Điều này cho thấy vấn nạn đáng báo động và phải loại bỏ trong nền kinh tế thị trường mà các doanh nghiệp chân chính muốn tồn tại, đứng vững và phát triển; Nhà nước, muốn tạo ra một môi t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG MINH THÙY
HµNH VI X¢M PH¹M QUYÒN Së H÷U C¤NG NGHIÖP
§èI VíI T£N TH¦¥NG M¹I THEO LUËT Së H÷U TRÝ TUÖ N¡M 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG MINH THÙY
HµNH VI X¢M PH¹M QUYÒN Së H÷U C¤NG NGHIÖP
§èI VíI T£N TH¦¥NG M¹I THEO LUËT Së H÷U TRÝ TUÖ N¡M 2005
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ QUẾ ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Minh Thùy
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI 7
1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 7
1.1.1 Khái niệm tên thương mại 7
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 11
1.1.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 14
1.2 Khái quát chung về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 20
1.2.1 Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 20
1.2.2 Các yếu tố tạo thành hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM 23
1.2.3 Quy định về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM trong pháp luật Việt Nam từ trước khi ban hành Luật SHTT 2005 26 1.2.4 Ý nghĩa của việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu
Trang 5Kết luận Chương 1 32
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005 34
2.1 Các dạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 34
2.1.1 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 36
2.1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên thương mại 40
2.2 Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 43
2.2.1 Căn cứ xác định TTM được bảo hộ 44
2.2.2 Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM 47
2.2.3 Chủ thể thực hiện hành vi 49
2.2.4 Địa điểm thực hiện hành vi 56
Kết luận Chương 2 59
Chương 3: THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI 61
3.1 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM tại Việt Nam 61
3.2 Nguyên nhân tồn tại hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM 72
3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM 80
Kết luận Chương 3 87
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự năm 2005 BLHS: Bộ luật Hình sự năm 1999 BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 CTCP: Công ty cổ phần
ĐKKD: Đăng ký kinh doanh ĐƯQT: Điều ước quốc tế KDCN: Kiểu dáng công nghiệp KH&CN: Khoa học và Công nghệ SHCN: Sở hữu công nghiệp SHTT: Sở hữu trí tuệ
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TTM: Tên thương mại UBND: Ủy ban nhân dân WIPO: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 3.1: Số liệu về tình trạng xâm phạm quyền SHCN từ năm
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là cạnh tranh, việc thiết lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh không còn là nhiệm
vụ của Nhà nước – với tư cách là chủ thể quản lý mà còn là nhiệm vụ của chính các doanh nghiệp – với tư cách là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế đó Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt
ấy, để trụ vững và quan trọng hơn là phát triển, các chủ thể kinh doanh buộc phải khẳng định được uy tín, vị thế của mình trên thị trường thông qua vô vàn cách thức, trong đó, tiên quyết nhất là cách thức cá thể hóa hoạt động kinh doanh của mình và một trong những công cụ pháp lý hữu hiệu nhất phục vụ cho việc cá thể hóa hoạt động kinh doanh của các chủ thể được pháp luật quy định chính là tên thương mại
Có thể khẳng định: tên thương mại là dấu hiệu đầu tiên để phân biệt giữa chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, hoạt động kinh doanh của các chủ thể không còn bó hẹp trong phạm vi một khu vực, giới hạn trong phạm vi một lĩnh vực nhất định mà mở rộng ra phạm vi liên khu vực và đa lĩnh vực kinh doanh Điều đó đặt ra nhiều đòi hỏi, thách thức cho doanh nghiệp, không chỉ là nỗ lực trong sự vận động tự thân của chính doanh nghiệp mà còn trong việc đối phó, ngăn chặn những hành vi trục lợi thông qua việc sử dụng tên tuổi của doanh nghiệp từ các đối thủ cạnh tranh, thậm chí là từ chính bạn hàng của doanh nghiệp
Tình trạng doanh nghiệp bị “nhái”, bị “bắt chước” tên gọi, bị lợi dụng danh tiếng, uy tín, thương hiệu thông qua việc sử dụng các chỉ dẫn thương mại, trong đó, điển hình là sử dụng tên thương mại gây nhầm lẫn nhằm mục
Trang 9đích trục lợi đã không còn xa lạ đối với các doanh nghiệp chân chính, thậm chí là đối với cả người tiêu dùng Những vụ việc nổi cộm về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại như: vụ việc Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh nước mắm Hưng Thịnh bị Cơ sở nước mắm Hưng Thịnh xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại Hưng Thịnh diễn ra vào khoảng cuối năm 2007; vụ việc CTCP Nhựa Bình Minh bị Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Sản xuất nhựa Ống Bình Minh (cùng trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh) xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại và nhãn hiệu
“Bình Minh” diễn ra vào đầu năm 2008; vụ tranh chấp TTM “Winco” và
“Winlaw” giữa Công ty TNHH SHTT Winco và Công ty Luật TNHH Winlaw diễn ra vào cuối năm 2008; vụ việc CTCP Vincom và CTCP Đầu tư Tài Chính Bất động sản Vincon tranh chấp TTM “Vincom” và “Vincon” diễn ra vào cuối năm 2010
Trên đây chỉ là những vụ việc nổi cộm được phơi bày trước công chúng
mà trong thực tế, còn rất nhiều hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại được biến tướng dưới nhiều hình thức phức tạp khác mà doanh nghiệp không thể lường trước hết được Điều này cho thấy vấn nạn đáng báo động và phải loại bỏ trong nền kinh tế thị trường mà các doanh nghiệp chân chính muốn tồn tại, đứng vững và phát triển; Nhà nước, muốn tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh thu hút sự đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước thì buộc phải đẩy mạnh việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với tên thương mại, như nhiệm vụ mà Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 về một
số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và
bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO, đó là: “đẩy mạnh thực thi pháp luật bảo vệ sở hữu trí tuệ, tạo môi trương thuận lợi cho sáng tạo các giá trị tinh thần xã hội”
Trang 10Không thể phủ nhận sự ra đời của đạo luật độc lập về sở hữu trí tuệ – Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010), trong đó quy định chế độ pháp lý đối với các đối tượng của quyền SHTT, trong đó có tên thương mại –
là một trong những bước đột phá trong việc tạo ra công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp trong việc xưng danh trong hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền SHCN đối với tên thương mại nói riêng, dường như còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế Cùng với sự bất cập trong nội tại pháp luật SHTT điều chỉnh tên thương mại là sự nhập nhằng, mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật khác cùng điều chỉnh chế
độ pháp lý đối với việc xưng danh trong quá trình hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh mà điển hình là: Luật Cạnh tranh (được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2005) và Luật Doanh nghiệp (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006) Sự chồng chéo không chỉ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn tồn tại trong cách thức quản lý, cách thức phân cấp, phân ngành quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với tên của chủ thể kinh doanh
Chính những bất cập đó đã phần nào tạo ra rào cản trong việc bảo vệ quyền SHCN đối với tên thương mại của các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại – một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền SHCN đối với tên thương mại; một trong những căn cứ quan trọng để áp dụng các biện pháp
xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại một cách phù hợp, để áp dụng các biện pháp khắc phục thiệt hại về vật chất cũng như tổn hại về uy tín do hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại gây
Trang 11Nhận thức được tính cấp thiết từ thực tiễn xâm phạm cũng như tầm quan trọng của việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại trong việc thực thi quyền SHCN đối với tên thương mại cùng với đòi hỏi đặt ra là: phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo hộ quyền SHCN đối với tên thương mại nói riêng, tác
giả quyết định chọn đề tài: “Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005” để nghiên cứu
2 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là:
- Phân tích và làm rõ những vần đề lý luận và thực tiễn về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM;
- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM và thực tiễn áp dụng các quy định này;
- Nêu bật những vướng mắc còn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM
Nhiệm vụ:
- Tìm hiểu một cách khái quát về tên thương mại và quyền SHCN đối
với tên thương mại;
- Tìm hiểu về các loại hành vi và cách thức xác định hành vi xâm phạm
quyền SHCN đối với tên thương mại;
- Liên hệ đối chiếu giữa Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và một số văn
bản luật khác cùng điều chỉnh tên của chủ thể trong hoạt động kinh doanh;
- Từ thực tiễn áp dụng luật, tìm ra những điểm còn hạn chế, đưa ra một
số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại, góp phần giải quyết tốt tình trạng xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại trên thực tế
Trang 123 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Bằng các phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập thông tin, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, luận văn tập trung nghiên cứu về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại ở Việt Nam đặt trong tương quan các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, đồng thời, có sự liên hệ, đối chiếu với quy định của một số ngành luật khác cùng điều chỉnh về hành vi xâm phạm đối với tên của chủ thể kinh doanh, bên cạnh đó, có sự so sánh với quy định tương tự trong pháp luật của một số quốc gia và một số Điều ước Quốc tế trong lĩnh vực này Ngoài ra, luận văn cũng đề cập đến thực trạng xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại ở nước ta hiện nay để thấy được mặt tích cực cũng như phát hiện mặt hạn chế còn tồn tại Thông qua đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại trong thời gian tới
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Vấn đề thực thi quyền SHTT, nhìn chung, là một vấn đề tương đối mới
mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do đó, SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng hiện nay dành được rất nhiều sự quân tâm của nhiều nhà nghiên cứu và các chuyên gia Vấn đề thực thi quyền SHCN đối với tên thương mại được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, và được thể hiện dưới các hình thức như các bài báo, tạp chí, sách, công trình nghiên cứu khoa học, luận văn… Tuy nhiên, số lượng các bài nghiên cứu về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại một cách chuyên sâu và toàn diện thì chưa có, các tác phẩm hiện nay chủ yếu tập trung vào vấn đề xác lập quyền, vấn đề về bảo hộ quyền; hành vi xâm phạm quyền được đề cập đến dưới hình thức các tình huống, các vụ án thực tế mà không được phân tích, bình luận chuyên sâu, dưới góc độ khoa học; hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
Trang 13tên thương mại nếu được phân tích thì chỉ dừng lại ở mức đối chiếu với văn bản pháp luật Chính vì thế, đề tài này hoàn toàn bảo đảm về tính mới và là đề tài nghiên cứu đầu tiên ở cấp luận văn thạc sỹ
Với đề tài “Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005”, tác giả hy vọng đây sẽ trở
thành một tài liệu tham khảo có giá trị, một tài liệu nghiên cứu hữu ích và toàn diện về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại trong hệ thống thực thi quyền SHTT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
5 Bố cục của Luận văn
Luận văn được chia làm 3 phần với nội dung gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Khái quát chung về Quyền sở hữu công nghiệp đối với
Tên thương mại và hành vi xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp đối với Tên thương mại
Chương 2: Những quy định về hành vi xâm phạm Quyền sở hữu công
nghiệp đối với Tên thương mại theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Chương 3: Thực trạng xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp đối với
Tên thương mại tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp đối với Tên thương mại
Kết luận
Trang 14Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
1.1.1 Khái niệm tên thương mại
So với các đối tượng SHTT truyền thống khác như Nhãn hiệu, Sáng chế, KDCN, chỉ dẫn địa lý thì TTM là đối tượng SHTT tương đối mới Mặc
dù ra đời sau, nhưng vai trò của việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM cũng quan trọng không kém so với các đối tượng SHTT khác, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thương trường trong nước và quốc tế ngày càng trở nên ngày càng khốc liệt
Để bảo vệ sự trong sáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời, tạo ra sự lành mạnh trong môi trường kinh doanh – nơi mà mình là chủ thể chính, chủ sở hữu TTM buộc phải nắm vững các vấn đề pháp lý liên quan đến TTM và biết được các đặc quyền mà pháp luật dành cho
Để có cái nhìn tổng quan hơn về khái niệm TTM theo quy định của pháp luật Việt Nam, trước tiên, cần điểm qua một số khải niệm TTM theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới, như sau:
- Pháp luật của Philippines: “TTM là tên để xác định hoặc phân biệt
một doanh nghiệp” [34, Đ 121.3] Theo quy định này, TTM là tên của
doanh nghiệp được sử dụng nhằm xác định và phân biệt doanh nghiệp mang TTM đó với các doanh nghiệp khác Việc quy định chung chung này dường như cho phép chủ việc xác định khả năng phân biệt TTM của doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia không giới hạn khu vực địa lý, ngành nghề
Trang 15kinh doanh miễn sao cái tên đó phải bảo đảm yếu tố đặc định chủ thể có hoạt động kinh doanh và phân biệt chủ thể kinh doanh đó trong môi trường
kinh doanh, thị trường tiêu dùng
- Thỏa ước Trung Mỹ:
TTM là tên để xác định một doanh nghiệp/ tổ chức thương mại cụ thể, một doanh nghiệp/ tổ chức công nghiệp ngay cả khi nó là tham gia vào các hoạt động liên quan đến nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, săn bắn, câu cá, xây dựng, giao thông vận tải hoặc trong bất kỳ hoạt động tương tự khác [35, Đ 47] Tương tự quy định của pháp luật Philippines, theo Thỏa ước Trung
Mỹ, TTM là một cái tên để xác định cụ thể doanh nghiệp, tổ chức Tuy nhiên, khác với các quy định trên, Thỏa ước Trung Mỹ quy định về phạm vi/ lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức bao gồm thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, khoáng sản và mọi hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức mang TTM đó chứ không chỉ giới hạn trong hoạt động kinh doanh
Qua một số quy định trên, có thể thấy, nhìn chung, theo các ĐƯQT và luật pháp của một số quốc gia, khái niệm TTM đều thể hiện một số nội dung
cơ bản sau:
- TTM là một tên gọi của một doanh nghiệp (việc xác định thế nào là doanh nghiệp phụ thuộc vào pháp luật của từng quốc gia – tuy nhiên, doanh nghiệp là một thực thể được hình thành và hoạt động trên cơ sở các quy định của pháp luật và không phải là con người – thực thể tự nhiên)
- TTM là tên gọi của doanh nghiệp nhưng không phải là tên doanh nghiệp – yếu tố/ nội dung bắt buộc phải đăng ký trong các văn bản, tài liệu,
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
- TTM được doanh nghiệp sử dụng trong các hoạt động kinh doanh
Trang 16nhằm mục đích sinh lợi Trong đó, hoạt động của doanh nghiệp đa dạng, phụ thuộc vào pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp do pháp luật quốc nội quy định, bao gồm nhưng không giới hạn bởi: hoạt động kinh doanh, thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, săn bắn, câu cá, xây dựng, giao thông vận tải
- TTM có tác dụng để xác định một chủ thể kinh doanh cụ thể và để phân biệt doanh nghiệp mang TTM đó với các chủ thể kinh doanh khác trong một phạm vi hoạt động nhất định Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp để phát huy chức năng phân biệt của TTM rộng hay hẹp phụ thuộc hoàn toàn vào pháp luật của từng quốc gia (ở phạm vi rộng, đó có thể là trên toàn quốc, hẹp hơn có thể giới hạn trong một phạm vi lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, khu vực kinh doanh… cụ thể)
Theo các đặc điểm nêu trên, có thể tạm khái quát định nghĩa TTM như sau: TTM là tên gọi của chủ thể có hoạt động kinh doanh nhằm cá biệt hóa hoạt động kinh doanh của chủ thể đó và phân biệt chủ thể mang TTM đó với các chủ thể kinh doanh khác trong một phạm vi kinh doanh nhất định
Trong pháp luật Việt Nam, TTM lần đầu tiên được nhắc đến/ đề cập đến tại Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ thông qua quy định về nhãn hiệu hàng hóa, tuy nhiên, phải đến khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ra đời vào ngày 10/3/2000 thì khái niệm về TTM mới được phác họa sơ lược trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam
Đến nay, khái niệm TTM được củng cố và hoàn thiện hơn trong Luật
SHTT, như sau: “TTM là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” [27, Đ 4.21] Theo
quy định này, TTM có các đặc điểm chính sau:
- Là tên gọi của tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh Trong
Trang 17đó, hoạt động kinh doanh được hiểu là hành vi của tổ chức, cá nhân thực hiện
liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Hoạt động kinh doanh phải được thực hiện theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện
- Mục đích của TTM được đặt ra là nhằm phân biệt chủ thể mang TTM
đó với một chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh
doanh Trong đó, lĩnh vực kinh doanh được hiểu là toàn thể nội dung ngành,
nghề kinh doanh mà một doanh nghiệp tiến hành đầu tư, hoạt động theo quy định của pháp luật và thường được thể hiện trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, đăng
ký mã số thuế, điều lệ công ty đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc
các giấy tờ có giá trị pháp lý khác Còn khu vực kinh doanh được hiểu là khu
vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng, thường được thể hiện trong các giao dịch, hợp đồng với bạn hàng, khách hàng, đối tác, trong đó thể hiện rõ địa chỉ của bạn hàng, khách hàng, đối tác mà chủ thể kinh doanh xác lập, thực hiện giao dịch kinh doanh cùng; phạm vi biết đến danh tiếng của người tiêu dùng; địa điểm đặt các biển quảng cáo, địa điểm tổ chức các sự kiện quảng cáo, tiếp thị về sản phẩm, dịch vụ của chủ thể kinh doanh…
- Cấu tạo của TTM: Mặc dù không có quy định cụ thể về cấu tạo của TTM, tuy nhiên, để trở thành TTM, thực hiện đúng chức năng của mình, TTM phải hội tụ đủ 2 thành phần: một là thành phần chung (có thể là yếu tố chỉ loại hình doanh nghiệp như CTCP, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Ngân hàng TMCP ; hoặc có thể là lĩnh vực kinh doanh như bánh kẹo,
Trang 18thuốc lá, bóng đèn phích nước, luật sư ) và hai là thành phần tên riêng – đây chính là yếu tố quyết định đến tính hợp lệ, hợp pháp của một TTM, quyết định đến khả năng được bảo hộ với tư cách là một đối tượng sở hữu công nghiệp bởi thành phần tên riêng đó phải chứa đựng được yếu tố để phân biệt giữa tên đó và tên của các chủ thể kinh doanh khác trong khuôn khổ yêu cầu của pháp luật
Ví dụ: CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ là một tên thương mại với đầy đủ các thành phần, trong đó CÔNG TY CỔ PHẦN là yếu tố chỉ loại hình doanh nghiệp, BÁNH KẸO là yếu tố chỉ lĩnh vực kinh doanh và HẢI HÀ là yếu tố tên riêng để phân biệt với các doanh nghiệp khác, ví dụ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU
Như vậy, về cơ bản, khái niệm TTM theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng tương thích với khái niệm về TTM của các quốc gia trên thế giới
và các ĐƯQT
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Quyền SHCN là một bộ phận của quyền SHTT Đây là phạm trù pháp
lý còn khá mới mẻ so với các phạm trù pháp lý truyền thống khác và nó chỉ chính thức xuất hiện khoảng vài thế kỷ trở lại đây Quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng được thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo trí tuệ của con người Với việc nhận được sự bảo hộ của Nhà nước, quyền SHCN trở thành một loại quyền tài sản có giá trị lớn đối với chủ sở hữu – những người đã sáng tạo ra hoặc đầu tư Để bảo hộ quyền SHCN, mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ riêng, phù hợp với đặc thù về kinh tế, chính trị và
Trang 19gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo dựng, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHCN được Nhà nước bảo hộ
- Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là các quyền dân sự cụ thể của các chủ sở hữu trong việc tạo dựng, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHCN
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì quyền SHCN là “quyền của tổ
chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, TTM, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” [27, Đ 4.4]
Quy định trên khẳng định lại một lần nữa, TTM là một đối tượng của quyền SHCN được hưởng sự bảo hộ của pháp luật SHCN Qua đó, có thể hiểu theo nghĩa hẹp nhất, quyền SHCN đối với TTM là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với TTM do mình sở hữu Quyền SHCN đối với TTM được xác lập thông qua cơ chế bảo hộ tự động, thể hiện bởi hành vi sử dụng TTM của chủ sở hữu trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình
Để nhận được sự bảo hộ đối với TTM của mình, cá nhân, tổ chức sở hữu TTM phải xác lập quyền đối với TTM theo quy định của pháp luật Pháp luật SHTT Việt Nam quy định căn cứ xác lập quyền SHCN đối với TTM theo nguyên tắc bảo hộ tự động thông qua việc sử dụng hợp pháp TTM của chủ sở hữu trên thực tế mà không phải thông qua bất kỳ thủ tục hành chính nào và bởi bất kỳ cơ quan nhà nước nào Tuy vậy, điều đó không đồng nghĩa với việc quyền SHCN đối với TTM được xác lập một cách tùy tiện và không theo một khuôn khổ pháp lý nào Ngược lại, để được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước, chủ sở hữu TTM phải sử dụng TTM một cách hợp pháp toàn diện Tính toàn diện trong việc sử dụng TTM của chủ sở hữu không chỉ dừng lại trong phạm
vi pháp luật SHTT – nghĩa là chủ thể kinh doanh phải lựa chọn một cái tên đáp ứng đầy đủ điều kiện để trở thành TTM – có yếu tố phân biệt giữa chủ thể
Trang 20mang TTM đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh Tính toàn diện của việc sử dụng hợp pháp đó còn nằm trong hoạt động kinh doanh của chủ thể - bị chi phối bởi các quy định của pháp luật về dân sự (chẳng hạn: liên quan đến chế định về chủ thể kinh doanh, chế định đại diện của pháp nhân, liên quan đến việc thực hiện các giao dịch, hợp đồng mang tính nguyên tắc ), pháp luật về doanh nghiệp (ví dụ: liên quan đến loại hình hoạt động của doanh nghiệp, đến cơ cấu, tổ chức tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp, liên quan đến việc xác lập và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp ), pháp luật về kinh doanh – thương mại (liên quan đến các loại hình hoạt động thương mại của chủ thể ) và các pháp luật chuyên ngành khác liên quan đến lĩnh vực kinh doanh mà chủ thể kinh doanh
đó lựa chọn/ đăng ký hoạt động (luật đất đai, luật kinh doanh bất động sản, luật các tổ chức tín dụng, luật đầu tư, luật chứng khoán ) Theo đó, một chủ thể sử dụng một cái tên trong hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động kinh doanh này là bất hợp pháp thì tính toàn diện của việc sử dụng tên của chủ thể
đó không được bảo toàn và có khả năng cái tên đó sẽ không được hưởng sự bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền SHTT Như vậy, việc sử dụng TTM của chủ sở hữu phải đảm bảo tuân thủ toàn diện các quy định pháp luật, không chỉ riêng pháp luật về SHTT mà còn cả pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của chủ thể Chỉ khi hoạt động kinh doanh của chủ thể là hợp pháp, chủ thể mang TTM mới được Nhà nước công nhận là chủ sở hữu TTM và theo sau đó, chủ sở hữu sẽ có được sự bảo hộ của Nhà nước đối với TTM đó ngay từ hành vi sử dụng TTM hợp pháp đầu tiên trong phạm vi khu vực kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh nhất định
Với việc sử dụng TTM trên thực tế, cá nhân, tổ chức mang TTM được xác định là chủ sở hữu TTM và được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước như sau:
- Được quyền sử dụng độc quyền TTM trong mọi hoạt động kinh
Trang 21- Được chuyển nhượng quyền đối với TTM cho người khác cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó;
- Được quyền cấm bên thứ ba sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với TTM mà mình đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM đó;
- Được quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu TTM của mình phải chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại
Tóm lại, quyền SHCN đối với TTM được quy định một cách tương đối đầy đủ và cụ thể trong hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam, làm căn cứ để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu TTM và các chủ thể liên quan, trong đó, có người tiêu dùng một cách tương đối trọn vẹn
1.1.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
1.1.3.1 Quyền sử dụng tên thương mại
Một trong những đặc trưng quan trọng của đối tượng quyền SHTT là đặc tính vô hình Bởi thế, đối tượng quyền SHTT nói chung và TTM nói riêng, phải được vật chất hóa, hữu hình hóa thông qua phương tiện là các vật hữu hình mang tin cụ thể Hơn nữa, cũng như các đối tượng SHCN khác, bản thân TTM không thể tự đem lại các tiện ích hiện hữu cho người nắm giữ nó
mà chỉ có thể đem lại các lợi ích vật chất, tinh thần cùng các lợi thế kinh doanh, thương mại cho chủ sở hữu thông qua việc áp dụng, chuyển tải hay đưa nó vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thương mại Do vậy, việc ghi nhận quyền và phương thức thể hiện quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu là
vô cùng có ý nghĩa bởi, trong hoạt động kinh doanh, ngoài việc mang lại cho chủ sở hữu các lợi ích vật chất, các lợi thế kinh doanh, nó còn đặt ra nghĩa vụ
Trang 22của các chủ thể khác phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu Vì vậy, độc quyền
sử dụng TTM của chủ sở hữu đã được pháp luật ưu tiên quy định hàng đầu, trước tất cả những quyền khác của chủ sở hữu đối với TTM được bảo hộ
Pháp luật Việt Nam quy định về phương thức thực hiện quyền sử dụng
TTM của chủ sở hữu đó là “hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách
dùng TTM để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện TTM trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá
và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo” [27, Đ 124.6] Theo đó, việc
sử dụng TTM của chủ sở hữu được xác định như sau: thứ nhất, về mục đích: việc sử dụng TTM của chủ sở hữu nhằm mục đích thương mại; thứ hai, về
hành vi, bao gồm (i) hành vi dùng TTM để xưng danh trong hoạt động kinh doanh; (ii) hành vi thể hiện TTM trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo
Như vậy, trước tiên, việc sử dụng TTM của cá nhân, tổ chức sở hữu TTM phải nhằm đảm bảo cho cá nhân, tổ chức đạt được mục đích thương mại Mặc dù các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về SHTT nói riêng không có một giải nghĩa/ định nghĩa hay dẫn chiếu cụ thể về cụm từ
“mục đích thương mại” trong việc sử dụng TTM, tuy nhiên, từ các văn bản pháp luật về kinh doanh, thương mại, từ cách hiểu các cụm từ có ý nghĩa liên quan và thực tiễn thực thi luật SHTT, có thể hiểu “mục đích thương mại” là những giá trị, lợi ích vật chất mà cá nhân, tổ chức sở hữu TTM dự kiến sẽ đạt được thông qua hành vi sử dụng TTM trong hoạt động kinh doanh, thương mại của chính tổ chức, cá nhân đó Theo đó, việc xác định mục đích của việc
sử dụng một cái tên trong hoạt động của các chủ thể có ý nghĩa quan trọng bởi hành vi sử dụng tên trùng hoặc tương tự với TTM của người khác nhưng không nhằm mục đích thương mại sẽ không thể coi là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM
Trang 23Tiếp sau, việc sử dụng TTM là sự thể hiện, bộc lộ một cái tên nhất định
và xác định của cá nhân, tổ chức trong các hoạt động kinh doanh mà cá nhân,
tổ chức đó tham gia, trên các tài liệu, giấy tờ giao dịch, trên biển hiệu, sản phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa mà cá nhân, tổ chức đó sản xuất, cung cấp, phân phối trên thị trường, hay trên phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo
về cá nhân, tổ chức đó hoặc các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của cá nhân, tổ chức đó để các chủ thể khác khi tham gia xác lập giao dịch với cá nhân, tổ chức đó sẽ biết được mình đang xác lập, thực hiện giao dịch với ai Do đó, bên cạnh mục đích thương mại, mục đích tiếp theo của việc sử dụng TTM là nhằm bộc lộ, thể hiện cho chủ thể khác, bao gồm đối tác trong kinh doanh, người tiêu dùng trên thị trường, thậm chí cả đối thủ cạnh tranh trên thương trường biết được đặc điểm của chủ sở hữu TTM đó
Tuy nhiên, độc quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu bị giới hạn trong một phạm vi khu vực và lĩnh vực kinh doanh nhất định mà chủ sở hữu TTM
đó có hoạt động kinh doanh Vì thế, phạm vi được hưởng sự bảo hộ đối với TTM được xác định trong phạm vi khu vực và lĩnh vực kinh doanh; nghĩa là, chủ sở hữu TTM càng hoạt động trên một khu vực kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh rộng thì phạm vi độc quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu càng rộng, khả năng được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước càng nhiều và ngược lại
Như vậy, chính những lợi ích mà TTM mang lại cho chủ sở hữu của nó
mà việc ghi nhận quyền sử dụng TTM trên thực tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với chủ sở hữu TTM bởi quyền sử dụng TTM mang tính chất tuyệt đối, là độc quyền của chủ sở hữu nên ngoài chủ sở hữu, không một ai được thực hiện quyền sử dụng TTM Độc quyền của chủ sở hữu TTM đồng nghĩa với việc, chủ sở hữu TTM đối lập với không chỉ một chủ thể cụ thể mà trong một phạm vi khu vực và lĩnh vực kinh doanh nhất định theo quy định của pháp luật, sẽ đối lập với tất cả những người thứ ba – những người có nghĩa vụ
Trang 24không vi phạm và không cản trở chủ sở hữu TTM thực hiện các hành vi thể hiện quyền sử dụng TTM của mình [2]
1.1.3.2 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng tên thương mại
Độc quyền sử dụng TTM là độc quyền của chủ sở hữu TTM, theo đó, độc quyền sử dụng cũng mang lại cho chủ sở hữu quyền ngăn cấm người khác
sử dụng TTM của mình Hay nói cách khác, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM là khía cạnh khác của độc quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu TTM bởi lẽ: về nguyên tắc, quyền sử dụng là độc quyền của chủ sở hữu TTM, khi chủ sở hữu được độc quyền sử dụng, đồng nghĩa với bất kỳ người thứ ba nào cũng không được quyền sử dụng TTM, nếu người thứ ba nào có hành vi thể hiện quyền sử dụng TTM mà pháp luật đã bảo hộ cho chủ sở hữu TTM thì
đó là hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu TTM, theo đó, chủ sở hữu TTM có quyền ngăn cấm hành vi sử dụng trái phép TTM đó
Trong pháp luật Việt Nam, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM được quy định như sau:
Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nếu việc sử dụng đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này [27, Đ 125.1]
Như vậy, trong phạm vi giới hạn về khu vực kinh doanh và lĩnh vực
kinh doanh, chủ sở hữu TTM có quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM của mình dù với bất kỳ mục đích, cách thức nào để xưng danh trong hoạt động kinh doanh mà không phải của chủ sở hữu TTM và không được chủ
sở hữu TTM cho phép Quyền này được quy định không chỉ nhằm bảo hộ cho hoạt động kinh doanh chân chính của doanh nghiệp mà còn nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của những người trực tiếp tham gia giao dịch
Trang 25với chủ sở hữu TTM đó, tránh mọi trường hợp giao dịch được xác lập một cách trái pháp luật
Giới hạn của quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM của chủ sở hữu TTM: Xuất phát từ chính nguyên tắc kim chỉ nam của pháp luật SHTT –
nguyên tắc cân bằng lợi ích của các chủ thể, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM của chủ sở hữu cũng bị giới hạn trong một số trường hợp nhất
định, đó là: “Sử dụng một cách trung thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng
loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ” [27, Đ 125.2.h] Theo đó, trường hợp TTM,
nhãn hiệu mang địa danh được sử dụng trước khi chỉ dẫn địa lý hoặc nhãn hiệu mang địa danh tương ứng được cấp văn bằng bảo hộ và các đối tượng này đều đáp ứng các điều kiện bảo hộ theo quy định pháp luật, thì việc sử dụng một cách trung thực các đối tượng nói trên không bị coi là hành vi vi phạm theo quy định tại các điểm g, h khoản 2 Điều 125 của Luật Sở hữu trí tuệ [8, Đ 8.7.c.(iii)]
Theo đó, trong một phạm vi hoạt động kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh mà chủ sở hữu TTM và chủ thể thứ ba cùng hoạt động kinh doanh, quyền ngăn cấm của chủ sở hữu TTM bị hạn chế khi hành vi sử dụng của chủ thể khác đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Tên mà chủ thể thứ ba sử dụng là tên người, dấu hiệu mô tả các đặc tính, đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ (gồm chủng loại, số lượng, công dụng ) – đây là từ/ cụm từ mang tính phổ biến/ thông dụng (tên của người) hay mang ý nghĩa mô tả đặc điểm, bản chất, đặc tính vốn có của hàng hóa, dịch vụ trong thực tế tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
mà không phải từ/ cụm từ có tính sáng tạo, đặc sắc và có thể phân biệt được
- Việc sử dụng cái tên này của chủ thể thứ ba phải trung thực Theo cách hiểu thông thường, trung thực là sự ngay thẳng, thật thà, hành xử đúng
Trang 26với các yếu tố khách quan, không gian dối, giả tạo, che giấu hay làm sai lệch
sự thật khách quan Trong pháp lý, trung thực được để cập chủ yếu trong pháp luật dân sự, đặc biệt là trong chế định giao dịch, hợp đồng Mặc dù không có giải thích cụ thể về sự trung thực trong khoa học pháp lý nói chung và trong pháp luật về SHTT nói riêng, nhưng sự trung thực trong việc sử dụng tên (giống với thành phần tên riêng của TTM) có thể được hiểu là: khi sử dụng tên đó, trong ý thức của người sử dụng: không biết đến sự tồn tại của TTM, không biết về sự trùng/ tương tự đến mức gây nhầm lẫn với TTM đang được bảo hộ với tư cách là một đối tượng quyền SHCN và việc sử dụng của chủ thể không nhằm mục đích mạo danh, lợi dụng ảnh hưởng, danh tiếng, tên tuổi vì mục đích kinh doanh thương mại Tuy nhiên, để có được một khái niệm chuẩn mực về tính trung thực trong các hoạt động, giao dịch dân sự nói chung cũng như trong hành vi sử dụng TTM và để hạn chế được việc xử lý sót, xử lý nhầm trong quá trình xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với TTM.pháp luật cần có quy định cụ thể về khái niệm này, về các căn cứ để các chủ thể liên quan đến TTM có thể đánh giá, xác định được yếu tố này trên thực tế
Theo đó, dù trong hoạt động kinh doanh thương mại hay hoạt động phi thương mại, hành vi sử dụng một cách trung thực một cái tên là tên người, hay các từ/ cụm từ là dấu hiệu mô tả các đặc tính, bản chất vốn có của hàng hóa, dịch vụ giống/ tương tự với TTM (thành phần tên riêng của TTM) được coi là hành vi hợp pháp của chủ thể mà không phải được sự đồng ý/ cho phép hay gặp phải sự ngăn cấm của chủ sở hữu TTM Tuy nhiên, trong trường hợp
có xung đột hay tranh chấp về việc sử dụng cái tên này thì các bên buộc phải đưa ra được các dẫn chứng cụ thể để chứng minh quyền của mình mới là hợp pháp và được bảo hộ
Như vậy, trừ trường hợp quy định tại Điều 125.2.h Luật SHTT thì một khi TTM đã được pháp luật bảo hộ thì bất kỳ việc sử dụng TTM nào không
Trang 27do chủ sở hữu TTM thực hiện hoặc cho phép/ ủy quyền thực hiện thì đều bị coi là hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM và chủ sở hữu có quyền ngăm cấm việc sử dụng đó
1.2 Khái quát chung về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
1.2.1 Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Để có một cách hiểu tổng quan nhất về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, trước hết, xin dẫn chiếu một vài định nghĩa về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM/ xâm phạm TTM trong các văn kiện quốc tế và trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, như sau:
Pháp luật Philippines quy định “bất kỳ việc sử dụng sau TTM bởi một
bên thứ ba nào, cho dù là dưới một TTM, nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu tập thể, hoặc bất kỳ việc sử dụng một TTM, nhãn hiệu tương tự, có khả năng gây nhầm lẫn/ đánh lừa công chúng, sẽ bị coi là bất hợp pháp” [34, Đ 165.2 (b)]
Theo đó, bất kỳ hành vi sử dụng sau một TTM, một nhãn hiệu của một chủ thể thứ ba tương tự với TTM của người khác đã sử dụng trước mà có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng – bất kỳ những ai tiếp xúc với TTM đó
sẽ bị coi là hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, Bộ luật SHTT của Phillipines lại không có quy định cụ thể giải thích thế nào là “nhầm lẫn/ đánh lữa”; về nội dung/ vấn đề mà chủ thể có thể bị nhầm lẫn/ đánh lừa (chẳng hạn nhầm lẫn về xuất xứ của chủ thể kinh doanh đã ra đời trước đó
và đang có hoạt động kinh doanh, nhầm lẫn về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ do một chủ thể kinh doanh khác phân phối, cung cấp trên thị trường hay về sự liên quan giữa các chủ thể kinh doanh ) Những vấn đề này sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào sự lý giải, kiến thức khoa học pháp lý, kinh nghiệm của các thẩm phán và vào tiền lệ xét xử
Trang 28Khác với pháp luật của Philippines, khi chỉ quy định về đối tượng của hành vi là TTM – tên mà một doanh nghiệp sử dụng để cá thể hóa hoạt động kinh doanh của mình trong các quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh của mình, thì pháp luật liên bang của Mỹ có quy định mở rộng đối tượng của hành vi ngoài TTM, còn là bất kỳ dấu hiệu mô tả gây ra sự nhầm lẫn cho chủ thể tiếp cận các dấu hiệu đó về mối quan hệ, sự liên quan trong quan hệ kinh doanh, thương mại với một chủ thể khác, cụ thể như sau:
Việc sử dụng trong thương mại bất kỳ từ ngữ, thuật ngữ, tên, biểu tượng hoặc thiết bị hoặc bất kỳ sự kết hợp của các yếu tố đó, hoặc bất kỳ chỉ định sai xuất xứ, mô tả sai hoặc gây hiểu lầm về thực tế, hay sự đại diện sai hoặc gây hiểu lầm về thực tế:
(i) Có thể gây ra sự mơ hồ, hoặc gây nhầm lẫn, hoặc đánh lừa như:
- các liên kết, kết nối, hoặc hiệp hội của người đó với người khác; hoặc
- Liên quan đến nguồn gốc, sự tài trợ, hoặc chấp thuận từ người khác cho hàng hóa, dịch vụ, hoặc các hoạt động thương mại của người đó, hoặc
(ii) Trong quảng cáo hay xúc tiến thương mại, xuyên tạc tính chất, đặc điểm, phẩm chất, hay nguồn gốc địa lý của người đó với hàng hoá, dịch vụ, hoặc các hoạt động thương mại của người khác
Thì sẽ phải chịu trách nhiệm trong một vụ kiện dân sự của bất kỳ người nào cho rằng mình bị thiệt hại do hành vi của người đó gây ra [36, Đ 43.a.1]
Như vậy, có thể thấy dù quy định có khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM theo luật pháp của một số quốc gia trên thế giới đều thể hiện một số nội dung cơ bản sau:
Trang 29 Chủ thể xâm phạm là bất kỳ người nào (cá nhân, tổ chức) với tư cách là người thứ ba – người có nghĩa vụ không xâm phạm và không có hành vi cản trở
chủ sở hữu của TTM thực hiện các quyền năng của mình đối với TTM;
Hành vi đó (i) là hành vi thực tế và là (ii) hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại (TTM, nhãn hiệu, từ ngữ, thuật ngữ, biểu tượng…) trùng hoặc
tương tự với TTM của một người khác đã được sử dụng trước đó;
Mục đích của việc thực hiện hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại của chủ thể thực hiện hành vi là nhằm gây ra sự mơ hồ, nhầm lẫn cho các chủ thể đối tác khi tham gia thực hiện giao dịch với chủ thể có hành vi xâm phạm với nội dung muốn gây nhầm lẫn là: về chủ thể kinh doanh, các hoạt động kinh doanh, các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… có mối liên hệ, liên kết mật thiết
với chủ thể mang TTM bị xâm phạm;
Pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về Bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, TTM và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN, theo đó, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM
Là mọi hành vi sử dụng bất kỳ chỉ dẫn thương mại nào trùng hoặc tương tự với TTM của người khác cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM đó [9, Đ 20]
Hiện nay, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM được pháp luật Việt Nam quy định như sau:
Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với TTM của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về
Trang 30chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với TTM [27, Đ 129.2] Như vậy, khái niệm hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM theo pháp luật hiện hành của Việt Nam khá tương thích với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Từ các đặc điểm trên, có thể khái quát khái niệm hành
vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM như sau:
Hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM là hành vi vi phạm quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ đối với TTM và có lỗi do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện làm xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Trong đó, hành vi vi phạm pháp luật là bất kỳ hành vi sử dụng sau TTM hoặc các chỉ dẫn thương mại trong hoạt động kinh doanh, thương mại của một chủ thể không có mối quan hệ sở hữu, phụ thuộc, liên quan và không dựa trên cơ sở liên kết, liên doanh, hợp tác với chủ sở hữu TTM nhằm gây ra sự mơ hồ, nhầm lẫn cho các chủ thể đối tác khi tham gia thực hiện giao dịch với chủ thể có hành vi xâm phạm về mối quan hệ giữa chủ thể này với chủ sở hữu TTM
1.2.2 Các yếu tố tạo thành một hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM
Trong khoa học pháp lý, hành vi của chủ thể là một hành vi pháp lý, được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, được thực hiện bởi các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật dân sự Hành vi của một chủ thể là sự thể hiện ý chí bên trong của chủ thể ra bên ngoài thế giới khách quan và tác động lên thế giới khách quan một hậu quả pháp lý nhất định nhằm thỏa mãn những lợi ích nhất định của chủ thể đó Như vậy, một hành vi pháp lý của một chủ thể được tạo thành từ các yếu tố cơ bản là: hành vi, hậu quả và mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả Theo đó, đối chiếu với quy định tại Điều 129.2 Luật
Trang 31SHTT thì hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM được tạo thành bởi các yếu tố sau:
Thứ nhất, về hành vi: hành vi pháp lý, xét trên tiêu chí hành động của chủ thể, được chia thành hai dạng: hành động và không hành động Trong pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với TTM, hành vi xâm phạm quyền SHCN phải được thể hiện dưới dạng hành vi là hành động, bao gồm các hành
vi được quy định tại Điều 130.3 Luật SHTT, đó là (i) Hành vi gắn chỉ dẫn
thương mại lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao
dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; và (ii) Hành vi bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hóa có gắn chỉ dẫn thương mại Các
chỉ dẫn/ dấu hiệu thương mại được gắn có thể dưới dạng các đối tượng quyền SHCN được pháp luật quy định như nhãn hiệu, TTM, chỉ dẫn địa lý; hoặc có thể là các dấu hiệu thương mại mang tính chỉ dẫn, gồm biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng bao bì của hàng hóa, nhãn hàng hoá Theo đó, hành vi bị xem xét là xâm phạm quyền SHCN đối với sử dụng TTM được đặt ra đối với các hành vi tác động trực tiếp lên hoạt động kinh doanh, lên hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ của một chủ thể kinh doanh khác
Thứ hai, về hậu quả: tồn tại sự nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ
sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM của chủ thể khác, nhầm lẫn
về hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ do chủ thể kinh doanh khác sản xuất, cung cấp, phân phối trên thị trường Pháp luật dân sự nói chung và pháp luật SHTT nói riêng đều có ghi nhận về sự nhầm lẫn nhưng lại không có khái niệm, định nghĩa hoặc sự giải thích một cách chính thống thế nào là “nhầm lẫn” Trong giao dịch dân sự, nhầm lẫn là sự hiểu không đúng về một sự vật, sự việc Theo đó, trong pháp luật về quyền SHCN đố với TTM, nhầm lẫn là sự hiểu không đúng, không chính xác về nguồn gốc, xuất xứ phân phối, chủ sở hữu, chủ thể cung ứng ra thị trường, cơ sở kinh doanh, dây chuyền sản xuất của
Trang 32sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Bởi thế nên, một sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, phân phối, tiêu thụ trên thị trường bởi một chủ thể lại bị cho rằng/ coi là của hay có liên quan đến một chủ thể kinh doanh khác mà giữa các chủ thể này không có bất kỳ sự thỏa thuận nào về việc phân phối cùng hay tương tự một sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
Thứ ba là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng/ tương tự với TTM của người khác gây ra sự nhầm lẫn về chủ thể, cơ sở và hoạt động kinh doanh dưới TTM đó – hay nói cách khác: sự nhầm lẫn về chủ thể, cơ sở và hoạt động kinh doanh dưới một TTM của người khác có được/ xuất hiện bởi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng/ tương tự với TTM đó Đây là mối liên kết chặt chẽ giữa hành vi bên ngoài và mục đích/ ý chí bên trong của chủ thể có dấu hiệu vi phạm bởi chỉ khi nhận thức được sự tồn tại của một chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh của chủ thể đó cùng với các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do chủ thể đó sản xuất, cung ứng, phân phối, tiêu thụ trên thị trường dưới một TTM nhất định và ý thức được về hậu quả của hành vi sử dụng các chỉ dẫn thương mại trùng/ tương tự với TTM để xác lập giao dịch với người tiêu dùng, khách hàng, đối tác, bạn hàng… thì một chủ thể khác mới cố tình thực hiện hành vi
sử dụng các chỉ dẫn thương mại trên thực tế
Như vậy, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM theo pháp luật SHTT cũng là một dạng hành vi pháp lý trong khoa học pháp lý nói chung và được tạo thành bởi ba yếu tố có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó là hành vi pháp lý, hậu quả pháp lý và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Theo đó, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, sẽ dẫn đến hậu quả là: gây ra tổn thất, thiệt hại không chỉ về vật chất mà còn đối với uy tín, danh tiếng của chủ thể quyền sở hữu TTM Tuy nhiên, ngoài mức độ nghiêm trọng của hành vi và các yếu tố tạo thành hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
Trang 33TTM thì giá trị/ mức độ thiệt hại, tổn thất mà chủ thể có TTM phải gánh chịu còn phụ thuộc vào mức độ nổi tiếng, được biết công chúng biết đến của chủ thể có TTM Theo đó, những doanh nghiệp càng nổi tiếng, càng được công chúng biết đến rộng rãi thì thiệt hại, tổn thất mà doanh nghiệp có thể gánh chịu sẽ càng lớn
1.2.3 Quy định về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM trong pháp luật Việt Nam từ trước khi ban hành Luật SHTT 2005
Tại Việt Nam, cho đến trước khi Luật SHTT năm 2005 ra đời, thì việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM không được quy định một cách cụ thể, rõ ràng mà được quy định một cách chung chung về nội dung và tản mạn trong các văn bản pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau, có giá trị pháp lý khác nhau và do nhiều cơ quan khác nhau ban hành, bao gồm: Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 97 về tên gọi của pháp nhân), Nghị định số 63-CP ngày 24/10/1996 và Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/2/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63-CP của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN (Điều 6.1.f về khả năng phân biệt của Nhãn hiệu hàng hóa), Luật Thương mại năm 1997 (Điều 20, Điều 24 về TTM là nội dung bắt buộc một thương nhân phải có khi đăng ký kinh doanh
và cấu tạo của TTM), Luật Doanh nghiệp năm 1999 (Điều 14, Điều 21 về tên doanh nghiệp là nội dung đăng ký kinh doanh), Bộ luật hình sự năm
1999, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫ địa lý, TTM và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN (Điều 20 về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM) Tuy nhiên, việc bảo hộ TTM, cơ chế chống hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM thông qua các quy định pháp luật nêu trên đạt hiệu quả thấp bởi các lý do sau:
Trang 34Pháp luật nội dung điều chỉnh về các chủ thể kinh doanh chưa có sự thống nhất về chủ thể áp dụng, chủ thể liên quan đến hoạt động kinh doanh được quản lý trong mỗi văn bản pháp luật là khác nhau: Bộ luật Dân sự không đề cập đến tên gọi của tổ hợp tác, hộ gia đình; Luật Thương mại chỉ
áp dụng cho thương nhân – bao gồm các cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại (bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại) nhưng không áp dụng đối với những người buôn bán rong, quà vặt có vốn kinh doanh, doanh thu, thu nhập thấp (Điều 2.2 Luật Thương mại năm 1997); Luật Doanh nghiệp không áp dụng cho Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Điều 1.2 Luật Doanh nghiệp năm 1999)
Hành vi xâm phạm quyền đối với TTM được xác định cụ thể trong Điều 20 và Điều 21.2 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP, theo đó, hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với TTM là:
Mọi hành vi sử dụng bất kỳ chỉ dẫn thương mại nào trùng hoặc tương tự với TTM của người khác cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM đó” và hành vi đưa các thông tin sai lạc về TTM [9, Đ 20]
Tuy nhiên, giá trị pháp lý của văn bản này không cao bởi đây là một văn bản của Chính phủ, mang tính dưới luật, hướng dẫn văn bản luật, trong khi đó, liên quan đến việc thực thi và bảo hộ quyền SHCN đối với TTM không được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự Ngoài ra, quy định của điều luật này mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các dạng hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM chứ chưa có quy định cụ thể hướng dẫn về các yếu tố tạo thành hành vi, về căn cứ, về cách thức xác định hành vi xâm phạm quyền
Trang 35SHCN đối với TTM trên thực tế cũng như về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý có liên quan đến tên của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh dưới một cái tên nhất định của chủ thể kinh doanh, đặc biệt là đối với một đối tượng mà căn cứ xác lập không theo thủ tục đặng ký tại một cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về SHCN và hoạt động kinh doanh, sử dụng đối tượng này cũng dễ gây nhầm lẫn với các đối tượng về tên của chủ thể kinh doanh, thuộc các ngành luật khác cùng điều chỉnh [1]
Chính sự tản mản, rời rạc, thiếu rõ ràng trong các văn bản có giá trị pháp lý khác nhau như trên gây khó khăn trong việc xác định chính xác hành
vi xâm phạm, mức độ xâm phạm và hậu quả của việc xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, từ đó, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý của cơ quan chức năng trong việc xác định chế tài phù hợp trong việc xử lý các hành vi xâm phạm đó, từ đó khiến cho công tác quản lý TTM, tên doanh nghiệp, tên của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả thấp, tình trạng xâm phạm quyền SHCN đối với TTM khó kiểm soát và ngày càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong tiến trình Việt Nam đang xin gia nhập WTO Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết là Việt Nam phải có một văn bản quy định một cách tập trung, thống nhất các chế định về bảo hộ quyền SHCN đối với TTM nói riêng và quyền SHTT nói chung
1.2.4 Ý nghĩa của việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Với ý nghĩa quan trọng của TTM – trong vai trò khẳng định sự uy tín của doanh nghiệp – chủ sở hữu TTM trước các chủ thể khác trong các mối quan hệ thì việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM cũng mang ý nghĩa quan trọng không kém không chỉ đối với chính chủ sở hữu TTM mà còn đối với tất cả các chủ thể trong mối quan hệ với chủ sở hữu TTM, đó là đối tác, bạn hàng, người tiêu dùng và các cơ quan thực thi pháp
Trang 36luật liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với TTM ở Việt Nam
Trong các chủ thể có liên quan đến TTM, có thể nói, chủ sở hữu TTM chính là chủ thể chịu ảnh hưởng tức thì và trực tiếp nhất từ hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chính mình và sự thịnh vượng, tồn vong của chính doanh nghiệp mình, chủ sở hữu TTM buộc phải đồng thời biết được phạm vi và nội dung quyền của mình; đồng thời phải nhận diện được chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM của chủ thể thứ ba – hành vi sử dụng không được sự cho phép, đồng ý của chủ sở hữu Việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM sẽ giúp chủ sở hữu chủ động thiết lập được hệ thống, cơ chế bảo
hộ phù hợp, hữu hiệu, nhằm ngăn chặn kịp thời và hợp pháp các hành vi xâm phạm quyền đối với TTM từ các chủ thể khác có liên quan đến TTM, đó có thể là hệ thống các quy định pháp luật, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tài phán, các chế tài xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM (bao gồm biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp dân sự); đó còn là hệ thống bảo vệ do chính chủ sở hữu thiết lập ra để tự bảo
vệ quyền của mình trước khi tìm kiếm sự can thiệp từ phía Nhà nước Chỉ khi xác định chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM thì chủ sở hữu TTM mới lựa chọn, quyết định phương pháp, cách thức, biện pháp bảo vệ mình một cách hiệu quả nhất, đồng thời, hạn chế được một cách tối đa các hành vi sử dụng trái phép, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền SHCN đối với TTM
Một khi doanh nghiệp đã khẳng định được vị trí trên thị trường tiêu dùng thì TTM của doanh nghiệp đó sẽ có vị trí/ chỗ đứng quan trọng trong tâm trí người tiêu dùng – đồng nghĩa với các sản phẩm do doanh nghiệp mang cái tên đó đưa ra công chúng thì chắc chắn sẽ nhận được sự phản hồi một cách tích cực từ thị trường, được chấp nhận một cách nhanh chóng và dễ dàng
Trang 37hơn so với sản phẩm cùng loại những doanh nghiệp khác Vì thế, đối với người tiêu dùng, TTM không chỉ là đơn thuần là một cái tên gọi của doanh nghiệp mà sâu xa hơn, đó là hiện diện của sự tin tưởng và sự an toàn – điều
mà mọi người tiêu dùng luôn tìm kiếm Theo đó, xác định chính xác sản phẩm, mặt hàng của doanh nghiệp uy tín trong vô vàn hàng giả, hàng nhái đan xen với hàng thật tràn lan khắp thị trường tiêu dùng mang lại ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người tiêu dùng bởi chỉ khi nhận diện được chính xác và kịp thời hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng không phải do doanh nghiệp uy tín phân phối, cung cấp, bày bán trên thị trường thì người tiêu dùng mới tẩy chay được hàng kém chất lượng, tẩy chay những doanh nghiệp “ăn cắp” uy tín của người khác ra khỏi thị trường tiêu dùng để tự bảo vệ chính mình, từ đó, tạo điều kiện thanh lọc một thị trường tiêu dùng với bên cung là những doanh nghiệp chân chính, nền thị trường lành mạnh, trung thực, qua
đó, người tiêu dùng mới có thể được tiếp cận, thụ hưởng một cách xứng đáng các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ cả những doanh nghiệp tin cậy, uy tín
Việc phân tích, xác định chính xác các yếu tố tạo thành của hành vi cũng như chính hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM không chỉ có ý nghĩa đối với chủ sở hữu, người tiêu dùng, mà còn mang lại những ý nghĩa tích cực và thực tế cho các cơ quan thực thi pháp luật về quyền SHCN đối với TTM nói riêng và cho hệ thống thực thi pháp luật SHTT nói chung Về phía các cơ quan nhà nước, việc phát hiện, xác định được chính xác hành vi mạo danh tên tuổi, uy tín của doanh nghiệp chân chính để trục lợi, xâm phạm quyền SHCN đối với TTM của chủ sở hữu sẽ giúp các cơ quan chức năng liên quan xác định bản chất của hành vi, xác định được các quan hệ xã hội bị xâm hại, các chủ thể bị xâm hại, phạm vi, mức độ và tính chất của hành vi, qua đó, giúp các cơ quan chức năng thực thi đúng đắn thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của mình trong việc xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
Trang 38TTM cũng như trong phạm vi phối hợp với các cơ quan thực thi pháp luật khác trong hệ thống thực thi pháp luật chung; lựa chọn chế tài phù hợp để xử
lý triệt để, thích đáng hành vi xâm phạm, bảo đảm quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu TTM trước các hành vi xâm phạm Thông qua đó, vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực SHTT nói chung và SHCN đối với TTM nói riêng được phát huy, quy định của pháp luật trong việc bảo hộ, chống lại hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với TTM nói riêng được thực thi một cách có hiệu quả, lợi ích của các chủ thể liên quan, trong đó có chủ sở hữu quyền và người tiêu dùng được bảo đảm đảm, và bảo vệ được sự phát triển phồn thịnh của nền kinh tế nước nhà
Bên cạnh đó, thông qua thực trạng xâm phạm và thực tiễn xử lý vi phạm đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM, những lỗ hổng, bất cập trong các chế định pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền SHCN đối với TTM nói chung và hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM nói riêng sẽ có cơ hội được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn áp dụng và thực thi pháp luật Từ đó, hệ thống pháp luật thực thi quyền SHCN đối với TTM có cơ hội được xem xét, thay đổi, hoàn thiện để phù hợp hơn với thực tế phức tạp và luôn biến động với vô số những vấn nạn thiên biến vạn hóa mà những chủ thể kinh doanh bất chính muốn trục lợi trên công sức của các doanh nghiệp chân chính khác
Trang 39Ở Việt Nam, mặc dù ra đời và tồn tại tương đối lâu, có thể nói là trước nhiều so với các đối tượng SHTT khác, tuy nhiên, TTM lại được bảo hộ với
tư cách là đối tượng quyền SHCN sau so với các đối tượng khác, nhưng không vì thế mà tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM lại bị đặt dưới so với việc bảo hộ các đối tượng khác của quyền SHCN bởi TTM là một nội dung không thể thiếu của bất kỳ chủ thể nào khi muốn thực hiện hoạt động kinh doanh bởi đặc tính đặc định hóa, cụ thể hóa một chủ thể nhất định nhằm phân biệt chủ thể đó với các chủ thể khác trong hoạt động kinh doanh và bởi, để có được một TTM đặc biệt, độc đáo, ấn tượng, chủ sở hữu TTM cũng phải đầu tư không ít tư duy, sáng tạo cho cái tên này Vì cũng
là một sản phẩm trí tuệ có giá trị đối với chủ thể kinh doanh nên TTM cũng là một đối tượng rất dễ bị xâm phạm bởi các chủ thể khác vì nhiều lý do, động
cơ và mục đích khác nhau mà nổi cộm nhất vẫn là nhằm gây ra sự nhầm lẫn
về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới TTM cho người tiêu dùng và các đối tác, bạn hàng trên thị trường
Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM cũng như việc xác định chính xác hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM là một vấn
đề hết sức quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn, đặc biệt là đối với chính
Trang 40chủ sở hữu TTM, bởi các độc quyền, bao gồm quyền sử dụng TTM, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM, quyền chuyển nhượng quyền SHCN đối với TTM, mà chủ sở hữu được hưởng từ sự công nhận và sự bảo hộ của pháp luật; sau đó là đối với người tiêu dùng bởi sự yên tâm khi được tiếp cân với sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) chất lượng tốt do các doanh nghiệp uy tín cung cấp và cuối cùng là đối với các cơ quan chức năng bởi có được công cụ pháp
lý sắc bén nhằm ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM Đến nay, sau một thời gian tương đối dài, pháp luật SHTT đã dần dần được hoàn thiện, củng cố hơn với các quy định tương đối chặt chẽ, từ văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là luật SHTT đến các văn bản hướng dẫn thi hành, phần nào đã khẳng định được tầm quan trọng của việc bảo hộ TTM cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với TTM và thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp với tính chất và mức độ của mỗi dạng hành vi