Được sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản trên đàn lợn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
CAO THÁI HOÀNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT VẮT SỮA LỢN MẸ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤM, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÕA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2016
Thái Nguyên – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
CAO THÁI HOÀNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT VẮT SỮA LỢN MẸ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGÔ HỒNG GẤM, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÕA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K43 - TY
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 – 2016 Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Trang
Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian thực tập từ tháng 25/5/2015 25/11/2015 tại trại lợn Ngô Hồng Gấm, đến nay em đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
ThS Phạm Thị Trang, giảng viên Khoa Chăn Nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời gian thực tập để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi - Thú
y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên ngành trong suốt thời gian học tập tại Khoa Đây là những kiến thức tạo cơ sở giúp em tự tin khi thực tập tốt nghiệp tại cơ sở và sau khi ra trường, để ứng dụng và phát huy trong sự nghiệp của em sau này
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh động viên và ủng hộ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực tập
Nhân dịp này, em cũng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc và công nhân viên trại lợn Ngô Hồng Gấm, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Cao Thái Hoàng
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, từ đó nâng cao trình độ chuêyn môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển Đất nước
Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái tại trại lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Cao Thái Hoàng
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
ACTH : Adreno Cortico Hormone
Cs : Cộng sự
D : Duroc
FSH : Folliculo Stimulin Hormone
GSH : Gonado Stimulin Hormone
STH : Somato Tropin Hormone
STH : Somato Tropin Hormne
TSH : Thyroid Stimulating Hormone
Th.s : Thạc sĩ
Y: Yorkshire
Trang 6
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26
Bảng 4.1: Lịch sát trùng trại lợn nái 32
Bảng 4.2: Lịch phòng bệnh của trại lợn nái 33
Bảng 4.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 38
Bảng 4.4: Cơ cấu đàn lợn nái của trại trong ba năm 39
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻcủa lợn nái 40
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian cai sữa của lợn nái 41
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại của lợn nái 42
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số con đẻ ra/lứa của lợn nái 44
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số lượng, khối lượng lợn con sơ sinh, lợn con cai sữa và tỷ lệ nuôi sống của lợn con đến khi cai sữa 45
Bảng 4.10: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sinh trưởng tương đối, sinh trưởng tuyệt đối của đàn lợn con 47
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sinh trưởng tích lũy của đàn lợn con 49
Bảng 4.12: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến sức đề kháng của đàn lợn con 50
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cơ chế động dục 6Hình 4.1: Cơ cấu đàn lợn nái 3 năm 2013 - 2015 39Hình 4.2: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian đẻ của lợn nái
40Hình 4.3: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian cai sữa của
lợn nái 41Hình 4.4: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến thời gian động dục lại
của lợn nái 43Hình 4.5: Ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến số con đẻ ra/lứa của lợn
nái 44
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Phần 1 : MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Sinh lý sinh sản ở lợn nái 3
2.1.2 Sinh lý lợn con 19
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Phần 3 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 25
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản ở lợn nái 25
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến chất lượng đàn lợn con 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26
Trang 93.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu 26
3.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 26
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 29
4.1.1 Công tác chăn nuôi 29
4.1.2 Công tác thú y 31
4.1.3 Công tác khác 37
4.1.4 Điều tra cơ cấu đàn lợn nái của trại 39
4.2 Kết quả nghiên cứu 40
4.2.1 Kết quả ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản ở lợn nái 40
4.2.2 Đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến chất lượng đàn lợn con 45
Phần 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11Với nhu cầu cuộc sống hiện nay thì sản phẩm thịt lợn không thể thiếu được với người tiêu dùng Để phát triển đàn lợn nhanh chóng và có chất lượng tốt thì bên cạnh việc cải tạo, chọn lọc con giống, nâng cao năng xuất sinh sản của đàn lợn là rất quan trọng Tuy nhiên có nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng và hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái như: Các yếu tố môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, thông thoáng), sức khoẻ của lợn (bệnh truyền nhiễm, các bệnh về sinh sản, bệnh viêm tử cung các khuyết tật, stress), giống,
cá thể, dinh dưỡng,…và kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái Áp dụng kỹ thuật vắt sữa cho lợn nái sau khi
đẻ được 1– 2 con sẽ giúp cho quá trình đẻ của lợn nái diễn ra nhanh và dễ dàng hơn Đồng thời, việc vắt sữa đầu của lợn mẹ cho đàn lợn con bú sớm
góp phần nâng cao sức đề kháng, tăng độ đồng đều và tỷ lệ sống toàn đàn
Đó cũng chính là lí do để em mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái tại trại lợn Ngô Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”
Trang 121.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Ứng dụng và đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ trong việc nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái và chất lượng đàn lợn con
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về việc ứng dụng biện pháp kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để hướng dẫn các cán bộ thú y, người chăn nuôi lợn giúp tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng và giảm thiểu bệnh trên đàn lợn
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Sinh lý sinh sản ở lợn nái
2.1.1.1 Đặc điểm chu kỳ động dục và cơ chế động dục của lợn nái
* Sự thành thục về tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng Khi nang vỡ, trứng rụng gọi là
sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi
là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [7]
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 - 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn nái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai
Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục
và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao
có đường kính 10 – 12 mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu xung huyết nhanh,
hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm
Trang 14cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuối giai đoạn
có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình
- Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,70C, pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, 2 chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu
kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn
Trang 15bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
*Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn nái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh
và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực… tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Lutein Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục,
tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau
Trang 16khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục Cơ chế động dục được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Đẻ
Thai thành thục
thục
Trang 172.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục ở lợn nái
* Giống và cá thể
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4], tuổi thành thục về tính của lợn nái ngoại và lợn nái lai muộn hơn lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Mường Khương ) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại x nội) thường động lần đầu ở 6 tháng tuổi
- Các cá thể khác nhau có sức sản xuất khác nhau tuỳ thuộc vào cấu tạo
cơ thể, đặc điểm sinh lý của từng cá thể
* Phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau Nếu cho nhân giống thuần chủng thì năng suất của chúng cũng chính là năng suất của giống đó Nếu cho lai giống thì năng suất của con lai sẽ cao hơn so với hai giống gốc, các giống gốc càng thuần chủng thì khi lai giống cho ưu thế lai càng cao Như vậy, phương pháp nhân giống thuần hay nhân giống tạp giao
có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái
* Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003) [4] cho rằng: Không nên phối giống
ở lần động dục đầu tiên vì thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh
Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu rồi mới cho phối giống
Đối với lợn nái nội, thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng đạt 40 – 50 kg Lợn lai phối giống vào lúc 8 tháng tuổi với khối
lượng không dưới 65 – 70 kg, lợn nái ngoại tuổi phối giống lần đầu là 8 - 9
tháng khi lợn đạt 100 – 110 kg
Trang 18Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái hậu bị là một vấn đề cần được quan tâm Phải phối giống cho lợn nái hậu bị đúng thời điểm lợn đã thành thục về tính, có tầm vóc và sức khoẻ đạt yêu cầu, sẽ nâng cao được khả năng sinh sản của lợn nái và nâng cao được phẩm chất của đời sau Nếu phối giống quá sớm
sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh hưởng đến sinh sản phát dục của lợn cũng như hoạt động về tính của nó
* Thứ tự lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn cái hậu bị ở lứa đẻ thứ nhất, số lượng con trên ổ thấp Sau đó, từ lứa thứ hai trở đi số lợn con trên ổ sẽ tăng dần đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần
* Kỹ thuật phối giống
Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng đến số lượng con đẻ ra/lứa Kỹ thuật phối giống bao gồm việc xác định thời điểm phối giống thích hợp và số lần cho phối giống Thời điểm phối giống thích hợp có sự khác nhau giữa lợn nội
và lợn ngoại, giữa nái cơ bản và nái hậu bị Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa
Chú ý, nếu lợn nái động dục kéo dài 48h thì trứng sẽ rụng vào 8 – 12h trước khi kết thúc chịu đực, tức là 37 – 40h sau khi bắt đầu động dục Do vậy, phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con/lứa giảm
Có nhiều phương thức phối giống cho lợn nái nhưng tốt nhất nên áp dụng phương thức phối lặp Khoảng cách thời gian giữa hai lần phối lặp
từ 12 – 14h cho lợn nái cơ bản, đối với lợn nái hậu bị thời gian này khoảng 10 – 12h
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho lợn nái trước phối giống, các yếu tố thức ăn rất quan trọng ở thời kỳ này
Trang 19Tuy nhiên, cần chú ý đến thể trạng của lợn nái hậu bị, nếu lợn nái hậu
bị quá béo sẽ hạn chế rụng trứng, do đó làm giảm số lượng con/lứa Vì vậy, lợn nái hậu bị đến giai đoạn cuối sắp động dục phải cho ăn khẩu phần hạn chế
để tránh lợn quá béo ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Trong các giai đoạn nuôi lợn nái khác, chúng ta cũng sử dụng thức ăn như là đòn bẩy để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, tăng tổng khối lượng lợn con lúc xuất chuồng
2.1.1.3 Đặc điểm sinh lý của lợn nái thời kỳ mang thai
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh đến khi đẻ xong Trong thực tế, sự có thai của gia súc được tính ngay từ ngày phối giống lần cuối Thời gian có thai phụ thuộc vào điều kiện và các yếu tố khác nhau Nó dài hay ngắn tùy theo loài, giống gia súc, tuổi gia súc mẹ, lứa sinh sản, trạng thái dinh dưỡng, sức khỏe
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], ở lợn thời gian mang thai xê dịch trung bình là 110 – 118 ngày, thời gian có thai trung bình là 114 ngày
+ Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai có thể chia làm ba thời kỳ:
- Thời kì thứ nhất (thời kỳ trứng): Thời kỳ này bắt đầu từ khi tế bào trứng được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi – túi phôi
- Thời kỳ thứ hai (thời kỳ phôi thai): Là thời kỳ hình thành nhau thai, hình thành các tế bào và các cơ quan hệ thống của cơ thể Ở gia súc lớn từ ngày thứ 11 – 40
- Thời kỳ thứ ba (thời kỳ bào thai): Là thời kỳ cuối phôi thai cho đến khi sinh đẻ Là giai đoạn phân hóa những kết cấu cực tiểu của tế bào và cơ quan, là thời kỳ bào thai phát triển nhanh
+ Sự điều hòa thần kinh – thể dịch ở thời kỳ mang thai
Điều hòa sự phát triển của bào thai đảm bảo sự thống nhất của các hoạt động chức năng giữa cơ thể mẹ và bào thai là một quá trình phức tạp do sự điều tiết thần kinh – thể dịch
Trang 20Điều tiết thần kinh: Bắt đầu từ lúc thụ thai thì trong vỏ não xuất hiện vùng hưng phấn trội để tiếp nhận những biến đổi hóa học và cơ học từ các điểm thụ cảm ở tử cung, do đó đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của phôi thai như: Niêm mạc tử cung phát triển, mạch máu đến nhiều, tiết dịch tăng Hưng phấn tăng cường mạnh nhất ở tháng thứ hai, là một trong các yếu tố dễ gây sảy thai ở thời điểm này
Điều tiết thể dịch: Có sự tham gia tích cực của hệ nội tiết Progesteron
là hocmon an thai, duy trì quá trình mang thai, được sản sinh ở thể vàng và nhau thai Ở lợn progesteron chủ yếu do thể vàng cung cấp, vai trò của nhau thai là chủ yếu Trần Tiến Dũng, (2004) [6]
+ Những biến đổi sinh lý chủ yếu khi có thai
- Sự biến đổi toàn thân của cơ thể mẹ khi có thai
Khi gia súc có thai, kích tố của hoàng thể và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Vì vậy, hiện tượng ăn uống, trạng thái dinh dưỡng, quá trình trao đổi chất của con mẹ được nâng cao cho nên thời kỳ đầu gia súc có thai thường béo hơn khi chưa có thai Trong thời kỳ có chửa, lợn nái tăng 15 – 25 kg (không kể các sản phẩm thai, trong đó khoảng 3 – 4 kg là protein) Nói chung trong thời gian có chửa, lợn mẹ tăng từ 1,2 – 1,3 lần so với trước khi phối giống
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], trường hợp thiếu canxi và photpho nghiêm trọng thì gia súc mẹ bị bại liệt trước khi đẻ, khung xoang chậu bị lệch hay biến dạng, dẫn đến hiện tượng đẻ khó Canxi và photpho là 2 nguyên tố không thể thiếu được với gia súc có thai Nhu cầu canxi là 0,6%, photpho là 0,5% so với khối lượng vật chất khô khẩu phần
Bào thai ngày càng phát triển, áp lực xoang chậu và xoang bụng thay đổi nên ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ tuần hoàn và hô hấp Nhu cầu cung cấp oxy của bào thai dần nâng cao ở thời gian có thai kỳ cuối nên tần số
hô hấp của mẹ tăng lên và có khi có biểu hiện trạng thái thở dốc Dưới tác
Trang 21dụng chèn ép cơ học của bào thai kỳ cuối làm thay đổi tuần hoàn vùng xoang chậu nên gây hiện tượng phù thũng hai chân sau Mặt khác số lần đại tiểu tiện của gia súc mẹ tăng lên nhưng số lượng mỗi lần ít
- Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục
Buồng trứng: Khi gia súc có thai, hai buồng trứng to nhỏ không đều nhau Buồng trứng phía sừng tử cung có thai thường lớn hơn buồng trứng bên kia Trên mặt ngoài buồng trứng xuất hiện thể vàng
Tử cung: Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi
về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích dây chằng tử cung dài ra nên đầu mút sừng tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới, xa vị trí cũ Các tuyến tử cung cũng được phát triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch Niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng bào thai và thường là phát triển ở cả hai sừng Cuối thời kỳ có thai, khối lượng tử cung (không kể thai) nặng tới 2,5 – 6 kg, còn tử cung bình thường không có thai nặng 0,2 – 0,5 kg
- Những thay đổi hocmon sinh dục
Bào thai được phát triển bình thường dưới tác dụng điều hòa của các hocmon buồng trứng, nhau thai và tuyến yên
Nửa thời kỳ đầu có thai: Nhau thai được hình thành và phát triển, tiết ra Prolan B chất này có tính giống như LH của thùy trước tuyến yên Nó kích thích thể vàng phát triển tăng tiết Progesteron, làm cho niêm mạc tử cung phát triển và dày thêm Nhau thai ngoài việc tiết Prolan B, còn tiết ra Progesteron
và Folliculin
Nửa kỳ sau có thai: Hàm lượng Progesteron giảm dần trong máu Ngược lại Folliculin tăng dần đến mức tối đa
Trang 22Cuối thời kỳ có thai progesteron giảm rất thấp trong máu Progesteron
có tác dụng ức chế tử cung co bóp và Folliculin kích thích co thắt tử cung, thuận lợi cho quá trình sinh đẻ Trong thời kỳ có thai, nhau thai đã dần thay thế chức năng nội tiết của thùy trước tuyến yên, tiết ra Prolan A và Prolan B Mặt khác, nó còn thay thế buồng trứng tiết ra Progesteron trong nửa kỳ đầu và Folliculin được tiết liên tục về sau càng nhiều
2.1.1.4 Đặc điểm quá trình đẻ của lợn nái
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác đông của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn
để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 2 - 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Cơ chế đẻ: đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ
chế thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục
- Về mặt cơ giới: thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép
Trang 23xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài
- Nội tiết: trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0,22%) Đồng thời tuyến yên tiết oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với oxytocin trước khi đẻ
- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6h,
nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
2.1.1.5 Sinh lý tiết sữa của lợn mẹ
- Quá trình tiết sữa của lợn nái đựơc chia làm hai giai đoạn
* Quá trình tổng hợp sữa
Quá trình tổng hợp sữa được điều tiết theo cơ chế thần kinh và thể dịch Dưới tác động của FSH và LH các tế bào thượng bì tuyến vú, tế bào mạch quản tổ chức phát triển mạnh
Prolactin - Hormone thuỳ trước tuyến yên kích thích tế bào nang tuyến tổng hợp sữa từ những nguyên liệu lấy trong máu Các nguyên liệu lấy trong máu nhờ vai trò của các hormone: STH, TSH, Glucagons, ACTH… STH kích thích quá trình trao đổi Lactoza, Cazein, MgSO4, kháng thể… Cazein trong sữa được tổng hợp được từ Glucoza, Fructoza ở huyết tương Mỡ sữa được tổng hợp từ Glycerin và axit béo
Trang 24* Quá trình thải sữa
Quá trình thải sữa cũng nhờ cơ chế thần kinh thể dịch Khi lợn con bú tạo cảm giác truyền về thần kinh trung ương đến vùng dưới đồi kích thích tuyến yên tiết oxytocine Oxytocine kích thích hệ cơ trơn đầu vú co bóp đẩy sữa ra ngoài
- Lượng sữa được tiết ra trong một ngày đầu gọi là sữa đầu, sữa đầu có thành phần khác với sữa thường Trong sữa đầu có 13,7% Prealbumin; 11,48% Albumin; 12,7% α-glubulin; 11,29% β-glubulin và 45,29% γ-glubulin Đây chính là các kháng thể có chức năng miễn dịch cho lợn con nếu lợn con được bú ngay lượng sữa đầu
- Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ, sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần
Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ lúc mới đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [12] thì vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 – 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 – 45 kg sữa,
vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn
Trần Văn Thịnh (1982) [28] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 – 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là - globulin Hàm lượng -
Trang 25globulin giảm rất nhanh, sau 12h đã giảm đi 3/4, - globulin là thành phần
quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh
Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [10], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không
đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng
là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [10]
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [27]
2.1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào 2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau Yếu
tố ngoại cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại Mặt khác, năng suất sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối Các chỉ tiêu này có hệ số di truyền thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện ngoại cảnh
+ Yếu tố di truyền: Ở lợn nái các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền thấp Với những tính trạng có hệ số di truyền thấp
để cải tiến năng suất có hiệu quả cần sử dụng biện pháp lai (Đặng Vũ Bình,
Trang 262002) [2] Số trứng rụng/chu kỳ đây là chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá năng suất của lợn cái Nó chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố là di truyền, tuổi nái và chế độ dinh dưỡng
+ Phương thức chăn nuôi và trình độ kỹ thuật: có ảnh hưởng tới quá trình phát triển sinh dục của lợn cái Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách ly lợn đực thì tuổi thành thục tính dục sẽ dài hơn Trong quy trình chăn nuôi lợn nái hậu bị đã đặt ra vấn đề tiếp xúc với lợn đực giống hàng ngày Theo Hughes và Jemes (1996) [33], thì có đến 83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90
kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20
- 25 phút/lần Mặt khác, tuổi động dục lần đầu của lợn cái sẽ bị chậm ít nhất 1 tháng nếu điều kiện chuồng nuôi không đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y Để đạt kết quả thì lợn cái hậu bị phải được nuôi chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ theo từng thời kỳ: 3 - 5 tháng tuổi cần 0,4 - 0,5 m2/con; 6 - 8 tháng tuổi: 0,5 - 0,8 m2/con (5 - 6 con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian biểu hiện đặc trưng cho giống
+ Khẩu phần ăn và quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng: nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái khác nhau tuỳ thuộc giống, tuổi, trạng thái sinh lý Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất sinh sản Việc xác định chế độ nuôi dưỡng thích hợp đối với lợn cái cần đảm bảo làm tăng
số trứng rụng, từ đó tăng các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con cai sữa, khối lượng
sơ sinh, để mang lại hiệu quả trong chăn nuôi
+ Tuổi của lợn cái: có liên quan chặt chẽ với khối lượng phối giống Để đảm bảo điều kiện cho phối giống lần đầu, lợn cái cần thành thục về tính và thể vóc Nếu phối giống lần đầu quá sớm hoặc quá muộn, khối lượng khi đó quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng tới hiệu quả Phối sớm khi khối lượng
cơ thể chưa đạt yêu cầu, các cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh, sức sống kém, chậm phát triển đồng thời ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể lợn mẹ về sau
Trang 27Nếu để quá muộn, lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể quá lớn, quá béo cũng
sẽ làm giảm mức độ đạt được của các chỉ tiêu, từ đó giảm hiệu quả kinh tế Chỉ nên phối giống cho cái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 – 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi đạt trên 80 – 90 kg đối với lợn ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [19]
+ Lứa đẻ: trên cơ sở số trứng rụng/chu kỳ, thứ tự các lứa đẻ cũng có ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của chúng Theo Hughes P.E, M Varley (1980) [34], lứa 1 có số con/ổ thấp nhất, vì số trứng rụng ở lần đầu tiên là 11,3 Sau đó tăng dần tới lứa 6, từ lứa 7 trở đi bắt đầu giảm dần hoặc có thể sẽ giữ được mức độ ổn định Nếu trong sản xuất áp dụng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình, đảm bảo cho lợn nái không quá béo hoặc quá gầy và giữ cho hao hụt lợn mẹ trong khoảng 12 - 16% sẽ có thể đảm bảo kéo dài về khả năng sinh sản đến lứa 10 - 12 Do vậy, việc áp dụng quy trình kỹ thuật và các tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi lợn nái sinh sản là cần thiết để nâng cao thành tích sinh sản của chúng, mang lại hiệu quả cho người chăn nuôi
+ Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ thụ thai: trứng rụng nếu được gặp tinh trùng đúng thời điểm thích hợp sẽ được thụ tinh và phát triển thành hợp tử Vì vậy, việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có vai trò quyết định tới tỷ lệ thụ tinh số trứng rụng/chu kỳ Nếu số trứng rụng ở mức bình thường (15 - 20 trứng) và ở điều kiện bình thường không có yếu tố đặc biệt thì tỷ lệ thụ tinh đạt 100%, các trứng đã thụ tinh phát triển tốt (Hancock J.L, 1961) [32] Nếu số trứng rụng tăng quá cao so với bình thường thì ngay sau khi được thụ tinh, số trứng phát triển bình thường sẽ giảm từ đó ảnh hưởng tới chỉ tiêu số con đẻ ra/lứa Theo Cunningham P.J và cs (1979) [30], tỷ lệ số con đẻ ra/số trứng rụng giảm khi số trứng rụng quá cao
Trang 28+ Tỷ lệ chết phôi: sự sống sót của phôi sau khi được hình thành chịu ảnh hưởng quan trọng của một số yếu tố như dinh dưỡng, sự phát triển của phôi, các yếu tố khác như chăm sóc, vệ sinh thú y Phôi thai chết chủ yếu ở thời kỳ đầu của giai đoạn chửa (thời kỳ phôi thai) Đặc điểm sinh lý cơ bản của thời kỳ này là hợp tử đang di chuyển từ vị trí hình thành (1/3 phía trên ống dẫn trứng) về vị trí làm tổ (sừng tử cung) dễ bị tác động của điều kiện ngoại cảnh Mặt khác, quá trình làm tổ của phôi ở sừng tử cung có thể có những tương tác không thích hợp giữa tử cung mẹ và gây chết phôi
+ Khí hậu thời tiết, mùa vụ: ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản với các mức độ khác nhau Vào mùa hè nhiệt độ trên 300C thì sẽ giảm tỷ
lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi, số con đẻ ra/lứa thấp Nếu nhiệt độ quá thấp ở mùa đông ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát dục cùa đàn con,
tỷ lệ mắc các bệnh đường tiêu hoá và hô hấp cao Nhiệt độ thích hợp khoảng 18 - 220
C
+ Thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại: Một số tác giả kết luận rằng thời gian cai sữa và thời gian động dục trở lại ở lợn có mối tương quan không thuận Thời gian cho con bú càng dài thì thời gian động dục trở lại càng ngắn Giữa các giống lợn, thời gian động dục trở lại có sự sai khác không đáng kể Thời gian động dục trở lại còn phụ thuộc vào chế độ cho ăn của lợn nái Với 7
kg thức ăn/ngày thì thời gian động dục trở lại là 5,5 ngày so với 8 ngày khi cho ăn 3 kg/ngày Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳ theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ), 23 -
28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21 – 28 ngày tuổi Nguyễn Thiện và cs (1996) [27]
Trang 292.1.2 Sinh lý lợn con
2.1.2.1 Sức đề kháng của lợn con qua các giai đoạn
Các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém
Do vậy, các mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Theo Barbara Straw (2001) [1], hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi thai lợn có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh ra kháng thể Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy, lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có chứa trong sữa non trong vài tuần đầu, cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản ứng thách thức với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường
Ở lợn con mới đẻ, trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể nhưng lượng kháng thể tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Do vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới để hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19%, trong đó γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%), γ - globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu γ - globulin bằng con đường ẩm bào Phân tử γ - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột non tốt nhất trong 24h đầu sau khi đẻ ra Do đó, lợn con được
bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày
Trang 30tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Những con lợn không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh tỷ lệ chết là rất cao
Theo Phùng Ứng Lân (1996) [13], lợn con mới đẻ ra trong máu không
có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu tăng lên một cách nhanh chóng, sau 3 -
4 tuần lại giảm, đến 5 - 6 tháng nó lại tăng lên và đạt đến chỉ số bình thường
là 65mg globulin/100 ml máu Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu chăm sóc nuôi dưỡng không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Thời kỳ 3 tuần tuổi: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ sau khi đẻ và đạt cao nhất ở 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi từ bú sữa mẹ đến cai sữa hoàn toàn Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp nên giai đoạn này nếu chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ
bị còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hoá, hô hấp
2.1.2.2 Sinh lý tiêu hóa của lợn con
Bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện
về chức năng Trong thời gian bú sữa, khối lượng bộ máy tiêu hóa lợn con tăng lên từ 10 - 5 lần, chiều dài ruột non tăng lên gấp 5 lần, dung tích bộ máy tiêu hóa tăng lên 40 - 50 lần, chiều dài ruột già tăng lên 40 - 50 lần Tuyến tụy
ở 30 ngày tuổi tăng lên gấp 4 lần, trọng lượng của gan gấp 3 lần so với khi sơ
Trang 31sinh Lúc đầu dạ dày chỉ nặng 6 – 8 gam và chứa được 35 - 50 gam sữa, nhưng chỉ sau 3 tuần đã tăng gấp 4 lần và 60 ngày tuổi đã nặng 150 gam và chứa được 700 - 1000 gam sữa
Khả năng tiêu hóa của lợn con rất hạn chế Dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có axit HCl ở dạng tự do, vì lượng axít này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch Hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của lợn con bú sữa Vì thiếu HCl
tự do trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉa chảy ở lợn con
Khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng của lợn con Lợn con trong 3
tuần tuổi đầu chỉ có khả năng tiêu hóa cazein, các đường, lipid của sữa, còn các chất khác từ các thức ăn nhân tạo thì chưa có Khi có khả năng hoạt động của các men trong dịch tụy mà điều quyết định là HCl tự do hoặc hóa men Pepsinogen để tiêu hóa Protit Để nuôi lợn con thành công trong giai đoạn này
là cần thiết phải cho lợn con ăn những thức ăn dễ tiêu hóa và chia thành nhiều bữa trong ngày
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Đoàn Văn Soạn và cs (2011) [18], các loại lợn nái khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu số con đẻ ra, số con để nuôi, tỷ lệ nuôi sống tới cai sữa, khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa Dương Mạnh Hùng, 2012) [11] Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn liên quan tới khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành
và hiệu quả chăn nuôi
Theo Lê Xuân Cường (1986) [3], lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lí sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt các lợn nái đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mạc đường sinh dục rất dễ bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung Nguyễn Văn
Trang 32Thanh (2003) [23], tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa
Nguyễn Văn Thắng và cs (2010) [26] đã nghiên cứu năng suất sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của ba tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace Yorkshire) với đực (Pietrain) ( Duroc) (PiDu) có thành phần Pietrain kháng stress khác nhau (25,50 và 50%: PiDu25, PiDu50, PiDu75) tại
3 trang trại ở Hải Dương và Hưng Yên từ tháng 03 năm 2011 đến tháng 01 năm 2013 Kết quả nghiên cứu cho thấy cả ba tổ hợp lai đều có năng suất sinh trưởng cao
Các nghiên cứu về tính năng sản xuất của lợn ngoại nói chung và khả năng sinh sản của lợn ngoại nói riêng đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm (Phan Xuân Hảo, 2006 [8]; Nguyễn Văn Thắng và cs, 2006 [25]) Theo Phan Xuân Hảo và cs (2009) [8], tổ hợp lai (PiDu) x (LY) đạt khối lượng sơ sinh/con là 1,48kg Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(LY) phối giống với lợn đực Du và L có khối lượng sơ sinh/con đạt tương ứng là 1,32kg và 1,30kg ( Vũ Đình Tôn và cs, 2010) [21] Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(LY) phối giống với đực giống L, Du và (PiDu) đạt khối lượng sơ sinh/con tương ứng là 1,37kg, 1,39kg và 1,41kg (Nguyễn Văn Thắng và cs, 2010) [26]
Lợn con ở giai đoạn theo mẹ có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [17]
Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng, trong khi đó sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm đi rõ rệt Việc xác định thời gian cai sữa cho lợn con có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng tới số lứa đẻ/năm, mặt khác có liên quan đến sức khoẻ của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau khi cai sữa Nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với ở 8 tuần là 1,8 - 2 lứa Tuỳ theo tập quán chăn nuôi và điều kiện cụ thể, có thể cai sữa ở
Trang 3319 ngày (Mỹ), 23 - 28 ngày (Australia) Tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21
- 28 ngày tuổi (Nguyễn Thiện và cs, 1996) [27]
Nguyễn Quang Tuyên (2008) [22], cho biết bộ máy tiêu hóa ở lợn con phát triển nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu Do đó, cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh đường tiêu hóa cao hơn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Chăn nuôi lợn là một nghề chiếm tỷ lệ khá cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Để khai thác hiệu quả hơn giá trị dinh dưỡng và sinh khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo đàn giống lợn và áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Do vậy ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh ra và sống sót sau cai sữa và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất Việc nghiên cứu chọn lọc dòng huyết thống và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số con sơ sinh sống trên ổ cao, tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và độ dày mỡ lưng mỏng đã thành công ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc Gondret và cs (2005) [31] cho biết con lai giữa (Large White Pietrain) (Large White Landrace) có khối lượng sơ sinh/con là 1,50 kg, khối lượng cai sữa là 8,22 kg ở 27 ngày tuổi, khả năng tăng trọng giai đoạn 27 - 67 ngày tuổi là 481,50 g/ngày
Theo Xobko A.L và Giadenko I.N (1987) [29], nguyên nhân của bệnh viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, sót nhau Bệnh phát triển do chăm sóc nuôi dưỡng không tốt, không đủ chất dinh dưỡng, đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ khác nhau, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa các chất nhầy ở bộ máy sinh dục Theo Madec F (1995) [14], tỷ lệ bệnh tích đường tiết niệu đường sinh dục ở đàn nái loại thải tăng theo số lứa đẻ Madec khi tiến hành nghiên cứu bệnh lý sinh đẻ vào năm 1991 trên đàn lợn xứ Brơ- ta nhơ (Pháp) cho thấy 15 % số lợn nái bị viêm tử cung
Trang 34Niconxki (1895) [16], đã nhấn mạnh “Khi cơ thể gia súc non bị lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm số lượng bạch cầu và tác dụng thực bào, giảm khả năng tiệt trùng của máu do đó gia súc dễ bị vi khuẩn tấn công”.Theo Purvis G.M và cs (1985) [35], cho rằng phương thức cho ăn không phù hợp là nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy ở lợn
Tóm lại: Từ những nghiên cứu ảnh hưởng đến sức sinh sản của lợn nái
và lợn con ( con giống, phòng và trị bệnh, chăm sóc ) Còn ít các nghiên cứu
về ảnh hưởng của kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ đến khả năng sinh sản trên đàn lợn nái Xuất phát từ đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định ứng dụng
kỹ thuật vắt sữa lợn mẹ trong việc nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái
và chất lượng đàn lợn con, giảm thiểu hao hụt xảy ra vào giai đoạn heo con theo mẹ, tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu bệnh trên đàn lợn