Trong thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật về vận chuyển hàng không, cũng như thực trạng của vận chuyển hàng khách nói riêng, vấn đề trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng vận chuyển
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MINH TUẤN
Hà Nội – 2015
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và trích dẫn trong Luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hằng
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG NỘI ĐỊA 4
1.1.Khái niệm về trách nhiệm dân sự 4
1.2 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển 7
1.3 Những vấn đề lý luận về hợp đồng vận chuyển hàng không nội địa 11
1.3.1 Khái niệm 11
1.3.2 Phân loại hợp đồng vận chuyển hành khách như sau: 11
1.3.3 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 12
1.3.4 Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
13
1.3.5 Hình thức của Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
13
1.3.6 Nội dung của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không.14 1.4 Vai trò của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 14
CHƯƠNG 2:NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG NỘI ĐỊA 15
2.1 Điều kiện Kinh tế - Xã hội ở Việt Nam có ảnh hưởng đến sự phát triển của vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa 15
2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng thị trường vận tải hàng không nội địa giai đoạn 2006-2015 [17, tr.07-10] 17
Trang 5v
2.3.Nguồn pháp luật điều chỉnh pháp luật về hợp đồng vận chuyển hành khách
bằng đường hàng không 20
2.4 Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa 22
2.4.1 Khái niệm: 22
2.4.2 Đặc điểm: 25
2.5 Chủ thể của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không 28
2.5.1 Bên vận chuyển hàng không 28
2.5.2.Hành khách: 30
2.6 Nội dung của Hợp đồng vận chuyển hàng không: 33
2.6.1 Quyền và nghĩa vụ của Bên vận chuyển: 34
2.6.2 Quyền và nghĩa vụ của hành khách 35
2.6.3 Hiệu lực của hợp đồng vận chuyển hành khách 37
2.7.Hình thức của hợp đồng vận chuyển 41
2.7.1.Vé hành khách 41
2.7.2 Điều lệ vận chuyển: 43
2.7.3 Bảng giá cước 44
2.7.4 Thẻ hành lý 44
2.8 Trách nhiệm dân sự của bên vận chuyển 44
2.8.1 Quy định về mức bồi thường của người vận chuyển đối với mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa, hành lý: 45
2.8.2 Trường hợp được miễn bồi thường 47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 57
Trang 6vi
3.1 Thực trạng vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách và việc áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại 57
3.1.1 Nguyên nhân vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách 57
3.1.2 Các hình thức, mức độ vi phạm 58
3.1.3 Hậu quả 60
3.2 Vấn đề về Bồi thường thiệt hại 63
3.3 Kiến nghị 71
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7
1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập của Việt Nam hiện nay, vận chuyển hàng không được coi là một trong những lĩnh vực vận chuyển quan trọng không chỉ trong lĩnh vực giao thông vận tải nói riêng mà còn góp phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung Chính sự tăng trưởng của nền kinh tế càng thúc đẩy và tại điều kiện cho ngành hàng không phát triển Nhà nước đã đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phương tiện vận tải như sân bay, hệ thống quản lý máy bay, quy định pháp lý trong lĩnh vực vận chuyển hàng không Thu nhập của dân cư tăng, các ngành sản xuất phát triển làm tăng khả năng thanh toán, yêu cầu về thời gian trở nên cấp thiết do đó nhu cầu di lại bằng đường hàng không cũng tăng lên
Việt Nam từ năm 1991 đã có đạo luật riêng về hàng không dân dụng với nhiều lần được sửa đổi và làm mới Các luật này đã có những quy định khá cụ thể về vận chuyển hàng không nói chung và vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nói riêng Tuy vậy, vận chuyển hàng không là một lĩnh vực phức tạp không chỉ liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau mà nó còn được điều chỉnh bởi nhiều điều ước quốc tế khác nhau Trong thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật về vận chuyển hàng không, cũng như thực trạng của vận chuyển hàng khách nói riêng, vấn đề trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng không đang được đặt ra rất cấp thiết Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, năm 2014 được cả thế giới đánh giá là một năm đen tối đối với ngành hàng không, khi mà xảy ra 8 vụ tai nạn máy bay thương mại làm thiệt mạng 878 người Còn ở Việt Nam, nhiều năm nay ngành hàng không chưa để xảy ra tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại về người Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn thời gian vừa
Trang 82
qua, thị trường vận tải hàng không tăng đột biến nhưng nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản thiếu trầm trọng, trách nhiệm của người thi hành công vụ còn nhiều sai sót, ý thức khi tham gia giao thông bằng máy bay và sự hiểu biết của hành khách về lĩnh vực hàng không và an ninh an toàn hàng không còn hạn chế dẫn đến nhiều sự cố, nhiều vụ việc đáng tiếc đe do an ninh hàng không
Vì lý do đó, tôi lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng
vận chuyển hành khách trong vận tải hàng không nội địa của Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sỹ Luật học của mình
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn có mục tiêu chủ yếu là làm rõ về mặt lý luận những vấn đề pháp
lý phát sinh trách nhiệm dân sự của hãng hàng không cũng như của người được vận chuyển do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng không
Luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng hành khách bằng đường hàng không;
+ Đánh giá về lý luận của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành;
+ Một số thực trạng về việc vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không và kiến nghị hoàn thiện pháp luật liên quan
Vì vận chuyển hàng không là một lĩnh vực pháp lý rộng Do đó Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không trong vận tải nội địa của Việt Nam và thực trạng thi hành pháp luật Các vấn đề về vận chuyển hàng hoá trong lĩnh vực hàng không cũng như các quy định liên quan đến các vận
Trang 93
chuyển trên các chuyến bay quốc tế không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp; phương pháp so sánh pháp luật; phương pháp phân tích qui phạm và tình huống; Phương pháp trừu tượng hóa và điển hình hóa các quan hệ xã hội…
Các phương pháp nghiên cứu này được thực hiện trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
4 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu của Luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa
Chương 2: Những quy định cơ bản của pháp luật về Hợp đồng vận
chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi vi phạm hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không nội địa
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi
phạm hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa
Trang 104
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG NỘI ĐỊA
1.1.Khái niệm về trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự theo nghĩa rộng là các biện pháp có tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm Trách nhiệm dân sự (theo nghĩa hẹp) là các biện pháp có tính cưỡng chế
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình (trong đó có bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng)
Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng Trách nhiệm này khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ phát sinh trách nhiệm với người có quyền theo quy định trong hợp đồng Tuy nhiên, nếu
sự vi phạm này chưa gây thiệt hại, thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ Mặt khác, nếu vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại cho người bị vi phạm, thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Vì vậy, tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm dân sự
do vi phạm hợp đồng sẽ là trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ( nếu đã gây thiệt hại), và có thể là trách nhiệm phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận
Trang 11pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng
Nội dung: buộc phải thực hiện nghĩa vụ vận chuyển
Loại trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng bao gồm: Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiên một công việc ( Điều 304 BLDS năm 2005); Trách nhiệm dân sự
do chậm thực hiên nghĩa vụ dân sự ( Điều 305 BLDS năm 2005); Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 306 BLDS năm 2005)
Điều đó được hiểu là, một khi hợp đồng đã được giao kết thì hãng hàng không không được phép hủy ngang, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trong trường hợp do lỗi của bên được vận chuyển thì hợp đồng có thể được kéo dài, thay đổi hoặc chấm dứt Không phát sinh quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng
từ phía bên vận chuyển giống như đối với các hợp đồng dân sự khác Ngược lại, khách hàng hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bằng cách thông báo trước cho hãng hàng không
Thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Trang 126
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thường thiệt hại đã gây ra tương ứng với mức độ lỗi của mình [20, tr.02]
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trước tiên đó là giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng hợp pháp Hợp đồng chính là cơ sở để xác định trách nhiệm của hai bên Nếu không
có hợp đồng thì sẽ không thể xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển
Nội dung của trách nhiệm phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Trong vận chuyển hàng không, trách nhiệm của bên vận chuyển sẽ phải đối chiếu với các quy định pháp luật về hàng không Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vi những thiệt hại thực tế và những thiệt hại đó có thể tiên liệu được vào thời điểm ký hợp đồng [13, tr.12]
Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, nhưng không phân biệt hình thức lỗi là cố ý hay vô ý vì mức độ bồi thường không phân hóa theo hình thức lỗi như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đương nhiên làm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên Bên vận chuyển vẫn
sẽ có nghĩa vụ vận chuyển hành khách đến địa điểm theo thỏa thuận
Thứ ba: Trách nhiệm thực hiện phạt vi phạm khi có thỏa thuận
Trách nhiệm thực hiện phạt vi phạm khi có thỏa thuận được quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 Trách nhiệm này chỉ phát sinh khi các bên
Trang 137
trong hợp đồng có thỏa thuận về điều khoản phạt vi phạm hợp đồng Trong trường hợp, các bên không thỏa thuận về điều khoản phạt thì không được áp dụng trách nhiệm này trong quá trình xử lý vi phạm trách nhiệm dân sự
1.2 Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm hợp đồng dân sự đã gây ra một thiệt hại Mặt khác một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân do vi phạm hợp đồng khi họ có lỗi Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vận chuyển hàng không chỉ phát sinh khi thỏa mãn các điều kiện như sau:
(i) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii ) Có thiệt hại xảy ra; (iii) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra; (iv)Có lỗi của người gây thiệt hại
Thứ nhất: Có hành vi vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách
Hành vi vi phạm hợp đồng là một trong những nhân tố đầu tiên quan trọng nhất để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển Nội dung của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội chính vì vậy, về nguyên tắc hành vi thực hiện không đúng, không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng do các bên đã cam kết, thỏa thuận hay dựa trên quy định của pháp luật thì khi đó hành
vi đó sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng Tuy nhiên trong một số trường hợp, hành vi vi phạm hợp đồng không bị coi là trái pháp luật
Trong trường hợp nghĩa vụ trong hợp đồng không được thực hiện hoàn toàn do lỗi của bên có quyền Theo đó, khi xảy ra sự kiện vi phạm hợp đồng vận
Trang 148
chuyển hành khách nhưng lỗi gây ra hành vi vi phạm đó hoàn toàn xuất phát từ phía hành khách Mặc dù, trường hợp này có đầy đủ các yếu tố cấu thành sự vi phạm hợp đồng vận chuyển hành khách, nhưng hành khách sẽ không thể yêu cầu hãng hàng không bồi thường thiệt hại cho mình khi hành khách hoàn toàn có lỗi
và không thực hiện các nghĩa vụ của họ theo hợp đồng Ví dụ: Đến trễ giờ bay không thể lên máy bay; Mang theo các chất cấm khi vận chuyển bằng đường hàng không; …
Trường hợp thứ hai nghĩa vụ trong hợp đồng không thực hiện được do sự kiện bất khả kháng Một sự kiện chỉ được coi là bất khả kháng nếu đó là sự kiện khách quan làm cho người có nghĩa theo quy định của hợp đồng không biết trước và cũng không thể tránh được và họ không thể khắc phục khó khăn do sự kiện đó gây ra dù rằng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép
Các sự kiện bất khả kháng có thể bao gồm các sự kiện như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, đình công, các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Các sự kiện bất khả kháng là các sự kiện không nằm trong ý muốn chủ quan của bên vận chuyển cũng như nó nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vận chuyển Do đó, khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không xác định cho bên vận chuyển mà tùy từng trường hợp cụ thể sẽ
do bên bảo hiểm hàng không tiến hành việc bồi thường thiệt hại cho hành khách
Thứ hai: Có thiệt hại xảy thực tế trong vận chuyển hành khách là gì?
Thiệt hại là cơ sở để xác định mức độ bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển Thiệt hại ở đây sẽ bao gồm các thiệt hại về vật chất của hành khách như mất mát tài sản, hành lý hoặc thiệt hại về tính mạng sức khỏe của hành khách
Trang 159
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc người có nghĩa vụ trong hợp đồng phải
bù đắp cho phía bên kia trong hợp đồng những tổn thất vật chất mà mình đã gây
ra do việc vi phạm hợp đồng.vì vậy, việc xác định có thiệt hại xảy ra hay không? Thiệt hại là bao nhiêu một việc hết sức cần thiết và quan trọng khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Thiệt hại là sự biến đổi theo hướng xấu đi trong về tài sản hoặc con người
có thể ở dạng tổn thất thực tế tính được thành tiền và cũng có những thiệt hại không tính được bằng tiền như các vấn đề cá nhân của con người
Về mặt lý luận, những thiệt hại nói trên thường được chia thành hai loại: Những thiệt hại trực tiếp: là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan trong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như: Chi phía thực tế
và hợp lý (là những khoản tiền hoặc những lợi ích vật chất khác mà bên bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tình trạng xấu đi do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia gây ra); Sức khỏe, tính mạng con người bị ảnh hưởng hoặc tài sản bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại: là sự giảm sút giá trị của một tài sản hoặc sự thiếu hụt về tài sản do người vi phạm hợp đồng gây ra
Những thiệt hại gián tiếp: được hiểu là những thiệt hại phải dựa trên sự tính toán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại
Những thiệt hại gián tiếp có thể là những thiệt hại về nhân phẩm danh dự
và đạo đức của cá nhân do phía bên kia gây ra trong quá trình vận chuyển hành khách mà không phải dễ dàng tính toán hoặc xác định được Trong trường hợp hai bên không xác định được mức độ thiệt hại sẽ cần một bên thứ ba tính toán và xác định mức độ thiệt hại cụ thể
Thứ ba: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt
hại xảy ra
Trang 1610
Trong trường hợp có thiệt hại xảy ra nhưng lại không có nguyên nhân
xuất phát từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên gây thiệt hại thì cũng không thể yêu cầu bên vận chuyển phải bồi thường Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, xét theo phép duy vật biện chứng là mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tượng Trong khoa học pháp lý dân sự, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra được hiểu là giữa chúng có mối quan hệ nội tại, tất yếu Trong đó, hành vi vi phạm là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả Chỉ khi nào thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật, thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt hại
Đối chiếu với phân tích trên, nhận thấy rằng chỉ những thiệt hại phát sinh
do hậu quả của việc vi phạm và có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm thực hiện hợp đồng và thiệt hại xảy ra thì mới được công nhận bồi thường
Hành vi không thực hiện vận chuyển hoặc chậm vận chuyển dẫn đến những thiệt hại cho hành khách về mặt tài chính, sức khỏe, danh dự nhân phẩm thì vẫn có thể coi là hành vi vi phạm của doanh nghiệp vận chuyển
Thứ tư: Lỗi của doanh nghiệp vận chuyển vi phạm hợp đồng
Theo khoản 1 Điều 308 quy định “Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Từ đây có thể hiểu rằng nếu không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định khác thì chỉ khi nào người vi phạm hợp đồng có lỗi mới phải bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, về nguyên tắc, người đã được xác định nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thực hiện, thực hiện không đúng và không đầy đủ như quy định của hợp đồng đương nhiên bị coi là có lỗi Khi đó, người không thực
Trang 1711
hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng sẽ không phải bồi thường thiệt hại nếu họ chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên có quyền theo quy định trong hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vận chuyển hành khách bằng đường hàng không là trách nhiệm dân sự theo hợp đồng, vì vậy để xác định bên vận chuyển có phải chịu trách nhiệm bồi thường hay không, thì cần phải căn cứ vào 4 điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự Đây là điều cần và đủ để qui trách nhiệm pháp lý đối với một chủ thể trong các hợp đồng dân sự nói chung và trong hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nói riêng
1.3 Những vấn đề lý luận về hợp đồng vận chuyển hàng không nội địa
1.3.1 Khái niệm
Theo nghĩa chung nhất hợp đồng vận chuyển là một hợp đồng cung cấp dịch vụ di chuyển người hoặc hàng hóa từ nơi này đến nơi khác bằng một phương tiện nhất định Trong lĩnh vực hàng không, phương tiện chuyên chở đó chính là máy bay
Hợp đồng vận chuyển hành khách là một hợp đồng thương mại mang tính chất song vụ và đền bù Bên vận chuyển phải là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không
Do đó, có thể hiểu hợp đồng thương mại là hợp đồng do thương nhân giao kết trong khi tiến hành hoạt động kinh doanh của mình Mục đích của các thương nhân hướng đến khi giao kết hợp đồng luôn là vấn đề lợi nhuận
1.3.2 Phân loại hợp đồng vận chuyển hành khách như sau:
Dựa vào tính chất thương mại của các chuyên bay: có thể phân thành loại hình chuyên chở không lấy tiền và loại chuyên chở có lấy tiền
Trang 1812
Dựa vào tính chất phục vụ công cộng hay dân dụng: có thể phân thành loại hình vận chuyển dân dụng và loại hình vận chuyển nhà nước; vận chuyển thường
lệ hay vận chuyển không thường lệ,…
Dựa vào phạm vi vận chuyển: có thể chia thành vận chuyển quốc tế và vận chuyển nội địa.Tương ứng với mỗi loại hình vận chuyển lại có những quy chế pháp lý khác nhau
Theo Bộ Luật dân sự Việt Nam: “Hợp đồng vận chuyển hành khách là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển chuyên chở hành khách, hành
lý đến địa điểm đã định theo thỏ thuận, còn hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển” (Điều 527)
sự thỏa thuận giữa hành khách, người gửi và người vận chuyển, hợp đồng không nhất thiết phải lập thành văn bản Hợp đồng được ký kết tại thời điểm các bên thống nhất ý chí, chưa cần thiết phải giao vật hoặc hành khách phải bước lên phương tiện vận chuyển
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý chí giao kết hợp đồng ra bên ngoài và với một số điều kiện nhất định để khi người được đề nghị chấp nhân thì hợp đồng được thiết lập Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề
Trang 19Hệ quả của đối tượng vận chuyển: Đối tượng vận chuyển bao gồm cả vật
và người; Có sự đối xử khác biệt giữa các loại đối tượng do đó có các quy chế pháp lý riêng biệt về vận chuyển người và vận chuyển vật
Do đó, hợp đồng vận chuyển hàng hóa trong lĩnh vực hàng không có những đặc điểm của hợp đồng vận chuyển nói chung nhưng cũng có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với các loại hợp đồng khác
1.3.5 Hình thức của Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
Mặc dù pháp luật quy định hợp đồng vận chuyển có thể bằng cách hình thức khác nhau, tuy nhiên trong hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, có một số bằng chứng ghi nhận việc tồn tại hợp đồng vận chuyển,
đó là: vé, thẻ hành khách, thẻ lên tàu, thẻ gửi hành lý, điều lệ vận chuyển Như vậy, hợp đồng vận chuyển hành khách phải thể hiện bằng văn bản và không tồn tại hợp đồng vận chuyển hàng không được giao kết bằng lời nói
Trang 20Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006, tại Điều 111, khoản 1 có quy định: “Điều lệ vận chuyển là bộ phận cấu thành của hợp đồng vận chuyển hàng không, quy định các điều kiện của người vận chuyển đối với việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư bằng đường hàng không”
1.4 Vai trò của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Các quy định pháp lý về trách nhiệm bồi thường chính là cơ sở để khi xảy
ra các thiệt hại, các bên có liên quan sẽ áp dụng các chế tài đó để đảm bảo các quyền lợi ích chính đáng cho bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại phải bồi thường
Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có vai trò rất quan trọng định hướng cho các hoạt động của bên vận chuyển Bên vận chuyển sẽ biết được trách nhiệm của họ sẽ như thế nào nếu họ vi phạm hợp đồng vận chuyển Bên cạnh đó, bên được vận chuyển cũng hiểu được các quyền và nghĩa vụ của mình như thế nào nếu bị vi phạm hợp đồng vận chuyển hoặc vi phạm chính hợp đồng đó
Trang 2115
CHƯƠNG 2:NHỮNG QUY ĐỊNH CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG NỘI ĐỊA
2.1 Điều kiện Kinh tế - Xã hội ở Việt Nam có ảnh hưởng đến sự phát triển của vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa
Việt Nam nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực có số lượng dân cư đông nhất, tiềm lực kinh tế mạnh và đặc biệt là khu vực có các hoạt động kinh tế năng động và phát triển nhất Bên cạnh đó, với lợi thế nằm trên trục giao thông Đông - Tây và Bắc - Nam, là những trục giao thông quan trọng và đông đúc nhất trên thế giới, Việt Nam có tiềm năng rất lớn về giao thông, đặc biệt là giao thông hàng không Hiện nay, tiềm năng về vị trí địa lý mới chỉ được khai thác một phần, chủ yếu là phục vụ điều hành các chuyến bay quá cảnh, trong khi
đó việc tổ chức khai thác lợi thế về khả năng tạo lập các trung tâm trung chuyển hành khách, hàng hóa chưa thực hiện được [17, tr.02]
Dân số Việt Nam tính đến hết năm 2014 đạt gần 90.5 triệu người [19, tr.05], được phân bố tập trung tại các khu vực đồng bằng sông Hồng, duyên hải Trung bộ và đồng bằng Nam bộ Mạng lưới các trung tâm đô thị được phân bổ tương đối đều, mức độ đô thị hoá nhanh trên toàn lãnh thổ với 3 trung tâm lớn là
Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Mức độ tăng trưởng kinh tế của các trung tâm này bình quân đạt khoảng 15%/năm Đây là một tiềm năng rất lớn trong việc phát triển giao thông hàng không giữa các trung tâm này với nhau, giữa các trung tâm này với các vùng miền trên toàn quốc cũng như với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới
Vận tải hàng không là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đại diện
Trang 2216
cho phương thức vận tải tiên tiến và hiện đại, ngày càng đóng vai trò to lớn và có ảnh hưởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế – văn hoá - xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước Ra đời năm 1956, ngành hàng không Việt Nam đã có những bước chuyển biến không ngừng, đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, góp phần đưa nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới Mặt khác những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội do chính sách đổi mới của Đảng và Nhà Nước cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành hàng không Việt Nam Cùng với trào lưu đổi mới của đất nước, ngành hàng không Việt Nam cũng đã chuyển mình từ một ngành kinh tế hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bao cấp với đội máy bay lạc hậu chủ yếu là do Liên Xô (cũ) chế tạo, các sân bay được xây dựng từ nhiều năm trước, các trang thiết bị quản lý bay nghèo nàn, chắp vá, ngày nay hàng không Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể với đội máy bay ngày càng được hiện đại hoá, với cơ sở hạ tầng không ngừng được nâng cấp và hoàn thiện, mô hình tổ chức và quản lý được hợp lý hoá, mạng đường bay nội địa cũng như quốc tế được mở rộng Tổng công ty hàng không Việt Nam trong những năm gần đây đã đạt được những thành tích đáng kể, khối lượng vận chuyển tăng lên theo từng năm không chỉ ở vận chuyển hành khách mà cả trong vận chuyển hàng hoá [18, tr.03]
Ngày nay, trong sự phát triển không ngừng của các phương thức vận tải, vận tải hàng không nói riêng đang đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế Việt Nam và góp phần kết nối với các nền kinh tế thế giới
Như vậy, vận chuyển hàng không là một phương thức vận chuyển đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển Qua đó, chúng ta có thể xác định vận chuyển hàng không là việc chuyên chở hàng khách, hàng hóa, hành lý,
Trang 2317
bưu kiện trong không gian từ nơi này đến nơi khác bằng máy bay
Trong đó, vận chuyển hàng khách bằng đường hàng không giúp việc giao lưu thương mại, trao đổi văn hóa, giáo dục và du lịch phát triển một cách nhanh chóng hơn Hàng không ở các nước phát triển đang trở thành một phương tiện vận chuyển không thể thiếu được giúp thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập với kinh tế thế giới Với những ưu điểm vượt trội như thời gian vận chuyển ngắn, an toàn, chính xác thì vận chuyển hàng không đang ngày càng vươn lên và trở thành một trong những ngành vận chuyển hàng đầu của Việt Nam Tuy nhiên, đây cũng là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong đó những doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không phải đáp ứng những điều kiện đặc thù và phải luôn tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật và Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
2.2 Quy mô và tốc độ tăng trưởng thị trường vận tải hàng không nội địa giai đoạn 2006-2015 [17, tr.07-10]
Từ 2006 đến nay, với sự ra đời của Luật hàng không dân dụng Việt Nam, sau đó là Luật hàng không dân dụng sửa đổi 2014, đã tạo ra cở sở vững chắc về mặt pháp luật cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không nói riêng và
sự phát triển của ngành vận tải hàng không nói chung Đồng thời, với sự ra đời của một số hãng hàng không tư nhân, sự phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống máy bay, sân bay được xây dựng mới nâng cấp giữa các tỉnh thành phố trong cả nước
đã tạo thành một bức tranh sinh động đầy mầu sắc trong lĩnh vực vận tải hàng không
Hiện nay tại Việt Nam đang có 5 hãng hàng không nội địa đang hoạt
động: [17, tr 20]
Trang 2418
Vietnam Airlines: là hãng hàng không nội địa lớn nhất có đường bay
rộng nhất, đội bay lớn nhất và tuần suất bay cao Đây là hãng hàng không quốc gia Việt Nam hoạt động theo mô hình truyền thống hiện tại có nhiều đường bay nội địa chỉ có hãng này khai thác, ngoài các đường bay nộ địa, hãng này cũng khai thác rất nhiều các đường bay quốc tế
Vietnam Airlines là hãng hàng không quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là thành phần nòng cốt của Tổng công ty Hàng không Việt Nam Hãng nằm dưới sự quản lý của một hội đồng 7 người do Thủ tướng Việt Nam chỉ định, có các đường bay đến khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu
Âu và châu Đại Dương, với 46 điểm đến ở 19 quốc gia Trụ sở chính được đặt tại hai sân bay lớn nhất Việt Nam là Sân bay quốc tế Nội Bàivà Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
Vietnam Airlines là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ nắm giữ cổ phần 69,93% Jetstar Pacific Airlines Ngày 10 tháng 6 năm 2010, hãng chính thức gia nhập liên minh hàng không SkyTeam, trở thành hãng hàng không đầu tiên của Đông Nam Á gia nhập liên minh này
Năm 2014, Vietnam Airlines chiếm 39,3% thị phần khách quốc tế đi và đến Việt Nam, chiếm 41,7% thị phần khách nội địa
Jesta Pacific: là hãng hàng không nội địa lớn thứ 2 ở Việt Nam, hãng này
hoạt động theo mô hình hàng không giá rẻ Hãng được đổi tên từ Pacific Airlines Có trụ sở tại Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất - TP Hồ Chí Minh Hãng điều hành các dịch vụ bay chở hành khách và hàng hoá tới các điểm đến trong nước và quốc tế
Đây cũng là hãng hàng không giá rẻ đầu tiên của Việt Nam Với tiêu chí hoạt động là cung cấp vé máy bay giá rẻ mỗi ngày, hiện Jetstar Pacific điều hành
Trang 2519
các dịch vụ bay chở hành khách và hàng hoá tới các điểm đến nội địa của Việt Nam bằng đội bay Airbus A320 - 180 ghế Hãng có 2 cổ đông chính là Hãng hàng không quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines chiếm 66,93% cổ phần và Tập đoàn Qantas của Úc chiểm 30% cổ phần, phần còn lại của các cổ đông Việt Nam khác như Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn - Saigon Tourist
VietJet Air: là hãng hàng không thế hệ mới, đây là hãng hàng không tư
nhân đầu tiên của Việt Nam, có trụ sở chính tại Sân bay Quốc tế Nội Bài Hà Nội
và chi nhánh tại Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất Thành phố Hồ Chí Minh Vận tải hàng không hành khách, hàng hoá công cộng thường xuyên (theo lịch trình và không theo lịch trình)
Vasco: là hãng hàng không nội địa thứ 5 tại Việt Nam là Công ty con của
hãng Vietnam Airlines Máy bay của Vasco nhỏ và công ty này chỉ khai thác các đường bay nội địa ngắn nên số lượng người biết đến hãng này cũng còn khiêm tốn
Vietstar Airline: là hãng hàng không thuộc Quân chủng phòng không –
Không quân Bộ quốc phòng, là hãng hàng không lưỡng dụng mới nhất được cấp phép kinh doanh hoạt động hàng không
Các hãng hàng không đã ngừng hoạt động:
Air Mekong: từng là hãng hàng không tư nhân thứ ba được cấp phép tại
Việt Nam sau VietJet Air và Indochina Airlines Hãng hoạt động từ ngày 9 tháng 10 năm 2010 Đường bay từ trụ sở chính tại Sân bay Phú Quốc tới Sân Bay Quốc tế Nội Bài và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn nhất Trụ sở chính của Air Mekong được đặt tại Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Air Mekong được thành lập vào năm 2009 và bắt đầu cất cánh từ 09/10/2010 Trong năm 2011, Air
Trang 2620
Mekong thực hiện 10.750 chuyến bay và chuyên chở khoảng 710 ngàn hành khách[1] Hãng ngừng bay từ cuối tháng 2 năm 2013, đến đầu năm 2015 thì bị hủy bỏ giấy phép hoạt động
Indochina Airlines: là hãng hàng không thứ năm của Việt Nam, tính theo
thời gian thành lập Đây là hãng hàng không tư nhân thứ hai của Việt Nam sau VietJet Air, đã được cấp giấy phép, là hãng hàng không tư nhân đầu tiên của Việt Nam đi vào hoạt động Do những khó khăn tài chính nên từ cuối năm 2009 hãng đã ngừng hoạt động
2.3.Nguồn pháp luật điều chỉnh pháp luật về hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
Các văn bản pháp luật về hàng không nói chung và về hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nói riêng có thể chia thành các văn bản pháp luật quốc gia và các văn bản pháp luật quốc tế Vận chuyển hàng không không chỉ dừng lại ở việc bị điều tiết bởi luật tư và còn cả luật công do đó khi nói tới các văn bản điều tiết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không không thể không nói tới tất cả các văn bản đó
Kể từ khi tuyên bố gia nhập Công ước Chi-ca-gô về hàng không dân dụng quốc tế, Việt Nam đã tham gia hàng loạt các Công ước quốc tế trong các lĩnh vực hàng không dân dụng: Công ước về ngăn chặn hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp tàu bay ký tại Lahay ngày 16/12/1970 (1979) và Công ước về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp đối với an toàn của hàng không dân dụng ký tại Montreal ngày 23/9/1971 (1979); Công ước về sự phạm tội và các hành vi khác thực hiện trên tàu bay ký tại Tokyo ngày 14/9/1963 (1980); Nghị định thư về
Trang 2721
ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn các Cảng hàng không quốc
tế ký tại Montreal ngày 24/02/1988 (1999); Công ước Vác-sa-va về Thống nhất một số các qui tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế năm 1929 và Nghị định thư sửa đổi năm 1955 (1983); Công ước Geneve về công nhận các quyền đối với tàu bay năm 1948 (1997) Hiện nay đang tích cực xem xét việc tham gia một số các công ước khác: Công ước Montreal về đánh dấu chất nổ dẻo nhằm mục đích phát hiện năm 1991; Công ước Montreal về thống nhất một số các qui tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế năm 1999; Công ước Cape Town về quyền lợi quốc tế đối với trang thiết bị di động vàNghị định thư
về các vấn đề cụ thể đối với trang thiết bị tàu bay năm 2001
Ngoài ra còn nhiều điều ước liên quan đến lĩnh vực hàng không có đan xem tới các lĩnh vực khác
Các văn bản chủ yếu của Việt Nam điều chỉnh hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không bao gồm: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại
2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Hàng không dấn dụng Việt Nam 2006 Bên cạnh đó là các văn bản hướng dẫ thi hành ở nhiều cấp độ khác nhau
Nhìn chung, pháp luật về hàng không của Việt Nam đã có những điều chỉnh tích cực trong việc nội luật hóa các quy định của luật hàng không quốc tế theo hai cách: trực tiếp tham gia các điều ước quốc tế hoặc trên cơ sở các điều ước quốc tế và kinh nghiệm của các nước, đưa vào luật quốc gia một cách chọn lọc, đặc biệt các vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động vận chuyển hàng không như kỹ thuật, bảo hiểm, trách nhiệm dân sự,… Các quy định của luật hàng không dân dụng từ trước đến nay được phân thành hai dạng: một là các quy định đặc thù của Việt Nam và hai là các quy định nhằm chuyển hóa hoặc sao chép, học
Trang 2822
tập các điều ước quốc tế (kể các các điều ước mà Việt Nam chưa tham gia nhưng được nhiều quốc gia thừa nhận) Các quy định thuộc một trong hai dạng trên không tách biệt nhau hoàn toàn mà có thể cùng nằm trong một chương, mục và thậm chí ngay trong một điều khoản của Luật
Việc sửa đổi và bổ sung Luật Hàng không dân dụng của Việt Nam từ năm
1991 đến nay đã thể hiện một nỗ lực rất lớn của những nhà làm luật muốn nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia đồng thời cũng để phù hợp với sự pháp triển về kinh tế, kỹ thuật trong thời kỳ mới Tuy nhiên, đây là một ngành luật có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, được áp dụng với nhiều đối tượng, vận dụng nhiều quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế về hàng không dân dụng cho nên để xây dựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực
có liên quan đòi hỏi phải có sự xem xét một cách tổng thể các ngành luật khác Các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hàng không dân dụng không chỉ
bó hẹp trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại mà còn liên quan đến rất nhiều ngành luật khác như Luật Lao động, Luật Hình sự, Luật Xuất nhập Cảnh,… trong đó Luật Hàng không là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống pháp luật đó
2.4 Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không nội địa 2.4.1 Khái niệm:
Trước hết để hiểu được thế nào là hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, chúng ta phải hiểu khái niệm “vận chuyển hàng không” như thế nào, và “vận chuyển” có gì khác “chuyến bay”
Hiểu theo nghĩa rộng vận chuyển hàng không là tập hợp các yếu tố kỹ
Trang 2923
thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiểu quả Theo nghĩa hẹp thì vận chuyển hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung hay cụ thể hơn và hình thức chuyên chở hành khách, hàng hóa, bưu kiện từ một địa điểm này đến địa điểm khác bằng máy bay
“Vận chuyển hàng không nội địa” theo Điều 115, Luật Hàng không dân dụng là việc vận chuyển bằng đường hàng không trong lãnh thổ của một quốc gia
Khái niệm này để phân biệt với “vận chuyển hàng không quốc tế” Theo khoản 2, Điều 1 Công ước Varsava 1929 là: “bất kỳ sự vận chuyển nào, theo sự thỏa thuận của các bện, nơi khởi hành là nơi đến, có hoặc không có sự gián đoạn hay chuyển tài nằm trong lãnh thổ hai bên hoặc lãnh thổ của một bên ký kết nếu
có một nơi dừng thỏa thuận thuộc lãnh thổ của một nước khác kể cả quốc gia đó không là một bên ký kết” Khái niệm vận chuyển hàng không nội địa theo Luật Hàng không dân dụng của Việt Nam chỉ đề cập đến vấn đề việc vận chuyển hành khách, hàng hóa trong lãnh thổ của một quốc gia Nếu so sánh với công ước Varsava thì khái niệm này chưa đầy đủ về nội hàm Bởi lẽ, trong vận chuyển quốc tế có thể có những chuyến bay mà nơi đi và nơi đến nằm trên cùng một quốc gia nhưng có điểm dừng thỏa thuận nằm trên lãnh thổ quốc gia khác Vì vậy, trong trường hợp có những chuyến bay vận chuyển có điểm đầu và điểm cuối trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhưng lại có điểm dừng thỏa thuận tại một quốc gia khác ngoài lãnh thổ Việt Nam thì trường hợp này có thể coi là vận chuyển quốc tế
Như vậy, vận chuyển hàng không nội địa phải có những yếu tố sau:
Thứ nhất, phải có hợp đồng giao kết giữa các bên nhằm mục đích chuyên chở hành khách, hành lý, hàng hóa;
Trang 3024
Thứ hai, nơi đi và nơi đến không phụ thuộc vào việc chuyên chở có dừng lại hay chuyển tải hay không phải nằm trên lãnh thổ của một quốc gia và những điểm dừng thỏa thuận cũng nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó
Trong công ước Chicago 1944 về hàng không dân dụng quốc tế, phương tiện bay được chia làm hai loại: phương tiện bay dùng vào mục đích dân sự, loại còn lại và phương tiện bay nhà nước Như vậy, “dân dụng” theo Luật hàng không dân dụng của Việt Nam là dân sự tức là các chuyến bay phục vụ công công có thể nhằm mục đích lợi nhuận hay không lợi nhuận Trong phạm vi luận văn này, khái niệm vận chuyển hàng không nội địa cũng chỉ đề cập tới việc vận chuyển dân sự, thường lệ mà không nghiên cứu các vấn đề liên quan đến vận chuyển nhà nước hoặc vận chuyển không thường lệ
Hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý bằng đường hàng không là hợp đồng dân sự được giao kết giữa một bên là cá nhân và bên vận chuyển là doanh nghiệp hàng không, do vậy yếu tố tự nguyện đóng vai trò quyết định cho việc giao kết hợp đồng Hành khách muốn được vận chuyển đến địa điểm xác định thì sẽ nộp tiền lấy vé, bên doanh nghiệp vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hành khách đến địa điểm xác định trên vé
Giống như trong lĩnh vực vận chuyển hành khách bằng đường bộ, đường thủy các bên không trực tiếp ký vào bản hợp đồng hoặc hợp đồng mẫu mà nội dung của hợp đồng đã được ghi nhận trong một văn bản pháp qui như Bộ luật, Luật, qui tắc Nếu bên hành khách đồng ý tham gia hợp đồng vận chuyển hàng không thì có nghĩa là đồng ý với tất cả các điều khoản của hợp đồng vận chuyển hành khách đã được qui định trong Luật hàng không dân dụng, Điều lệ vận chuyển của các Hãng hàng không dân dụng Căn cứ để chứng minh các bên đã xác lập hợp đồng là vé do bên vận chuyển phát hành và các văn bản cụ thể khác
Trang 312.4.2 Đặc điểm:
Để hiểu được đặc điểm của vận chuyển hàng không, phải hiểu ưu điểm của ngành vận chuyển hàng không là gì Đó là hình thức vận chuyển tuy ra đời muộn hơn so với các hình thức vận chuyển khác nhưng lại có sự phát triển vượt bậc về cả số lượng và chất lượng Xét về bản chất của nó có những ưu điểm vượt trội hơn về sự tiện lợi, về thời gian cũng như về sự an toàn
Thứ nhất, vận chuyển hàng không là hình thức vận chuyển nhanh nhất, tiết
kiệm thời gian Vận chuyển hàng không có đường bay thẳng, vì vậy quãng đường được rút ngắn lại rất nhiều, kèm theo tốc độ cao nên thời gian vận chuyển cũng được rút ngắn
Thứ hai, việc vận chuyển hàng không không bị chịu ảnh hưởng của các
địa hình trái đất như đồi núi, sông ngòi, và các yếu tố thời tiết do đó hành khách khi được vận chuyển bằng máy bay sẽ thấy ít mệt mỏi hơn và rất an toàn
Thứ ba, tương ứng với mức phí dịch vụ cao thì người được vận chuyển
cũng được cung cấp một dịch vụ tốt hơn so với các phương tiện vận tải khác
Trang 3226
Bên cạnh những ưu điểm thì vận chuyển hàng không cũng có một số hạn chết nhát định:
Thứ nhất, cước phí vận chuyển cao nhất so với các hình thức vận chuyển
khác; bị hạn chế nhất định về số lượng và tải trọng so với vận tải bằng đưởng thủy và đường bộ; một số chất nhất định sẽ bị cấm không vận chuyển để đảm bảo an toàn cho chuyến bay và cho hành khách; phải đầu tư lớn về cơ sở vật chất
kỹ thuật cho máy bay, sân bay và nguồn nhân lực
Hợp đồng vận chuyển hành khách cũng mang đầy đủ các đặc điểm giống như Hợp đồng vận chuyển hàng hóa Điểm khác biệt cơ bản nhất đó là đối tượng của hợp đồng trong trường hợp này là dịch vụ vận chuyển con người và các hành
lý đi kèm với con người Trong Hợp đồng vận chuyển hành khách lại bao gồm
cả Hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Hợp đồng vận chuyển hành khách là hợp đồng song vụ, mang tính đền bù: Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hành khách được giao kết giữa một bên là cá nhân có nhu cầu vận chuyển và một bên là hãng hàng không có chức năng vận chuyển hàng không Các bên trong hợp đồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Hãng hàng không sẽ vận chuyển Hành khách đến địa điểm theo thỏa thuận và nhận thù lao Hành khách phải thanh toán thù lao và được vận chuyển đến địa điểm do mình
ấn định Khi tham gia vào hợp đồng này các bên đều đạt được những lợi ích kinh tế nhất định
Đối tượng của hợp đồng là hoạt động cung ứng dịch vụ vận chuyển hành khách và các hành lý đi kèm con người
Khác với hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng vận chuyển hành khách là một hợp đồng đặc biệt vì đối tượng của hợp đồng là việc vận chuyển
Trang 3327
hành khách và có thể là các hành lý đi kèm theo hành khách đó Hợp đồng sẽ được giao kết trực tiếp với từng hành khách đó Không có hợp đồng giữa một tổ chức với hãng hàng không để vận chuyển hành khách Tổ chức có thể đứng ra làm đầu mối để làm các thủ tục đặt chỗ cho hành khách Mỗi hành khách sẽ giao kết một hợp đồng riêng biệt với hãng thông qua hình thức vé máy bay Không có
vé may bay cho tập thể Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong quá trình vận chuyển cũng sẽ chỉ phát sinh đối với chính cá nhân có tên trên hệ thống và xác nhận trên vé lên máy bay Đây là một đặc điểm cơ bản khác biệt giữa Hợp đồng vận chuyển hành khách với các loại hợp đồng dân sự khác
Tính chất của hơp đồng mang tính thương mại với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp vận chuyển hàng không
Hãng hàng không vận chuyển hành khách phải là một pháp nhân được đăng ký và cấp phép với chức năng vận chuyển hành khách Đây là một ngành đặc thù nên ngoài những quy định chung đối với những tổ chức kinh doanh dịch
vụ vận chuyển khác, hãng còn phải đáp ứng những điều kiện rất khắt khe về vấn
đề giấy phép hoạt động hàng không Hãng cung cấp dịch vụ vận chuyển nhằm mục đích lợi nhuận Hợp đồng vận chuyển hàng không chính là hợp đồng thương mại giữa hãng hàng không và hành khách để đảm bảo việc tiến hành ngành nghề kinh doanh của mình
Vận chuyển tài sản trong hợp đồng vận chuyển hành khách chỉ áp dụng trong trường hợp khi vận chuyển hành khách thì hành lý là các tài sản cá nhân của hành khách mang theo người hoặc những đối tượng tiêu dùng được ký gửi qua đường hàng không
Trong vận chuyển hành khách cũng đi kèm với vận chuyển tài sản, nhưng
đó không phải là một hợp đồng vận chuyển hàng hóa riêng biệt Hãng hàng
Trang 3428
không sẽ chỉ vận chuyển các tài sản cá nhân do hành khách mang theo người thuộc đối tượng vận chuyển mà không vận chuyển riêng rẽ hàng hóa theo yêu cầu của hành khách Tài sản khi vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hành khách sẽ bị giới hạn về cân nặng, loại tài sản Theo đó, chỉ những tài sản phục vụ cho nhu cầu cá nhân và đáp ứng các yêu cầu của hãng hàng không khi mang theo lên máy bay hoặc trong trường hợp ký gửi thì sẽ được hãng hàng không vận chuyển Những tài sản khác mang tính chất đặc thù hoặc những hàng hóa đặt biệt
sẽ bị hãng hàng không từ chối và khi đó, nếu muốn vận chuyển hành khách sẽ phải lựa chọn việc ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa riêng biệt với hãng hàng không
2.5 Chủ thể của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
2.5.1 Bên vận chuyển hàng không
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 ra đời đã khắc phục được những thiếu sót của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 1991, phù hợp với các Điều ước quốc tế và xu hướng chung của thế giới
Trước đây, Luật Hàng không dân dựng Việt Nam 1991 và 1995 quy định Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về hàng không dân dụng quyết định thành lập hãng hàng không Việt Nam sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép gây nên sự chồng chéo với pháp luật về doanh nghiệp Theo Luật Hàng không dân dụng 2006, các hãng hàng không có thể được thành lập dưới các hình thức doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, công ty tư nhân bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không sẽ chịu sự điều chỉnh về quản lý, vận hành theo quy định của luật doanh nghiệp
Trang 3529
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp được phép kinh doanh vận chuyển hàng không sau khi được Cục Hàng không dân dụng Việt Nam, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý
Pháp luật quy định những điều kiện nhất định để một chủ thể được kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng không Đây làm một ngành nghề kinh doanh đặc thù và có điều kiện Luật Hàng không dân dụng 2006 khi quy định các điều kiện kinh doanh vẫn tuân thủ nguyên tắc của Công ước Chicago 1944 chỉ dành cho các hãng hàng không Việt Nam, đồng thời quy định hãng hàng không nước ngoài được tham gia vận chuyển trong những trường hợp đặc biệt Luật 2006 cũng quy định về thẩm quyền của Bộ giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho các hãng hàng không Việt Nam là doanh nghiệp của Nhà nước hoặc tổ chức đấu thầu khai thác các đường bay đến các vùng có nhu cầu thiết yếu về vận chuyển hàng không đối với sự phát triển kinh tế- xã hội vùng, địa phương, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa khi việc khai thác các đường bay đến các vùng này không thể có lãi
Trước hết, bên vận chuyển hàng không phải là một tổ chức thương mại được thành lập hợp pháp và được cấp phép kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng không Điều kiện để được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không khi
tổ chức đáp ứng đủ các điều kiện sau: (i) có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
và ngành kinh doanh chính là vận chuyển hàng không; (ii) có phương án bảo đảm có tàu bay khai thác; (iii) có tổ chức bộ máy, có nhân viên được cấp giấy phép, chứng chỉ phù hợp bảo đảm khai thác kinh doanh vận chuyển hàng không; (iv) đáp ứng vấn đề về vốn pháp định; (v) có phương án kinh doanh và chiến
Trang 36Trong thời gian qua, các hãng hàng không cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa ở Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều, đáp ứng yêu cầu vận chuyển ngày càng lớn của con người
Về trách nhiệm dân sự của người vận chuyển
Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của Luật Hàng không dân dụng 2006 so với Luật Hàng không dân dụng 1991 và 1995 trong quan hệ vận chuyển giữa người vận chuyển và hành khách Đây là điều ước quan trọng của tư pháp hàng không quốc tế với mục đích là bảo vệ và cân bằng lợi ích của người vận chuyển
và của khách hàng bao gồm hai vấn đề chính: chế độ trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết tranh chấp Từ năm 1996 trở lại đây, mức trách nhiệm dân sự quy định tại pháp luật về hàng không đã trở lên lạc hậu so với mực mà các doanh nghiệp vận chuyển hàng không đã áp dụng Vì vậy việc thay đổi là một sự phù hợp trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay của đất nước Luật hàng không dân dụng
2006 đã nâng mức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển lên cao hơn so với các cam kết quốc tế của Việt Nam
2.5.2.Hành khách:
Trang 37có chính sách bảo đảm điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai sử dụng dịch vụ vận chuyển hàng không.”
Để xác định khách hàng thuộc đối tượng nào, có được hưởng chính sách
ưu tiên hay không, khi lên tàu bay sẽ phải xuất trình những văn bản giấy tờ sau:
Đối với hành khách mang quốc tịch nước ngoài: hộ chiếu hoặc công hàm của cơ quan ngoại giao, lãnh sự xác nhận nhân thân của hành khách, có dán ảnh, dấu giáp lai và đơn giải trình mất hộ chiếu của hành khách có xác nhận của công
an địa phương
Đối với hành khách mang quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một trong các loại giấy tờ sau: hộ chiếu; giấy chứng minh nhân dân; giấy chứng minh, chứng nhận của các lực lượng vũ trang; thẻ Đại biểu Quốc hội; thẻ Đảng viên; thẻ Nhà báo; giấy phép lái xe ô tô, mô tô; thẻ kiểm soát an ninh hàng không; thẻ nhận dạng của các hãng hàng không Việt Nam; giấy chứng nhận nhân thân có xác nhận của công an phường, xã nơi cư trú
Trang 3832
Hành khách từ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi không có hộ chiếu hoặc hành khách dưới 12 tuổi phải đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây: Đi cùng với người đại diện theo pháp luật; Đi cùng với hành khách là người làm thủ tục đi tàu bay và đi cùng suốt hành trình, được đăng ký với hãng hàng không khi mua vé; Có cam kết của đại diện hãng hàng không vận chuyển ban đầu trong việc chăm sóc hành khách đến điểm cuối của hành trình
Ngoài các quy định đối với hành khách từ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi không
có hộ chiếu hoặc hành khách dưới 12 tuổi, hành khách dưới 14 tuổi mà không có
hộ chiếu khi làm thủ tục đi tàu bay trên các chuyến bay nội địa phải xuất trình một trong các loại giấy tờ sau: Giấy khai sinh; trường hợp dưới 01 tháng tuổi chưa có giấy khai sinh thì phải có giấy chứng sinh; Giấy xác nhận của tổ chức xã hội đối với trẻ em do tổ chức xã hội đang nuôi dưỡng, chỉ có giá trị sử dụng, trong thời gian 06 tháng kể từ ngày xác nhận
Hành khách được vận chuyển trên các chuyến bay nội địa cũng rất phong phú đa dạng Mỗi đối tượng hành khách lại được hưởng những chính sách đối xử khác nhau khi xảy ra sự cố Từ đó, bên vận chuyển hàng không cũng phải thể hiện rõ các trách nhiệm của mình đối với từng đối tượng
Mặc dù là hợp đồng vận chuyển hàng không nội địa nhưng trong trường hợp xảy ra các thiệt hại đối với người nước ngoài, người không quốc tịch hoặc các viên chức ngoại giao đi trên các chuyến bay nội địa, bên vận chuyển vẫn phải áp dụng các hiệp định quốc tế, các thông lệ để thực hiện trách nhiệm đối với từng hành khách
Trang 3933
2.6 Nội dung của Hợp đồng vận chuyển hàng không:
Trong vận chuyển hàng không, hợp đồng vận chuyển hàng không sẽ là vấn đề cơ bản trung tâm nhất của giao dịch này Chỉ khi hình thành hợp đồng vận chuyển từ đó mới tạo cơ sở cho các trách nhiệm của các bên sau này Nội dung của hợp đồng chính là các điều kiện của hợp đồng mà các bên thỏa thuận hoặc cam kết thi hành Các điều kiện của hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không được thể hiện ở hai loại văn bản – Quy định của pháp luật về vận chuyển hàng không và Điều lệ vận chuyển của hãng hàng không
Pháp luật về hàng không bao gồm Luật hàng không dân dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ quy định các nội dung chính của hợp đồng Trên cơ
sở các quy định pháp luật chuyên ngành này, các quyền và nghĩa vụ giữa bên vận chuyển và hành khách – cũng chính là các nội dung của hợp đồng sẽ được hình thành
Ngoài các quy định của pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng không, các văn bản của các hãng hàng không cũng chứa đựng các điều kiện của hợp đồng Điều lệ vận chuyển hàng không là nơi chứa đựng các điều kiện áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng vận chuyển Luật Hàng không dân dụng, Điều 111 có quy định:
“Điều lệ vận chuyển là bộ phận cấu thành của hợp đồng vận chuyển hàng không, quy định các điều kiện của người vận chuyển đối với việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưu kiện, thư bằng đường hàng không”
Trong Điều lệ vận chuyển, các văn bản đi kèm chứng minh sự tồn tại của Hợp đồng vận chuyển hành khách bao gồm: Vé máy bay, Thẻ hành lý
Trang 4034
2.6.1 Quyền và nghĩa vụ của Bên vận chuyển:
Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển hay hãng hàng không đã được quy định rất rõ trong Điều lệ của hãng hàng không cũng như các quy định pháp lý có liên quan trong lĩnh vực hàng không
Nghĩa vụ của bên vận chuyển:
Nghĩa vụ của bên vận chuyển sẽ là quyền lợi của hành khách Việc quy định cụ thể các nghĩa vụ của bên vận chuyển giúp việc xác định một cách dễ dàng trách nhiệm của hãng hàng không trong quá trình vận chuyển Theo các quy định pháp luật, bên vận chuyển sẽ có các nghĩa vụ sau: Chuyên chở đúng lộ trình, thời gian, địa điểm, văn minh, lịch sự, đảm bảo đủ chỗ cho khách, không chở quá tải; Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành khách theo quy định của pháp luật; Bảo đảm thời gian xuất phát đã được thông báo hoặc theo thoả thuận; Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tại địa điểm thoả thuận theo đúng thời gian, lộ trình; Hoàn trả cho hành khách cước phí vận chuyển theo thoả thuận Trong trường hợp pháp luật có quy định thì theo quy định của pháp luật
Nghĩa vụ của bên vận chuyển đã được quy định rất rõ ràng trong các văn bản pháp luật Theo đó, bên vận chuyển chỉ có nghĩa vụ tuân thủ và thực thi các trách nhiệm đó mà không thể thỏa thuận với bên được vận chuyển về các nghĩa
vụ khác nằm ngoài phạm vi các nghĩa vụ của pháp luật
Quyền của bên vận chuyển:
Bên cạnh các nghĩa vụ, bên vận chuyển cũng có các quyền nhất định Các quyền của bên vận chuyển sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên được vận chuyển Bên cạnh các quyền cơ bản giống như các loại hợp đồng khác, trong hợp đồng