nhóm ở khoảng tuổi cao hơn Cũng có thể ở nhóm tuổi cao, một số người cao tuổi không còn sự lựa chọn này vì người bạn đời của họ đã không còn nữa [27] Hoặc những người cao tuổi ở nông thôn có tỷ lệ cao hơn trong nhóm thường tâm sự, chia

sẻ với con cái hoặc bạn bè hàng xóm so với ở thành thị [51]

Đã có những nghiên cứu đề cập và phân tích khía cạnh người cao tuổi hỗ trợ

chăm sóc và giáo dục con cháu Người cao tuổi vốn được xem như “cây cao bóng

cả”, là chỗ dựa và điểm tựa tinh thần cho toàn thể các thành viên trong gia đình Các nghiên cứu cho thấy tuy vị thế đã ít nhiều bị giảm sút nhưng người cao tuổi Việt Nam vẫn có vai trò nhất định trong gia đình, đặc biệt là trong việc chăm sóc và giáo dục con cháu Nghiên cứu của Đặng Cảnh Khanh cho thấy vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục con trẻ khá quan trọng 1/4 số người cao tuổi được hỏi thường xuyên trao đổi với con cháu, đặc biệt trong việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống Người cao tuổi là nhóm có mức độ quan tâm đến việc giáo dục con cháu cao nhất trong các nhóm tuổi được khảo sát Chính sự quan tâm chăm sóc của ông bà khiến cho trẻ em có xu hướng tin tưởng ông bà nhất trong những người thân trong gia đình Người già là đối tượng để trẻ em tâm sự nhiều nhất trong gia đình

khi bị hình phạt, cao hơn cả bố mẹ và chỉ thấp hơn nhóm bạn bè thân thiết [21]

Trên bình diện rộng hơn, phân tích số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam cho thấy, trong số 2.492 người cao tuổi đang sống chung với con cháu, có 88,6% có

giúp đỡ con cái trong việc giáo dục, dạy dỗ các cháu Có những khác biệt nhất định

về các nhóm xã hội trong chăm sóc giáo dục các cháu Tỷ lệ nam giới cao tuổi tham gia dạy dỗ, giáo dục con cháu cao hơn so với nữ giới Tùy vào trình độ, năng lực và sức khỏe mà ở các nhóm người cao tuổi cũng có những khác biệt nhất định Những ngừơi cao tuổi hưu trí, nghỉ mất sức có nhiều điều kiện, khả năng hỗ trợ giáo dục

Trang 35

27

các cháu hơn nhóm chỉ làm nội trợ [27]

Nghiên cứu chuyên biệt với nhóm nữ cao tuổi tại Hà Nội và Hải Dương, tác

giả Phạm Thị Cần (2006) cho rằng phụ nữ cao tuổi đóng góp cho gia đình ở rất

nhiều lĩnh vực, cao nhất là trông nom nhà cửa (79,2%) rồi đến nấu cơm nước, trông cháu (trên 63%); đưa đón cháu đến trường (28,1%) và dạy cháu học (22,4%) Tác giả cũng chỉ ra những khác biệt khi so sánh nhóm phụ nữ cao tuổi ở khu vực thành thị (Hà Nội) và nông thôn (Hải Dương): phụ nữ cao tuổi nông thôn giúp đỡ con cháu ở các lĩnh vực trông cháu, dọn dẹp nhà cửa và cơm nước cao hơn nhóm phụ

nữ cao tuổi thành thị, nhưng lại có tỷ lệ thấp hơn trong việc dạy cháu học và đưa đón cháu đến trường Những khác biệt này bị chi phối bởi trình độ học vấn và điều kiện sống khác nhau [9]

Như vậy, có thể thấy trong mối quan hệ tình cảm, tinh thần giữa người cao tuổi với con cháu trong gia đình, các nghiên cứu đã chỉ ra: không chỉ thể hiện qua

sự quan tâm, trò chuyện hay được đánh giá qua mức độ thăm hỏi của họ với con cháu mà mối quan hệ này giữa người cao tuổi và con cháu còn thể hiện qua sự giúp

đỡ, hỗ trợ các mặt khác trong cuộc sống như công việc hằng ngày, chăm sóc giáo dục các cháu

Con cháu chăm sóc, quan tâm đến người cao tuổi Sự quan tâm chăm sóc về

tình cảm, tinh thần với người cao tuổi trong gia đình thể hiện qua nhiều khía cạnh: thăm hỏi, gặp gỡ, chia sẻ lắng nghe tâm tư tình cảm… Việc thăm hỏi người cao tuổi của những người con không sống cùng nhà không phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, độ tuổi, tình trạng hôn nhân của người cao tuổi Ở từng góc độ, một số nghiên cứu liên quan cũng cho thấy mức độ quan tâm của con cháu hiện nay đối với đời sống tình cảm, tinh thần của người cao tuổi

Dù sống chung hay riêng, đa số con cái thường xuyên có mối liên hệ thăm nom cha mẹ cao tuổi Theo kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006, với hơn 5.000

gia đình không có người cao tuổi chung sống, có 65,3% con cái thường xuyên thăm hỏi/chăm sóc cha mẹ đẻ và 61,0% cha mẹ vợ/chồng Kết quả nghiên cứu này cho thấy, sự liên hệ thăm hỏi của con cái không sống cùng với người cao tuổi diễn ra khá phổ biến ở đa số gia đình [7]

Trang 36

28

Quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu còn thể hiện qua sự chăm sóc khi đau

ốm và giúp đỡ công việc gia đình [7], [49] Với nhóm gia đình có con cái di cư lao động tự do, có nghiên cứu chỉ ra, kể cả giai đoạn trước hoặc trong khi di cư, người di

cư là chồng hoặc vợ thì tỷ lệ người trò chuyện, thăm nom cha mẹ già hai bên vẫn chủ yếu là người phụ nữ Với nhóm di cư không sống cùng cha mẹ, hầu như việc trực tiếp lắng nghe tâm sự, khó khăn của cha mẹ ít được thực hiện mà mối quan hệ này chuyển thành gián tiếp nhờ tiện ích của công nghệ - điện thoại, internet [40]

Các nghiên cứu liên quan hoặc về người cao tuổi đều cho thấy, việc thăm hỏi, chăm sóc giữa con cái và người cao tuổi ở các gia đình là việc làm tương đối thường xuyên, thể hiện mối quan hệ ruột thịt, gắn bó giữa các thế hệ dù sống chung hay sống riêng Tần suất thăm viếng có thể phụ thuộc vào một số yếu tố như khoảng cách nơi ở, mức độ bận rộn công việc trong năm Tuy nhiên, bên cạnh đa số các gia đình có người cao tuổi được con cháu kính trọng, chăm sóc và chia sẻ thì vẫn có một tỷ lệ nhỏ gia đình, trong đó lớp con cháu-vì nhiều lý do khác nhau- đã không còn kính trọng ông bà, cha mẹ lớn tuổi Cắt nghĩa cho tình trạng giảm sút sự kính trọng đối với người cao tuổi hiện nay, tác giả Lê Ngọc Văn (2009) cho rằng đó là do

sự khác biệt giữa các thế hệ về tâm lý lối sống

Ngoài ra, cũng đã có một số nghiên cứu đề cập đến tình trạng người cao tuổi

bị con cháu ngược đãi Nghiên cứu của Hội người cao tuổi Việt Nam năm 2006 tại

các tỉnh Phú Yên, Quảng Trị và Đắc Lắc cho thấy 15% người cao tuổi trong các gia đình bị con cái bỏ rơi, không chăm sóc; 8% người cao tuổi bị con cái đe doạ, nhốt trong nhà; 3% người cao tuổi bị con cái đánh đập [17] Kết quả điều tra người cao tuổi tại 8 tỉnh thành của Ủy ban quốc gia về người cao tuổi năm 2007 chỉ ra tình trạng ngược đãi người cao tuổi phổ biến ở nông thôn hơn thành thị (9,59% so với 2,37%) [49] Hoặc cuộc khảo sát về bạo lực gia đình tại 4 tỉnh (2012) do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chủ trì cho biết, nếu tính chung thì có 11,6% người cao tuổi

đã từng chịu ít nhất một hành vi bạo lực từ con cháu và 7,9% đã từng chịu ít nhất một hành vi bạo lực từ con cháu trong 12 tháng trước cuộc khảo sát [4]

Như vậy có thể thấy, mối quan hệ tinh thần, tình cảm giữa người cao tuổi và con cháu, đã được các nghiên cứu đề cập, nhưng tập trung vào một số khía cạnh

Trang 37

29

khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu được đặt ra Những góc độ trong mối quan hệ này được đề cập chủ yếu mới chỉ là mức độ thăm hỏi lẫn nhau, và của những người con sống riêng với cha mẹ cao tuổi Để làm rõ hơn mối quan hệ này, cần bổ sung phân tích các khía cạnh mức độ thăm hỏi, lắng nghe chia sẻ, sự hài lòng

và việc lựa chọn đối tượng tâm sự trong gia đình cũng như các yếu tố tác động đến hành vi của mối quan hệ này

Sức khỏe và việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong gia đình

Về tình hình sức khỏe nói chung của người cao tuổi Một số cuộc điều tra,

nghiên cứu đã có đánh giá, phân loại sức khỏe hoặc đưa ra mô hình bệnh tật của người cao tuổi, chẳng hạn, Tổng điều tra dân số, nhà ở (2009), Điều tra quốc gia về người cao tuổi (2011) Việc đánh giá tình trạng sức khỏe của người cao tuổi, do dựa trên các căn cứ khác nhau mà số liệu và cách phân loại cũng khác nhau:

Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, đã yêu cầu NCT tự đánh giá sức khỏe của mình, và có trên 50% người cao tuổi tự nhận tình trạng sức khỏe yếu Sức khỏe của người cao tuổi có sự suy giảm theo độ tuổi Người cao tuổi thuộc nhóm hộ có mức sống khá giàu có sức khỏe tốt hơn so với các nhóm trung bình và nghèo [7] Các cuộc Điều tra của UBQGNCT Việt Nam tại 7 tỉnh trên cả nước năm 2007 [49] hoặc của Hội NCT cũng cho thấy trên 1/3 người cao tuổi sức khỏe yếu [37]

Nhìn chung trong khoảng 10 năm qua, các nghiên cứu đều cho thấy khi bước sang độ tuổi ngoài 60, tức là đã sống qua một vòng hoa giáp, tình trạng sức khỏe của con người có sự suy giảm rõ rệt Tỷ lệ người có sức khỏe yếu chiếm khoảng ½

số người được khảo sát Điều này cho thấy việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải được quan tâm, chú ý nhiều hơn Tuy còn có ý kiến khác nhau về ảnh hưởng của nơi cư trú đến sức khỏe của NCT nhưng phần lớn các nghiên cứu chỉ ra rằng các cụ sống ở nông thôn sức khỏe tốt hơn những người sống ở đô thị

Sự chăm sóc của gia đình Trong điều kiện dịch vụ xã hội và khả năng hỗ trợ

của Nhà nước và cộng đồng còn hạn chế thì vai trò hỗ trợ, chăm sóc của gia đình là rất to lớn đối với người cao tuổi Thực tế này cũng đã được các nghiên cứu chỉ ra ở các khía cạnh khác nhau

Dựa trên kết quả của một nghiên cứu định tính được tiến hành tại 9 tỉnh thành

Trang 38

30

trên toàn quốc năm 2000 – 2001, Bùi Thế Cường và cộng sự (2003) chỉ ra rằng con cái là người đầu tiên chăm sóc khi người cao tuổi ốm đau [10] Kết quả nghiên cứu của Lê Văn Nhẫn và Nguyễn Thế Huệ (2004) cũng cho thấy cuộc sống khi ốm đau của người cao tuổi chủ yếu dựa vào con cháu giúp đỡ Những người sống ở thành thị được con cháu chăm sóc nhiều hơn người ở nông thôn [37]

Tuy con cái là người chăm sóc chính khi cha mẹ đau ốm, nhưng mức độ chăm

sóc có khác nhau tùy theo đặc điểm nhân khẩu xã hội của con cái cũng như những người cao tuổi Giới tính và độ tuổi cũng là yếu tố có quan hệ chặt chẽ với chỉ báo

về người chủ yếu chi trả tiền thuốc men So với nam, phụ nữ cao tuổi phải dựa vào

sự giúp đỡ của con cháu nhiều hơn Ở đồng bằng Bắc bộ, tỷ lệ phụ nữ được con

cháu trả tiền thuốc men là 40,9% so với 29,6% nam giới [51] Kết quả Điều tra gia

đình Việt Nam 2006 cũng cho thấy khả năng tự chủ về tài chính ở phụ nữ cao tuổi hạn chế hơn và họ phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của con cháu nhiều hơn nam giới [7] Về người chăm sóc, các nghiên cứu của Lê Ngọc Văn (2009), Lê Ngọc Lân

(2010) cũng đã cho thấy có sự khác biệt trong các đối tượng chăm sóc các cụ ông

và các cụ bà

Phân tích mối quan hệ giữa trình độ học vấn và đối tượng chăm sóc người cao tuổi khi đau ốm cho thấy, những người cao tuổi có trình độ học vấn càng thấp thì

càng nhận được sự chăm sóc của con cái nhiều hơn Theo nghiên cứu của Lê Ngọc

Văn, tỷ lệ người cao tuổi mù chữ được con cái chăm sóc cao hơn so với người có học vấn phổ thống trung học [51]

Nhìn chung, sự chăm sóc của con cái phần nào đã đáp ứng được lòng mong mỏi của người cao tuổi Có ½ số người cao tuổi được hỏi hài lòng với sự chăm sóc của con cái và chỉ có 3,7% cảm thấy thất vọng [7] Sự không hài lòng của người cao tuổi với sự chăm sóc của con cháu khi ốm đau cũng được một số nghiên cứu chỉ ra Người cao tuổi trong các gia đình bị con cái bỏ rơi, không chăm sóc [17] Hoặc khi người cao tuổi có vấn đề về sức khỏe, cách thức chăm sóc của con cái trong gia đình thường thấy là đưa cha mẹ đến thăm khám tại các bệnh viện lớn, nhưng cũng

có một tỷ lệ con cái thường để cha mẹ "tự lo" [34]

Trang 39

31

Những kết quả nghiên cứu liên quan của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy những đặc trưng nhất định ở các nước đi trước, với những bối cảnh xã hội khác nhau, bước đầu đã cho thấy những biến đổi trong chăm sóc người cao tuổi, đặc điểm của các mối quan hệ và những yếu tố tác động khác nhau đến mối quan hệ này Một số chính sách định hướng của các quốc gia khác cũng là những bài học, gợi ý cho việc chia sẻ trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi giữa Nhà nước, cộng đồng và gia đình Bên cạnh đó, những nghiên cứu trong nước về mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thế hệ trong gia đình cũng cho thấy những xu hướng nhận thức và thực tế đang vận động có những nét tương đồng với thực trạng mối quan hệ giữa người cao tuổi với con cái ở các nước phát triển Đây là những tiền

đề, cơ sở để nghiên cứu này phân tích sâu thêm, dựa trên những bằng chứng, cứ liệu mới cũng như trên cơ sở các bộ số liệu mang tính đại diện và các nghiên cứu liên quan khác

Tuy vậy, các kết quả nghiên cứu trước đây còn ít phân tích sâu về những yếu

tố tác động đến mối quan hệ tương hỗ hai chiều cả về đời sống vật chất, tinh thần tình cảm cũng như việc chăm sóc người cao tuổi hiện nay cũng như những khó khăn của các gia đình trong chăm sóc người cao tuổi còn ít được đề cập Hơn nữa, những khác biệt thế hệ, nguy cơ nảy sinh những mâu thuẫn và cách thức giải quyết nhằm củng cố, làm hài hòa mối quan hệ giữa các thế hệ trong bối cảnh xã hội có nhiều biến chuyển các nghiên cứu trước đây còn ít chú ý phân tích Đây sẽ là những vấn đề sẽ được bổ sung phân tích trong nội dung nghiên cứu của luận án

Trang 40

32

CHƯƠNG 2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU

2.1 Các khái niệm cơ bản

Từ chủ đề nghiên cứu của Luận án, một số khái niệm công cụ được làm rõ dưới đây sẽ làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa người cao tuổi

và các thế hệ trong gia đình Việt nam hiện nay

Già hóa dân số

Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trong những xu hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ 21, nó tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia Dân số già, điều đó có nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và đó là hệ quả tích cực của phát triển kinh tế, chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong

số này là người từ 60 tuổi trở lên

Vậy, thế nào là dân số già và già hóa dân số? Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu dân số số người cao tuổi chiếm tỷ lệ ngày càng tăng lên Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số đến “ngưỡng” nào thì dân số được coi là già hóa, hiện vẫn có sự khác biệt Theo phân loại của Liên hợp quốc, khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% trong tổng dân số hoặc số người từ 65 trở lên chiếm 7% thì dân số đó được coi là đang “già hóa” Còn khái niệm dân số già là khi trong quy mô dân số, tỷ lệ người từ 60 tuổi chiếm từ 20% trở lên hoặc những người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% dân số Ngoài ra, còn có khái niệm dân số “rất già” và “siêu già”…

Như vậy, có thể thấy rõ dù tỷ lệ có khác nhau, nhưng “già hóa” là chỉ “quá trình”, còn “dân số già” là chỉ “thời điểm” Quá trình chuyển từ già hóa dân số sang dân số già ở các nước khá khác nhau Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn

ra ở tất cả các Châu lục và các quốc gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Chẳng hạn, để tỷ lệ người già 65 tuổi trở lên tăng từ 7% lên 14% (từ “già hóa” sang

Ngày đăng: 28/11/2016, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị Vân Anh, 2009b. Nhu cầu giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội. Tạp chí Tâm lý học, Số 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giao tiếp của người nghỉ hưu ở Hà Nội
3. Đặng Nguyên Anh- Trịnh Duy Luân, 2014. Báo cáo rà soát phân tích hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay. Cục Bảo trợ xã hội – Quỹ dân số Liên hợp quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà soát phân tích hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi hiện nay
4. Trần Tuyết Ánh-Nguyễn Hữu Minh-Hoa Hữu Vân (chủ biên), 2013: Bạo lực gia đình ở Việt Nam và giải pháp phòng chống. Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình ở Việt Nam và giải pháp phòng chống
Nhà XB: Nxb Lao động
6. Bộ Lao động Thương binh và xã hội - UNFPA, 2015. Báo cáo Kết quả khảo sát 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi (dự thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Kết quả khảo sát 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi
8. Mai Huy Bích, 2003. Xã hội học gia đình, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học xã hội
9. Phạm Thị Cẩn, 2006. Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ cao tuổi . Báo cáo tổng kết đề tài- Trường Cán bộ phụ nữ trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ cao tuổi
10. Bùi Thế Cường, Bế Quỳnh Nga, Dương Chí Thiện, Nguyễn Thị Phương, Lê Hải Hà, Triệu Chinh, and Đinh Thị Phương Thảo. 2003. Người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay: phác thảo từ một khảo sát định tính. Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay: phác thảo từ một khảo sát định tính
11. Bùi Thế Cường, 2005. Trong miền an sinh xã hội. Hà Nôi, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong miền an sinh xã hội
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
12. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010. Từ điển xã hội học Oxford. Nxb Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học Oxford
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà nội
14. Endrweit G. và Trommsdorff G., 2002, Từ điển xã hội học, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
15. Lê Thị Thúy Hằng, 2001. Con cái chăm sóc cha mẹ già ở đồng bằng sông Hồng. (Luận văn Thạc sĩ), Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con cái chăm sóc cha mẹ già ở đồng bằng sông Hồng
16. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 2012. Điều tra về người cao tuổi Việt Nam năm 2011- Các kết quả chủ yếu. Nhà xuất bản Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về người cao tuổi Việt Nam năm 2011- Các kết quả chủ yếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Phụ nữ
17. Hội người cao tuổi Việt Nam. 2007. Người cao tuổi và bạo lực gia đình: NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và bạo lực gia đình
Nhà XB: NXB Tư pháp
19. Insun Yu, 1994. Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII. Nhà xuất bản KHXH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH
20. Karen Oppenheim Masoo, 1994. Sự biến đổi gia đình và trợ giúp người già ở Châu Á: Chúng ta biết gì? trong Tuyển tập các công trình chọn lọc trong dân số học xã hội, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi gia đình và trợ giúp người già ở Châu Á: Chúng ta biết gì
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
21. Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý. 2007. Gia đình học: NXB Lý luận Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
22. Đặng Cảnh Khanh, 2012. Những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống. Tạp chí nghiên cứu gia đình và Giới, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống
23. Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên), 2003. Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
24. Đặng Phương Kiệt - Đinh Văn Lượng, 2005. Nạn tự tử liên quan đến bạo lực gia đình tại địa bàn Xuân Trường, Nam Định. Trong Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ, Hoàng Bá Thịnh chủ biên. Hà Nội, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn tự tử liên quan đến bạo lực gia đình tại địa bàn Xuân Trường, Nam Định." Trong "Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ", Hoàng Bá Thịnh "chủ biên
Nhà XB: NXB Thế giới
72. Suzanna Smith, 1999. Family Relationship in Later Life. StrongerMarriage.org. http://strongermarriage.org/married/family-relationships-in-later-life Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.6: Tỷ lệ hỗ trợ tiền bạc cho cha mẹ đẻ phân theo đặc trưng của con cái - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 3.6 Tỷ lệ hỗ trợ tiền bạc cho cha mẹ đẻ phân theo đặc trưng của con cái (Trang 80)
Bảng 4.1: Mức độ hoạt động văn hóa, giải trí của người cao tuổi - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 4.1 Mức độ hoạt động văn hóa, giải trí của người cao tuổi (Trang 93)
Bảng 4.3 : Đối tượng tâm sự, trò chuyên khi có chuyện vui, buồn của người cao tuổi - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 4.3 Đối tượng tâm sự, trò chuyên khi có chuyện vui, buồn của người cao tuổi (Trang 97)
Bảng 4.4: Mức độ cha mẹ đẻ lắng nghe khó khăn tâm sự của con cái - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 4.4 Mức độ cha mẹ đẻ lắng nghe khó khăn tâm sự của con cái (Trang 98)
Hình  thức  chung - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
nh thức chung (Trang 104)
Bảng 4.9. Mức độ các cháu gặp gỡ ông bà hai bên- theo nhóm mức sống - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 4.9. Mức độ các cháu gặp gỡ ông bà hai bên- theo nhóm mức sống (Trang 116)
Bảng 3. Mức độ dảm bảo cuộc sống- chia theo vùng sinh thái - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 3. Mức độ dảm bảo cuộc sống- chia theo vùng sinh thái (Trang 165)
Bảng 6: Giúp đỡ con cái bằng phổ biến kinh nghiệm sản xuất/ kinh doanh - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 6 Giúp đỡ con cái bằng phổ biến kinh nghiệm sản xuất/ kinh doanh (Trang 167)
Bảng 10 . Mô hình hồi quy c ác yếu tố tác động đến việc biếu tiền cha mẹ đẻ cao tuổi - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 10 Mô hình hồi quy c ác yếu tố tác động đến việc biếu tiền cha mẹ đẻ cao tuổi (Trang 170)
Hình thức chung - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Hình th ức chung (Trang 171)
Bảng 13. Tỷ lệ không hài lòng/ không hạnh phúc của người cao tuổi (%) - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 13. Tỷ lệ không hài lòng/ không hạnh phúc của người cao tuổi (%) (Trang 172)
Bảng 15: Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến hoạt động thường xuyên/rất - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 15 Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến hoạt động thường xuyên/rất (Trang 173)
Bảng 16: Mức độ liên lạc của con không sống cùng với người cao tuổi - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 16 Mức độ liên lạc của con không sống cùng với người cao tuổi (Trang 173)
Bảng 21 .  Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến việc chăm sóc cha mẹ đẻ/cha - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 21 Mô hình hồi quy các yếu tố tác động đến việc chăm sóc cha mẹ đẻ/cha (Trang 177)
Bảng 22: Người chi trả tiền điều trị/thuốc men chủ yếu (đơn vị: %) - Người cao tuổi trong gia đình việt nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội
Bảng 22 Người chi trả tiền điều trị/thuốc men chủ yếu (đơn vị: %) (Trang 178)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w