Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào CHDCND, đến nay đã đạt được những thành tựu nhất định trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng kinh
Trang 1VAN XAY SEN NHOT
Thu hót ®Çu t- trùc tiÕp n-íc ngoµi vµo c¸c tØnh miÒn nói phÝa b¾c ë céng hoµ d©n chñ nh©n d©n lµo
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2VAN XAY SEN NHOT
Thu hót ®Çu t- trùc tiÕp n-íc ngoµi vµo c¸c tØnh miÒn nói phÝa b¾c ë
céng hoµ d©n chñ nh©n d©n lµo
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Bùi Văn Huyền
2 TS Đặng Ngọc Lợi
HÀ NỘI - 2015
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án 4 1.2 Yêu cầu mới và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 17
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI
20
2.1 Khái quát chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 20
2.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 37 2.3 Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 55
Chương 3: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
70
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến thu hút FDI vào
các tỉnh miền núi phía Bắc ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
109
4.1 Phương hướng thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở Cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào đến năm 2020
109
4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía
Bắc ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đến năm 2020
Trang 4BOT : Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
BT : Xây dựng - chuyển giao
BTO : Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
CHDCND : Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
CHXHCN VN : Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
ODA : Viện trợ phát triển chính thức
UNCTAD : Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5Bảng 2.1: Đầu tư FDI tại Việt Nam giai đoạn 2006-2013 58
Bảng 3.1: Số lượng dự án FDI đầu tư vào Lào qua các năm từ 2005-2012 76
Bảng 3.2: Cơ cấu vốn FDI phân theo lĩnh vực trên địa bàn các tỉnh miền núi
phía Bắc Lào giai đoạn năm 2006-2012
78
Bảng 3.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía Bắc Lào phân
chia theo quốc gia trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013
80
Bảng 3.4: Cơ cấu các dự án FDI theo hình thức đầu tư ở các tỉnh miền núi
phía Bắc giai đoạn từ năm 2006 - 2012
81
Bảng 3.5: Cơ cấu dự án FDI theo địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc Lào
trong giai đoạn 2006 - 2012
Bảng 3.8: Tiền lương trung bình của người lao động phân theo ngành nghề 93
Bảng 3.9: Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tỉnh miền núi phía
Bắc Lào được cấp giấy phép qua các năm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế ở bất cứ một quốc gia nào, dù là nước phát triển hay đang phát triển, việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một trong những vấn đề quan trọng nhất, nguồn vốn cho phát triển kinh tế có thể huy động được ở trong nước hay nước ngoài Tuy nhiên, nguồn vốn trong nước có hạn, nhất
là đối với quốc gia kém phát triển như Lào, do đó cần phải thu hút nguồn vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI).
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND), đến nay đã đạt được những thành tựu nhất định trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và tương đối ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân Lào đã từng bước được cải thiện, trong đó đặc biệt là chính sách mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, số lượng các doanh nghiệp nước ngoài
và vốn FDI đầu tư vào Lào nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng ngày càng tăng Vốn FDI đã trở thành nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao khoa học - công nghệ, năng suất lao động tăng, mở ra nhiều ngành nghề với nhiều sản phẩm mới, trình độ người lao động được nâng cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Tuy nhiên, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của các tỉnh miền núi phía Bắc Lào còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của khu vực phía Bắc Số lượng các dự án đầu tư nước ngoài còn ít so với các vùng lân cận, quy mô các dự án còn nhỏ lẻ, mức thu cho ngân sách từ khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài còn thấp, chỉ tập trung vào một số ngành, lĩnh vực nhất định, hệ thống cơ chế chính sách, môi trường pháp lý để thu hút vốn FDI chưa hấp dẫn, thuận lợi, kết cấu hạ tầng còn thấp kém, chưa có quy hoạch chiến lược tổng thể khu công nghiệp gắn với nguồn nguyên liệu để phục vụ sản xuất, chế biến, số lượng và
Trang 7chất lượng nguồn lao động thấp, chưa đưa ra được dự báo về hội nhập kinh tế quốc
tế, Xuất phát từ thực trạng này, tác giả lựa chọn đề tài: "Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào"
làm luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành quản lý kinh tế là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu hút FDI; qua phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào, luận án đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện thu hút FDI tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào trong thời gian tới, dưới góc độ các cơ quan quản lý nhà nước
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng thu hút FDI tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao khả năng thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào, bao gồm 07 tỉnh: Oudom xay; Xayabury; Xieng Khoang; Bokeo; Phong Saly; Luang namtha; Luang prabang
+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu thu hút đầu tư nước ngoài trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013
và đề xuất giải pháp đến năm 2020
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp cơ bản của khoa học nói chung và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế
- Về phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học để phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng phương pháp logic kết
hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích
và tổng hợp
Bên cạnh đó, tác giả còn kế thừa có chọn lọc kết quả của một số công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài Đồng thời sẽ cập nhật, bổ sung những nội dung, thông tin mới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào
5 Đóng góp mới của luận án
- Khái quát hoá cơ sở khoa học về thu hút FDI, đi sâu vào phân tích hình thức, đặc điểm, tác động của FDI, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Phân tích toàn diện thực trạng thu hút FDI tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào đến đến năm 2020
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận án được kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC Ở CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến thu hút FDI ở Việt Nam và một số quốc gia lân cận
Đầu tư nước ngoài là một bộ phận nguồn lực quan trọng cho hoạt động sản xuất và tăng trưởng kinh tế Bởi vậy, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu
và cơ quan hoạch định chính sách quan tâm đến vấn đề này Một số công trình tiêu biểu bao gồm:
Ngô Công Thành (2005), Định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam [34] Để đạt được mục đích Luận án phân tích một số
nội dung là: Làm sáng tỏ các khái niệm về FDI và hình thức FDI; các hình thức FDI
và đặc điểm của chúng Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển của các hình thức FDI tại Việt Nam từ 1988 đến nay, xu hướng vận động của các hình thức này;
Tống Quốc Đạt (2005), Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh
tế ở Việt Nam [8] Trong đó, tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về FDI
và cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế; hệ thống những thay đổi
về cơ chế, chính sách của Việt Nam trong từng thời kỳ từ khi ban hành Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (1987) đến nay nhằm thu hút FDI theo ngành kinh tế; đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó, luận án đưa ra một số quan điểm, định hướng về việc thu hút FDI hướng tới việc điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế thông qua việc khẳng định vai trò của FDI với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân và những giải pháp chủ yếu định hướng thu hút FDI theo ngành kinh tế để chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong giai đoạn tới
Trần Quang Lâm, An Như Hải (2006), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở
Trang 10Việt Nam [20] Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống, khoa học về cơ sở lý
luận và thực tiễn kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, nhìn lại chặng đường gần 20 năm đổi mới
mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài (1988-2005) và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
ở Việt Nam đã có những bước tiến triển mạnh mẽ và trên thực tế, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (đồng chủ biên) (2006), Những vấn đề
kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam [3] Xuất phát từ mục đích phải làm rõ thực chất, đặc
điểm, hậu quả hay rủi ro của của những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, công trình nghiên cứu này đã tiến hành hệ thống hoá những vấn đề chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ ra những thành công và hạn chế có thể mà nguồn vốn này chúng ta được coi là nguyên nhân trực tiếp gây ra những rủi
ro đối với doanh nghiệp và hoạt động quản lý của nước tiếp nhận, làm giảm đi phần nào những tác động tích cực của nguồn vốn này Đồng thời công trình cũng đã tiến hành phân tích những vấn đề kinh tế xã hội chủ yếu trên thực tế đã nảy sinh ở Trung Quốc kể từ khi mở cửa và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ cho công cuộc cải cách của Trung Quốc và tiến hành tổng kết kinh nghiệm xử lý những vấn
đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc thời gian qua
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam Nhờ có động lực thúc đẩy mạnh mẽ là đầu tư nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng được hình thành, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng tích cực hơn Tuy nhiên, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động quản
lý quá trình này có tính hai mặt, bên cạnh những tác động tích cực, thời gian qua quá trình này cũng phát sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của nguồn vốn này
Trang 11Bên cạnh đó, công trình cũng đã tiến hành đánh giá những tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
và thông qua việc xem xét tiến trình và động thái thu hút vố đó; thực hiện việc khảo sát, phân tích và đánh giá những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, luận giải cụ thể nguyên nhân của những vấn đề này trong điều kiện đặc thù Việt Nam cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan Công trình cũng đã cho thấy mặc dù có những tác động tích cực, song nguồn vốn FDI cũng đã gây ra những vấn đề phức tạp về kinh tế - xã hội Điều cần thiết trước mắt là phải nhận thức đầy đủ tác động những vấn đề này để có quan điểm và giải pháp xử lý thích hợp
Trương Thái Phiên (2000), Chiến lược đổi mới chính sách huy động các
nguồn vốn nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2001-2010 [28] Trong đề tài này tác giả đã đưa ra các giải pháp chủ yếu thu hút vốn FDI
như: Đổi mới cơ cấu FDI nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch đối với FDI, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách quản lý nhằm cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài, mở rộng hợp tác đầu tư nước ngoài theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, đẩy mạnh thủ tục cải cách hành chính, cải tiến công tác tổ chức bộ máy quản lý, phân cấp và cơ chế thu hút, nâng cấp cơ sở hạ tầng, thúc đẩy hoạt động hỗ trợ, xúc tiến FDI, tăng cường công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ, phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nước phục vụ hiệu quả hoạt động FDI
Trần Thị Minh Châu (2007), Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam
[7] Đầu tư phát triển là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc gia cả trong ngắn hạn và dài hạn Song, trong thực tế, không phải bao giờ một quốc gia cũng đạt được mức độ đầu tư phát triển mong muốn, bởi vì, đầu tư phát triển là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Để quyết định bỏ vốn vào sản xuất, nhà đầu tư phải bảo đảm về độ an toàn thu hồi vốn, phải được hấp dẫn bởi triển vọng kiếm được lợi nhuận hợp lý, phải được cung cấp những điều kiện tối thiểu về nguồn lực và tính tổ chức của thị trường Những đòi hỏi đó, đôi khi thị trường tự do không cung cấp đủ, nên Nhà nước phải vào cuộc
Trang 12bằng cách hoạch định và thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư Ngày nay, ở mọi quốc gia, chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước là một trong những chính sách cơ bản, quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước
Việt Nam về cơ bản, đã chuyển sang nền kinh tế thị trường và đang trong giai đoạn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng và mạnh mẽ nên chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước càng có vai trò quan trọng đặc biệt Trong những năm gần đây, với việc thực thi các hoạt động tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính về sử dụng đất đai, về thuế, về đào tạo
Nhà nước đã thu hút được số lượng vốn đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh Kết quả là, trong suốt hai mươi năm đổi mới, tổng đầu tư xã hội đều tăng, năm sau cao hơn năm trước Số vốn tăng thêm này đã góp phần làm cho nước
ta giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tạo thêm nhiều việc làm mới và cải thiện chất lượng sống của dân cư
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, Việt Nam vẫn còn bỏ phí nhiều nguồn lực, chưa thu hút đủ mức cả vốn trong nước lẫn vốn nước ngoài vào phát triển kinh
tế Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân Nhà nước chưa làm tốt chính sách khuyến khích đầu tư
Đề tài tập trung trình bày ba nội dung cơ bản: làm rõ cơ sở lý luận của chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân tích, đánh giá thực trạng chính sách khuyến khích của Nhà nước ta hiện nay; đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước ta trong thời gian tới
Nguyễn Duy Quang (2007), Đầu tư trực tiếp của Liên minh Châu âu vào
Việt Nam [30] Trong đó, tác giả đã phân tích quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Liên minh Châu Âu (Viết tắt là EU) vào Việt Nam trên góc độ quan hệ đa phương và quan hệ song phương giữa các thành viên EU với Việt Nam, nhất là các thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài của EU tại Việt Nam
Trang 13Hoạt động đầu tư vốn FDI của EU và các nước thành viên vào Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2005 Qua đó, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả, hạn chế, nguyên nhân, từ đó đề xuất phương hướng, các giải pháp tăng cường thu hút FDI vào Việt Nam Luận án có đề cập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài của
EU vào ASEAN và những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về thu hút FDI từ
EU ở mức độ nhất định để so sánh và vận dụng vào Việt Nam
Luận án kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, luận án đã phân tích, đánh giá và hệ thống hoá những lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Lào
Nguyễn Xuân Trung (2012) đã đưa ra quan điểm về FDI có chất lượng như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có chất lượng sẽ đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững của nước tiếp nhận đầu tư theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển bền vững của nước tiếp nhận đầu tư theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước trong hoàn cảnh điều kiện cụ thể
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng FDI của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, giai đoạn 2011-2010, theo tiêu chí phát triển bền vững, công trình đã đưa ra những quan điểm chiến lược về FDI tại Việt Nam, những yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất lượng FDI tại Việt Nam trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Trần Thị Tuyết Lan (2014), Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát
triển bền vững ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [19] Được xây dựng và phát triển
nhằm hướng tới mục tiêu phát huy tối đa các lợi thế so sánh của vùng kinh tế trọng điểm, tạo ra các vùng kinh tế có tính chất động lực, có tác động lan toả và bứt phá; lôi cuốn các vùng khác cùng phát triển Do đó, việc thu hút và quản lý hoạt động của khu vực doanh nghiệp có vốn FDI nhằm thúc đẩy vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ phát triển theo hướng bền vững là yêu cầu khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của vùng Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 8 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Thông báo số 108/TB-VPCP ngày 30 tháng 7 năm 2003 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung,
mở rộng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hà Tây, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc Đến 1-1-2008, Hà Tây được
Trang 14sáp nhập vào Hà Nội, nên vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chỉ còn 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đây là vùng giữ vị trí quan trọng chiến lược trong tiến trình hội nhập sâu, rộng, hiệu quả với khu vực và thế giới Bởi lẽ, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là vùng duy nhất có thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và quan hệ quốc tế của cả nước, nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế, nguồn nhân lực, tập trung nhiều viện nghiên cứu và các trường đại học nhất trong cả nước
Với những lợi thế đặc biệt, trong những năm qua, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là một trong hai vùng kinh tế của cả nước luôn dẫn đầu về thu hút FDI cả về
số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư Khu vực doanh nghiệp có vốn FDI ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có những đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI và quá trình hoạt động của khu vực doanh nghiệp có vốn FDI ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đã
và đang xuất hiện những biểu hiện tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
bề vững của vùng trên cả 3 khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường Mặc dù, kết quả thu hút FDI vào vùng kinh tế trọng điểm bắc Bộ trong những năm qua là rất khả quan, song cơ cấu đầu tư theo ngành của khu vực FDI trong vùng còn mất cân đối, tập trung chủ yếu vào những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, những ngành gia công và lắp ráp mà điển hình là: Giày da, dệt may, linh kiện điện tử chưa chú trọng thu hút FDI vào phát triển các ngành công nghiệp ít gây hại đến môi trường , nhất là ngành sử dụng công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao Thực tế đã chứng minh, sau nhiều năm thu hút FDI, sản xuất công nghiệp của vùng tuy có nhiều thay đổi, nhưng vùng kinh tế trọng điểm bắc Bộ vẫn chưa thực sự trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có sức lôi cuốn và tác động lan toả đến ngành công nghiệp của các vùng lân cận cùng phát triển Hầu hết thu hút FDI vào các ngành công nghiệp đều có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng, nhiệt điện, hoá chất Số lượng và quy mô dự án FDI tập trung vào các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, cấp nước và xử lý chất thải, y tế và trợ giúp xã hội còn rất nhỏ bé Bên cạnh đó, sự hoạt động của khu vực các doanh nghiệp có vốn FDI cũng đang xuất hiện những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Về mặt kinh tế, xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp FDI "lỗ giả,lãi thật", trốn thuế làm thất thu thuế của Nhà nước; hiện tượng nợ xấu
Trang 15và chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI khá phổ biến và có biểu hiện ngày càng gia tăng Khu vực doanh nghiệp FDI chưa thực sự tạo ra tác động lan toả lớn đối với nền kinh tế của vùng Mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI còn rất lỏng lẻo Về mặt xã hội, khu vực FDI góp phần tạo mở và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong vùng, song chưa chú trọng đến việc nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động; đời sống vật chất và tinh thần của người lao động chưa được quan tâm một cách thoả đáng Về mặt môi trường, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp có vốn FDI chưa tốt với các biểu hiện như chưa quan tâm đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, cố tình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường đã ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái và sức khoẻ của dân cư trong vùng Tất cả những tác động tiêu cực
đó đang là rào cản tiềm ẩn nguy cơ, thách thức to lớn đối với sự phát triển bền vững của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, tiêu biểu như: Lâm Nguyễn (2004), "Các giải pháp tăng cường thu hút FDI" [26]; Trần Nguyễn Tuyên (2004), "Hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích FDI
ở Việt Nam" [43]; Trần Văn Lợi (2006), "Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vấn đề đặt ra và một số giải pháp" [23]; Nguyễn Văn Hiệu (2006), "Thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài ở Việt Nam - thực trạng, triển vọng và giải pháp" [9]; Lưu Ngọc Trịnh và Nguyễn Bình Giang (2006), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam" [40]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khoá VI (1997)
đã đề ra đường lối, mở rộng phát triển kinh tế đối ngoại, thực hiện phát triển các quan hệ kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên toàn thế giới, nhất là việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài kết hợp với nguồn vốn đầu tư trong nước cho
sự phát triển kinh tế - xã hội Từ đó thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Lào, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, để thu hút đầu tư nước ngoài với số lượng lớn
và sử dụng nó có hiệu quả, điều hết sức quan trọng là tạo lập môi trường đầu tư sinh
Trang 16động, khuyến khích các đối tác đầu tư trên thế giới mới đạt mục tiêu đề ra Từ đó, các cơ quan đoàn thể, các nhà lãnh đạo đã quan tâm nghiên cứu về đầu tư nước ngoài, cả phương diện lý luận và thực tiễn ngày càng nhiều hơn, sâu rộng hơn
Các công trình nghiên cứu dưới góc độ khác nhau về đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào là rất lớn, song tác giả luận án chỉ phân tích và nêu rõ một số đề tài đại diện cho quá trình nghiên cứu của mình dưới đây:
Văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII đã chỉ rõ: Trong sự nghiệp đổi mới, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng là xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của CHDCND Lào, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá với những cơ hội thách thức gay gắt hiện nay Đi đôi với phát triển mọi mặt, trong đó Đảng và Nhà nước Lào luôn đề cao, coi trọng phát triển kinh tế đối ngoại Vì muốn phát triển đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng yếu kém, lạc hậu, phải thực hiện tốt chính sách mở cửa, hợp tác quốc tế, tạo môi trường thuận lợi đưa kinh tế Lào gắn chặt với
sự phát triển của nền kinh tế thế giới và khu vực Qua đó có thể thu hút được ngoại lực là nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài để kết hợp với nội lực, khả năng thế mạnh của đất nước tạo điều kiện để kinh tế phát triển Muốn thực hiện được điều đó, trước hết phải giữ vững ổn định chính trị, phát triển mạnh về lực lượng sản xuất, làm cho tốc độ phát triển của nền kinh tế có nhịp độ nhanh hơn, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật lành nghề đầy đủ, có chất lượng cao trên mọi lĩnh vực kinh tế -xã hội, làm cho cơ cấu kinh tế Lào chuyển dịch theo hướng hiện đại Tuy nhiên, cũng phải cân nhắc kỹ trong hợp tác quốc tế, vừa phát triển quan hệ quốc tế, vừa bảo đảm tính độc lập tự chủ, phát triển kinh tế gắn với ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng
Nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII đã xác định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2010 - 2010 phải là kế hoạch mang tính phát triển đột phá với sự chuyển biến tích cực về mọi mặt Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng xây dựng một nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, quy mô lớn, chất lượng nâng cao rõ rệt, dựa trên tiềm năng phong phú của đất nước kết hợp với hội nhập quốc tế
Trang 17Khảy Khăm-Văn Na Vông Sỷ (2002), Mở rộng quan hệ kinh tế giữa Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào với các nước láng giềng trong giai đoạn hiện nay [18]
Phân tích xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế các nước, khẳng định tính tất yếu
và những lợi ích của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Lào với các nước láng giềng có chung đường biên giới, đề xuất các giải pháp chủ yếu để mở rộng, nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế giữa Lào với các nước láng giềng
Làm rõ sự cần thiết khách quan mở rộng phân công lao động và hợp tác kinh
tế giữa Lào với các nước láng giềng Xác định vai trò, vị trí, ý nghĩa của mỗi hình thức hợp tác và xem xét thực trạng hợp tác và kiến nghị các phương hướng, giải pháp
mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế giữa Lào và các nước láng giềng
Khái quát, luận chứng tính tất yếu phát triển quan hệ kinh tế giữa Lào với các nước láng giềng Phân tích làm rõ thực trạng, chỉ ra những mặt được, chưa được, những hạn chế, khó khăn cụ thể của quá trình phát triển quan hệ kinh tế giữa Lào với các nước láng giềng Đề xuất những phương hướng phát triển hợp lý, những giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế giữa Lào với các nước láng giềng
Bua Khăm Thíp Pha Vông (2001), Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát
triển kinh tế ở CHDCND Lào [5] Phân tích sự tác động của các nhân tố, do hình thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hiện nay Phân tích và tổng kết những bài học kinh nghiệm trong việc thu hút đầu tư và phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài của các nước NICs, ASEAN và của Lào trong thời gian qua Từ đó, xác định những điều kiện và những giải pháp chủ yếu
để thúc đẩy việc thu hút nguồn FDI trong việc phát triển kinh tế CHDCND Lào
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài Tìm ra mối liên hệ khách quan giữa việc phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Phân tích tác động của FDI trong việc phát triển kinh tế CHDCND Lào, khái quát những thành tựu cũng như những tồn tại của thu hút đầu tư nước ngoài, xuất phát từ những phân tích tình hình thực tiễn luận án đề xuất các phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI tại CHDCND Lào
Phân tích những đặc điểm vận động của dòng đầu tư trực tiếp ở các nước Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN) Phân tích sự tác động qua lại của đầu tư trực tiếp
Trang 18nước ngoài với sự phát triển kinh tế của nước CHDCND Lào Phân tích những bài học kinh nghiệm trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước ASEAN và thực trạng đầu tư trực tiếp ở Lào trong đó trình bày quan điểm phương hướng và những biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội CHDCND Lào
Xổm xạ-ạt Un Xi Đa (2005), Hoàn thiện các giải pháp tài chính trong thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào đến năm 2010
[45] Trong đó đã trình bày một cách có hệ thống các công cụ tài chính và vai trò của nó trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Lào; đánh giá hệ thống pháp luật, chính sách, quá trình sử dụng các công cụ này vào việc thu hút đầu tư nước ngoài ở Lào, những hạn chế của các công cụ tài chính đang sử dụng, nguyên nhân; qua đó tác giả đã đề xuất các giải pháp tài chính nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Lào đến năm 2010, những điều kiện để thực hiện các giải pháp này Luận án đã đề cập đến vấn đề tạo lập môi trường đầu tư tại CHDCND Lào thông qua các chính sách thuế, chính sách tín dụng, ưu đãi đầu tư, đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện dự án tại Lào Tuy nhiên, luận án mới chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện các giải pháp tài chính nhằm thu hút FDI mà chưa đề cập đến các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài nói chung
Lee Bue Lee Bua Pao (2002), Đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào [21].Đề tài này đã bàn về một số nội dung chính như sau: Phân tích và đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào, tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào và triển vọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Lào Từ đó, đề xuất một số kiến nghị về chính sách và quan điểm trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài của Lào
Làm rõ về vai trò của đầu tư nước ngoài và tìm ra quan hệ khách quan giữa phát triển và thu hút đầu tư nước ngoài Xác định sự tác động của đầu tư nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội ở CHDCND Lào, đề xuất một số giải pháp chủ yếu
về hoàn thiện môi trường đầu tư của Lào trước mặt và lâu dài
Về các công trình công bố trên tạp chí chuyên ngành:
Xỉ la Viêng kẹo "Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và ASEAN những cơ hội,
Trang 19lợi ích và thách thức" [44], tác giả đưa ra câu hỏi xung quanh vấn đề gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) của CHDCND Lào như: khi gia nhập
ASEAN, CHDCND Lào sẽ có những tác động ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và khó
khăn hạn chế gì? Tác giả đã phân tích tình tất yếu Lào phải trở thành thành viên của
khối ASEAN, làm rõ chính sách đối ngoại mở rộng hợp tác, liên kết quốc tế của Đảng và Nhà nước Lào là nhằm phát triển mạnh về kinh tế đối ngoại, tạo mọi điều kiện thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho phát triển đất nước, tác giả cũng đã làm rõ mục tiêu quan trọng của ASEAN là hợp tác kinh tế tương trợ giúp đỡ lẫn nhau tạo mọi yếu tố cho nhau cùng có lợi, cùng phát triển và cạnh tranh kinh tế với các tổ chức khác trên thế giới nhằm phát triển khu vực Thể hiện rõ ở mỗi lần Hội nghị bộ trưởng các nước ASEAN đều quan tâm đến sự tiến bộ của mỗi thành viên trong khối Đồng thời tác giả đi phân tích những thành tựu mà ASEAN đã đạt được trong những năm 90 của thế kỷ XX Trên cơ sở đó, trả lời câu hỏi: vì sao các nước ASEAN đạt được những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế nói chung? xuất phát
từ những nhân tố quan trọng là:
Một là, ASEAN có môi trường chính trị - xã hội tương đối ổn định
Hai là, các chương trình, dự án kinh tế - xã hội đã và đang được chỉnh sửa,
bổ sung và hoàn thiện, từ đó mang lại hiệu quả nhất định
Ba là, có đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật, được qua đào tạo hằng năm đã tăng lên
Bốn là, nắm bắt thời cơ, đặc điểm, tiềm năng thế mạnh của mỗi thành viên
mà đề ra chiến lược chung chi phát triển đúng mục tiêu kho toàn khối Như vậy tác giả đã tiếp cận vấn đề môi trường đầu tư nước ngoài từ góc độ các chính sách đến nhân lực và tiềm năng thế mạnh, hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ Nhưng chỉ mới nêu lên chứ không đi vào phân tích làm rõ các vấn đề đó
Kỷ yếu Hội thảo về chiến lược tài trợ của EU cho Lào giai đoạn 2006-2010
[48] Trong đó, đánh giá thực trạng về ODA từ EU vào Lào, những yếu tố tác động, nguyên nhân hạn chế Xác định quan điểm, phương hướng chiến lược và đề xuất một số kiến nghị về chính sách và giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ EU vào Lào trong thời gian 2006 - 2010 Đồng thời, xác định
Trang 20quan hệ hợp tác về đầu tư nước ngoài của EU vào Lào trên góc độ quan hệ đa phương và song phương giữa các thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng lớn về tài trợ của EU tại Lào
Trong hội thảo, việc thu hút nguồn ODA từ EU vào Lào, xác định rõ quan điểm, phương diện và chính sách nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA của EU vào Lào trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá, nội dung chính của hội thảo như sau:
Một là, việc tăng cường thu hút nguồn ODA của EU vào Lào Lào thấy có
nhiều lợi ích trong phát triển quan hệ hợp tác đầu tư với EU, đặc biệt là trong xu thế phát triển của thế giới và trong bối cảnh quốc tế hoá hiện nay
Hai là, quan hệ hợp tác đầu tư giữa EU và Lào có thể chia thành 3 giai đoạn
khác nhau (giai đoạn từ năm 1995 - 2000; 2001 - 2005; 2006 - 2010), với mức độ phát triển theo từng thời kỳ khác nhau và cũng chịu tác động chung của dòng vốn đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư (tài trợ) của EU đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Lào với hình thức viện trợ không hoàn lại và có đối ứng vốn nhà nước không quá 5% Có mặt ở các địa phương trong cả nước, chủ yếu là các tỉnh, huyện nghèo và vùng sâu vùng xa Các dự án tài trợ của EU vào Lào trong những năm qua chủ yếu là các dự án ngỏ và trung bình với tổng vốn thực hiện còn thấp, so dự án vẫn thực sự tương xứng với tiềm lực kinh tế của EU
Ba là, nhìn lại quá trình hợp tác đầu tư giữa hai bên, nguồn ODA của EU đã
có những tác động toàn diện đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Lào EU luôn khẳng định vai trò là đối tác quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lào Lào cần tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách vượt qua những thách thức ngày càng lớn như: áp lực cạnh tranh từ một số nước láng giềng và một số quốc gia , trong khi đó năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, các quy chế, ưu đãi của EU còn nhiều khó khăn, vướng mắc đối với Lào
Bốn là, trong điều kiện điểm xuất phát thấp của nền kinh tế Lào, để tăng
cường thu hút và sử dụng ODA của EU một cách có hiệu quả, đòi hỏi Lào phải có những quan điểm, chính sách và giải pháp phụ hợp, tích cực chuyển dịch cơ cấu
Trang 21kinh tế, thúc đẩy quá trình cải cách nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, xây dựng chiến lược thu hút nguồn vốn ODA của EU vào Lào, hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế khu vực và thế giới để tận dụng thế mạnh của EU về vốn, công nghệ, đầu tư, và kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
JICA (2004), Một số chính sách đầu tư của Nhật tại Lào [16] Trong cuốn
sách nay tổ chức "JICA" đã xác định quan điểm, phương hướng chiến lược trong quan hệ hợp tác đầu tư giữa Lào và Nhật Bản cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội tại Lào, để đẩy mạnh hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực của Lào một cách nhanh chóng thông qua tài trợ nguồn ODA của Nhật trong thời gian tới
Đánh giá thực trạng đầu tư của Nhật Bản tại Lào trong những năm qua Phân tích một số yếu tố tác động, nguyên nhân hạn chế và khả năng phát triển quan hệ hợp tác đầu tư giữa Lào và Nhật Bản Xác định quan điểm, phương hướng chiến lược và đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm tăng cường thu hút và sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) vì nguồn vốn này của Nhật Bản tài trợ cho Lào là viện trợ không hoàn lại
Trong cuốn sách này đề cập đến hợp tác đầu tư nước ngoài của Nhật Bản trên góc độ quan hệ đa phương hoặc song phương, nhất là nguồn tài trợ của Nhật Bản trong các dự án tài trợ của Nhật Bản trong các dự án có quy mô lớn Đồng thời cũng so sánh hiệu quả của các dự án tài trợ của Nhật cho Lào với một số quốc gia khác nhằm rút kinh nghiệm về kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân để từ đó
đề ra một số giải pháp trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này trong phát triển kinh tế - xã hội của Lào
Quan hệ hợp tác đầu tư giữa Lào và Nhật Bản có thể chia thành nhiều giai đoạn, kể cả trước năm 1975, với mức độ phát triển theo từng giai đoạn của tình hình kinh tế - xã hội của Lào và cũng chịu sự tác động ảnh hưởng chung của dòng đầu tư nước ngoài trên thế giới Các nhà đầu tư của Nhật trong hầu hết các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế Lào Đồng thời, Nhật Bản là nhà tài trợ lớn thứ hai sau Ngân hàng phát triển châu Á, và sự phân bố không đều, chủ yếu là các dự án có quy mô nhỏ vốn thực hiện thấp
Trang 22Tuy nhiên, nhìn lại quá trình hợp tác đầu tư giữa Lào và Nhật Bản, nguồn vốn của Nhật đã có những tác động toàn diện đối với kinh tế - xã hội của Lào Nhật Bản luôn luôn khẳng định vai trò là một đối tác quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lào Như vậy, Lào cần phải cải cách hơn nữa về môi trường đầu tư để góp phần trong xúc tiến hợp tác đầu tư giữa CHDCND Lào và Nhật Bản trong những năm tới
Tóm lại, những công trình và đề tài khoa học trên mới chỉ quan tâm đến các vấn đề dưới khía cạnh và góc độ khác nhau về đầu tư nước ngoài Do vậy, đề tài mà tác giả đã chọn không trùng lặp với các công trình và đề tài khoa học đã công bố Đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về thu hút đầu tư nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía Bắc tại CHDCND Lào một cách hệ thống dưới dạng 1 luận
án tiễn sĩ,chuyên ngành quản lý kinh tế Vì vậy, đề tài luận án "Thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các tỉnh miền núi phía bắc nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào" do nghiên cứu sinh lựa chọn là không trùng lặp và cấp thiết đối với nước
CHDCND Lào hiện nay
1.2 YÊU CẦU MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Đến nay, đã có những nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và quốc tế
về đầu tư nước ngoài vào Lào Các nghiên cứu đã tập trung vào nhiều khía cạnh,lý giải nhiều nội dung Tuy nhiên yêu cầu mới đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu để tìm kiếm những giải pháp phủ hợp trong bối cảnh mới
Trong chủ trương đường lối của nước CHDCND Lào luôn luôn đề cao đại đoàn kết toàn Đảng toàn dân, tiến hành nhiệm vụ an ninh - quốc phòng có chất lượng cao với phát triển toàn diện nền kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm đảm bảo ổn định chính trị, giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, tạo mọi điều kiện thuận lợi (môi trường chính trị - xã hội, pháp luật hấp dẫn) chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay trong đó đặc biệt chú trọng đến thu hút FDI Do đó, đã có nhiều công trình, nhiều tác giả, cá nhân và các cơ quan quan tâm tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Khi nghiên cứu về lĩnh vực thu hút vốn FDI của nước ngoài và được thể hiện ở các công trình trên
Chiến lược thu hút và sử dụng FDI phải được coi là bộ phận cấu thành của
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía Bắc, là cơ sở để
Trang 23xây dựng các quy hoạch tổng thể và kế hoạch thu hút FDI theo ngành, khu vực và theo từng khu công nghiệp Để xây dựng chiến lược có chất lượng, sát với tình hình thực tế, cần chú trọng công tác dự báo, cập nhật thông tin thị trường trong nước và quốc tế, tăng tính mở, tính linh hoạt trong các phương án để thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và xu hướng vận động của các luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu
Dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiên tiến và hiện đại ngày nay Chúng ta đang chứng kiến việc di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới Sự di chuyển các nguồn lực này ngày càng có ý nghĩa quan trọng, tác động rất lớn đến sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Thực tiễn cho thấy, các quốc gia kém phát triển và đang phát triển, nước nào thu hút được nhiều nguồn vốn quốc tế và sử dụng nó có hiệu quả cao thì có nhiều cơ hội tăng trưởng kinh tế hơn, qua đó có khả năng rút ngắn nhanh hơn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển Chính vì vậy, các nước đang phát triển phải cạnh tranh với nhau trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này, vấn đề tạo lập môi trường đầu tư nước ngoài giữ một
ví trí, vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt đối với các nước kém phát triển, trong đó
có nhà nước CHDCND Lào
Nhân dân các bộ tộc của đất nước Hoa Chăm Pa tươi đẹp, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất anh hùng bất khuất đấu tranh gian khổ và anh dũng giành được độc lập cho dân tộc, giải phóng nhân dân Lào khỏi ách áp bức của ngoại bang, thành lập nhà nước CHDCND Lào vào ngày 02 tháng 12 năm 1975 Đến nay, đã hơn 30 năm và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đang lãnh đạo nhân dân các bộ tộc Lào xây dựng cuộc sống mới trên đất nước Triệu Voi xinh đẹp và giàu có, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đã làm thay đổi quê hương đất nước Lào nhanh chóng Tuy nhiên, cũng trên con đường phát triển mới này, Đảng và nhân dân Lào đang phải đối mặt với
nhiều thách thức to lớn chưa từng có trong lịch sử như: kinh tế thị trường, nhà nước
pháp quyền, hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá và kinh tế đối ngoại là những vấn đề rất
mới mẻ, khó khăn thử thách đầy cam go đối với nước CHDCND Lào hiện nay
Trang 24Để đẩy mạnh phát triển đất nước, một trong những điều quan trọng đang đặt
ra là CHDCND Lào phải thu hút được vốn FDI đầu tư nước ngoài vào nước CHDCND Lào được thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả và kết hợp hài hoà sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội Ngược lại, nếu không thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách thuận lợi thì sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển đất nước Đây sẽ là điều hết sức khó khăn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài đáp ứng nhu cầu vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước Vì vậy, vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng với một nước kém phát triển như CHDCND Lào và là điều thiết yếu rất bức xúc hiện nay
Thực tiễn cho thấy tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở CHDCND Lào thời gian qua còn quá chậm chạp, có nhiều khó khăn Nền kinh tế quốc dân yếu kém, thiếu tính chủ động, dẫn đến việc thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước đạt hiệu quả còn khiêm tốn Do kinh tế của CHDCND Lào xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, mới bước vào thực hiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, nên việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại càng trở nên quan trọng
Đồng thời, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của CHDCND Lào diễn ra hết sức khó khăn, trong đó lý do quan trọng nhất là vấn đề môi trường đầu tư chưa thực
sự hấp dẫn Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, nhằm thu hút được nguồn vốn của nước ngoài, kết hợp với các nguồn lực của đất nước cho phát triển kinh tế -
xã hội đòi hỏi các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương phải tìm ra những giải pháp đúng đắn trong việc xây dựng cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư nước ngoài thuận lợi; kịp thời tháo gỡ những khó khăn hạn chế, rào cản nhằm tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng để thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội của Lào
Như vậy, bối cảnh mới đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và thực trạng thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc ở CHDCND Lào, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế, từ đó tìm kiếm giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy thu hút FDI vào các tỉnh miền núi phía Bắc, góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra
Trang 25Theo Luật Đầu tư của Việt Nam (2005) thì Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình khác hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan [31] Như khái niệm này thì đã là đầu tư thì phải bỏ vốn và là các
tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép, như vậy, tất cả những nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm quy định của pháp luật Tuy nhiên, quan niệm này lại chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi
Đầu tư là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Đầu tư chính là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến những lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai Tuy nhiên, trong phạm
vi xem xét khác nhau, khái niệm đầu tư cũng có những điểm khác nhau
"Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức và cá nhân nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh hay các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài" [31] Theo
đó, FDI là việc các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất
kì tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này, trong
đó nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Theo Mai Thị Như Trang (2011), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc
gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có quyền sở hữu, quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình [39]
Trang 26Đầu tư theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó nhằm thu về cho nhà đầu
tư được kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực mà nhà đầu tư
đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động trí tuệ… Theo nghĩa hẹp, đầu tư là toàn bộ tiềm lực tài chính Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực vốn lớn hơn
Hội nghị Liên hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa
ra một khái niệm về FDI: Vốn FDI bao gồm luồng vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ các doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: Vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty
Theo quan niệm có tính tổng quan, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hoá và phân công lao động quốc tế
Tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác" Nhà đầu
tư nước ngoài có thể là các cá nhân hoặc các doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các đối tác đầu tư địa phương
Quan niệm của tác giả luận án về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình kinh doanh của nhà các đầu tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đó để thiết lập cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư, do vậy họ có quyền sở hữu và trực tiếp tham gia quản lý và điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ những hoạt động đầu tư đó
Trang 272.1.2 Đặc điểm và các hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.1.2.1 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về FDI như sau:
có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, bí quyết sản xuất kinh doanh, năng lực thị trường…
- Đặc điểm về quyền quản lý vốn:
Quyền quản lý kinh doanh doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức độ góp vốn Tỷ lệ góp vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức độ góp vốn Tỷ lệ góp vốn của bên ngoài càng cao thì quyền quản lý ra quyết định càng lớn Nếu nhà đầu tư góp 100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý
- Đặc điểm về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn:
Nhà đầu tư vừa là người chủ sở hữu, vừa là người sử dụng vốn đầu tư Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư Chủ
sở hữu vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh Việc phân chia thành viên Hội đồng quản trị, việc điều hành quá trình sử dụng vốn được phân chia theo tỷ lệ góp vốn Chủ sở hữu được hưởng lợi ích do hoạt động đầu
Trang 28tư mang lại Mục đích quan trọng của các chủ sở hữu vốn là việc giành kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư mà họ bỏ ra, đặc biệt trong việc quyết định một số vấn đề quan trọng hoạt động của doanh nghiệp
Đầu tư vốn FDI là hình thức đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu
tư Đây là đầu tư có tính vật chất ở nước sở tại nên không dễ rút đi trong một thời gian ngắn Đây là những đặc điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu
tư gián tiếp Đầu tư gián tiếp thường là những dòng vốn có thời hoạt động ngắn và
có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu )
2.1.2.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài việc sử dụng những công cụ quản lý vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, quy hoạch, bảo hiểm sản xuất và nhiều chính sách ưu đãi khác, Chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư rất chú ý đến nguyện vọng của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc lựa chọn hình thức đầu tư Việc nghiên cứu các hình thức của FDI sẽ giải thích
rõ hơn khái niệm về FDI Mặc dù mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư là nhằm thu lợi nhuận cao khi đầu tư ra nước ngoài, nhưng mỗi quốc gia và mỗi nhà đầu tư thực hiện các hình thức đầu tư khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của mình
Hiện nay, FDI được thực hiện theo hai kênh cơ bản là đầu tư mới (Greenfild Investment - GI) và mua lại và sáp nhập (Mergers and Acquysions - M&A):
- Đầu tư mới:
Là hình thức các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới Ngoài ra, hình thức đầu tư chủ yếu như doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh, còn có những hình thức khác như công ty cổ phần, công ty mẹ - con, chi nhánh công ty nước ngoài Đây là các kênh chủ yếu mà các nhà đầu tư ở nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát triển
Các hình thức FDI của mỗi quốc gia do luật pháp từng nước quy định vào thường được áp dụng phổ biến là:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation by Contract - BCC)
Đây chính là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với các nhà
Trang 29đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên bằng các văn bản ký, trong đó các bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân riêng mà không tạo nên một pháp nhân mới Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới Các bên cùng hợp tác sản xuất kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký kết, quy định
rõ đối tượng và nội dung kinh doanh, phân định trách nhiệm nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi bên Thời hạn hiệu lực của hợp đồng là do các bên thoả thuận và được cơ quan
có thẩm quyền của nước nhận đầu tư phê chuẩn Hình thức này được thực hiện rất
đa dạng và được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí và một
số tài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan
- Doanh nghiệp liên doanh (Joint Ventures Company - JVC)
Là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên tham gia, phù hợp với quy định luật pháp của nước chủ nhà Hình thức này có đặc trưng cơ bản như sau:
+ Cùng góp vốn
Các bên cùng góp vốn thành lập một doanh nghiệp mới bằng tiền mặt, nhà xưởng, đất đai, uy tín công ty, nhãn hiệu hàng hoá hoặc các tài sản khác Tỷ lệ góp vốn của các bên nước ngoài do các bên tham gia thoả thuận và theo quy định luật pháp của nước nhận đầu tư Theo Luật Đầu tư của nước CHDCND Lào về vốn tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số vốn pháp định
+ Cùng quản lý
Các bên xây dựng bộ máy quản lý hoạt động doanh nghiệp, cùng tham gia hội đồng quản trị cũng như mức độ quyết định các vấn đề của doanh nghiệp Tỷ lệ phân chia lợi nhuận giữa các bên cũng dựa theo tỷ lệ góp vốn Nếu doanh nghiệp gặp phải rủi ro, thiệt hại do những rủi ro đó gây ra sẽ do các bên tham gia gánh chịu theo tỷ lệ phân chia như đối với lợi nhuận
Trang 30+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% Foreign - Owned Enterprises - FoE)
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập với 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư nước ngoài, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, nhưng vẫn là pháp nhân của nước sở tại
Mặc dù sở hữu, điều hành và quản lý doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn nằm trong tay chủ đầu tư nước ngoài, nhưng doanh nghiệp đó vẫn chịu sự kiểm soát của luật pháp của nước chủ nhà và phải thực hiện đúng mọi cam kết trong điều lệ doanh nghiệp cũng như pháp luật liên quan khác Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
+ Hình thức BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh: Build Transfer Operate - BTO)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là văn bản ký kết giữa Chính phủ nước sở tại và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho Chính phủ nước sở tại Sau đó, Chính phủ cho nhà đầu tư chuyển kinh doanh công trình đó trong một thời gian xác định
Trang 31+ Hình thức BT (Xây dựng - chuyển giao: Build Transfer - BT)
Hình thức BT khác hình thức BOT ở chỗ, sau khi xây dựng xong, công trình
cơ sở hạ tầng được chuyển giao cho Nhà nước sở tại do chính phủ nước sở tại phải thanh toán các hạng mục công trình như trong hợp đồng đã ký kết còn hình thức BOT thì sau khi kết hạn kinh doanh, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước Hợp đồng BT được ký như hợp đồng BOT, nhưng sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước sở tại, Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT
Hình thức BOT, BTO, BT được ký kết hợp đồng khi nước chủ nhà có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm ở mức căng thẳng nhất mà Nhà nước sở tại không có đủ khả năng cung cấp Với nền kinh tế có cơ sở hạ tầng yếu kém thì những hình thức này rất được nước chủ nhà chọn lọc vì họ không thể có đủ vốn để xây dựng các hệ thống hạ tầng cho nền kinh tế
PPP (Public -Private Partnership) Đây là hình thức hợp tác công tư, hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một số tiêu chí riêng Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ lập danh mục dự án ưu tiên đầu tư PPP hàng năm và tiến hành đấu thầu cạnh tranh để lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài đủ năng lực, kinh nghiệm nhất Đây là hình thức hợp tác tối ưu hoá hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính, quản lý từ nhà đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân Mỗi dự án PPP sẽ được hai bên đóng góp theo tỷ lệ góp vốn nhất định, tỷ lệ đóng góp của các bên tuy vào quy định của từng nước và từng thời kỳ
- Mua lại và sáp nhập (M&A)
Mua lại và sáp nhập là hình thức đầu tư thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước ngoài hoặc mua cổ phần ở nước ngoài Ở nhiều nước, M&A là một hình thức đầu tư rất quan trọng của FDI Tuy nhiên, hình thức này vẫn chưa được phép đầu tư tại Lào Nếu chỉ thu hút FDI theo kênh đầu tư mới thì không đón bắt được xu hướng đầu tư quốc tế, như vật, sẽ làm hạn chế sức hấp dẫn
Trang 32thu hút đầu tư nước ngoài Với chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế, trong tương lai M&A chắc chắn sẽ là một hình thức quan trọng của FDI tại Lào
Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với các nước đang phát triển nơi mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém và không đủ vốn để xây dựng
Mỗi hình thức đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đều có ưu điểm, nhược điểm riêng Do đó, việc kết hợp hài hoà lợi ích của các bên tham gia đầu tư cũng như phải phù hợp với mục tiêu của từng địa phương sẽ có hình thức đầu tư vốn FDI
ưu việt nhất để phát huy được tiềm năng của từng địa phương cũng như đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài
Như vậy, Vốn FDI khi vào một nước nào đó thì các hình thức như: Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, hoặc 100% vốn nước ngoài) ngoài ra còn có các hình thức mua lại hoặc sát nhập (M&A) tuy nhiên điều kiện thực hiện hình thức này còn phụ thuộc pháp luật ở từng nước
2.1.3 Tác động của thu hút FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước nhận đầu tư
2.1.3.1 Những tác động tích cực đối với nước nhận đầu tư FDI
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, hướng vận động của FDI không chỉ theo một chiều từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển mà đã có sự chảy ngược vốn FDI từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển Dòng vốn FDI đa chiều, đan xen vào nhau, định hướng vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi gia tăng giá trị của chủ đầu tư để khai thác được lợi thế so sánh ở các địa bàn khắp thế giới Đối với cả hai đối tượng tiếp nhận FDI là các nước phát triển và các nước đang phát triển thì FDI đều có vai trò quan trọng đặc biệt
* Đối với các nước phát triển
Theo đánh giá của một số nhà kinh tế thế giới, việc các nước phát triển (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản…) tích cực thu hút FDI vào mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh
tế các nước đó hơn là mặt hại
Trang 33Thứ nhất, FDI giúp các nước phát triển giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế như tiền lương, việc làm, lạm phát…
Thu hút FDI vào các nước phát triển sẽ làm tăng tiền vốn trên đầu người lao động để giúp người lao động tiếp cận với công nghệ mới, như vậy có xu hướng làm tăng tiền lương của người công nhân có tay nghề
Thông qua vốn FDI sẽ tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô các đơn vị hiện có, từ đó tạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều lao động đặc biệt là các nước đang phát triển, luôn có nguồn lao động dồi dào nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng, sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệp FDI, lao động làm việc trong khu vực FDI cũng sẽ tiếp thu được nhiều kỹ năng chuyên môn và quản lý: Đội ngũ lao động quản lý sẽ tiếp thu được kỹ thuật quản lý tiên tiến, hiện tại ở các nước khác nhau trên thế giới, cách tiếp cận thị trường, khả năng đàm phán, xúc tiến thương mại, quản trị nhân lực… còn những người lao động trong các doanh nghiệp sẽ tiếp thu được kỷ luật người lao động, tác phong làm việc, cách thức sắp xếp và công tác tổ chức công việc để hoàn thành sản xuất theo đúng thời gian, số lượng và chất lượng…
Ngoài ra còn góp phần nâng cao thu nhập của người lao động bởi tiền lương
mà các doanh nghiệp có vốn FDI trả cho người lao động cao hơn những doanh nghiệp trong nước, chính điều đó đã làm cải thiện đời sống nhân dân lao động Như vậy, các dự án vốn FDI thường được tổ chức các khoá đào tạo cho những người lao động trong dự án và có nhiều người được cử đi lao động nước ngoài và chính vì điều đó nên đã hình thành ở các nước nhân đầu tư một lực lượng lao động công nhân kỹ thuật có tay nghề cao Đối với cán bộ quản lý khi được tham gia vào các dự
án, chính vì những yêu cầu của công việc đòi hỏi nên sẽ trưởng thành hơn về trình
độ quản lý để phù hợp với nền sản xuất hiện đại Điều đó cho thấy việc tham gia vào các dự án có vốn FDI đã tạo cho địa phương phát triển được nguồn nhân lực
Đó chính là nhân tố quan trọng để góp phần thúc đẩy tăng trường kinh tế, vì trình
độ người lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh Và các vấn đề xã hội Phản ứng dây chuyền tự nhiên và sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh nghiệp trong nước trên thị trường lao động là
Trang 34nhân tố thúc đẩy lực lượng nhân lực tự nâng cao trình độ của mình một cách tích cực và có hiệu quả Điều đó đã góp phần hình thành nhanh hơn một đội ngũ nhân lực có trình độ và thói quen tuân thủ nề nếp làm việc theo tác phong công nghiệp hoá, hiện đại hoá Như vậy điều đó đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động của các nhà đầu tư, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh mạnh mẽ nên các nhà đầu tư phải đổi mới và nâng cao năng suất lao động để đứng vực được trên thị trường cạnh tranh
Các công ty nước ngoài thường tập trung đầu tư vào các khu vực, địa phương có thu nhập thấp ở các nước phát triển nhưng trả lương cao hơn so với các công ty trong nước trong cùng một khu vực, một địa phương Điều này đã làm cho
số người lao động trong các công ty nước ngoài tăng lên nhanh hơn so với các công
ty trong nước Kết quả là, hiệu ứng tăng lương của các công ty nước ngoài sẽ "chảy tràn" sang các công ty trong nước của các nước phát triển
Thứ hai, FDI giúp các nước phát triển đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách
Thương mại của một nước có thể tăng hay giảm phụ thuộc vào những thay đổi của FDI Sở dĩ thương mại có quan hệ với FDI là vì có việc chuyển các bán thành phẩm từ một chi nhánh của một công ty đa quốc gia (MNCs) sang một nước khác, hoặc việc chuyển một thành phần từ công ty chế tạo sang công ty phân phối ở nước khác FDI vào tăng thì nhập khẩu của nước đó tăng, như vậy giữa FDI và nhập khẩu có tác động bổ sung Mặt khác, FDI vào tăng, nhất là đầu tư vào các ngành chế tạo làm tăng xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của nước đó làm cho FDI và xuất khẩu
Trang 35trong những yếu tố thu hút FDI R&D có thể thu hút FDI và FDI có thể làm tăng những nhân tố thúc đẩy R&D R&D đóng vai trò trung tâm trong việc làm tăng đồng thời năng suất lao động hoặc tính đa dạng của sản phẩm ở nhiều nước Như vậy, R&D của nhiều công ty và các chi nhánh có lãi suất tăng dần, những công ty
có mức độ R&D cao có nhiều động lực để tăng FDI, và những công ty có nhiều FDI
sẽ có nhiều yếu tố khuyến khích tăng cường các hoạt động R&D
Thứ tư, FDI tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại của các nước phát triển
FDI vào các nước phát triển từ những nước có trình độ kinh tế cao, nhất là các nhà đầu tư trong nhóm nước G7 sẽ tạo ra một sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong cùng một ngành, lĩnh vực Chính sự cạnh tranh này là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại của các nước phát triển - tiếp nhận đầu tư
* Đối với các nước đang phát triển
FDI là nguồn lực hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Một trong những nhân tố để các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhanh và ổn định là chính sách thu hút và sử dụng FDI một cách hợp lý FDI đối với các nước đang phát triển thực sự trở thành lực lượng vật chất quan trọng mở ra hướng đi lên của các nền kinh tế chậm và đang phát triển, góp phần khởi động cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước này
Thứ nhất, FDI góp phần bổ sung cho nguồn vốn trong nước
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập đến như một yếu tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế Theo nghĩa rộng vốn được hiểu là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên được sử dụng vào quá trình sản xuất Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong những yếu
tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất Theo nghĩa này, vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn hiện vật và vốn tài chính Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển thì nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp Do vậy, nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là nguồn
Trang 36vốn FDI có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nền kinh tế này
Thứ hai, FDI giúp tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý
Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty
đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích luỹ và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó đối với nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của nước tiếp nhận
Thứ ba, FDI giúp tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu
tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu
Thứ tư, FDI giúp tăng số lượng việc làm và góp phần đào tạo nâng cao trình
độ người lao động
Một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình làm việc, người lao động được đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ đối với các nước đang phát triển thông qua thu hút FDI Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước tiếp nhận FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc
và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ năm, FDI giúp tăng nguồn thu ngân sách
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng
Trang 37Thứ sáu, FDI giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hầu hết ở các nước đang phát triển nền kinh tế đang còn ở trong tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu Sự gia tăng FDI vào nền kinh tế các nước này đã gây nên những biến chuyển tích cực các ngành kinh tế làm cho tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP ngày càng tăng
Dòng FDI đổ vào các nước đang phát triển cũng như bất cứ nơi nào khác trước hết phải tìm nơi đầu tư thuận lợi nhất Các nhà đầu tư thường lựa chọn vùng hoặc khu vực lãnh thổ, những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi (giao thông vận tải thuận tiện, dân cư đông đúc, có trình độ tiếp thu công nghệ…) hình thành nên các khu công nghiệp tập trung, các khu chế xuất, khu đô thị sầm uất Các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao Một mặt tạo thuận lợi cho sản xuất do thu hút được công nghệ tiên tiến, giảm chi phí sản xuất, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước trong đầu tư, mặt khác nó còn có sức lan toả ưu điểm ra các vùng xung quanh tạo được các vệ tinh "rò rỉ công nghệ"
ra ngoài hàng rào Khu công nghiệp và tạo nên các vùng kinh tế công nghiệp khá rộng lớn Sự gia tăng các khu công nghiệp, khu chế xuất là kết quả tác động của FDI hình thành các khu kinh tế mới, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước và giữa các nước trong khu vực, hội nhập vào sự phân công lao động trên phạm vi thế giới
Với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng làm cho tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm tương đối, tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng lên tương đối và tuyệt đối Đặc biệt, hình thành đội ngũ lao động có tay nghề cao về chuyên môn kỹ thuật và đội ngũ lao động quản lý có khả năng thay thế chuyên gia nước ngoài trong một số lĩnh vực
Thứ bảy, FDI thúc đẩy tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu
Quá trình gia tăng FDI làm tăng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ… đã khiến cho các quốc gia này tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu trong tổng sản phẩm quốc dân, đồng thời thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị cao
Trang 38Như vậy, FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế các nước đang phát triển tăng trưởng nhanh và ổn định FDI góp phần đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, làm gia tăng nhanh xuất - nhập khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động FDI đã trở thành một hoạt động mang tính quốc tế và là xu hướng chung trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung và của quốc gia đối với vùng kinh tế nói riêng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI vào địa phương Chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm như: Mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không, giai đoạn nào thì nên tập trung nguồn vốn trong nước hay nước ngoài, đối với nguồn vốn nước ngoài thì nên lựa chọn tập trung vào nguồn vốn nào như đi vay thương mại, ODA hay vốn FDI Định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư của nước ngoài, việc định hướng chiến lược thu hút có ý nghĩa quan trọng thiết lập các điều kiện để thu hút cho phù hợp Các địa phương khác nhau ngoài chiến lược thu hút tổng thể của quốc gia sẽ định hướng, chính sách và mục tiêu riêng để thu hút vốn FDI phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó
2.1.3.2 Những tác động tiêu cực của FDI đối với các nước nhận đầu tư
Cùng với vai trò tích cực trên, FDI cũng mang lại mặt trái đối với nước nhận đầu tư Một số nghiên cứu đã chỉ ra những mặt tiêu cực của FDI như tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, môi trường ô nhiễm… Một số mặt trái chủ yếu là:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài gây ra thua thiệt cho nước nhận đầu tư: Hoạt
động đầu tư đang diễn ra trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh Các nhà đầu tư nước ngoài ra có nhiều kinh nghiệm trong thực hiện kinh doanh có bên tiếp nhận đầu tư thường thiếu kinh nghiệm, vừa làm vừa học, đặc biệt là thiếu kinh nghiệm trong đàm phán ký kết hợp đồng công trình lớn Do còn hạn chế này, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng việc đàm phán, yêu cầu nhiều ưu đãi và các điều kiện công bằng để làm thế nào họ có thể sinh lợi được nhiều nhất Ngoài ra, nước tiếp nhận đầu tư còn có thể bị "chảy máu chất xám" Việc đào tạo người lao động trong doanh nghiệp nước ngoài không đáp ứng yêu cầu của nước chủ nhà, do nhà đầu tư chuyển giao công nghệ muốn giữ độc quyền công nghệ mới, hoặc chỉ đào tạo công
Trang 39nhân làm các công việc bộ phận để giảm chi phí đào tạo Ngoài ra, trong khoảng thời gian ngắn hạn, khi Chính phủ các nước sở tại chưa kịp thay đổi chính sách về mức thu nhập cho lao động của khu vực Chính phủ (thông thường thấp hơn so với các khu vực có vốn FDI, thì người lao động trong khu vực nhà nước sẽ rời doanh nghiệp nhà nước, gia nhập khu vực vốn đầu tư nước ngoài
Chuyển giao công nghệ: Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài rất hạn chế
chuyển giao những công nghệ tiên tiến, vì họ sợ lộ bí mật, mất bản quyền công nghệ Nhiều nhà đầu tư thường chuyển giao từng phần và thông thường là công nghệ lạc hậu Nói cách khác, họ mang vào nước nhận đầu tư những công nghệ cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển, kém sức cạnh tranh, năng suất thấp làm cho chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường Nếu không thận trọng, các nước này có thể trở thành bãi thải công nghiệp của các nước phát triển
Mất đi nhiều việc làm truyền thống và chưa coi trọng đúng mức về đào tạo cho người lao động Các nhà đầu tư nước ngoài đã tao ra nhiều công ăn việc làm cho nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển như nước Lào, nơi mà dân
số trẻ, lực lượng lao động dồi dào thì việc tạo cho người lao động một nơi làm việc
có thu nhập ổn định là vô cùng tốt Trên thực tế, trong nhiều năm qua khu vực FDI
đã tạo ra nhiều triệu lao động trực tiếp và gián tiếp Tuy nhiên bên cạnh đó đã làm mất đi nhiều việc làm trong các lĩnh vực truyền thống Với mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu những chi phí, các nhà đầu tư nước ngoài còn thiên về khai thác và sử dụng những nguồn lao động có nhân công rẻ, ít qua đào tạo, mang tính thời vụ mà ít chú trọng đến việc đào tạo và sử dụng nhân lực có tay nghề cao và làm việc lâu dài cho các nhà đầu tư
Ảnh hưởng đối với môi trường tự nhiên và khai thác lãng phí tài nguyên:
Gây ô nhiễm môi trường, có thể nói một trong những tác động tiêu cực nhất của khu vực FDI đối với nước nhận đầu tư là ảnh hưởng đến môi trường Đặc biệt là tình hình "xuất khẩu" ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức "nhập khẩu" ô nhiễm cao, nhiều nhất là Trung quốc, Ấn Độ, Việt Nam… Ví dụ: Hiện nay vấn đề xử lý nước thải ở Việt Nam chưa được chú
Trang 40trọng, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài chưa quan tâm đúng mức đến hệ thống xử
lý chất thải Các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện trong khi ngày càng có nhiều các dự án khai thác tài nguyên, vận chuyển dầu với hiểm hoạ tràn dầu có nguy cơ gia tăng trong các năm tới Nhiều dự án nước ngoài đã gây ô nhiễm môi trường do công nghệ lạc hậu, chạy theo lợi nhuận, tiết kiệm chi phí, không tính đến khâu xử lý nước thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài gây ra vấn đề ô nhiễm môi trường: Trong việc
chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp sang các nước đang phát triển cũng đồng thời là quá trình chuyển dịch những ngành nghề và thiết bị lỗi thời, ô nhiễm môi trường Trong khi luật bảo vệ môi trường ở các nước phát triển công nghiệp ngày càng chặt chẽ, đòi hỏi về tiêu chuẩn an toàn và chi phí dành cho bảo vệ môi trường cao, thì khi đưa sang các nước đang phát triển, thiết bị lạc hậu lại không được xử lý để bảo vệ môi trường tương ứng và chặt chẽ, gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường sinh tái, làm phát sinh các khoản chi phí lớn để xử lý và điều chỉnh trong tương lai Hội nghị thế giới 1992 ở Riodejanerro (Baraxin) đã quyết định yêu cầu các nước phát triển phải có trách nhiệm dành 0.7% của tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hàng năm để giải quyết vấn đề môi trường, thực hiện chuyển giao công nghệ sạch, tiêu tốn ít năng lượng nguyên liệu cho các nước đang phát triển, nhưng trên thực tế chỉ mới đạt được 0.3% GNP Các nước phát triển chiếm 25% dân số, tiêu thụ 75% tổng năng lượng, 80% tổng số nguyên liệu
Tác hại đến môi trường sinh thái càng tăng lên khi chủ đầu tư không áp dụng các biện pháp xử lý chất thải, còn nước chủ nhà lại thiếu biện pháp quản lý,kiểm soát Tài nguyên cạn kiệt, tác hại môi trường sinh thái cũng ngày càng tăng, các nhà quản lý các nước đang phát triển càng trở nên nhức nhối khi quá trình đô thị hoá nhanh chóng với một lượng lớn rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, khôi bụi, tiếng ồn do phương tiện giao thông đông đúc thải loại vào không khí những chất độc hại
Do các dự án đầu tư tập trung vào các khu đô thị, khu dân cư một cách nhanh chóng, gây nên tình trạng quá tải, do tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị không