Đề bài số 01: “Nhà sử học A viết cuốn sách “Việt Nam một biên niên sử bằng hình ảnh” trong đó có sử dụng rất nhiều tư liệu trong và ngoài nước của các đồng nghiệp. Sau khi cuốn sách được xuất bản năm 2010. Nhà nhiếp ảnh B phát hiện ra trong cuốn sách có sử dụng 03 tấm ảnh do ông chụp nhưng không ghi tác giả, ông A cũng không xin phép ông B. Những tấm ảnh này ông A đã chụp lại từ một tạp chí của Báo ảnh Việt Nam xuất bản từ những năm 60 của thế kỷ trước. Ông C – cũng là một nhà báo cho rằng cuốn sách của ông A đã sử dụng nhiều tư liệu bao gồm các số liệu, thông tin, sự kiện… do ông sưu tầm và viết trong một cuốn sách đã được xuất bản. Ông B và ông C đều làm đơn khiếu nại đến các cơ quan chức năng vì cho rằng ông A đã xâm phạm quyền tác giả của họ.Hãy phân tích vụ việc trên và đưa ra hướng1 giải quyết phù hợp.”
Trang 1MỤC LỤC
TÌNH HUỐNG 1
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 2
I Phân tích và đánh giá khả năng xâm phạm quyền tác giả đối với B 2
1 Hành vi của Ông A xâm phạm đến quyền nhân thân của Ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông B tự chụp 4
2 Hành vi của Ông A có thể đã xâm phạm đến quyền tài sản của Ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông B tự chụp 5
II Phân tích và đánh giá khả năng xâm phạm quyền tác giả đối với C 7
III Hướng giải quyết vấn đề 9
1 Giải quyết vấn đề giữa A và B 9
2 Giải quyết vấn đề giữa A và C 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2Từ viết tắt Luật SHTT
:
Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam năm
2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
TÌNH HUỐNG
Đề bài số 01: “Nhà sử học A viết cuốn sách “Việt Nam- một biên
niên sử bằng hình ảnh” trong đó có sử dụng rất nhiều tư liệu trong và ngoài nước của các đồng nghiệp Sau khi cuốn sách được xuất bản năm
2010 Nhà nhiếp ảnh B phát hiện ra trong cuốn sách có sử dụng 03 tấm ảnh do ông chụp nhưng không ghi tác giả, ông A cũng không xin phép ông B Những tấm ảnh này ông A đã chụp lại từ một tạp chí của Báo ảnh Việt Nam xuất bản từ những năm 60 của thế kỷ trước Ông C – cũng là một nhà báo cho rằng cuốn sách của ông A đã sử dụng nhiều tư liệu bao gồm các số liệu, thông tin, sự kiện… do ông sưu tầm và viết trong một
Trang 3các cơ quan chức năng vì cho rằng ông A đã xâm phạm quyền tác giả của họ
Hãy phân tích vụ việc trên và đưa ra hướng1 giải quyết phù hợp.”
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
I Phân tích và đánh giá khả năng xâm phạm quyền tác giả đối với B.
Theo như tình huống đề bài đưa ra thì: “Nhà sử học A viết cuốn sách
“Việt Nam- một biên niên sử bằng hình ảnh” trong đó có sử dụng rất nhiều tư liệu trong và ngoài nước của các đồng nghiệp Sau khi cuốn
Trang 4sách được xuất bản năm 2010 Nhà nhiếp ảnh B phát hiện ra trong cuốn sách có sử dụng 03 tấm ảnh do ông chụp nhưng không ghi tác giả, ông
A cũng không xin phép ông B Những tấm ảnh này ông A đã chụp lại từ một tạp chí của Báo ảnh Việt Nam xuất bản từ những năm 60 của thế kỷ trước”
Theo đó, 03 tấm ảnh do ông B chụp trong trường hợp này thuộc loại hình tác phẩm nhiếp ảnh được quy định tại Điều 14 Khoản 1 Điểm h Luật SHTT
Do tình huống không nêu rõ cụ thể nên trong trường hợp này coi như ông B là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do mình chụp
Điều 37 Luật SHTT quy định như sau:
“Điều 37: Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều
19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.”
Căn cứ theo quy định tại Điều 37 của Luật SHTT thì ông B – tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do
ông chụp – có toàn bộ các quyền nhân thân và quyền tài sản được quy
định tại Điều 19 và Điều 20 Luật SHTT Dựa trên các quyền nhân thân
và quyền tài sản mà ông B được hưởng, em xin đưa ra ý kiến phân tích như sau:
Trang 51 Hành vi của Ông A xâm phạm đến quyền nhân thân của Ông
B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông B tự chụp.
Như đã nói ở trên, Ông B có toàn bộ các quyền nhân thân theo quy định tại Điều 19 Luật SHTT đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh cho ông tự chụp bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công
bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm ; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả Trong đó, quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng được quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật SHTT là một trong những quyền nhân thân tuyệt đối – tức không thể dịch chuyển cho người khác và được bảo
hộ vô thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật SHTT Do đó, trong tình huống này, hành vi của ông A là hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả (ở đây là ông B) đối với tác phẩm (03 tác phẩm nhiếp ảnh của ông B) do ông A đã sử dụng 03 tấm ảnh do ông B chụp cho vào cuốn sách “Việt Nam- một biên niên sử bằng hình ảnh” và xuất bản nhưng không ghi tác giả
Vì vậy, trong tình huống này,hành vi của ông A đã xâm phạm đến quyền nhân thân của ông B mà cụ thể ở đây là quyền được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được sử dụng quy định tại Khoản
2 Điều 19 Luật SHTT.
Trang 62 Hành vi của Ông A có thể đã xâm phạm đến quyền tài sản của Ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông B tự chụp.
Như đã phân tích ở trên, ông B có toàn bộ các quyền tài sản quy định
tại Điều 20 của Luật SHTT đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông tự chụp Theo đó, ông B có toàn bộ các quyền sau đây đối với 03 tấm ảnh nói trên: quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng;quyền sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác
Tuy nhiên, quyền tài sản được quy định tại Điều 20 Luật SHTT thuộc loại quyền đối với tác phẩm được pháp luật bảo hộ có thời hạn Cụ thể trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 27 Khoản 2 Điểm a Luật SHTT thì quyền tài sản của ông B đối với tác phẩm nhiếp ảnh (03 tấm ảnh cho ông B chụp) có thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên, nếu tác phẩm nhiếp ảnh chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ đối với quyền tài sản của tác giả trong trường hợp này là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình
Theo tình huống đề bài đưa ra thì “Những tấm ảnh này ông A đã
chụp lại từ một tạp chí của Báo ảnh Việt Nam xuất bản từ những năm
60 của thế kỷ trước”và cuốn sách của ông A thì được xuất bản năm
Trang 72010 Từ những năm 60 của thế kỷ XX cho đến năm 2010 là khoảng 50
năm Tuy nhiên chúng ta vẫn không có dữ liệu gì để khẳng định chính xác thời điểm 03 tác phẩm nhiếp ảnh của ông B được định hình cũng hay thời điểm chúng được công bố để xác định thời hạn bảo hộ quyền tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh này Vì vậy, ta chia làm
hai trường hợp:
Trường hợp một, nếu thời hạn bảo hộ quyền tài sản của ông B đối
với 03 tác phẩm nhiếp ảnh của mình đã hết thì hành vi của ông A: “chụp lại” 03 tác phẩm nhiếp ảnh của ông B từ một tạp chí của Báo ảnh Việt Nam không xâm phạm đến quyền tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do tác phẩm đã kết thúc thời hạn bảo hộ theo quy định tại Điều 27 Luật SHTT thì thuộc về công chúng, mọi tổ chức, cá nhân đều
có quyền sử dụng tác phẩm nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả quy định tại Điều 19 Luật SHTT (theo quy định tại Điều 43 Luật SHTT) Theo đó, trong trường hợp này, tuy hành vi của ông A
không xâm phạm đến quyền tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh nhưng lại xâm phạm đến quyền nhân thân của ông B (như
đã phân tích ở trên) đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh này Do vậy, hành vi
của ông A vẫn được coi là xâm phạm đến quyền tác giả của ông B đối
với 03 tác phẩm nhiếp ảnh nói trên
Trường hợp hai, nếu thời hạn bảo hộ quyền tài sản của ông B đối
với 03 tác phẩm nhiếp ảnh của mình vẫn còn thì thì hành vi của ông A:
“chụp lại” 03 tác phẩm nhiếp ảnh của ông B từ một tạp chí của Báo ảnh
Trang 8Việt Nam đã xâm phạm đến quyền tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh Cụ thể trong trường hợp này, hành vi của ông A đã
xâm phạm đến “quyền sao chép tác phẩm” của ông B – một trong
những quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả - được quy định tại Điều 20 Khoản 1 Điểm c Luật SHTT Hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông A là hành vi “sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả” được quy định tại Điều 28 Khoản 6 Luật SHTT do ông A đã sử dụng 03 tác phẩm nhiếp ảnh của ông B trong cuốn sách của mình mà không xin phép ông B
Do đó: Hành vi của Ông A đã xâm phạm đến quyền tài sản của
Ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông B tự chụp nếu quyền
tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh này vẫn còn đang trong thời hạn được bảo hộ quy định tại Điều 27 Khoản 1 Điểm a Luật SHTT.
II Phân tích và đánh giá khả năng xâm phạm quyền tác giả đối với C
Theo tình huống đề bài nêu ra thì “Ông C – cũng là một nhà báo cho
rằng cuốn sách của ông A đã sử dụng nhiều tư liệu bao gồm các số liệu, thông tin, sự kiện… do ông sưu tầm và viết trong một cuốn sách đã được xuất bản.”
Trang 9Để đánh giá xem hành vi của ông A có xâm phạm đến quyền tác giả của ông C không thì trong trường hợp này ta phải làm rõ xem các số liệu, thông tin, sự kiện…nói trên do ông C sưu tầm có phải là đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả hay không
Điều 15 Luật SHTT có quy định các đối tượng sau đây không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả:
“1 Tin tức thời sự thuần túy đưa tin.
2 Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó.
3 Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên
lý, số liệu.”
Do tình huống đề bài nêu ra không nói rõ nên ta chia làm hai trường hợp để phân tích:
Trường hợp một, nếu A chỉ sử dụng những số liệu, thông tin, sự
kiện…đơn thuần do ông C sưu tầm và viết trong tác phẩm đã được xuất bản thì A không hề xâm phạm đến quyền tác giả của ông C vì những số liệu, thông tin, sự kiện… thuần túy không thuộc phạm vi bảo họ quyền tác giả (căn cứ Điều 15 Luật SHTT)
Trường hợp hai, nếu A sử dụng những số liệu, thông tin, sự kiện…
do ông C sưu tầm và viết trong tác phẩm đã được xuất bản có kèm theo
cả những bình luận của ông C trong tác phẩm này thì hành vi của A đã xâm phạm đến quyền tác giả của ông C Hành vi của ông A là hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Điều 28 Khoản 8 Luật
Trang 10SHTT: sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, lợi ích vật chất khác
Bên cạnh đó, nếu ông A sử dụng những số liệu, thông tin, sự kiện này kèm theo những bình luận mà không ghi tên tác giả là ông C thì ông
A còn xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả là ông C (quyền được nêu tên thật hoặc bút danh quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật SHTT)
III Hướng giải quyết vấn đề
1 Giải quyết vấn đề giữa A và B
Trong trường hợp này, do ông A đã có hành vi xâm phạm đến quyền tác giả của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh mà ông B
đã chụp nên ông B hoàn toàn có quyền yêu cầu ông A chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại căn cứ theo Điều 198 Khoản 1 Điểm b Luật SHTT Trong trường hợp hành vi của ông A vừa phạm đến cả quyền nhân thân lẫn quyền tài sản của ông B đối với 03 tác phẩm nhiếp ảnh do ông
B tự chụp thì ông B ngoài quyền yêu cầu ông A chấm dứt hành vi
vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại còn có quyền yêu cầu ông A phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền
lợi vật chất khác căn cứ theo Điều 20 Khoản 3 Luật SHTT : “Tổ
chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật
Trang 11này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”
Nếu sau khi ông B yêu cầu mà ông A vẫn không chấm dứt hành vi
vi phạm, bồi thường thiệt hại và trả tiền nhuận bút, thù lao (nếu có) thì ông B có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm của ông A hoặc khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình( theo quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 1 Điều 198 Luật SHTT)
2 Giải quyết vấn đề giữa A và C
Nếu hành vi của ông A xâm phạm đến quyền tác giả của ông C thì ông C hoàn toàn có quyền yêu cầu ông A chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại căn cứ theo Điều 198 Khoản 1 Điểm b Luật SHTT Nếu như sau khi được yêu cầu mà ông A không chịu hợp tác thì ông C có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm của ông A hoặc khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình( theo quy định tại Điểm c và Điểm d Khoản 1 Điều
198 Luật SHTT)
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 121 Giáo trình “Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”,trường Đại học Luật
Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2014
2.