1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)

176 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)(Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRẦN MINH CHÍNH

SINH HO¹T V¡N HãA QUAN Hä LµNG

(QUA TRƯỜNG HỢP LÀNG QUAN HỌ VIÊM XÁ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

Mã số: 62 31 06 04

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS PHẠM DUY ĐỨC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo qui định

Tác giả

Trần Minh Chính

Trang 3

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 2: SINH HOẠT VĂN HÓA QUAN HỌ LÀNG CỔ TRUYỀN Ở

2.1 Làng Viêm Xá - không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ tiêu biểu 37

2.5 Văn hóa giao tiếp, ứng xử và tục kiêng hèm 61

Chương 3: SINH HOẠT VĂN HÓA QUAN HỌ LÀNG Ở LÀNG VIÊM XÁ

3.1 Không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ làng 72

3.5 Văn hóa giao tiếp, ứng xử và tục kiêng hèm 101

Chương 4: BẢO TỒN, PHÁT HUY SINH HOẠT VĂN HÓA QUAN HỌ

Trang 4

CLBQH : Câu lạc bộ Quan họ CCTT : Cơ chế thị trường CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DSVHPVT : Di sản văn hóa phi vật thể DSVHVT : Di sản văn hóa vật thể DCQH : Dân ca Quan họ

KT-XH : Kinh tế - xã hội KTTT : Kinh tế thị trường

SHVHQHL : Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng TCH : Toàn cầu hóa

TG : Tác giả luận án

VHQHL : Văn hóa Quan họ làng VHTT : Văn hóa thông tin VHTT&DL : Văn hóa, Thể thao và Du lịch XHQHL : Xã hội Quan họ làng

Trang 5

Trang

Bảng 3.2: Bảng so sánh giữa bài hát Quan họ hát "đủ" và một bài Quan họ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân ca Quan họ là một trong những di sản văn hóa phi vật thể có giá trị to lớn không chỉ đối với nhân dân vùng Kinh Bắc - nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng Quan họ -

mà còn đối với cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam và toàn thể nhân loại Vào lúc 16h55' ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại thủ đô Abu Đhabi của các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất, Ủy ban UNESCO của Liên hợp quốc đã công nhận Quan họ Bắc Ninh

là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại dựa trên các giá trị văn hóa, giá trị lưu trữ tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, phong cách ứng xử văn hóa, ca từ và trang phục Đó thực sự là một viên ngọc quý đã tỏa sáng nhiều thế kỉ trong dòng chảy văn hóa đa sắc màu của các loại hình dân ca Việt Nam Trải qua thời gian, dân ca Quan

họ phát triển rực rỡ đến mức, đã tạo nên quanh nó cả một bản sắc văn hóa riêng - đó là Văn hóa Quan họ, với những biểu hiện sinh hoạt phong phú, từ đời sống tâm linh, tín ngưỡng đến những phong tục tập quán, trang phục và lề lối giao tiếp ứng xử, ca hát… vừa độc đáo, vừa thấm đượm tính chất cộng đồng Và đến lượt mình, các sinh hoạt văn hóa Quan họ đã nuôi dưỡng để dân ca Quan họ tồn tại và phát triển Nhìn nhận từ mối quan hệ biện chứng, hữu cơ ấy, có thể thấy, khi sinh hoạt văn hóa Quan họ đổi thay và phát triển thì dân ca Quan họ cũng đổi thay và phát triển Do đó, muốn bảo tồn, phát huy dân ca Quan họ, trước hết phải nghiên cứu thực trạng của sinh hoạt văn hóa Quan

họ trong sự kế thừa, tiếp nối liên tục của nó với sinh hoạt Quan họ cổ truyền Ở đây là sinh hoạt văn hóa Quan họ làng Nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng chính là nghiên cứu môi trường sống, môi trường phát triển của dân ca Quan họ gắn với hạt

nhân cốt lõi của nó là bản thân các sinh hoạt ca xướng

Mặt khác, có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XX cho đến nay, đất nước ta có nhiều biến động lớn và sâu sắc cả về kinh tế, chính trị và xã hội, đặc biệt là thời kì đổi mới, đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập Văn hóa truyền thống, trong đó có dân ca Quan họ đã đứng trước những thử thách, va đập mạnh mẽ với văn hóa ngoại nhập, với những biến đổi về lối sống, nếp sống và đặc biệt là xu hướng đô thị hóa làm thay đổi không chỉ những vùng ven đô thị mà cả

Trang 7

những vùng nông thôn rộng lớn, trong đó vùng Quan họ không phải là một ngoại

lệ Rõ ràng, nguy cơ mai một hoặc biến dạng của Quan họ là một sự thật hiện hữu Trong bối cảnh đó, đòi hỏi sinh hoạt văn hóa Quan họ làng cần phải được bảo tồn như thế nào để vừa bảo lưu tối đa những giá trị truyền thống căn cốt; vừa phát huy, phát triển để đáp ứng nhu cầu của con người hiện đại và môi trường văn hóa hiện nay

Như vậy, đặt vấn đề nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng là hết sức cần thiết

Tuy nhiên, điểm lại tình hình nghiên cứu dân ca Quan họ từ thế kỷ XX đến nay, mặc dù đã có nhiều thành tựu; trong đó có một số công trình in thành sách, các bài nghiên cứu riêng đã có đề cập tới sinh hoạt văn hóa Quan họ làng cổ truyền nhưng chưa có công trình nào chuyên tâm nghiên cứu về sinh hoạt văn hóa Quan họ làng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới Đây chính là giai đoạn lịch sử đầy biến động

và cũng giàu thành tựu của sự bảo tồn, phát triển dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc

Xuất phát từ những lí do kể trên, tôi lựa chọn đề tài: Sinh hoạt văn hóa

Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá) làm đề tài Luận án tiến sĩ

của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt nội dung:

Nghiên cứu sinh hoạt văn hóa Quan họ làng và xu hướng phát triển của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng trong tương lai

- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Làng thủy tổ Quan họ Viêm Xá và mối quan hệ

liên làng trong vùng Quan họ Kinh Bắc Khi xác định cách tiếp cận trường hợp để thực hiện đề tài, chúng tôi đã lựa chọn làng Quan họ Viêm Xá bởi một số điểm sau:

+ Đây là làng Quan họ gốc và được dân gian vùng Quan họ tôn vinh là làng Thủy tổ của Quan họ, nơi duy nhất có đền thờ Vua Bà - vị nữ thần được dân gian truyền tụng là người đã sáng tạo ra dân ca Quan họ, gây dựng nên làng Viêm Xá xưa

Trang 8

+ Làng Viêm Xá là làng Quan họ điển hình với một không gian văn hóa Quan họ tiêu biểu cho 49 làng Quan họ Người ta có thể tìm thấy ở đây một diện mạo toàn vẹn của các sinh hoạt Quan họ từ lề lối, giao tiếp - ứng xử, các hình thức diễn xướng, phong tục tập quán và điều quan trọng là khả năng giữ gìn văn hóa truyền thống của người dân nơi đây Viêm Xá còn là làng Quan họ có mối quan hệ kết nghĩa với các làng Quan họ cổ điển hình khác là Bịu Xim, Bịu Trung Đống Cao trên cơ sở của quan hệ Kết chạ - một phong tục rất cổ trong vùng

+ Viêm Xá là một trong hai trung tâm hội hát Quan họ lớn nhất vùng Quan

họ (cùng với Lim thuộc huyện Tiên Du) cho đến ngày nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, nhận diện các nội dung văn hóa của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng và vai trò của nó đối với đời sống dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc, từ đó đề xuất phương hướng và khuyến nghị bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng trong bối cảnh đất nước đổi mới, mở cửa và hội nhập

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về sinh hoạt văn hóa Quan họ làng vùng Kinh Bắc hiện nay

- Khảo sát, nghiên cứu đánh giá thực trạng của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng hiện nay trong mối quan hệ hữu cơ với sinh hoạt văn hóa Quan họ làng cổ truyền và tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội vùng Kinh Bắc thông qua nghiên cứu trường hợp Làng thủy tổ Quan họ Viêm Xá cùng mối quan hệ, giao lưu Quan họ giữa làng Quan họ tiêu biểu này với các làng kết nghĩa, các làng Quan họ khác trong vùng

- Nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, phương hướng, cơ chế chính sách

và các khuyến nghị cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng trong tình hình hiện nay

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

4.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn những vấn đề lý luận chung

về bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng Phát hiện những vấn đề mới về

Trang 9

phương diện lý luận của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng và vai trò của sinh hoạt văn hóa Quan họ làng trong giai đoạn hiện nay

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp nhận diện sinh hoạt văn hóa Quan

họ làng và việc bảo tồn, phát huy sinh hoạt văn hóa Quan họ làng nói riêng, sinh hoạt văn hóa truyền thống nói chung, trước hết là trên chính quê hương của loại hình dân ca này

- Nội dung, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong hệ thống các trường văn hóa nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn và làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý văn hóa, đặc biệt là quản lý văn hóa cơ sở vùng Quan họ Kinh Bắc

5 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 04 chương, 18 tiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài , trong phần Tổng quan tình hình nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào những kết quả tiếp cận theo hướng bàn

về Văn hóa Quan họ, về các thành tố (các mặt) của sinh hoạt văn hóa Quan họ Từ những thành quả chung đó của giới nghiên cứu, chúng tôi kế thừa và chọn cho đề tài của mình một nội dung nghiên cứu mới theo hướng tổng thể và chuyên sâu hơn Ở đây là sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (SHVHQHL)

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Cho đến nay đã có 2 luận án tiến sĩ về Quan họ và liên quan đến Quan họ

được bảo vệ tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Đó là các luận án:

- Hát Quan họ ở miền Bắc Việt Nam: "Khao khát khám phá nghệ thuật Quan

họ" của Lê Ngọc Chân [22] đã chỉ rõ mối quan hệ giữa quan họ với các môn nghệ

thuật Chèo, Chầu văn và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã Luận án cũng quan tâm ảnh hưởng của văn hóa Chăm đến một số tập tục văn hóa ở làng Viêm Xá như tục cưới, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như quan hệ tính giao trong giao du kết bạn Quan họ

- "Sự chuyển tải âm nhạc: âm nhạc dân gian, sự điều chỉnh và quá trình hiện

đaị hóa ở miền Bắc Việt Nam" của L.Meeker [69] đã dụng công nghiên cứu về các

chính sách của nhà nước Việt Nam đối với việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc Nội dung luận án của Bà cũng đề cập sâu sắc quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc giữ gìn truyền thống Bà cho rằng ở Việt Nam, việc bảo tồn di sản văn hóa được nhà nước hóa

Cả hai luận án trên đều là luận án triết học và bàn về Quan họ chủ yếu từ góc

độ âm nhạc, dân ca

- Hội thảo khoa học quốc tế: "Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương

đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)" của Bộ Văn hóa Thông tin

Trang 11

phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh [20] với sự tham gia của trên 100 nhà khoa học, trong đó có các nhà khoa học đến từ Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Lào, Malayxia

Tại hội thảo này, trong tham luận của các học giả nước ngoài, có một số tham luận đề cập trực tiếp tới dân ca Quan họ, tiêu biểu là:

GS.TS Tokumaru Yosihito, Đại học Không gian, Nhật Bản trong tham luận:

Mục đích của Hội nghị đã đánh giá cao việc Việt Nam chọn Di sản phi vật thể Quan

họ để ưu tiên bảo tồn, phát triển bên cạnh Di sản phi vật thể Âm nhạc Cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên Ông khẳng định: bằng việc quan tâm đến "truyền thống nhỏ" (chỉ Quan họ) chúng ta có thể quan tâm đến tương lai âm nhạc trên toàn thế giới

GS.TS Gisa Jahnichen, Đại học Frankfurt, Cộng hòa liên bang Đức trong bài tham luận: Truyền thống hát thi và triết học thông tin hiện nay tại Việt Nam

đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về dân ca Việt Nam của ông khi đưa vào bài viết của mình các loại dân ca nổi tiếng của Việt Nam như Ví giặm, Trống quân, Bài chòi, hát Đúm, hò Đối đáp, Quan họ để đối chiếu, so sánh và lập luận Ông nhấn mạnh đặc điểm "ứng tác, ứng ca" của Quan họ theo những qui tắc đặc biệt riêng Ông kết luận: cuộc sống của chúng ta được bảo vệ bằng chính những thể loại âm nhạc truyền thống phù hợp, ngay cả khi xung quanh chúng ta có những phương tiện thông tin hiện đại Theo ông, "hát Quan họ là một kiểu thức cuộc sống rất độc đáo, vì nó có ý nghĩa trong việc duy trì một nền âm nhạc bản địa vào đầu thế

kỷ XXI"

TS Lauren Meecker, Đại học Columbia, Hoa Kỳ trong bài tham luận Từ bài

hát ra đến sân khấu: Sinh hoạt Quan họ ở Việt Nam hiện nay, bà bàn về quan hệ

giữa Quan họ và nghệ thuật diễn xuất đã thay đổi như thế nào; về sân khấu trung gian giữa loại Quan họ cổ và Quan họ mới như thế nào Đây cũng là một trong những nội dung chính được nghiên cứu trong Luận án tiến sĩ của bà, như chúng tôi

đã nêu ở trên Đáng chú ý là bà đặt "Quan họ cổ" gắn với "Làng" - sinh hoạt văn hóa Quan họ làng, "Quan họ mới" gắn với "hiện đại" Đặc biệt, bà đặt khái niệm

"sinh hoạt Quan họ" tương ứng với khái niệm "chơi Quan họ" và "biểu diễn Quan

Trang 12

họ" tương ứng với "hát Quan họ" Theo bà , "chơi Quan họ" gắn với một hệ thống quy ước và hành động xã hội và cuộc chơi Quan họ không có khán giả như "hát Quan họ" trên sân khấu Như thế, "chơi quan họ" là một hiện tượng văn hóa tổng thể - là văn hóa Quan họ Bà nhận định "Sinh hoạt xã hội rất quan trọng đối với cách chơi Quan họ" Ở đây, trong tham luận này, bà cũng sử dụng khái niệm "Quan

họ làng" gắn với xã hội làng

GS Deborah Wong, Đại học California, Riverside, Hoa Kỳ trong tham luận:

Sự biến mất của văn hóa dân gian: một cách tiếp cận từ thế giới thứ nhất, sau khi

đưa ra hai ví dụ về âm nhạc dân gian đang tồn tại ở miền Nam nước Mỹ, ông đã liên

hệ trở lại để suy nghĩ về tương lai của Quan họ như thế nào? Ông đề cập đến 04 vấn

đề liên quan đến Quan họ:

+ "Ra quyết định": Trả lời cho câu hỏi ai quyết định lưu trữ quá khứ và quyết định tương lai Quan họ Họ sẽ là chính quyền, các nghệ nhân và toàn thể cộng đồng

sở tại nhập cuộc với một tinh thần "lôi kéo tích cực"

+ "Bối cảnh diễn xướng" (thực chất là không gian văn hóa Quan họ - cơ bản

là văn hóa Quan họ làng - TG): bối cảnh diễn xướng thường thay đổi theo thời gian đối với bất kỳ truyền thống nào… Đó là một thực tế có tính qui luật - không tốt, cũng không xấu, không tích cực cũng không tiêu cực Ông cho rằng, từ thế kỷ XIII Quan họ đã qua nhiều bối cảnh Ở đây, trong trường hợp này GS Deborah Wong nói về sự đổi thay (của dân ca) theo thời gian và đó là quy luật

+ "Chuyển giao và phương pháp giáo dục": Quan họ cần phải được "truyền lại" để tiếp tục sự tồn tại Ở đây có vai trò nghệ nhân và phương thức trao truyền giữa các thế hệ

+ "Lưu trữ và sự ủng hộ tích cực": Sưu tầm tư liệu về Quan họ là quí giá và

vô cùng cần thiết Tuy nhiên, lưu trữ để làm gì lại là một việc khác Quan họ cần phải được hoạt động Đặc điểm chủ yếu của di sản văn hóa phi vật thể là nó "được các cộng đồng và các nhóm tái tạo không ngừng" Ông khẳng định Quan họ tồn tại trong sự thay đổi có tính đương đại

TS Bountheng Souksaratd, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Lào

trong tham luận: Giá trị nghệ thuật trong dân ca Lào và trong hát Quan họ Việt Nam

Trang 13

nét tương đồng và dị biệt đã đưa ra một cách rất cụ thể các tương đồng và dị biệt giữa

dân ca Lào (Khắp Lăm) và Quan họ trên các mặt: Môi trường, kỹ thuật hát, làn điệu, nghệ thuật trình diễn, phương pháp truyền dạy, hệ thống bài bản, lịch sử lưu truyền Tuy nhiên, trên các mặt kể trên, ông cho rằng nét tương đồng nhiều hơn dị biệt

Như vậy, có thể thấy, tuy nghiên cứu về Quan họ của các tác giả nước ngoài chưa nhiều nhưng các kết quả cũng cho thấy Quan họ độc đáo ở chỗ nó là

"một kiểu thức cuộc sống" mà dường như là một "tiểu văn hóa" chứ không chỉ là một loại hình dân ca thuần túy Nó "chứa đựng" cuộc sống và những sinh hoạt văn hóa làng xã

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trước năm 1945

Qua tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi nhận biết được là trong khoảng nửa đầu thế kỷ XX tính đến trước Cách mạng Tháng Tám (1945), mảng đề tài Quan họ,

về cơ bản, chưa thật sự được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu Một số bài báo đăng tải trong thời kỳ này của các tác giả như Chu Ngọc Chi, Vũ Bằng, Dương Quảng Hàm, Việt Sinh, Toan Ánh, Minh Trúc v.v… thường chỉ tập trung vào việc giới thiệu một cách khái lược về loại hình hoặc bản thân một sinh hoạt cụ thể nào

đó của Quan họ Có thể lấy ví dụ:

- “Hát Quan họ” của Chu Ngọc Chi [23]

- “Nghe hát Quan họ một đêm ở Lũng Giang” của Việt Sinh [87]

- “Hát quan họ”, Minh Trúc [109]

- “Hội Lim” của Nguyễn Duy Kiện [61]

Trong số ít các tác giả kể trên, có phóng sự đăng nhiều kỳ của Minh Trúc viết khá kỹ về địa bàn và lề lối hát Quan họ trong hát canh, hát hội Đáng chú ý, tác giả nêu, ngoài các giọng thông thường của Quan họ như Bỉ, Sổng, Vặt còn có các giọng "Trên" mà theo ông biết các tài tử đặt tên là Giọng Đường bạn, Tình tang, Hừ

la, Xuống sông, Lên núi… các giọng "Trên" được sử dụng trong hát đối, khó hát

nhưng lại không hay bằng giọng Vặt Nhận xét quan trọng này khi ứng vào tình

hình phát triển Quan họ hiện nay ta thấy rất rõ là các bài Quan họ giọng Vặt được truyền dạy và sử dụng nhiều hơn hẳn các bài Quan họ lề lối

Trang 14

Đặc biệt, đáng chú ý hơn cả có Luận án tiến sĩ “Hát đối đáp nam nữ thanh

niên” của Nguyễn Văn Huyên được công bố vào năm 1934 Trong công trình rất có

giá trị này, Nguyễn Văn Huyên đã đề cập khá sâu sắc đến dân ca Quan họ nhất là hình thức hát đối và sinh hoạt Hội Lim - một lễ hội Quan họ lớn và tiêu biểu vào bậc nhất của vùng Quan họ

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu sau 1945 đến nay

Có thể thấy, từ 1945 đến 1954 là giai đoạn kháng chiến chống Pháp Trong thời gian khoảng 10 năm này, do chiến tranh, tình hình nghiên cứu không có dấu ấn

gì đáng kể

Từ hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954) đến đầu thế kỷ XXI, công tác nghiên cứu Quan họ đã được tiến hành liên tục và có bước phát triển đáng kể Trên thực tế đã có những công trình nghiên cứu công phu, dày dặn được in thành sách, thành giáo trình dạy học một cách khá toàn diện

Trong giai đoạn từ 1955 đến trước 1965 có các công trình nghiên cứu quan

trọng: "Tìm hiểu dân ca Quan họ" của Trần Linh Quý, Hồng Thao [84]; "Tìm hiểu

nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh" của Nguyễn Tiến Chiêu [25]; "Dân ca Quan họ Bắc Ninh" của Lưu Hữu Phước, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc [82]; "Quan

họ Bắc Ninh" của Nguyễn Viêm [120] Ngoại trừ tập nhạc của Nguyễn Viêm chủ

yếu ghi âm lại các bài Quan họ (60 bài), các công trình nghiên cứu còn lại đã đề cập đến nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển của dân ca Quan họ Tuy nhiên, do phần lớn là các nhạc sỹ làm nghiên cứu nên chủ yếu sản phẩm nghiên cứu vẫn thiên

về âm nhạc, sưu tầm các bài bản Hướng nghiên cứu liên ngành về Quan họ nói riêng và văn nghệ dân gian nói chung giai đoạn này vẫn chưa được áp dụng mà chủ yếu là nghiên cứu đơn ngành Vì vậy, Quan họ chưa thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện với tư cách là một hiện tượng văn hóa tổng thể

Đáng chú ý, trong các năm từ 1965 đến 1973, Ty Văn hóa Hà Bắc đã lần lượt tổ chức 5 hội nghị về Quan họ (vào các năm 1965,1967, 1969, 1971, 1973) để đánh giá tình hình nghiên cứu và phát triển Quan họ với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa trung ương và địa phương Kết quả là năm 1972 cuốn

kỷ yếu về một số hội nghị nói trên đã được xuất bản đánh dấu một bước tiến triển

Trang 15

quan trọng của công tác nghiên cứu Quan họ Cuốn kỷ yếu có tên: Một số vấn đề về

dân ca Quan họ (286 trang) đã trở thành tài liệu có tính chất công cụ của nhiều thế

hệ các nhà nghiên cứu Quan họ sau này

Từ năm 1975 sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất cho đến nay, công tác nghiên cứu Quan họ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần hình dung một cách khá toàn diện về dân ca Quan họ Kinh Bắc cả về nghệ thuật

ca hát và các sinh hoạt văn hóa phong phú của loại hình dân ca này

Năm 1978, nhóm tác giả Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã

công bố cuốn: Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển [65], đây là một công trình

nghiên cứu đồ sộ với 527 trang, gồm 6 phần, 12 chương Công trình đã được viết chủ yếu trên một kho tàng tư liệu điền dã công phu, rất có giá trị Trong số 3 tác giả của cuốn sách thì Trần Linh Quý và Hồng Thao là các nhà nghiên cứu công tác tại Sở Văn hóa Thông tin (VHTT) Hà Bắc Họ sống ngay trên mảnh đất của quê hương Quan họ và gắn bó cả đời với sự nghiệp nghiên cứu loại hình dân ca này Cuốn sách

đã đề cập tương đối toàn diện đến dân ca Quan họ từ nguồn gốc đến quá trình phát triển Có thể nói, đây là công trình đầu tiên cho thấy xu hướng nghiên cứu đa ngành, liên ngành về Quan họ với tư cách là hiện tượng văn hóa tổng thể mà trong đó bản thân sinh hoạt ca hát là một thành tố cốt lõi Về xu hướng này, mở đầu chương I: Sinh

hoạt Quan họ của nhân dân Hà Bắc, các tác giả viết:

Khi nói đến dân ca, người ta thường nghĩ ngay đến những làn điệu và những lời ca quen thuộc của dân ca đó Điều đó đúng nhưng chưa đủ, cần phải bổ sung những lối chơi cụ thể của từng làng "Lối chơi" là tiếng các nghệ nhân Quan họ thường dùng để chỉ toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Quan

họ mà mình tham gia Nói cách khác lối chơi là toàn bộ những mối quan hệ giữa người và người trong sinh hoạt văn nghệ Quan họ, và toàn bộ những gì làm nên, những gì góp phần vào mối quan hệ ấy Quan hệ ấy một phần thể hiện trong âm nhạc, trong lời ca; mặt khác, không kém phần quan trọng, còn thể hiện ở những quy ước về lề lối sinh hoạt (ví dụ lề lối hát, lề lối kết bạn, sự giao tiếp giữa các Quan họ), thể hiện ở ngay cử chỉ, trang phục, những tập tục khi ăn nói, lúc đứng ngồi… của các Quan họ [65, tr.19]

Trang 16

Có một điểm đáng chú ý là về sau này, các tác giả của công trình này, và hầu hết các nhà nghiên cứu khác đều gọi "sinh hoạt văn hóa Quan họ" mà không gọi "sinh hoạt văn nghệ Quan họ" Như vậy, Quan họ không bó hẹp trong một hiện tượng văn nghệ mà là một hiện tượng văn hóa tổng thể bao gồm trong nó nhiều sinh hoạt khác Đặc biệt, trong công trình này có tới 3 chương trong tổng số 12 chương được dành để nghiên cứu về người nghệ sỹ Quan họ Đây là một kết quả nghiên cứu khá toàn diện

và đầy đủ về người nghệ sỹ - nghệ nhân Quan họ từ đời sống tình cảm cho đến đời sống sáng tạo, ca hát của họ

Tác giả Trần Chính công bố công trình nghiên cứu: "Nghệ nhân Quan họ

làng Viêm Xá" [27] Đây là công trình nghiên cứu cho ta hình dung một cách cụ thể

về diện mạo sinh hoạt của đội ngũ nghệ nhân Quan họ Làng Viêm Xá trong thế kỷ

XX, và đây cũng là cuốn sách đầu tiên của một tác giả nghiên cứu về một làng Quan họ gốc Nội dung của công trình nghiên cứu này cũng nhìn nhận Quan họ không chỉ là một loại hình dân ca thuần túy về mặt âm nhạc và ca hát

Trung tâm Văn hóa Quan họ Bắc Ninh công bố công trình nghiên cứu:

"Dân ca Quan họ lời ca và bình giải" của Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh [56]

đã công bố một hệ thống hơn 400 lời ca Quan họ để rồi từ đó các tác giả đã dày công phân tích, đối sánh, phân loại đi tới xác định Quan họ có tới 213 làn điệu (dân

ca Quan họ gọi là "Giọng") Đây là nguồn tư liệu đáng quí cho việc tiếp tục quá trình nghiên cứu dân ca Quan họ Ở phần 2 - phần Bình giải lời ca tác giả Lê Danh Khiêm là người lần đầu tiên đưa ra một cách lý thú và có tính thuyết phục những lời bình giải, các điển cố, điển tích và các thuật ngữ trong hệ thống phong phú các lời

ca Quan họ mà trước đấy chưa có nhà nghiên cứu nào dụng tâm tìm hiểu kỹ Công trình Dân ca Quan họ lời ca và bình giải đã giúp hiểu biết rõ hơn, sâu sắc hơn giá trị văn chương, nghệ thuật vốn đã rất độc đáo của Dân ca Quan họ Bắc Ninh

Trung tâm Văn hóa Quan họ Bắc Ninh xuất bản công trình: "Một số vấn đề

về văn hóa Quan họ" [112] gồm nhiều bài nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác

nhau của sinh hoạt văn hóa Quan họ như lối chơi, nghệ thuật âm nhạc, lời ca… Trong công trình naỳ có bài viết của tác giả Lê Danh Khiêm đã bàn thêm và làm rõ hơn những tiêu chí về các làng Quan họ gốc mà trước đấy nhiều tác giả đã đề cập và

Trang 17

công bố kết quả nghiên cứu Đặc biệt, đến công trình nghiên cứu tập thể này, hầu hết các nhà nghiên cứu đã xử dụng khái niệm "Văn hóa Quan họ" như một sự mặc nhiên, khẳng định Quan họ là một hiện tượng văn hóa tổng thể chứ không đơn thuần chỉ là nghệ thuật ca hát

Nhạc sỹ Hồng Thao là một trong số ít các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Quan họ và cũng là tác giả để lại các công trình có giá trị nhiều mặt về dân ca Quan

họ, không chỉ về phương diện âm nhạc Ngoài các công trình viết chung, ông đã có

những công trình nghiên cứu riêng: "Dân ca Quan họ" của Hồng Thao [98] đã đi sâu

giải quyết nhiều vấn đề cơ bản về học thuật âm nhạc có tính chất chuyên sâu như thang âm - điệu thức, tiết tấu, bố cục và vấn đề lời ca Quan họ Không giống như nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc khác khi nghiên cứu Quan họ, Hồng Thao đã vượt ra khỏi những vấn đề âm nhạc thuần túy để nghiên cứu cả những vấn đề văn hóa Quan

họ như nguồn gốc, tên gọi, lề lối, phong tục tập quán, ứng xử, giao tiếp… Ông phân tích những biến đổi, mối quan hệ giữa "Quan họ cổ" và "Quan họ kim" Ông nhất quán quan điểm cần nghiên cứu Quan họ với tư cách là một hiện tượng văn hóa dân gian, do vậy ông luôn tìm cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp

đa ngành, liên ngành Trong công trình 300 bài Quan họ ông đã dành tới 20 năm để sưu tầm, ký âm, sắp xếp, chú giải kỹ lưỡng một hệ thống làn điệu và lời ca đồ sộ nhất

từ trước đến nay Đây là một kho tàng tư liệu có nhiều giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác nghiên cứu và bảo tồn, phát huy, phát triển Quan họ không phải chỉ cho ngày hôm nay

Năm 2006, năm bản lề của quá trình chuẩn bị hồ sơ khoa học về Không gian văn hóa Quan họ để tiến tới trình UNESCO công nhận Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) đại diện của nhân loại, UBND tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với Bộ Văn hóa thông tin (VHTT) tiến hành thu thập, lựa chọn một số công trình nghiên cứu về Quan họ từ trước tới nay (trong khoảng 100 năm, gối giữa thế

kỷ XX và XXI) để xuất bản thành sách Kết quả là tháng 4 năm 2006 cuốn sách

Vùng văn hóa Quan họ Bắc Ninh đã được Viện VHTT và Sở VHTT Bắc Ninh phối

hợp công bố đến bạn đọc Mục đích của cuốn sách, ngoài việc góp phần hoàn thiện

hồ sơ về Quan họ để trình Ủy ban UNESCO, còn cung cấp cho bạn đọc một "cách

Trang 18

nhìn toàn diện hơn khi tiếp cận với không gian Văn hóa Quan họ" [127, tr.10] Cuốn sách gồm 3 phần: (1169 trang):

- Phần I: Vùng Văn hóa Kinh Bắc;

- Phần II: Văn hóa Quan họ;

- Phần III: Âm nhạc Quan họ

Do không thể in tất cả các công trình nghiên cứu về Quan họ trong suốt gần

100 năm qua nên các nhà biên soạn đã tổ chức xây dựng một Thư mục không gian Văn hóa Quan họ rất công phu để phục vụ cho công tác tra cứu tìm hiểu về văn hóa Quan họ và vùng văn hóa Bắc Ninh - cái nôi của dân ca Quan họ Thư mục này được bố cục trong cuốn sách như một nội dung quan trọng, gồm 2 phần:

- Phần: Quan họ (gồm 579 công trình và bài viết)

- Phần: Vùng Văn hóa Bắc Ninh (gồm 319 công trình và bài viết)

Cũng trong năm 2006, để chuẩn bị hồ sơ cho việc trình UNESCO công nhận Dân ca Quan họ Bắc Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại,

Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch) đã phối hợp với Ủy

ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội thảo Quốc tế: Bảo tồn và phát

huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)

[20] có sự tham gia của gần 100 nhà khoa học, nhà quản lý văn hóa trong nước và quốc tế Với số lượng 64 bài tham luận (53 tham luận của các nhà khoa học trong nước, 11 tham luận của các nhà khoa học quốc tế) và với một chủ đề như tên của Hội thảo, đã cho thấy đây là một Hội thảo lớn nhất từ trước đến nay về Quan họ Bắc Ninh (tính từ 1965 đến nay đã có khoảng 10 hội nghị, hội thảo về Quan họ được tổ chức) Kết quả Hội thảo là cuốn kỷ yếu dày 867 trang được Viện VHTT (nay là Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) và Sở VHTT (nay là Sở VHTTDL) Bắc Ninh xuất bản năm 2006 Nội dung của Hội thảo tập trung vào các vấn đề: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quan họ trong xã hội hiện đại; tác động của quá trình

đô thị hóa, hiện đại hóa; công tác trao truyền, bảo lưu, tuyên truyền các giá trị văn hóa Quan họ; cơ chế chính sách tôn vinh nghệ nhân - báu vật sống của dân ca Quan họ; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý v.v… Có một điểm đáng chú ý là cuốn sách của nhiều tác giả này được lấy tên: Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo

Trang 19

tồn và phát huy Đây là lần đầu tiên, khái niệm Không gian văn hóa Quan họ được

sử dụng rộng rãi trong một diễn đàn khoa học lớn là hội thảo lần này Quan niệm

"Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh" được thể hiện trong bài Tổng kết Hội thảo

tác nhân loại của không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh [90, tr.823]

Ở một phương diện khác có liên quan đến không gian văn hóa Quan họ, trong bài phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS Nguyễn Tri Nguyên sau khi dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu có uy tín như: Trần Linh Quý, Hồng Thao, Đặng văn Lung, Nguyễn Tiến Chiêu, Nguyễn Đình Bưu v.v…đã viết: "các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích một cách sâu sắc và minh chứng một cách khá đầy đủ về tính tổng thể của văn hóa Quan họ: đó là những giá trị về phong tục, tập quán, về đức tin tín ngưỡng, về thế ứng xử và lối ứng xử

của người dân Quan họ, về sự kế thừa và phát triển"…[90, tr.32] Cũng trong bài đề

dẫn này, tác giả Nguyễn Tri Nguyên đã đặt khái niệm Văn hóa Quan họ liền kề với khái niệm Dân ca Quan họ [90, tr.25,35] Và theo cách lý giải của ông thì Văn hóa Quan họ bao gồm trong nó Dân ca Quan họ và các sinh hoạt văn hóa liên quan trực tiếp khác Rõ ràng, kết quả nghiên cứu đã cho thấy các sinh hoạt văn hóa Quan họ trong đó có dân ca Quan họ không chỉ góp phần chủ yếu tạo nên không gian văn hóa Quan họ mà còn là phần lớn bản thân không gian văn hóa ấy

Cuốn kỷ yếu còn một mảng tham luận rất quan trọng khác của các học giả nước ngoài, chúng tôi đã tổng hợp, phân tích ở mục 1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Tiếp theo Hội thảo quốc tế về Quan họ, Sở Văn hóa Thông tin Bắc Ninh tổ

chức Hội thảo: "Quan họ Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp bảo tồn" [91] đã nhận

Trang 20

được gần 30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương Đặc biệt Hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn, nhà quản lý ở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sở tại và đông đảo các nghệ nhân, các đại diện các làng, các đội Quan họ, các nghệ sĩ Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh Ngay sau đó, cuốn kỷ yếu: Quan họ Bắc Ninh, thực trạng và giải pháp bảo tồn đã được xuất bản Trong nội dung cuốn sách, một số các tham luận có liên quan đã được trình bày trong các hội thảo trước đấy (Hội thảo: định hướng xây dựng chương trình biểu diễn nghệ thuật của Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh (1997); Hội thảo: 35 năm hoạt động và trưởng thành của Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh (1969 - 2004) do Sở Văn hóa Thông tin tổ chức 2004) đã được bổ sung, công bố Đáng chú ý, trong cuốn sách, khi phát biểu về tầm ảnh hưởng của hiện tượng văn hóa Quan họ, nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên đã viết:

Văn hóa Quan họ và dân ca Quan họ được xem xét và tranh luận không chỉ trong bối cảnh và quá trình lịch sử phát triển cộng đồng của cư dân Bắc Ninh và cư dân ở Châu thổ Sông Hồng mà còn được xem xét và luận bàn trong bối cảnh thế giới hiện đại Có thể nói, Văn hóa Quan họ ở Bắc Ninh đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hóa từ nhiều châu lục khác nhau Nó là một hiện tượng có tính điển hình

để xem xét xu hướng âm nhạc dân gian trong bối cảnh liên văn hóa trên

thế giới hiện nay [80, tr.244]

Ở một khía cạnh khác, khi bàn về định hướng xây dựng chương trình cho Đoàn dân ca Quan họ, nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan đã phân tích: nếu như chúng ta đòi hỏi Đoàn dân ca Quan họ phải đồng thời "vừa đảm bảo giữ gìn, giới thiệu truyền thống, vừa đảm bảo tính chất sân khấu chuyên nghiệp, hấp dẫn người xem" thì thật lúng túng, vì:

nếu hiểu việc "bảo đảm, giữ gìn truyền thống" theo nghĩa sát hẹp thì cần giữ lại lề lối, phong cách hát và hệ bài bản Quan họ cổ truyền ở mức tối

đa như nó vốn có mà các nghệ nhân cao tuổi còn giữ lại tới nay Nhưng nếu muốn "đảm bảo tính sân khấu chuyên nghiệp, hấp dẫn người xem" thì chắc chắn không thể chỉ đưa nguyên xi lối hát cổ của các cụ lên sân

Trang 21

khấu mà không có những thay đổi, thêm bớt Giữ gìn truyền thống và phát triển lên sân khấu chuyên nghiệp là hai nhiệm vụ rất khác biệt, khó

có thể giao cả hai cho một đơn vị nghệ thuật, nhất là khi nó lại đảm nhiệm nhiệm vụ hoạt động như một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với những chỉ tiêu phải thực hiện theo kế hoạch nhà nước về số buổi biểu diễn và doanh thu [80, tr.84-85]

Và tác giả đã đề xuất việc bảo tồn, giữ gìn Quan họ truyền thống phải được trao cho Trung tâm Văn hóa Quan họ (Tại thời điểm ra đời của bài tham luận này, Bắc Ninh có Trung tâm Văn hóa Quan họ Trung tâm này, ngoài các nhiệm vụ khác

có nhiệm vụ nghiên cứu dân ca Quan họ) đảm nhiệm với các hoạt động nhằm phát động, khuyến khích người dân khôi phục các lề lối, tập tục, nếp sinh hoạt Quan họ

cổ truyền ở các thôn làng vùng Quan họ Ý kiến của GS Nguyễn Thụy Loan đã gợi nên những suy nghĩ có tính chất đường hướng, xu hướng liên quan đến vấn đề bảo tồn, phát huy dân ca Quan họ cả trước mắt và lâu dài

Trong bài tham luận Suy nghĩ về thực trạng và một số kiến nghị về bảo tồn,

phát huy di sản văn hóa Quan họ khi nhận xét về phương hướng và mục đích của Hội

thảo, tác giả Trần Minh Chính đã viết:

…các nhà tổ chức lại đặt ra yêu cầu rất hay là bàn về "Văn hóa Quan họ", chứ không chỉ bó hẹp loại hình dân ca này trong khuôn khổ một sự ca hát thuần túy Như vậy, đây thực sự là một Hội thảo đòi hỏi những đóng góp liên ngành để bàn về một NỀN VĂN HÓA mà bản thân sự ca hát chỉ là một thành tố hạt nhân, cốt lõi Quan họ lớn và có thể sẽ trường tồn chính là ở chỗ này Dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc đã đem lại cho chúng ta không chỉ những bài ca, những làn điệu mà là cả một nền văn hóa với biết bao khía cạnh hấp dẫn của nó: từ môi trường tự nhiên và văn hóa đến phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, giao tiếp, ngôn ngữ và cả cách cảm, cách nghĩ thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân bản của con người nơi đây [80, tr.90-91] Như vậy, tác giả đã khẳng định, Quan họ có một nền văn hóa riêng có - một hiện tượng văn hóa tổng thể được hình thành trên cơ sở các mối quan hệ hữu cơ của rất nhiều sinh hoạt văn hóa khác cùng với sinh hoạt ca hát Quan họ Về ý kiến này

Trang 22

có thể có nhà nghiên cứu sẽ cảm thấy băn khoăn về cụm từ "nền văn hóa", nhưng chắc chắn là phần lớn giới nghiên cứu sẽ không phải băn khoăn khi thừa nhận về một hình thái văn hóa Quan họ gắn liền với dân ca Quan họ mà nhờ đó Quan họ đã bộc lộ sự đặc sắc có một không hai của nó

Năm 2009 Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc đã

công bố công trình: "Tìm về cội nguồn Quan họ" [110] đã chỉ rõ các vấn đề về:

không gian văn hóa Kinh Bắc, nguồn gốc Quan họ, âm nhạc Quan họ, sinh hoạt Quan họ, trang phục Quan họ v.v… đều đã được đề cập đến trong một vài công trình nghiên cứu trước đó Đáng chú ý, chương 7: Thực trạng và giải pháp bảo tồn phát triển Quan họ có một số kiến giải, đề xuất như đưa ra phê phán về hai sự ngộ

nhận lớn: Một là: ngộ nhận về sự triệt tiêu không gian tinh thần, động lực tinh thần

của sinh hoạt văn hóa Quan họ khi cho rằng toàn cầu hóa, giao lưu hội nhập quốc tế

sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự bảo tồn, phát triển dân ca Quan họ mà không thấy rằng toàn cầu hóa, giao lưu hội nhập quốc tế sẽ thức tỉnh mạnh mẽ ý thức về bản sắc

văn hóa dân tộc [108, tr.225-333] Hai là: ngộ nhận về việc cải biên, nâng cao dân

ca Quan họ theo những tiêu chuẩn hiện đại của âm nhạc học thế giới Ở khía cạnh này, cuốn sách viện dẫn ý kiến của một số các nhà nghiên cứu danh tiếng như Mịch Quang, Trần Văn Khê, Nguyễn Thuyết Phong cho rằng âm nhạc học Phương Đông

là rất khác âm nhạc học Phương Tây, nếu cách tân không phù hợp sẽ là lố bịch, không thể chấp nhận Và, các tác giả đề xuất xây dựng một chiến lược đồng bộ, toàn diện để phát triển Quan họ [108, tr.233-245]

Trong khoảng thời gian cuối của thế kỷ trước đến thập niên đầu của thế kỷ XXI, một số công trình là luận án tiến sĩ về Quan họ của các tác giả trong nước đã

được công bố như luận án: Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển của Đặng

Văn Lung [66]; luận án: Những giá trị âm nhạc trong hát Quan họ của Nguyễn Trọng Ánh; luận án: "Tương đồng và khác biệt giữa hát Xoan, hát Ghẹo và Quan họ Bắc Ninh" của Phạm Trọng Toàn [108] đều là những công trình đã được các tác giả công bố từng phần trong một số công trình in chung hoặc trên các tạp chí chuyên ngành trước và sau khi công bố luận án

Năm 2012, Sở VHTT&DL Bắc Giang phối hợp với Nhà xuất bản (NXB) Văn hóa dân tộc công bố cuốn sách: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Quan họ

Trang 23

Bắc Giang Đây là kết quả của Hội thảo khoa học: Khai thác phát huy các giá trị

di sản dân ca Quan họ Bắc Giang Tại Hội thảo đã có 20 bài tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý văn hóa trong và ngoài tỉnh Nội dung cuốn sách cho thấy, trong những năm gần đây ở phía Bắc sông Cầu (thuộc địa phận tỉnh Bắc Giang) ngoài 5 làng gốc Quan họ được nhà nghiên cứu Trần Linh Quý công

bố lần đầu tiên (1971) cùng với bản đồ 49 làng Quan họ [93, tr.10] thì Bắc Giang

có tới gần 20 làng Quan họ khác mới được phát hiện trải dọc sông Cầu và ngoại

vi gần của con sông này Khi bàn về các làng Quan họ Bắc sông Cầu, đáng chú ý

có tham luận của PGS.TS Bùi Quang Thanh Năm 2006 ông đã cùng nhóm nghiên cứu khảo sát hàng tháng tại nhiều làng thuộc các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa tỉnh Bắc giang và kết quả thu nhận theo ông, có "nhiều mới lạ" [93, tr23] Ở các làng Bùi Kép, Bùi Bến thuộc xã Yên Lư huyên Yên Dũng; các làng Đình Cả (Quảng Minh), Hạ Lát (tiên Sơn), Trung Đồng (Vân Trung), Thổ

Hà (Vân Hà), Quang Biểu (Quang Châu thuộc huyện Việt Yên; làng Cẩm Xuyên (Xuân Cẩm) thuộc huyện Hiệp Hòa… có đội ngũ nghệ nhân cao niên ở độ tuổi từ

80 trở lên vẫn còn nhớ một thời hát Quan họ từ trước 1945 Có cụ còn nhớ tới hàng chục bài Quan họ cổ Và nhóm nghiên cứu này đã ghi âm được khoảng 50 bài Quan họ cổ chưa từng được công bố trước đó [93, tr.23]

Trong bài tham luận: Quan họ cần được bảo tồn và phát huy trong thời đại

mới, tác giả Ngô Văn Trụ, với tư cách là một nhà quản lý văn hóa (ông nguyên là

Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Bắc Giang) đã nhận xét: Thực tế cho thấy rằng đến những năm 90 của thế kỷ XX Quan họ mới có sự chuyển biến qua 5 năm liên tục các cuộc Hội thi Quan họ được ngành văn hóa Hà Bắc tổ chức tại nhà văn hóa Bắc Ninh gắn với Hội Lim Lúc ấy mới chủ yếu thi giọng hát hay và hát đối nhằm tìm ra nhiều bài ca, làn điệu đối đáp là chính, còn về văn hóa Quan họ, sinh hoạt văn hóa Quan họ ở làng chưa được quan tâm

Cũng trong năm 2012, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp với NXB

Văn hóa Thông tin (VHTT) ấn hành cuốn sách Trên đường tìm về Quan họ của tác

giả Trần Linh Quý Cuốn sách dày 638 trang là toàn bộ các công trình, bài viết trong suốt cuộc đời nghiên cứu Quan họ của ông trên chính quê hương Kinh Bắc, nơi ông

Trang 24

đã sinh ra và lớn lên, trở thành một trong số không nhiều những nhà nghiên cứu nổi tiếng về dân ca Quan họ Cuốn sách được bố cục 6 phần:

Phần I: Không gian Văn hóa Quan họ, tác giả trình bày những nghiên cứu, tìm hiểu về lề lối phong tục Quan họ, làng gốc Quan họ và những phát hiện gần đây của ông về không gian văn hóa Quan họ gắn với một số làng Quan họ phía Bắc sông Cầu

Phần II: Phong tục, lề lối trong ca hát Quan họ, tác giả trình bày toàn cảnh

về quê hương Quan họ cùng những lề lối trong ca hát Quan họ và các giá trị tư tưởng, văn chương của lời ca Quan họ

Phần III: Người nghệ nhân Quan họ và người nghệ sĩ Quan họ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tác giả dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu, nhận xét, đánh giá

về vai trò, tài năng và phẩm chất nghệ sĩ của đội ngũ nghệ nhân Quan họ vùng Kinh Bắc Ở phần này tác giả cũng thống kê một danh sách các nghệ nhân tiêu biểu đã có công cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu Quan họ từ giữa thế kỷ XX

Phần IV: Quan họ trên đường hồi phục, tác giả trình bày hai chặng đường phát triển, hồi phục của Quan họ: chặng đường thứ nhất 1954 - 1964 là chặng đường "Quan họ lời mới" và "các hình thức biểu diễn mới (trên sân khấu, trên đài

và hát đơn ca, song ca, tốp ca); chặng đường thứ hai từ 1969 đến nay (tức 2005 là thời điểm Phần nghiên cứu này được công bố) là chặng đường "sưu tầm, nghiên cứu tổng hợp di sản Quan họ" từng bước hồi sinh, phát triển Quan họ trong cuộc sống

Phần V: Hệ thống bài bản Quan họ, tác giả đã thống kê được 189 bài ca do Đoàn dân ca Quan họ học từ 1970 - 1975, 458 tên các bài ca được nhiều nghệ nhân Quan họ biết và hát Tác giả cũng công bố 35 bài chọn lọc trong số trên 400 bài ca, xếp theo các chặng ca hát truyền thống của người Quan họ: từ những bài Giọng cổ (lề lối) rồi đến Giọng vặt, Giã bạn và 42 bài ca của những giọng cổ nhất (tác giả trích dẫn, theo ý kiến của nhóm tác giả cuốn "Dân ca Quan họ Bắc Ninh" - 1962 thì những bài Quan họ cổ là những bài có từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; còn những bài đầu thế kỷ XX là những bài Kim)

Phần VI: Bảo tồn, phát huy di sản Văn hóa Quan họ trong cuộc sống đương đại, tác giả đã khái lược những giá trị cơ bản của Văn hóa Quan họ truyền thống

Trang 25

như Đội ngũ nghệ nhân, hệ thống bài bản Quan họ cổ truyền, nghệ thuật ca hát độc đáo, lề lối ca hát những bài Quan họ cổ truyền không nhạc đệm, môi trường của ca hát Quan họ và đề xuất phương hướng bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Quan họ (DSVHQH) trong xã hội đương đại

Đặc biệt, từ quá trình nghiên cứu và trải nghiệm của mình, nhà nghiên cứu Trần Linh Quý cho rằng: Quan họ là một hình thái sinh hoạt văn hóa, trong đó, sinh hoạt vui hát Quan họ nổi bật và trung tâm Cho nên, giá trị nhiều mặt của sinh hoạt văn hóa Quan họ, trước hết ở âm nhạc và lời ca, nhưng phần khác, không kém phần quan trọng, còn thể hiện ở những qui ước về lề lối sinh hoạt Quan họ, (ví dụ: lề lối hát, lề lối kết bạn, sự giao tiếp giữa các Quan họ…), thể hiện ở ngay cử chỉ, ngôn ngữ, trang phục, những tập tục khi ăn nói, đứng ngồi của các Quan họ

Ngoài ra, Trung tâm UNESCO Văn hóa Quan họ phối hợp với NXB Văn

hóa ấn hành cuốn sách Lối chơi Quan họ [80] là tập hợp một số bài báo bàn về

lối chơi Quan họ có thể giúp người đọc tìm hiểu thêm về Quan họ, chủ yếu ở phương diện diễn xướng

Bên cạnh các công trình được viết thành sách kể trên còn có một số lượng nhất định các bài tiểu luận khoa học, bài báo về Quan họ (khoảng trên 600 bài) được đăng báo, tạp chí tham luận trong các đại hội, hội nghị, hội thảo của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Viện VHTT, Ty Văn hóa Hà Bắc, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Bắc Ninh, Sở VHTTDL Bắc Giang… và được công bố rải rác trong thời gian từ những năm 1920 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI Những bài tiểu luận và báo chí này tiếp cận dân ca Quan họ từ nhiều góc

độ, khía cạnh và thiên về phân tích những sinh hoạt có tính thời sự, cập nhật của Quan họ, nhưng cũng đã cung cấp nguồn tư liệu, thông tin rất có giá trị góp phần hình dung diện mạo của Quan họ trong suốt chiều dài gần một thế kỷ qua Bên cạnh các công trình, bài viết được xuất bản, công bố ở dạng tài liệu in như đã khái quát ở trên cũng cần kể đến các nguồn tư liệu khác như phim ảnh, băng đĩa ghi âm, các dự án nghiên cứu, bảo tồn, phát huy dân ca Quan họ đã được thực hiện trong nhiều chục năm qua (chủ yếu là từ 1955 đến nay) Trong đó rất đáng chú ý có bộ

phim tài liệu màu 8 tập Hát Quan họ đã cung cấp những hình ảnh sống động và vô

Trang 26

giá về các sinh hoạt diễn xướng Quan họ dân gian (Bộ phim do Xí nghiệp phim tài liệu khoa học Trung ương sản xuất Kịch bản: Trần Linh Quý; Đạo diễn: Thanh An, Phạm Hà)

Như vậy, qua tổng quan tình hình nghiên cứu về Dân ca Quan họ (DCQH) trong suốt thời gian từ đầu thế kỷ XX đến thời điểm 2012 của thế kỷ XXI, với khoảng trên 600 công trình và tài liệu nghiên cứu đã cho ta một cái nhìn khá sâu và tổng thể về không gian văn hóa Quan họ, quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của loại hình dân ca độc đáo này Dân ca Quan họ Bắc Ninh có quá trình hình thành và phát triển không nằm ngoài qui luật chung của sự hình thành phát triển của các loại hình dân ca Việt Nam Nhưng Quan họ Bắc Ninh có sự độc đáo mà bản thân sự độc đáo này là một trong những nguyên nhân cốt lõi đã làm nên sức sống bền vững và khả năng lan tỏa đáng kinh ngạc của nó - đó là cùng với sinh hoạt ca hát (diễn xướng) Quan

họ, người dân vùng Kinh Bắc, trải qua lịch sử dài lâu đã hình thành nên một cách rất phong phú những sinh hoạt văn hóa liên quan khác để kết quả hôm nay các nhà khoa học đã khẳng định rằng, Quan họ là một hình thái sinh hoạt văn hóa, một hiện tượng văn hóa tổng thể được bắt nguồn từ các làng quê lâu đời vùng Kinh Bắc Kết quả các công trình nghiên cứu cũng cho thấy rằng, muốn bảo tồn, phát huy Dân ca Quan họ trong xã hội đương đại thì không thể không quan tâm đến bảo tồn, phát huy các sinh hoạt văn hóa Quan họ như phong tục tập quán, lề lối sinh hoạt, lễ hội, tín ngưỡng, hành

vi ứng xử, trang phục truyền thống v.v…các sinh hoạt này tạo nên môi trường sống, tồn tại và phát triển của Dân ca Quan họ Như thế, dân ca Quan họ, trong sự vận động

và lan tỏa của mình đã làm nên Văn hóa Quan họ và một không gian Văn hóa Quan họ hòa quyện vào các sinh hoạt văn hóa làng xã vùng Kinh Bắc

Tuy nhiên, trong hầu hết các công trình nghiên cứu đã công bố mà chúng tôi phân tích khái lược ở trên, chưa có công trình nào nghiên cứu về SHVHQHL một cách hệ thống và chuyên sâu, đặc biệt là sinh hoạt văn hóa Quan họ làng trong thời kỳ đổi mới - thời kỳ mà văn hóa nghệ thuật truyền thống chịu sự tác động mạnh

mẽ bởi những đổi thay, phát triển quá nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội Từ thực tế đó, chúng tôi cho rằng cần phải có những công trình nghiên cứu sâu về sinh hoạt văn hóa Quan họ làng, nhất là trong giai đoạn 1986 đến nay Đây cũng là thời

Trang 27

kỳ mà những sinh hoạt văn hóa Quan họ có nhiều biến đổi sâu sắc nhất Kết quả nghiên cứu đó sẽ bổ sung cho sự toàn diện của việc nghiên cứu và bảo tồn, phát huy

di sản Văn hóa Quan họ truyền thống trong tương lai

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Cơ sở lý luận

1.2.1.1 Các khái niệm công cụ

* Sinh hoạt văn hóa Quan họ Làng

Có thể nói lịch sử nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã trải qua 3 giai đoạn lớn và việc phân chia này chủ yếu trên cơ sở phạm

vi và đối tượng nghiên cứu của mỗi giai đoạn:

- Giai đoạn đầu thế kỷ XX việc khảo sát, nghiên cứu văn hóa dân gian còn chưa được quan tâm nhiều và tập trung vào nghiên cứu văn học dân gian (ngữ văn) bao gồm thơ ca, hò, vè, ca dao tục ngữ… là chủ yếu

- Giai đoạn thứ 2 vào khoảng giữa thế kỷ XX việc khảo sát, nghiên cứu văn hóa dân gian phát triển lên một phạm vi rộng hơn, bao quát hơn là nghiên cứu văn nghệ dân gian bao gồm cả văn học và các loại hình nghệ thuật như nghệ thuật biểu diễn - trình diễn, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật làng nghề thủ công mỹ nghệ v.v

- Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn vào khoảng 1/3 của nửa cuối thế kỷ XX đến nay, việc khảo sát nghiên cứu văn hóa dân gian đã đạt tới phạm vi rộng hơn, toàn diện hơn là nghiên cứu văn hóa dân gian với đối tượng rất đa dạng và phong phú, bao hàm nhiều lĩnh vực, nhiều hiện tượng văn hóa tổng thể, đòi hỏi vận dụng những phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành để tiếp cận

Lịch sử nghiên cứu DCQH từ thế kỷ XX đến nay cũng không nằm ngoài diễn trình ấy Có thể thấy trong những năm đầu thế kỷ XX chỉ có một số bài báo, tạp chí, một vài chuyên khảo có tính chất nghiên cứu nhưng chủ yếu thiên về chuyên ngành hẹp là nghệ thuật ca hát Quan họ (âm nhạc) mà chưa quan tâm đến các yếu tố văn hóa khác của SHVHQH Đến những năm sau 1954 cho tới thập niên

1980, do yêu cầu của sự phục hưng vốn cổ, việc nghiên cứu Quan họ đã bắt đầu hướng tới phạm vi rộng hơn là nghiên cứu Quan họ với tư cách là một hiện tượng

Trang 28

văn hóa tổng thể mà tiêu biểu và cũng là khởi đầu cho hướng nghiên cứu này là

công trình Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển (1978) của các tác giả Đặng

Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý Trong cuốn sách khi bàn về lối chơi quan

họ các tác giả viết: “Lối chơi là tiếng các nghệ nhân Quan họ thường dùng để chỉ toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Quan họ mà mình tham gia Nói cách khác, lối chơi là toàn bộ những mối quan hệ giữa người và người trong sinh hoạt văn nghệ Quan họ

và toàn bộ những gì làm nên,những gì góp phần vào mối quan hệ ấy Lối chơi Quan

họ ấy thể hiện trong âm nhạc, trong lời ca; mặt khác không kém phần quan trọng, còn thể hiện ở những quy ước về những lề lối sinh hoạt (ví dụ lề lối hát, lề lối kết bạn, sự giao tiếp giữa các Quan họ) Thể hiện ở ngay cử chỉ, trang phục, những tập tục khi ăn nói, lúc đứng ngồi của các Quan họ" Như vậy, tuy ở thời điểm ấy các tác giả mới chỉ dùng cụm từ "Sinh hoạt văn nghệ Quan họ" nhưng nội hàm đã bao gồm trong đó nhiều yếu tố của sinh hoạt văn hóa ngoài yếu tố ca hát (văn nghệ) Và đặc biệt chỉ sau đó một vài năm, trong tác phẩm nghiên cứu của chính các tác giả này đều không dùng cụm từ "Sinh hoạt văn nghệ Quan họ" nữa mà thay vào đó là cụm từ "Sinh hoạt văn hóa Quan họ" Chẳng hạn, năm 2012, trong cuốn sách dày

638 trang có tựa đề: Trên đường tìm về Quan họ do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản, tác giả Trần Linh Quý đã sử dụng cụm từ "Sinh hoạt văn hóa Quan họ" để thay thế cụm từ "Sinh hoạt văn nghệ Quan họ", hoặc coi Quan họ là một "hình thái sinh hoạt văn hóa" bao hàm nhiều sinh hoạt văn hóa gắn liền với sinh hoạt trọng tâm là ca hát Quan họ Và cũng trong cuốn sách này ông viết: “Giá trị nhiều mặt của sinh hoạt văn hóa quan họ trước hết

ở âm nhạc, lời ca nhưng không thể tách những giá trị ấy khỏi những giá trị của con người trong mối quan hệ giữa người và người trong sinh hoạt văn hóa quan họ ở một hoàn cảnh lịch sử nhất định”

Trong lời nói đầu sách Không gian văn hóa quan họ của nhóm tác giả lê

Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung [56, tr.5] viết: “Quan họ là một hiện tượng sinh hoạt văn hóa đặc biệt với một không gian rộng lớn bao gồm sự hợp thành của 5 mặt hoạt động: Dân ca quan họ, tục kết bạn quan họ, văn hóa hành vi quan họ, lễ hội quan họ và tín ngưỡng quan họ Qua quá trình tồn tại và phát triển tự

Trang 29

thân các mặt này hòa hợp thành một chủ thể thống nhất: văn hóa quan họ” Cũng trong sách này, trong “Lời tựa" dành cho cuốn sách, Tiến sĩ sử học Trần Đình Luyện đã nhận xét: “Bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp và tiếp cận nhiều chiều của hiện tượng văn hóa Quan họ, tác giả đã xác định văn hóa Quan họ là hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng dân gian riêng có của vùng quê Bắc Ninh - Kinh

Bắc" [57, tr.8]

Trong bài Đề dẫn tại hội thảo quốc tế: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội

đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc ninh ở Việt Nam) do Bộ Văn hóa Thông tin

(nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp với UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức năm 2006, tác giả Nguyễn Tri Nguyên sau khi dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu có uy tín như: Trần Linh Quý, Hồng Thao, Đặng Văn lung, Nguyễn Tiến Chiêu, Nguyễn Đình Bưu đã viết: “Các công trình nghiên cứu kể trên đã phân tích một cách sâu sắc và minh chứng đầy đủ về tính tổng thể của văn hóa Quan họ: đó là những giá trị về phong tục tập quán, về đức tin tín ngưỡng, về thế ứng

xử và lối ứng xử của người Quan họ, về sự kế thừa và phát triển" [90, tr.283] Cũng

trong bài này Nguyễn Tri nguyên lý giải văn hóa Quan họ bao gồm trong nó dân ca

Quan họ và các sinh hoạt văn hóa liên quan trực tiếp khác

Về mối quan hệ giữa sinh hoạt văn hóa Quan họ với đơn vị làng vùng Kinh

Bắc Trong “Lời tựa” của sách “Không gian văn hóa Quan họ”, tác giả Trần Đình Luyện viết: “sinh hoạt văn hóa Quan họ và hoạt động lễ hội đã chứng tỏ Quan họ là sản phẩm văn hóa làng xã ở một vùng quê tiêu biểu nhất của Bắc Ninh - Kinh Bắc

Đó là 49 làng Quan họ mà trung tâm là thành phố Bắc Ninh ngày nay” [57]

Cũng liên quan đến làng, TS Lauren Meecker, đại học Columbia, Hoa Kỳ, trong bài tham luận của mình tại Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc ninh ở Việt Nam) đã đặt

"Quan họ cổ” gắn với "làng" - sinh hoạt văn hóa làng, đặt khái niệm “sinh hoạt Quan họ” tương ứng với khái niệm “chơi Quan họ” Theo Bà, “chơi Quan họ” gắn với một hệ thống quy ước và hành động xã hội và cuộc chơi Quan họ không

có khán giả như “hát Quan họ” trên sân khấu Như thế, “chơi Quan họ” là một hiện tượng văn hóa tổng thể - là văn hóa Quan họ Bà nhận định sinh hoạt xã hội

Trang 30

rất quan trọng với cách chơi Quan họ Bà cũng sử dụng khái niệm “Quan họ làng” gắn với “xã hội làng” [90, tr.481-495]

Từ những ý kiến như vậy của gần một thế kỷ nghiên cứu về Quan họ qua các chặng đường khác nhau, các nhà nghiên cứu về cơ bản, đều thống nhất quan niệm rằng, Quan họ không chỉ là sinh hoạt ca hát mà còn là các sinh hoạt văn hóa mang tính tổng thể và là sản phẩm văn hóa của làng xã Việt Nam Với việc tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học, kết hợp nhiều chục năm gắn bó với các làng quê Quan họ mà điển hình trong đó là làng Thủy tổ Quan họ Viêm Xá, chúng tôi cho rằng: Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng với tư cách là một hiện tượng văn hóa tổng thể mang tính chất cộng đồng bao gồm các yếu tố (mặt) hợp thành cơ bản sau: Không gian sinh hoạt văn hóa Quan họ; xã hội Quan họ làng; diễn xướng Quan họ; kết bạn Quan họ; văn hóa giao tiếp - ứng xử Quan họ; tạo nguồn nghệ nhân Quan họ Các mặt sinh hoạt đó tồn tại, vận động và phát triển trong môi trường của làng xã truyền

thống, mà ở đó sinh hoạt ca xướng có vai trò trung tâm Quan niệm về sinh hoạt văn

hóa Quan họ làng như vậy nên khi xem xét nó với tư cách là một đối tượng nghiên cứu

sẽ phải tiếp cận từ các yếu tố hợp thành của nó như đã liệt kê ở trên

* Sinh hoạt văn hóa Quan họ cổ truyền

Về quan niệm "Văn hóa cổ truyền Việt Nam", cuốn: "Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam" do nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc chủ biên cùng các tác giả

là những nhà nghiên cứu có uy tín như: Hà Văn Tấn, Phan Huy Lê, Trần Lê Văn, Chu Quang Trứ, Đỗ Văn Ninh, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Thụy Loan, v.v đã viết:

Chúng tôi quan niệm văn hóa cổ truyền là nền văn hóa có từ lúc hình thành dân tộc, qua nhiều bước phát triển nội tại và chịu sự ảnh hưởng ngoại lai Châu Á cho đến khi ảnh hưởng của văn hóa phương Tây tác động quan trọng đến một số lĩnh vực, tuy gốc dân tộc vẫn tồn tại Như vậy, khoảng thời gian kéo dài từ thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy quy ước mốc thời gian như vậy, nhưng để giúp độc giả theo dõi sự tương tác giữa văn hóa cổ truyền

và hiện đại, chúng tôi không ngần ngại đưa thêm một số mục từ hoặc chi tiết thuộc thời gian kéo dài đến tháng 8 năm 1945 [76, tr.5]

Trang 31

Tương tự, quan điểm và kết quả nghiờn cứu của cỏc nhà nghiờn cứu Quan họ

từ trước đến nay đều thống nhất rằng: Sinh hoạt văn húa Quan họ cổ truyền là sinh hoạt văn húa Quan họ tồn tại và hoạt động chủ yếu là trước năm 1945 trong cỏc làng xó vựng Kinh Bắc, khi mà mụi trường văn húa - xó hội cổ truyền cũn trong trạng thỏi giữ được độ ổn định cao, chưa chịu tỏc động mạnh của hỡnh thỏi kinh tế

tư bản chủ nghĩa và làn súng đụ thị húa dõng cao như hiện nay Lờ Thị Nhõm Tuyết

trong bài: Mấy ý kiến về vấn đề tỡm hiểu nguồn gốc dõn ca Quan họ in trong sỏch:

Một số vấn đề về dõn ca Quan họ do Ty Văn húa Hà Bắc xuất bản 1972 khi bàn về

lối chơi Quan họ cổ truyền đó cho rằng: "Như cỏc nhà nghiờn cứu đó thống nhất:

Quan họ cổ truyền được " giới hạn" là " Quan họ của đầu thế kỷ 20" [78, tr.73]

Như vậy, cựng với những kết quả nghiờn cứu kể trờn, chỳng tụi nhận thấy: Quan họ về cơ bản được " tớnh" theo mốc thời gian là từ năm 1945 trở về trước được

coi là Quan họ cổ truyền

* Xó hội Quan họ làng

Từ thực tiễn nghiờn cứu và khảo sỏt, chỳng tụi nhận thấy ở Viờm Xỏ thông qua đời sống sinh hoạt Quan họ của làng mà hình thành một xã hội Quan họ làng mang tính xã hội hóa rộng rãi và toàn thể "Xã hội Quan họ làng" là cụm từ do

chúng tôi đặt ra khi cụng bố cuốn sỏch "Nghệnhõn Quan họ làng Viờm Xỏ" [27] để chỉ mối quan hệ giữa người với người về Quan họ (gồm cả những quan hệ, những sinh hoạt có liên quan đến Quan họ) tại một đơn vị làng, mà ở đây là Viêm Xá Xã hội Quan họ làng tồn tại và phát triển song trùng với văn hóa Quan họ mà trong đó nổi bật là các sinh hoạt ca hát Quan họ vào những "thời điểm mạnh" của sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Với một làng Quan họ gốc như Viêm Xá thì dân cư trong làng, hầu như ở mọi lứa tuổi, đều có thể được coi là thành viên của xã hội Quan họ làng với những vai trò nhất định của mình; thậm chí có người chỉ đóng vai trò người xem để cổ vũ cho một sinh hoạt Quan họ nào đó cũng là đủ, nếu như năng lực Quan họ của bản thân người

đó chỉ dừng lại ở những tình cảm yêu thích

* Nghệ nhõn Quan họ

Người nghệ nhõn, hay núi theo kiểu người Quan họ là anh Hai - chị Hai, anh

Ba - chị Ba cú những tiờu chớ riờng để cú thể được thừa nhận Điều đặc biệt là

Trang 32

những tiêu chí đó không thành văn nhưng lại hết sức chặt chẽ, và về cơ bản là nhất quán từ trong truyền thống Các tiêu chí đó là: Người hát phải là thành viên chính thức của một bọn chơi Quan họ (sau này là Đội Quan họ hoặc Câu lạc bộ Quan họ); người hát phải đủ bản lĩnh và trình độ tham gia vào các cuộc hát ở mọi hình thức ca hát Quan họ; người hát phải được chính dân làng và bạn hát vùng Quan họ gọi là anh Hai - chị Hai, anh Ba - chị Ba, anh Tư - chị Tư, anh Năm - chị Năm và phải

có khả năng truyền dạy Quan họ cho các thế hệ sau

* Một số thuật ngữ Quan họ cổ truyền khác

- Lối chơi Quan họ là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ những sinh hoạt văn

nghệ Quan họ do người Quan họ thực hiện theo một trình tự và niêm luật chặt chẽ Hay nói cách khác, có thể khuôn lối chơi Quan họ vào hai nội dung cơ

bản: thứ nhất là, các lề lối ca hát Quan họ bao gồm các hình thức đã trở nên rất

quy củ, niêm luật chặt chẽ như hát đối đáp, hát canh, hát hội, hát nghi lễ, hát mừng, v.v ; thứ hai là, những phong tục tập quán giao du Quan họ như các tục kết bạn, tục rủ bọn - ngủ bọn, các nét văn hóa giao tiếp - ứng xử, ẩm thực mang đặc trưng chỉ Quan họ có

- Bọn Quan họ là cụm từ để chỉ một nhóm người (có thể là từ 6 - 8 người

hoặc hơn nữa) chơi Quan họ Chỉ có bọn Quan họ đồng giới - bọn Quan họ nam và bọn Quan họ nữ Mỗi làng Quan họ đều có các bọn Quan họ nam, nữ Các bọn Quan họ này kết bạn với các bọn Quan họ khác giới ở các làng Quan họ trong vùng chứ không kết bạn với bọn Quan họ làng mình Những người tham gia các bọn Quan họ gọi là Liền anh, Liền chị và phân ngôi thứ bậc như anh Hai - chị Hai, anh

Ba - chị Ba, anh Tư - chị Tư Ngày nay những người chơi Quan họ này gọi chung là nghệ nhân Quan họ có liên quan đến các quy định của nhà nước về cơ chế, chính sách tôn vinh họ Trong hoạt động truyền dạy Quan họ để tạo nguồn cho bọn Quan

họ, dân gian gọi người dạy là "anh Nhớn, chị Nhớn", gọi người học nhỏ tuổi là các

"em Bé"

- Tục kết chạ là tục kết ước, kết nghĩa giữa các làng với nhau xuất phát từ

một lý do nào đó liên quan đến chuyện giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống như chống hạn, chống lụt, dựng đình, dựng chùa, thờ chung Thành hoàng v.v Các làng kết

Trang 33

chạ rất tôn trọng nhau, có quan hệ khăng khít và gọi nhau là "chạ anh, chạ em" Không nhất thiết là các làng kết chạ phải kết nghĩa, kết bạn Quan họ với nhau, nhưng khi hai làng kết nghĩa kết bạn với nhau trên cơ sở của kết chạ thì thường là rất bền vững và hiếm thấynam nữ kết hôn với nhau Ngày nay các hiện tượng kết chạ không thấy nữa mà chỉ là sự tiếp nối, kế thừa (cũng đã mờ nhạt đi nhiều) các quan hệ do cha ông để lại

- Tục kết bạn Quan họ là một sinh hoạt có tính chất nền tảng để tạo nên sự

kết nối trong các sinh hoạt Quan họ khác trong lối chơi Quan họ Kết bạn Quan họ giữa bọn Quan họ làng này với bọn Quan họ làng kia theo nguyên tắc "âm dương tương cầu" - nghĩa là kết bạn khác giới

- Hát canh là một hình thức diễn xướng chủ đạo của các sinh hoạt ca xướng

Quan họ Hát canh là cuộc hát giữa bọn Quan họ làng sở tại với bọn Quan họ làng kết nghĩa, kết bạn tại nhà chứa trong những dịp hội, lệ của làng Hát canh chia làm

03 chặng hát: chặng đầu hát những bài Quan họ giọng lề lối (giọng cổ) như Hừ la,

La rằng, Đường bạn, Tình tang, Cây gạo, Cái ả ; chặng giữa hát những bài giọng Vặt là những bài chiếm đa số trong kho tàng dân ca Quan họ như: Tiên xa, Thiết tha, Tuấn Khanh, Hạnh Nguyên, Tìm người trong hội v.v ; Chặng cuối còn gọi là chặng "giã bạn" hát những bài thể hiện tình cảm lưu luyến, níu giữ trong phút chia tay để Quan họ bạn ra về khi hết canh hát như: Rẽ phượng, Chia loan, Nhạn xanh, Chia rẽ đôi nơi, Người ở đừng về v.v

- Hát đối đáp Quan họ cũng như nhiều dân ca khác là đối đáp nam nữ Bên

nam hát một bài, tiếp bên nữ hát một bài và cứ như thế lặp đi lặp lại cho đến hết cuộc hát Trong Quan họ chủ yếu là hát đối giọng, nghĩa là khi bên kia hát trước một giọng (làn điệu) thì bên hát sau phải đối lại một bài cũng giọng ấy nhưng phải

có phần lời ca đối lại Ví dụ như bài Đường bạn đối lại bài Kim lan, bài Tưởng nhớ

về người đối lại bài Gió mát giăng thanh v.v

1.2.1.2 Cơ sở lý thuyết

* Lý thuyết hệ thống - chức năng

Lý truyết hệ thống - chức năng hướng vào việc nghiên cứu văn hóa như một cơ chế toàn vẹn, hoàn chỉnh (chỉnh thể) được tạo ra từ các yếu tố, các bộ

Trang 34

phận làm nên sự toàn vẹn chỉnh thể ấy Nhiệm vụ chính của lý thuyết này là nghiên cứu các yếu tố, các bộ phận của chỉnh thể văn hóa, tìm ra những quan

hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng; nhưng đồng thời cũng nghiên cứu những chức năng tổng quát của chỉnh thể văn hóa Trong một chỉnh thể văn hóa, các yếu tố, các bộ phận không chỉ có vai trò ở sự chứa đựng bản thân mà còn có vai trò góp phần tạo nên sự toàn vẹn của chỉnh thể văn hóa đó Theo nhà nghiên cứu văn hóa B.Malinowski, văn hóa có nhiều chức năng, tuy nhiên để phục vụ cho nghiên cứu Luận án, chúng tôi sẽ lựa chọn, vận dụng một số chức năng liên quan nhất vào nghiên cứu các SHVHQHL với tư cách là một chỉnh thể, gồm:

- Chức năng sinh tồn: Chức năng này đảm bảo duy trì và nối dài cuộc sống

của cộng đồng, trong đó có đời sống văn hóa, mà ở đây là đời sống của các SHVHQHL;

- Chức năng thích nghi và thích ứng: Chức năng này đảm bảo duy trì sự hài hòa

giữa cộng đồng văn hóa và môi trường tự nhiên, xã hội Sự thay đổi của môi trường tự nhiên (đô thị hóa), sự chuyển đổi của môi trường xã hội trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi các SHVHQHL phải thích nghi, thích ứng để tiếp tục tồn tại và phát triển

- Chức năng thông tin: chức năng này đảm bảo cho sự giao tiếp, giao thoa

văn hóa SHVHQHL luôn tồn tại và phát triển trong môi trường của sự đan xen và

đa dạng văn hóa Quan họ vừa chia sẻ vừa tiếp thu làm đầy thêm bản thân trong mối quan hệ nhiều chiều với các loại hình văn hóa nghệ thuật khác

- Và chức năng quan trọng nhất - chức năng bảo tồn và tái sinh các giá trị di sản truyền thống Chức năng này giúp chúng tôi nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy những SHVHQHL truyền thống trong xã hội đương đại Các SHVHQHL được bảo tồn, phát huy không phải là trong sự bất biến mà là trong quá trình vận động và vừa tái tạo vừa bổ sung không ngừng để phát triển, để đáp ứng nhu cầu của xã hội đương đại

Như thế, bản thân văn hóa sẽ luôn là một hệ thống Để tiếp cận văn hóa (ở đây là Văn hóa Quan họ) như một hệ thống thì việc sử dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu là hợp lý

Trang 35

Theo sự phân tích của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm thì sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu của Blauberg (1969) và Sadovsky (1974) về lý thuyết hệ thống ông cho rằng: các hệ thống đều bao gồm các yếu tố và các quan hệ giữa chúng Và mạng lưới các quan hệ sẽ thành cấu trúc -ở Luận án này là cấu trúc văn hóa của các SHVHQHL

Mặt khác, lý thuyết hệ thống - chức năng cũng chỉ ra rằng, ranh giới của các thành tố (yếu tố) văn hóa không thể rạch ròi và bất biến mà nó có thể đan xen vào nhau tác động tương hỗ với nhau để chuyển động và phát triển

Như vậy, trong Luận án này chúng tôi sẽ vận dụng lý thuyết hệ thống - chức năng để nhận diện các SHVHQHL và vai trò của nó trong một chỉnh thể văn hóa Quan họ Làng với tư cách là một hệ thống, một tiểu văn hóa

* Lý thuyết biến đổi văn hóa

Biến đổi văn hóa là một quá trình vận động của văn hóa, mà trong sự vận động ấy có sự tiếp nối, kế thừa và cả những cái mới được phát sinh hình thành Trong thế giới rộng lớn của chúng ta, mọi xã hội đều chịu sự chi phối của quy luật phát triển mà trong đó biến đổi văn hóa là một nội dung cốt lõi Nhưng có thể nói, từ những năm cuối thế kỷ XIX, khái niệm "biến đổi văn hóa" mới được nêu ra bởi các nhà nghiên cứu uy tín như L.Morgan (1877), E.Taylor (1891) -những người ủng hộ cho Thuyết tiến hóa văn hóa Vào thời gian này những cuộc tranh luận gay gắt xung quanh thuyết tiến hóa văn hóa

đã làm nẩy sinh những lý thuyết liên quan trực tiếp đến biến đổi văn hóa như: thuyết Truyền bá văn hóa, thuyết Vùng văn hóa, thuyết Tiếp biến văn hóa, thuyết Chức năng văn hóa

Ngày nay, trước thực tiễn biến đổi không ngừng của đời sống, các nhà văn hóa học đã bàn rất nhiều về sự biến đổi văn hóa trong đó có biến đổi về văn hóa nghệ thuật và thường đặt nó trong sự ảnh hưởng to lớn của xu hướng TCH, HĐH, ĐTH và quá trình chuyển đổi xã hội Có thể thấy ở Việt Nam hiện nay, sự biến đổi văn hóa, trong đó có sự biến đổi văn hóa nghệ thuật cũng chịu tác động rất to lớn và mạnh mẽ của những xu hướng và quá trình chuyển đổi xã hội đó

Trang 36

Sinh hoạt Văn hóa Quan họ làng - đối tượng nghiên cứu của Luận án cũng không nằm ngoài sự biến đổi văn hóa đó khi mà vùng Quan họ Kinh Bắc đang chịu sự tác động rất mạnh và liên tục của những xu hướng và quá trình chuyển đổi xã hội nói trên Dưới đây trong khuôn khổ của giới hạn nghiên cứu chúng tôi xin nêu phát biểu của một số nhà nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa dân gian truyền thống

- Năm 2010, trong một bài viết của mình, GS Roger Janelli, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, cố vấn của ủy ban UNESCO về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã tóm lược quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu về tính liên tục của văn hóa, trong đó cho rằng: Thay đổi là một thuộc tính cơ bản của văn hóa dân gian truyền thống [50]

- Cùng có quan điểm như trên, GS Deborah Wong của Đại học California, Riverside, trong tham luận tại Hội thảo: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh) tại Hà Nội năm 2016 khi bàn về Quan họ cho rằng: sự thay đổi của dân ca theo dòng thời gian là một quy luật Quan

họ cần phải được lưu trữ, được trao truyền Tuy nhiên, quan trọng nhất, cần thiết nhất là nó phải được hoạt động, được vận hành trong đời sống xã hội để chứng tỏ sự hiện diện của nó Đặc điểm chủ yếu của DSVHPVT là nó "được các cộng đồng và các nhóm tái tạo không ngừng" và ông khẳng định Quan họ tồn tại trong sự thay đổi

có tính đương đại

Trong quá trình thực hiện Luận án, chúng tôi đã vận dụng lý thuyết về sự biến đổi văn hóa cùng quan điểm của các nhà nghiên cứu văn hóa nói trên về biến đổi văn hóa để nhận diện những thay đổi của SHVHQHL hiện nay khi đối chiếu với SHVHQHL cổ truyền

Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng các lý thuyết nói trên chủ yếu thông qua lăng kính của tư duy để định hướng cho mục tiêu nghiên cứu chứ không phải sự thể hiện cụ thể như là các thao tác kỹ thuật khi vận dụng các phương pháp nghiên cứu

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp thành tố văn hóa, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp liên ngành

Trang 37

và vận dụng một số phương pháp liên quan khác có tính chất thao tác nghiên cứu như đối chiếu so sánh, điền giã thực địa, xử lý tài liệu, phỏng vấn sâu v.v

* Phương pháp lịch sử

Trong nghiên cứu văn hóa nói chung, phương pháp lịch sử là một trong số các phương pháp thường được lựa chọn, đặc biệt là trong nghiên cứu văn hóa dân gian Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người cùng với sự hình thành và phát triển của văn hóa thì lịch sử là sự chứa đựng và phản chiếu các quá trình đó và do vậy bản thân nó luôn là một phần quan trọng gắn với con người

và văn hóa

Mặt khác, trong quá trình hình thành và phát triển các giá trị văn hóa nói chung luôn có sự tác động của các yếu tố khác của lịch sử (cả nội tại và ngoại tại) lên quá trình đó một cách liên tục và thường xuyên Sự tác động đó có thể làm cho văn hóa trong từng giai đoạn lịch sử nhất định phát triển mạnh mẽ hay phát triển cầm chừng, hoặc trì trệ, thậm chí là đi vào một bước ngoặt nào đó Chính vì thế ảnh hưởng của lịch sử lên văn hóa không chỉ giới hạn trong bản thân quá khứ mà nó còn ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai Thực tế cuộc sống đã cho ta thấy không có hiện tại nào, không có dự định, dự báo nào của tương lai mà có thể thoát ly sự kế thừa và ảnh hưởng của quá khứ lịch sử, thậm chí còn là sự ảnh hưởng trực tiếp mang tính trội Như vậy, nắm bắt và vận dụng những thành quả của lịch sử là để giải quyết tốt những vấn đề của hiện tại và định hướng đúng đắn cho tương lai Ở đây là hiện tại và tương lai của con người và văn hóa trong một môi trường được kiến tạo trong lịch sử Do lịch sử có tầm quan trọng như vậy đối với văn hóa mà phương pháp tiếp cận lịch sử luôn được quan tâm sử dụng trong các nghiên cứu về con người và văn hóa, trong đó

về hình thức, về cách thức biểu hiện để phù hợp với nhu cầu đương đại Trong mỗi giai đoạn của lịch sử, SHVHQH có sự ổn định tương đối và hình thành truyền thống

Trang 38

sau những chắt lọc, đào thải… Khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu như thế, phương pháp lịch sử sẽ giúp chúng tôi nhận biết bản sắc của đối tượng nghiên cứu hay nói cách khác là nhận biết bản sắc của SHVHQH

- Việc nghiên cứu các yếu tố trực tiếp hoặc cả gián tiếp đóng góp vào quá trình hình thành và phát triển SHVHQH đã thấy trong lịch sử cho ta khả năng nhận diện các bộ phận cấu thành nên SHVHQH và cũng thấy được hoàn cảnh điều kiện của sự hình thành các sinh hoạt văn hóa ấy Mặt khác cũng nhận biết được đặc điểm của các SHVHQH và những đặc điểm đó đã ảnh hưởng trở lại như thế nào đến điều kiện hoàn cảnh đã tạo nên chúng

- Phương pháp lịch sử còn giúp chúng tôi xác định được các nguyên nhân, nguồn gốc của sự hình thành, phát triển văn hóa, đồng thời cũng có thể đối chiếu, so sánh, sự hình thành phát triển ấy qua các giai đoạn, thời kỳ, từ đó có thể rút ra các kinh nghiệm, đề xuất giải pháp, khuyến nghị cho việc bảo tồn, phát huy văn hóa Chẳng hạn như sự đối chiếu giữa SHVHQHL cổ truyền với SHVHQHL đương đại

* Phương pháp nghiên cứu thành tố văn hóa

Trong lịch sử văn hóa học thì phương pháp tiếp cận thành tố văn hóa là một phương pháp mới, hiện đại khi đặt cạnh các phương pháp khác như lịch sử, so sánh, điền dã dân tộc học… phương pháp này được các nhà nghiên cứu sử dụng ngày càng nhiều khi mà sự phát triển của văn hóa đang ngày càng đa dạng, phong phú và trong một môi trường thế giới ngày một “phẳng” hơn Các nhà nghiên cứu châu Âu

là những người tiên phong trong sử dụng phương pháp này vào nghiên cứu văn hóa

Để nghiên cứu theo phương pháp này chúng tôi hệ thống hóa các yếu tố cấu thành nên SHVHQHL, chọn ra những yếu tố cơ bản để không bị sa lầy vào dàn trải

và có thể mất phương hướng khi thực hiện mục tiêu nghiên cứu Khi chúng tôi lựa

chọn đối tượng nghiên cứu trong Luận án là SHVHQHL với tư cách là một “tiểu

văn hóa” thì trước hết phải hệ thống được, chỉ ra được những yếu tố (những mặt) cơ

bản nhất, bản chất nhất, tiêu biểu và có tính trội nhất trong rất nhiều yếu tố hợp thành SHVHQHL Qua nghiên cứu, chúng tôi đã lựa chọn một số các mặt sinh hoạt

cơ bản đảm bảo cho thành công khi tiếp cận nghiên cứu SHVHQHL Từ đó, chúng tôi đi vào nghiên cứu và làm rõ các mặt sinh hoạt của SHVHQHL cùng sự vận

Trang 39

động, tương tác và mối dây liên hệ giữa chúng trong một tổng thể văn hóa là SHVHQHL Như vậy đồng thời với việc nhìn nhận các thành tố văn hóa là việc gắn liền chúng với sự nhìn nhận cái tổng thể văn hóa để thấy được diện mạo và những đặc điểm chung của đối tượng cần nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp

Chúng tôi tham khảo Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học của

Vũ Cao Đàm [36] và đồng thuận với ông khi ông đưa ra quan niệm về phương pháp phân tích, tổng hợp - một phương pháp rất cần thiết cho nghiên cứu văn hóa, nhất là văn hóa học trong quá trình biến đổi và phát triển Về phương hướng này ông cho rằng: phân tích một sự vật là sự phân chia sự vật thành những bộ phận có bản chất khác biệt nhau Còn tổng hợp là xác lập những liên hệ tất yếu giữa các bộ phận đã được phân tích

Khi nghiên cứu về SHVHQHL hiện nay không thể không phân tích, tổng hợp, đánh giá nó trong sự so sánh, đối chiếu với SHVHQHL cổ truyền để qua đó rút ra những kết luận cần thiết giúp làm cơ sở cho những khuyến nghị, đề xuất nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy DCQH cả trước mắt và lâu dài Do đó, việc xử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, kết hợp với phương pháp so sánh - đối chiếu là phù hợp để góp phần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra trong Luận án

* Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Như chúng ta đã biết, văn hóa học là môn khoa học nghiên cứu văn hóa trên

ba bình diện lớn:

- Văn hóa học nghiên cứu lý luận văn hóa, lý thuyết văn hóa, đó là các nghiên cứu về khái niệm - quan niệm, bản chất, quy luật, chức năng, vai trò của văn hóa trong sự so sánh với các hình thái thái ý thức khác

- Văn hóa học nghiên cứu lịch sử văn hóa của các quốc gia, dân tộc, cộng đồng, các vùng miền…

- Văn hóa học nghiên cứu ứng dụng văn hóa trong các hoạt động thực tiễn xã hội như văn hóa sự kiện, văn hóa du lịch, văn hóa thể thao, quản lý văn hóa, bảo tồn, bảo tàng v.v

Trang 40

Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ nghiên cứu đó, văn hóa học cần huy động liên ngành để phối hợp nghiên cứu, chính vì thế văn hóa học được gọi là khoa học liên ngành Văn hóa học thường phối hợp với các ngành khoa học như dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học, triết học, ký hiệu học… Văn hóa học là môn khoa học tích hợp, vừa nghiên cứu các hiện tượng văn hóa riêng biệt vừa nghiên cứu cái chung của văn hóa Về phương diện lý thuyết, phương pháp tiếp cận liên ngành là sự kết hợp và thống nhất của quy trình lý thuyết và phương pháp luận của nhiều ngành khoa học để tập trung nghiên cứu một đối tượng nào đó thường là có phạm vi rộng như văn hóa tộc người, văn hóa dân tộc, các hiện tượng văn hóa tổng thể… Nghiên cứu SHVHQHL rất cần đến phương pháp liên ngành vì SHVHQHL liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác như âm nhạc, ngôn ngữ, kinh tế, dân tộc học, xã hội học, lịch sử, tôn giáo - tín ngưỡng, tâm lý học, triết học, phong tục tập quán… Để nhận diện VHQHL như là một chỉnh thể, một hình thái ý thức xã hội thì không thể không tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu liên ngành với sự tham gia nhiều chiều nhằm đạt tới một kết quả nghiên cứu toàn diện và sâu sắc

Ngày đăng: 27/11/2016, 23:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Duy Anh (1996), Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1996
3. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
4. Phương Anh, Thanh Hương (1973), Hà Bắc ngàn năm văn hiến, Tập 1, Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Bắc ngàn năm văn hiến
Tác giả: Phương Anh, Thanh Hương
Năm: 1973
5. Phương Anh, Thanh Hương (1976), Hà Bắc ngàn năm văn hiến, Tập 2, Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Bắc ngàn năm văn hiến
Tác giả: Phương Anh, Thanh Hương
Năm: 1976
6. Toan Ánh (1996), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua tết lễ hội hè, NXB Tổng hợp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua tết lễ hội hè
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 1996
7. Nguyễn Trọng Ánh (2007), Những giá trị âm nhạc trong hát Quan họ, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật, Nhạc viện Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị âm nhạc trong hát Quan họ
Tác giả: Nguyễn Trọng Ánh
Năm: 2007
8. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Một số Văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số Văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
9. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2000), Một số Văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số Văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
10. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
Năm: 2003
11. Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
12. Nguyễn Trần Bạt (2005), Cải cách và sự phát triển, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách và sự phát triển
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2005
13. Vũ Bằng (1931), "Hội Lim", An Nam tạp chí, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Lim
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 1931
14. Nguyễn Chí Bền (2011), Dân ca Quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2011
15. Nguyễn Chí Bền (2013), Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2013
16. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 1990
17. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Văn bản chỉ đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước về lễ hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chỉ đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước về lễ hội
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2011
18. Bộ Văn hóa thông tin (1998), Một số giá trị văn hóa truyền thống và đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn hiện nay, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giá trị văn hóa truyền thống và đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn hiện nay
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
19. Bộ Văn hóa thông tin (2003), Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 những giá trị tư tưởng văn hóa, Viện Văn hóa thông tin và Văn phòng Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 những giá trị tư tưởng văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa thông tin
Năm: 2003
20. Bộ Văn hóa Thông tin phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2006), Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam), Hội thảo khoa học quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại (qua trường hợp Quan họ Bắc Ninh ở Việt Nam)
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, NXB Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Nguồn gốc của quan họ - (Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)
Bảng 2.1 Nguồn gốc của quan họ (Trang 48)
Bảng 3.1: So sánh đội Quan họ và bọn Quan họ - (Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)
Bảng 3.1 So sánh đội Quan họ và bọn Quan họ (Trang 93)
Bảng 3.2: Bảng so sánh giữa một bài hát Quan họ hát "đủ" - (Luận án tiến sĩ văn hóa học) Sinh hoạt văn hóa Quan họ làng (qua trường hợp làng Quan họ Viêm Xá)
Bảng 3.2 Bảng so sánh giữa một bài hát Quan họ hát "đủ" (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w