1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015

202 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015(LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015(LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015(LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015

Trang 1

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

¶NH H¦ëNG C¹NH TRANH CHIÕN L¦îC Mü - TRUNG T¹I §¤NG NAM ¸ §ÕN §éC LËP D¢N TéC CñA C¸C N¦íC TRONG KHU VùC Tõ N¡M 2001 §ÕN N¡M 2015

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

¶NH H¦ëNG C¹NH TRANH CHIÕN L¦îC Mü - TRUNG T¹I §¤NG NAM ¸ §ÕN §éC LËP D¢N TéC CñA C¸C N¦íC TRONG KHU VùC Tõ N¡M 2001 §ÕN N¡M 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát từ yêu cầu trong công việc để

hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu có nguồn gốc

rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày

trong luận án được thu thập trong quá trình nghiên cứu

là trung thực, chưa từng được công bố trước đây

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 4

MỞ ĐẦU 01

1.1.Các công trình liên quan đến Đông Nam Á trong chiến lược của

1.2 Các công trình liên quan đến ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược

Mỹ - Trung tại Đông Nam Á tới các nước trong khu vực 9 1.3.Các công trình liên quan đến đối sách của các nước Đông Nam

Á trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung 19

C ươn 2 : NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH

CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2001

ĐẾN NĂM 2015

24

2.1 Một số quan niệm về cạnh tranh chiến lược và độc lập dân tộc 24 2.2 Nhân tố quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương 32 2.3 Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của Mỹ và Trung Quốc 39

C ươn 3 : THỰC TRẠNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CÁC NƯỚC

ĐÔNG NAM Á TRONG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ -

TRUNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

51

3.1 Diễn biến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đông Nam Á 51 3.2 Ảnh hưởng đến độc lập dân tộc của các nước Đông Nam Á 69 3.3 Ảnh hưởng đến độc lập dân tộc của Việt Nam 97

C ươn 4 : NHẬN XÉT VỀ ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIẾN

LƯỢC MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2001 ĐẾN

NĂM 2015 VÀ ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC KHU VỰC NHẰM

BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

109

Trang 5

với độc lập dân tộc của các nước Đông Nam Á 109 4.2 Đối sách của ASEAN và các nước Đông Nam Á trước ảnh

hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến độc lập dân tộc của

các nước trong khu vực

113

4.3 Kinh nghiệm về đối sách của các nước Đông Nam Á và đề xuất

đối sách với Việt Nam trước ảnh hưởng từ cạnh tranh chiến lược

Mỹ - Trung tại Đông Nam Á nhằm bảo vệ độc lập dân tộc hiện nay

137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

Trang 6

T

Chữ

viết tắt

N ĩa Tiếng Anh N ĩa Tiếng Việt

1 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN

2 APEC Asia-Pacific Economic

4 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

5 ASC ASEAN Security Community Cộng đồng an ninh ASEAN

6 ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

7 ASCC ASEAN Socio-Cultural

Community

Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN

8

CA-TBD

9 COC Code of Conduct Bộ Quy tắc ứng xử của các bên về

Biển Đông

10 CAFTA China - ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do Trung

Quốc – ASEAN

11 DOC Declaration on Conduct of the

Parties in the South China Sea

Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông

13 ĐLDT National independence Độc lập dân tộc

14 EAS East Asia Summit Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á

16 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

17 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

18 FTAAP Free Trade Area of the Asia –

Pacific

Khu vực Thương mại Tự do Châu Á - Thái Bình Dương

19 QHQT International Relations Quan hệ quốc tế

20 RCEP Regional Comprehensive

23 TPP Trans-Pacific Partnership Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược

xuyên Thái Bình Dương

24 TIFA Trade and Investment Framed

Agreement

Thương mại và Đầu tư ASEAN – Mỹ

25 ODA Official Development Assistant Nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài

26

UNCLOS United Nations Convention on

Law of the Sea

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, tình hình khu vực và thế giới có những thay đổi

to lớn và nhanh chóng Châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD) trong đó có khu vực Đông Nam Á (ĐNA) đang trở thành trung tâm phát triển năng động của thế giới, là địa bàn cạnh tranh chiến lược của các nước lớn, trong đó có Mỹ và Trung Quốc Sau gần bốn thập niên tiến hành cải cách, Trung Quốc nổi lên trở thành một cường quốc ở khu vực đe dọa vị trí bá chủ thế giới của Mỹ Sự kiện 11/9/2001 cùng với những mâu thuẫn, xung đột tại khu vực và hành động ngang nhiên độc chiếm Biển Đông và biển Hoa Đông của Trung Quốc, Mỹ nhận ra sự lơ là của mình ở CA-TBD đặc biệt là ở ĐNA Do đó, Mỹ đã quyết định thực hiện chiến lược “xoay trục” từ châu Âu - Đại Tây Dương sang CA-TBD nhằm duy trì việc kiểm soát tốt hơn lợi ích của mình trước sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc Những thay đổi lớn này kéo theo các nước lớn, các thực thể khác cũng thay đổi chính sách đối ngoại, can dự nhiều hơn vào ĐNA, điều này tác động không nhỏ đến nhận thức và hành động chiến lược của các nước trong khu vực xây dựng và bảo vệ đất nước

ĐNA có vị trí quan trọng trong chiến lược của các cường quốc trên thế giới Khu vực này không chỉ là nơi có nền kinh tế năng động, phát triển với tốc độ cao

mà còn có các tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới, có nguồn tài nguyên phong phú, quý hiếm, và đặc biệt là nơi Trung Quốc dễ dàng hơn trong việc xác lập quyền lực đối với Tây Thái Bình Dương Đây là một trong những nhân tố hàng đầu thúc đẩy các nước lớn, trong đó có Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng cạnh tranh chiến lược nhằm mở rộng ảnh hưởng tại ĐNA hiện nay Trong 15 năm qua, cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung tại ĐNA khá phức tạp, tác động đa chiều đến tương quan ảnh hưởng và trật tự quyền lực, đến các hình thức hợp lực lượng, đến an ninh và phát triển nói chung, đến độc lập dân tộc (ĐLDT) của các quốc gia và sự đoàn kết của ASEAN Chính vì vậy, việc nhận diện, đánh giá tác động can dự các

Trang 8

nước lớn, nhất là cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến an ninh và hợp tác khu vực, của từng nước ASEAN trong đó có Việt Nam là nhu cầu của thực tiễn Từ đó, nghiên cứu này góp phần đề xuất đối sách cho Việt Nam xây dựng một chính sách đối ngoại khôn khéo, mềm dẻo nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, ĐLDT duy trì môi trường hòa bình để phát triển bền vững

Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015” làm luận án Tiến sỹ chuyên ngành Lịch

sử Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc

2 Mục đíc v n iệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án: Luận án phân tích và làm rõ ảnh

hưởng của sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT của các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015, đồng thời đề xuất những đối sách nhằm bảo vệ vững chắc ĐLDT và chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh gia tăng can dự của các nước lớn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, làm rõ khung khái niệm cơ bản và khung lý thuyết làm cơ sở

để triển khai và phân tích các nội dung trong luận án; làm nổi bật những nhân

tố ảnh hưởng đến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA hiện nay

Thứ hai, làm rõ thực trạng cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung tại ĐNA

từ năm 2001 đến năm 2015; phân tích ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam

Thứ ba, rút ra những nhận xét, đối sách và kinh nghiệm trong việc bảo vệ

và củng cố ĐLDT của các nước ĐNA và đề xuất đối sách với Việt Nam trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Trang 9

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu: ảnh hưởng của cạnh tranh chiến lược của Mỹ -

Trung đến ĐLDT của các nước ĐNA

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung: Luận án sẽ đi sâu phân tích ảnh hưởng của cạnh

tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA trên một số lĩnh vực chủ yếu như an ninh, chủ quyền quốc gia, phát triển đất nước và khu vực, vị thế quốc tế và tập hợp lực lượng của các nước ĐNA

- Phạm vi không gian: nghiên cứu tại các nước ĐNA, tập trung chủ yếu

vào các nước trong khối ASEAN

- Phạm vi thời gian: tập trung nghiên cứu những diễn biến diễn ra trong 15 năm đầu của thế kỷ XXI Xuất phát từ ba lý do sau: Một là, vụ khủng bố

11/09/2001 ở Mỹ gây ra những ảnh hưởng phức tạp tới tình hình chính trị khu vực

và thế giới, tuy nhiên, nó lại là cơ hội giúp Mỹ tập hợp lực lượng, áp dụng lối ứng

xử của một siêu cường ĐNA được Mỹ coi là “mặt trận thứ hai” chống khủng bố

Hai là, trong giai đoạn này, Trung Quốc trỗi dậy nhanh chóng, cả Mỹ và Trung

Quốc đều thay đổi các chiến lược, chiến thuật trong chính sách đối ngoại nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng và đẩy lùi ảnh hưởng của nước kia ra khỏi khu vực gây ra

những hệ lụy cho nền ĐLDT của các nước ĐNA Ba là, sự ra đời của Cộng đồng

ASEAN vào cuối năm 2015 đã giúp các nước thành viên có điều kiện để củng cố nền độc lập đất nước và dân tộc

4 Cơ sở lý luận v p ƣơn p áp n i n cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Hệ thống các quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận quan hệ quốc tế, lý thuyết chủ nghĩa hiện thực để lý giải những ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA; những quan điểm đường lối, chính sách đối ngoại, các chủ trương chính sách trong cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam để đề

Trang 10

xuất những biện pháp bảo vệ ĐLDT ở khu vực trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: luận án đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, không

gian, thời gian là bối cảnh chung của quan hệ Mỹ - Trung, tình hình thế giới, khu vực từ năm 2001 đến năm 2015; theo giai đoạn phát triển nhất định; phù hợp với logic lịch sử

- Phương pháp phân tích địa- chính trị: luận án được xem xét trước hết

dưới góc độ cạnh tranh địa- chính trị, cạnh tranh quyền lực trong không gian địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn của khu vực, từ đây thấy rõ lợi ích, mục tiêu chính trị chiến lược của Mỹ - Trung tranh giành ảnh hưởng đối với khu vực

- Phương pháp lôgic, nghiên cứu tình huống, so sánh hệ thống: Các

nghiên cứu sẽ phải từ những thay đổi chính sách của Mỹ và Trung Quốc tại ĐNA, diễn biến, sự kiện đã và đang xảy ra để phân tích được tầm ảnh hưởng của cạnh tranh này đối với khu vực và từ đó rút ra được những kinh nghiệm, những đối sách thích hợp cho các nước trong khu vực trong công cuộc xây dựng và củng cố ĐLDT

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để thu thập và đánh

giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm văn kiện của Đảng các khóa gần đây, nhất là khóa XI và XII, chủ trương chính sách của Nhà nước, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về các chủ đề liên quan đến đề tài

Ngoài ra tác giả luận án còn sử dụng phương pháp sưu tầm tư liệu, hệ thống, đính chính, phân loại, thống kê, phương pháp liên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, chính trị quốc tế được sử dụng làm phương pháp bổ trợ

5 Đón óp mới về khoa học của luận án

5.1 Làm rõ những ảnh hưởng của sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA đến các khía cạnh của ĐLDT

Trang 11

5.2 Làm rõ đối sách của các nước ĐNA (chủ yếu là các nước thuộc ASEAN) đến đấu tranh duy trì và bảo vệ nền ĐLDT trước sự gia tăng can dự và cạnh tranh địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc

5.3 Từ thực tiễn đấu tranh, rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong duy trì nền độc lập, phát triển và hội nhập quốc tế

6 Ý n ĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm những nội dung về vấn đề mới

trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh địa chính trị và hội nhập quốc tế

Xác định rõ và hệ thống hóa khái niệm cạnh tranh chiến lược, ĐLDT và các khái niệm có liên quan, góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân Quốc tế và giải phóng dân tộc

6.2 Về thực tiễn: Nhận diện các khía cạnh tác động của cạnh tranh chiến

lược Mỹ - Trung và phản ứng của các nước trong khu vực, từ đó góp phần cung cấp các cứ liệu khoa học cho hoạch định chính sách và giảng dạy về lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc, về lịch sử thế giới hiện đại và quan hệ chính trị quốc tế

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu gồm 4 chương, 13 tiết

Trang 12

NỘI DUNG

C ươn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA đến ĐLDT các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015 là đề tài được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Tuy nhiên, nghiên cứu về đề tài này không có nhiều mà chủ yếu nghiên cứu về cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung ở Đông

Á, CA-TBD hoặc cạnh tranh chiến lược của các nước lớn ở ĐNA Vì vậy, cho đến nay, đề tài của luận án ở trong cũng như ngoài nước chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống, chuyên sâu, tổng hợp, phân tích và đánh giá một cách toàn diện về ảnh hưởng của cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung ở ĐNA đối với ĐLDT của các nước ở khu vực trong 15 năm đầu của thế kỷ XXI

Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án hiện nay chủ yếu tập trung

theo 3 hướng: thứ nhất, ĐNA trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc; thứ hai, ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ -Trung tại ĐNA đến khu vực; thứ ba, đối sách của

các nước ĐNA trước ảnh hưởng của sự cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐÔNG NAM Á TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA MỸ VÀ TRUNG QUỐC

1.1.1 Các nghiên cứu tron nước

Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu như: sách “Những vấn đề chính

trị, kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI” của Trần Khánh (2006) [89] đã tập

trung xem xét ĐNA trong các vòng xoáy chiến lược tạo nên bởi xu thế toàn cầu hóa

và sự thay đổi địa chính trị khu vực; chuyển động phức tạp của ASEAN hiện nay; cơ hội và thách thức đối với khu vực, từng quốc gia để từ đó cải cách và đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn tạo cho ĐNA hòa bình ổn định và năng động có tính cạnh tranh cao Những dữ liệu này giúp tác giả trong việc phân tích tình hình chính trị, kinh tế của ĐNA hiện nay

Cuốn sách “Biển Đông: Địa chính trị, lợi ích, chính sách và hoạt động của

các bên liên quan”, của Đặng Đình Quý và Nguyễn Minh Ngọc (2013) [155], đã

Trang 13

khẳng định tầm quan trọng địa chính trị của Biển Đông và chỉ ra những tính toán phức tạp của các nước liên quan và ngoài khu vực Theo các tác giả thì chính những mâu thuẫn lợi ích và cạnh tranh chiến lược này đang tác động trực tiếp đến những diễn biến hàng ngày trên Biển Đông và đặt ra nhu cầu bức thiết và quản lý xung đột, hướng tới giải quyết tranh chấp cùng hợp tác và phát triển thịnh vượng Đây là cuốn sách để tác giả kế thừa để làm rõ vai trò địa chính trị của Biển Đông

Sách “Tri thức Đông Nam Á” của Lương Ninh và Vũ Dương Ninh (2008) [144] và sách chuyên khảo “Địa chính trị thế giới” của Nguyễn Thị Quế và Ngô

Thúy Hiền (2014) [154] đã trình bày những kiến thức cơ bản về đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử và văn hóa và quá trình vận động địa - chính trị của ĐNA, qua đó giúp tác giả luận án có cơ sở phân tích, giải thích các diễn biến chính trị trên nền của các yếu tố địa lý, sự ảnh hưởng tác động qua lại giữa yếu tố địa lý và chính trị đối với sự phát triển quốc gia, khu vực

Trên tạp chí khoa học cũng có hàng loạt nghiên cứu về ĐNA trong lợi ích

chiến lược của Mỹ và Trung Quốc như: bài “Châu Á – Thái Bình Dương trong

chiến lược của Mỹ và Trung Quốc” của Nguyễn Ngọc Ánh (2012) [7], bài “Châu

Á – Thái Bình Dương: Tâm điểm quan hệ của các nước lớn” của Nguyễn Thành

Đồng (2014) [40], bài “Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của Mỹ và Trung

Quốc” của Lê Minh Trang và Trần Khánh (2014) [200], bài “Nhân tố ASEAN trong Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỷ XXI” của Lưu Việt Hà

(2014) [54] và bài “Vị thế của ASEAN trong cuộc cạnh tranh giành thị trường

châu Á của Trung Quốc và Mỹ” của Hồ Văn Chiểu (2015) [25] Các công trình

nghiên cứu đều khẳng định: ĐNA có một vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược của các nước lớn ĐNA không chỉ có tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch của thế giới mà còn có nhiều tài nguyên phong phú và quý hiếm Ngoài ra, khu vực này đông dân cư, có chế độ chính trị hết sức đa dạng, là khu vực đa sắc tộc và tôn giáo, có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao nhưng không đồng đều chính những nhân tố này đã biến ĐNA trở thành tâm điểm trong cuộc “ganh đua” giữa các nước lớn Hiện nay, khi Trung Quốc đang nổi lên thách thức vị trí bá

Trang 14

quyền của Mỹ trong khu vực và thế giới, ĐNA bị rơi vào “vòng xoáy” cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung và các cường quốc khác Các công trình khoa học này

đã giúp tác giả phân tích rõ nét hơn về các nhân tố tác động đến ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA

Đặc biệt có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Biển Đông như

bài “Lợi ích của Mỹ ở Biển Đông” của Phạm Thùy Trang (2009) [201], bài “An

ninh Biển Đông nhìn từ tranh chấp lợi ích kinh tế giữa các nước liên quan” của Đỗ

Minh Cao (2010) [20], bài “Lợi ích của các cường quốc và thể chế khu vực trong

vấn đề an ninh Biển Đông” của Đỗ Minh Thái (2011) [167] và bài “Vì sao các nước quan tâm hơn đến Biển Đông?” của Nguyễn Nhâm (2015) [140] Các công trình

nghiên cứu này đã đã đưa ra những đánh giá về vai trò của Biển Đông không chỉ liên quan đến lợi ích của các nước ASEAN và Trung Quốc, mà còn gắn liền với lợi ích nhiều mặt của các cường quốc cũng như nhiều nước khác ngoài khu vực, đặc biệt là Mỹ Các tác giả đề cập đến lợi ích chiến lược đang thay đổi của Mỹ và Trung Quốc ở ĐNA để từ đó góp phần giải thích tại sao hai cường quốc này ngày càng gia tăng can dự nhiều hơn vào khu vực, cả về hợp tác và cạnh tranh

1.1.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Công trình của các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích sự biến đổi của tình

hình an ninh khu vực ĐNA như : “Ethnic Conflic in Southeast Asia” (Mâu thuẫn dân tộc ở Đông Nam Á), Singapore (2005); “The New Global Polictics of the Asia

- Pacific” (Chính trị toàn cầu mới của Châu Á – Thái Bình Dương), của các tác

giả Michael K.Connors, Resmy Davison (Australia) và Jorn Dosch (Anh) (2004) [251], đã phân tích tình hình an ninh khu vực, đặc biệt là điểm nóng Biển Đông, Hồi giáo cực đoan và các nhóm nổi dậy địa phương do kinh tế còn yếu kém và thiếu một mạng lưới an ninh khu vực Đây là những tư liệu hữu ích cung cấp thông tin bổ ích giúp tác giả trong quá trình nghiên cứu nội dung tình hình khu vực ĐNA hiện nay

Bài “Tình hình cơ bản Việt Nam và quan hệ Trung - Việt” (Vietnam Basic

Situation and the China – Vietnam Relationship) của Cổ Tiểu Tùng (2009) [234],

Trang 15

giáo sư Cốc Nguyên Dương cũng có hàng loạt bài viết như: “Bàn cờ ĐNA và nước

cờ đột phá Việt Nam” (The Southeart Asia Chessboard and the Ground – breaking

Movement of Vietnam), “Trung - Việt chung ý thức hệ và quan hệ thương mại sâu

sắc hơn” (Chinese – Vietnamese Joint Ideology and Deeper Trade Relation) và bài

“Trung - Việt đã giải quyết 2/3 tranh chấp lãnh thổ” (China – Vietnam have

Resolved 2/3 of Territorial Disputes) [235] Các tác giả đều nhận định ĐNA là trọng điểm bố trí chiến lược của Trung Quốc cũng là nơi được các nước lớn bên ngoài khu vực quan tâm “chăm sóc” vì lợi ích của chính họ khiến tình hình nơi này thiếu ổn định Tác giả cũng phân tích vai trò địa kinh tế và chính trị của Việt Nam

từ đó đề xuất Trung Quốc cần coi trọng ý nghĩa của ĐNA trong địa chính trị toàn cầu Việt Nam nên trở thành một trong những quốc gia trọng điểm được coi trọng của Trung Quốc và hợp tác kinh tế toàn diện với Việt Nam; nên là một trong những trọng điểm để tăng cường ngoại giao xung quanh với ĐNA của Trung Quốc

Nhìn chung, những công trình trên đã phân tích khá toàn diện toàn cảnh về tình hình chính trị, an ninh, kinh tế tại khu vực và vai trò địa - chính trị của ĐNA đối với các cường quốc, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc Đây là những nghiên cứu quan trọng giúp tác giả khái quát bối cảnh quốc tế, khu vực CA-TBD và ĐNA hiện nay, từ đó phân tích sâu sắc hơn lý do nào đã khiến Mỹ và Trung Quốc điều chỉnh chiến lược ở ĐNA tạo nên những ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định của các quốc gia trong khu vực Tuy nhiên, do hướng nghiên cứu khác với luận án nên các công trình trên chưa thể hiện một cách đầy đủ bối cảnh quốc tế và khu vực, cũng như vai trò địa chiến lược của ĐNA ảnh hưởng đến ĐLDT của các quốc gia ĐNA

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC

1.2.1 Các nghiên cứu tron nước

Những công trình nghiên cứu có tính hệ thống, chuyên sâu mang tầm chiến lược về cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA và Việt Nam phải kể đến đề tài

“Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam” của Nguyễn Hoàng Giáp (2010) [46],

Trang 16

đã tập trung phân tích những diễn biến chủ yếu của các cặp quan hệ cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn có vị trí, vai trò quan trọng ở ĐNA từ đó làm rõ quá trình cạnh tranh chiến lược và ảnh hưởng của một số nước lớn trong khu vực cùng với khuynh hướng biến đổi của quá trình đó trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, đồng thời chỉ ra tác động của nó đến an ninh và phát triển của Việt Nam hiện nay

Công trình khoa học thứ hai là “Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ -

Trung ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau chiến tranh lạnh” của Trần Khánh

(2014), Nxb Thế giới Tác giả đã tập trung nghiên cứu sự vận động, biến đổi của hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở ĐNA thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, từ đó góp phần việc nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách liên quan đến các vấn đề chính trị quốc tế Đây là một đề tài nghiên cứu mang tính khoa học và thực tiễn cao, chứa đựng nội dung rộng lớn và hết sức phức tạp, đa diện của vấn đề hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung cả ở cấp độ khu vực và toàn cầu thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh

Hai công trình trên là những nghiên cứu quan trọng giúp tác giả luận án phân tích, định hướng đúng đắn, có những tài liệu sát thực để nghiên cứu đề tài của mình

Đề cập đến mối quan hệ Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay, các

nghiên cứu trong nước có các sách tiêu biểu như: Sách tham khảo “Quan hệ Trung

- Mỹ có gì mới” của Nguyễn Văn Lập (2001) [104], sách “Quan hệ của Mỹ với các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương” của Vũ Dương Huân (2003) [74],

đề “Quan hệ Trung - Mỹ giai đoạn 2006 - 2010: Triển vọng và tác động” của Bộ

Ngoại giao (2010) [19], tác giả Nguyễn Thái Yên Hương (2011) với cuốn sách

“Quan hệ Mỹ - Trung hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng

quyền lực” [85], sách “Quan hệ Mỹ - Trung Quốc: thập nên đầu thế kỷ XXI” của

Lê Khương Thùy (2012) [186] Các tác giả đều nêu rõ quan điểm về quan hệ Trung - Mỹ sẽ phát triển theo hình sin: quan hệ phụ thuộc, đan xen lẫn nhau giữa hợp tác - kiềm chế, phối hợp - cạnh tranh, bạn bè - đối thủ Các nghiên cứu này đã

đề cập tới quan hệ Trung - Mỹ trong giai đoạn nghiên cứu, lợi ích của hai nước ở ĐNA và nhấn mạnh để bảo vệ lợi ích của mình Mỹ và Trung Quốc đều coi trọng việc lôi kéo, tập hợp lực lượng trong khu vực, tăng cường ảnh hưởng tạo lợi thế

Trang 17

chiến lược nhằm chi phối khống chế các quan hệ quốc tế ở ĐNA, CA - TBD Đây

là những tư liệu hữu ích để tác giả hiểu rõ hơn bản chất trong quan hệ Mỹ - Trung trước những biến đổi chính trị của thế giới hiện nay

Ngoài ra, còn có một số bài báo viết về vấn đề này như: Bài “Xu hướng và bản

chất của quan hệ Mỹ - Trung thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” của tác giả Trần Khánh

(2014) [96], nhận định rằng: trong hai thập niên đầu sau Chiến tranh lạnh, mối quan

hệ Mỹ - Trung tiếp tục thiếu ổn định và tính cạnh tranh ngày càng lớn trên tất cả các mặt, trong đó tính chất tranh thủ, lợi dụng lẫn nhau giảm đi, tính kiềm chế, xung đột lợi ích nhất là về kinh tế, an ninh quân sự và địa chính trị tăng lên chứa đựng nhiều nguy cơ bất ổn không chỉ cho họ mà còn cho cả ĐNA và nhân loại

Bài “Tìm hiểu về khuôn khổ “mối quan hệ nước lớn kiểu mới” Trung - Mỹ”

của Linh Tú và Dương Đăng (2014) [206], đã nêu lên quan điểm của hai nước Trung Quốc và Mỹ về mối quan hệ nước lớn kiểu mới Tác giả nhận định mối quan hệ hai bên sẽ vẫn dựa trên cơ sở duy trì hiện trạng để phát triển, nhưng tránh xung đột, đối kháng và cạnh tranh trong hợp tác thì đó là những bước mở đầu cho mối quan hệ nước lớn kiểu mới Trung - Mỹ trong tương lai

Các công trình đề cập đến vấn đề chiến lược của Mỹ và Trung Quốc phải kể

đến sách tham khảo “Tìm hiểu những thay đổi lớn trong chiến lược quân sự của Mỹ” của Trần Bá Khoa (2000) [99], sách “Nhân tố địa – chính trị trong chiến lược toàn

cầu mới của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn Văn Lan (2007)

[101], công trình “Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ với Đông Nam Á sau chiến

tranh lạnh”, của các tác giả Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Thị Lệ

(2007) [49], sách “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam

trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của Nguyễn Xuân Sơn và Nguyễn Văn Du [160];

sách “Chính sách đối ngoại của các nước lớn” của Phạm Minh Sơn (2010) [161] đã

phân tích các giai đoạn chuyển biến và sự điều chỉnh chiến lược và quá trình triển khai của Mỹ và Trung Quốc sau chiến tranh lạnh trong đó có khu vực ĐNA và Việt Nam Đây là các tư liệu hữu ích giúp tác giả có nhận định đúng hướng trước những ý

đồ và mục tiêu chiến lược của Mỹ và Trung Quốc tại ĐNA

Trang 18

Các công trình nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại CA-TBD và ĐNA được đề cập khá nhiều ở các bài báo khoa học trong

nước tiêu biểu như: bài viết “Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông

Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh (2009) [92] đã nhấn mạnh,

sự gia tăng can dự của cả Mỹ và Trung Quốc đối với ĐNA đang tác động và làm phân hóa quá trình tập hợp lực lượng và hình thành cục diện cân bằng mới trong trật

tự ĐNA và Đông Á cũng như ở CA-TBD

Bài viết “Mỹ - Trung Quốc liệu có giải quyết được tình hình căng thẳng

trên Biển Đông” của tác giả Đỗ Trung (2010) [204], khẳng định những bất đồng

xung quanh vấn đề pháp lý về biển và mục tiêu, lợi ích khác nhau khiến cho hai nước khó có thể giải quyết được tình hình căng thẳng ở Biển Đông

Bài “Ảnh hưởng của cuộc ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đông

Nam Á” của tác giả Huệ Anh (2013) [3], có những kết luận cuộc “ganh đua” giữa

hai cường quốc này sẽ tác động ảnh hưởng tới khu vực ĐNA, làm cho các nước ASEAN khó xử, “lâm vào thế kẹt” trong quan hệ đối ngoại với hai nước Tuy nhiên, do tác giả nghiên cứu vấn đề này trên khía cạnh QHQT vì vậy đã không đi sâu phân tích kỹ sự cạnh tranh Mỹ - Trung tại ĐNA tác động thế nào tới an ninh quốc gia, đến sự phát triển của đất nước và vị thế quốc tế của các nước ASEAN

Tác giả Mai Hoài Anh (2013) với bài “Tác động cạnh tranh chiến lược

giữa các nước lớn ở Đông Nam Á với Việt Nam [4] đã phân tích rõ những tác động

tích cực như: tăng vai trò, vị thế chính trị; thuận lợi trong việc theo đuổi chiến lược đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; xu hướng hợp tác tăng lên; thuận lợi trong tiếp xúc giao lưu văn hóa và tác động tiêu cực như: ảnh hưởng đến an ninh, ĐLDT, ổn định và phát triển khu vực; thách thức cho phát triển kinh tế của Việt Nam trước cạnh tranh chiến lược các nước lớn

Các tác giả Trần Khánh và Hồ Thị Ái Phương (2015) viết bài “Triển vọng

ASEAN và sự chi phối của các nước lớn – Những thách thức đối với Việt Nam”

[98] thì cho rằng tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đối với triển vọng Cộng đồng ASEAN gồm: về mặt tích cực, tạo ra cú hích mới cho ASEAN; thúc đẩy liên kết nội khối; làm tăng vị thế của ASEAN; về những thách thức, làm

Trang 19

cho các mâu thuẫn, xung đột địa chính trị của khu vục tăng nhanh, kéo theo nó là làm chạy đua vũ trang; tác động đến Việt Nam, đã tạo ra cơ hội thuận lợi hơn cho Việt Nam trong việc theo đuổi chính sách “đa cửa”, “đa đối tác”, “cân bằng chiến lược”; tăng sức đề kháng dân tộc

Đề cập đến ảnh hưởng chiến lược của Mỹ tại ĐNA có hàng loạt các bài viết

như bài viết “Mỹ trở lại Đông Nam Á có tác động thế nào đối với an ninh Biển

Đông” của tác giả Quang Huy (2011) [79] đã đưa ra đánh giá rằng việc Mỹ “quay

trở lại” ĐNA ảnh hưởng nhiều đến tình hình an ninh Biển Đông, thái độ của các nước ĐNA về vấn đề Biển Đông sẽ chịu sự “cổ vũ” trực tiếp hơn, sự quan tâm chú

ý của các nước lớn ngoài khu vực như Nhật Bản, Ấn Độ

Bài “Chiến lược toàn cầu của Mỹ và những tác động ảnh hưởng tới môi

trường hòa bình quốc tế” của Trịnh Thanh Liêm (2013) [107] thì cho rằng để thực

hiện ý đồ tiếp tục lãnh đạo thế giới trong bối cảnh điều kiện quốc tế có những sự phát triển mới, Mỹ thực hiện điều chỉnh chiến lược quân sự toàn cầu Sự điều chỉnh này của Mỹ không chỉ tác động đến cục diện khu vực CA-TBD mà cả toàn thế giới

Tác giả Lê Khương Thùy (2014) với bài “Điều chỉnh chính sách của Mỹ đối

với Trung Quốc và tác động đến ĐNA/ASEAN” [187], đã cho rằng chính sách Mỹ đối

với Trung Quốc đã làm tăng phức tạp về an ninh buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược bảo vệ tổ quốc và tăng cường quan hệ đa phương, liên kết các nước ĐNA

Các bài báo nghiên cứu về ảnh hưởng chiến lược của Trung Quốc tới ĐNA

gồm: bài “Tham vọng biển của Trung Quốc và phản ứng của Mỹ” của tác giả

Nguyễn Vĩnh Thuận (2012) [185], cho rằng tham vọng về biển cuả Trung Quốc bằng hành động răn đe, gây sức ép với các nước láng giềng và chiếm lĩnh, quân sự hóa các hòn đảo mà họ chiếm đóng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh khu vực

Tác giả Hoàng Đình Nhàn (2015) với bài “Sự phát triển của hải quân

Trung Quốc và những tác động đối với an ninh khu vực CA-TBD” [139] đã phân

tích sự phát triển của hải quân Trung Quốc và hành động cứng rắn ở Biển Đông đã tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở khu vực

Bài “Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay” của Đinh

Công Tuấn (2015) [207] đã phân tích rằng sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của

Trang 20

Trung Quốc đã tác động tiêu cực đến các nước trong khu vực về kinh tế, văn hóa,

xã hội, gây chia rẽ nội khối, nguy cơ chạy đua vũ trang và xung đột vũ trang

Các bài báo đề cập đến việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm đối với

ĐNA như: bài “Bàn về sức mạnh của Trung Quốc” của tác giả Ngô Xuân Bình (2008) [11], bài “Xu hướng gia tăng hợp tác kinh tế và chiến lược của Trung Quốc

với Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh và

Đàm Huy Hoàng (2014) [96], bài “Trung Quốc gia tăng sức mạnh mềm văn hóa ở

khu vực Đông Nam Á” của tác giả Nguyễn Thu Phương [148] và hai tác giả

Nguyễn Thị Thu Phương, Nguyễn Thu Hiền (2014) có bài “Học viện Khổng Tử và

một số khuyến nghị đối với Việt Nam” [149] đã khái quát xu hướng gia tăng hợp

tác kinh tế và văn hóa của Trung Quốc với ĐNA thông qua việc lập các thể chế và thúc đẩy hợp tác song phương, đa phương giữa Trung Quốc với khu vực này, đồng thời cũng cảnh báo cuộc “tấn công mê hoặc” của Trung Quốc đang làm ĐNA đứng trước nhiều thách thức và rủi ro, nguy cơ xâm lăng văn hóa, xâm phạm môi trường thể chế giáo dục bất chấp quy định pháp luật của nước sở tại

Những bài viết trên là tài liệu quan trọng giúp tác giả phân tích ảnh hưởng về lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục trong cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA

Đề cập tới vấn đề ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ và Trung Quốc

đối với từng nước trong khu vực có các bài nghiên cứu như: “Quan hệ Trung

Quốc - Thái Lan: thực trạng và xu hướng phát triển” của Nguyễn Văn Diện

(2013) [32] và bài “Thái Lan trong chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung

Quốc và Mỹ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh” của tác giả Nguyễn Quốc Toản và

Dương Văn Huy (2014) [198] cho rằng chiến lược cạnh trạnh giữa Mỹ và Trung Quốc đã tác động đến Thái Lan về mọi mặt, việc khôn khéo trong ngoại giao của Thái Lan khi vừa gia tăng đồng minh chính trị và quân sự với Mỹ vừa tăng cường quan hệ về kinh tế với Trung Quốc đã thu được những thành công nhất định và là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia ASEAN trong việc ứng xử với các cường quốc trong giai đoạn hiện nay

Bài “Cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ ở Campuchia” của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2014) [62] và bài “Sự tiến triển của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược

Trang 21

toàn diện Campuchia – Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Thành Văn (2014) [215]

đã phân tích lý do vì sao cả Mỹ và Trung Quốc đều sử dụng sức mạnh trên tất cả các lĩnh vực để gia tăng ảnh hướng với Campuchia Điều đó buộc Campuchia phải khéo léo trong việc củng cố quan hệ với Trung Quốc và mở rộng quan hệ với Mỹ

Bài “Vấn đề Biển Đông và những tác động của nó tới quan hệ thương mại

Việt - Trung và nền kinh tế Việt Nam”, của Lê Kim Thoa và Ngô Hoàng Long

(2014) [172], đã phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề Biển Đông tác động đến quan hệ thương mại hai nước và từ đó đề xuất kiến nghị giải quyết không để lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc

Bài “Cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc tại Mi-an-ma từ năm

2009 đến nay” của tác giả Nguyễn Thu Mỹ và Đàm Huy Hoàng (2016) [129] đã phân

tích ảnh hưởng cạnh tranh Mỹ - Trung tại Myanmar đã đem lại cho đất nước này nhiều cơ hội trước hết là từng bước dỡ bỏ trừng phạt kinh tế với Mỹ và các nước phương Tây, phục hồi quan hệ ngoại giao với các bên liên quan Thứ hai là, Myanmar không còn bị xem là “chư hầu” của Trung Quốc mà là quốc gia độc lập có chủ quyền và đang nỗ lực vươn lên trên con đường dẫn tới dân chủ và phồn vinh

Theo các tác giả cho rằng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đã tạo cho các quốc gia ĐNA có cơ hội tiếp xúc nhiều nguồn vốn, nguồn đầu tư từ hai cường quốc này Tuy nhiên, ĐNA cũng đứng trước thách thức suy yếu liên kết nội khối của ASEAN, tăng thêm cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, ảnh hưởng đến ngoại giao song phương và đa phương Các công trình nghiên cứu này đã giúp tác giả có cơ sở lý luận cũng như thực tiễn để nhìn nhận, đánh giá tác động của sự gia tăng can dự cạnh tranh Mỹ - Trung đến các nước trong khu vực, nhất là đến độc lập, chủ quyền quốc gia dân tộc

1.2.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung được nhiều tác giả thế giới quan tâm

nghiên cứu Có thể nêu ra một số công trình có liên quan chủ yếu sau:

Hai tác giả Ikenberry.J và Mastanduno.M trong công trình “International

Relations Theory and the Asia Pacific” (Lý thuyết quan hệ quốc tế và khu vực

Trang 22

Châu Á – Thái Bình Dương) (Columbia University, New York, 2003) [243] cho rằng tranh chấp giữa các nước ở Biển Đông sẽ lôi cuốn sự quan tâm của các nước lớn ngoài khu vực, nhất là Mỹ Xu hướng chung là Mỹ sẽ ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm đảm bảo lợi ích an ninh chủ yếu của mình và điều đó đặt quan hệ Mỹ - Trung luôn đứng trước trạng thái vừa hợp tác, vừa đấu tranh và kiềm chế lẫn nhau

Công trình “America’s Role in Asia and the South China Sea” (Vai trò của

Mỹ ở Châu Á và Biển Đông) của Amitar Acharya (2004) [227] đã phân tích sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ đối với châu Á, trong đó có ĐNA Công trình này nêu bật những cố gắng của Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI, nhằm gia tăng vai trò

ở ĐNA, trong đó cùng với việc tăng cường sự hiện diện ở khu vực, Mỹ ngày càng quan tâm đến tình hình an ninh Biển Đông trước việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động quân sự và khẳng định chủ quyền ở Biển Đông

Nhận định chung của hai công trình “China’s Rise and the Balance of

Influence in Asia” (Sự phát triển và cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Châu

Á) (2007) [267] và “Southeast Asia in the Sino – US Strategic Balance” (Đông

Nam Á trong cân bằng chiến lược Trung - Mỹ) (2009) [268] của các tác giả William W.Keller và Thomas G.Rawski cho rằng quan hệ Mỹ - Trung tác động đến phương thức tập hợp lực lượng không chỉ ở ĐNA mà cả ở khu vực CA - TBD, điều này tạo ra những tình huống không dễ xử lý đối với các nước trong khu vực

và làm gia tăng tính phức tạp trong QHQT

Sách tham khảo “Chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc”

(Chinese Diplomatic Strategy and Policy) của tác giả Sở Thụ Long và Kim Uy (chủ biên), (2008) [109], đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc đối với tất cả các khu vực trên thế giới, trong đó có ĐNA Cuốn sách được chia thành bốn phần, trong đó phần III, cung cấp cho bạn đọc những thông tin về chiến lược và chính sách của Trung Quốc đối với Châu lục và và một số nước lớn, đi sâu phân tích mối quan hệ và chính sách của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Bán đảo Triều Tiên, Trung Đông…Cuốn sách đã cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho tác giả luận án tham khảo khi đưa ra

Trang 23

những đề xuất đối sách trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến ĐLDT của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, trong cuốn sách này có một số luận chứng tác giả nêu trên quan điểm lập trường của mình và của Trung Quốc khác với Việt Nam và không phù hợp với luật pháp quốc tế

Sách “Obama and China’s Rise in America’s Asian Atrategy” (Obama và sự

trỗi dậy của Trung Quốc trong chiến lược châu Á của Mỹ), của Jeffrey A.Bader (2015) [87], đã phân tích chính sách đối ngoại của chính quyền Obama không những phát triển quan hệ với Trung Quốc, mà còn duy trì quan hệ tốt đẹp với các đối tác - đồng minh chủ chốt khác ở châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc; đồng thời tập trung nhiều hơn vào Đông Nam Á - ASEAN Tuy nhiên, tác giả mới chỉ phân tích khía cạnh một số nước ĐNA mong muốn sự hiện diện của Mỹ tại khu vực mà chưa đề cập đến chiến lược này phục vụ chính bản thân nước Mỹ trước những nguy cơ tiềm tàng của sự “trỗi dậy” của Trung Quốc đe dọa vị trí số 1 của Mỹ trên trường quốc tế

Trên báo và tạp chí quốc tế có rất nhiều bài viết về vấn đề này như: Tác giả

David Capie và Paul Evans trong bài “The Asia - Facific Securities Lexicon” (Từ điển an ninh Châu Á – Thái Bình Dương), (2002) [238] và bài viết “Seeking

Security in Dragon’s shadow: China and Southeast Asia in the Emerging Asian Order” (Tìm kiếm an ninh dưới bóng con rồng: Trung Quốc và Đông Nam Á

trong trật tự Châu Á mới nổi), của tác giả Amitar Acharya ( 2003) [226] chỉ ra rằng, cạnh tranh giữa các nước lớn ở ĐNA, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc đều có liên quan trực tiếp đến an ninh ở ĐNA, CA - TBD Cuộc cạnh tranh này càng cho thấy rõ vai trò của vấn đề an ninh hàng hải trên Biển Đông đối với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản

Tác giả Shi Yinhong có các bài viết như: bài “The United States and China

in East Asia: Dynamics of A Volatile”, (Mỹ và Trung Quốc ở Đông Á: Sự năng

động của một biến động bất ổn) [261] và bài “The Strategic Situation and

Prospects of China-U.S Relations” (Tình hình chiến lược và tiềm năng của quan

hệ Trung - Mỹ) [262] đã khảo sát ở bề rộng và chiều sâu sự biến động của cạnh tranh Mỹ - Trung ảnh hưởng ở ĐNA, và nhận định hiện nay ảnh hưởng ngoại giao của Trung Quốc đã bị thu hẹp đáng kể, trong khi đó Mỹ đã giành được rất nhiều lợi thế mới tại khu vực ĐNA

Trang 24

Trong bài “The United States and China in Southeast Asia: Conflict or

Convergence” (Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á: Mâu thuẫn hay hội tụ), tác giả

Robert Sutter (2010) [259] đã phân tích sự phụ thuộc lẫn nhau trong lợi ích của

Mỹ - Trung Quốc, đặc biệt là trong phát triển kinh tế; sự khác biệt trong lợi ích giữa Trung Quốc và Mỹ đã tác động không nhỏ đến khu vực ĐNA

Bài “China’s Rise and Capability of Territory Expansion in the Perspective

of International Relations” (Sự trỗi dậy của Trung Quốc và khả năng bành trướng

lãnh thổ của nước này dưới góc độ lý thuyết quan hệ quốc tế) của M.Taylor Fravel (2010) [249] nhận định rằng các hành vi gây hấn của Trung Quốc đã châm ngòi cho quá trình hình thành các liên minh quốc tế với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc

Bài “The United States in Multilateral East Asia Dealing with the rise of

China” (Mỹ trong Đông Á đa phương đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc),

của tác giả Chika Yamamoto (2011) [232], thì cho rằng sức mạnh bá chủ và sức mạnh đang lên sẽ luôn luôn đối đầu nhau gây ra ảnh hưởng rất lớn, đặt Trung Quốc trong bối cảnh của một sự cạnh tranh bá chủ

Bài “Island Building” Strategy and China’s Ambition of Regional

Hegemony” (Chiến lược “xây dựng đảo” và tham vọng bá quyền khu vực của

Trung Quốc), của Patrick M.Cronin (2015) [254] đã điểm lại các hành vi hung hăng và mang tính cưỡng ép của Trung Quốc Theo tác giả thì những hành động này nhằm giảm ảnh hưởng của Mỹ và gia tăng sự thống trị của Trung Quốc đối với khu vực CA- TBD

Trong bài “Phân tích con đường xây dựng sức mạnh mềm văn hóa quốc gia

của Mỹ” (An Analysis of America’s Path of Building National Soft Cultural

Power), tác giả Lý Bách Linh (2015) [248] đã phân tích sức mạnh mềm văn hóa

đã trở thành nguyên nhân chủ yếu và nguồn tài nguyên quan trọng của Mỹ đối với năng lực lãnh đạo, sức ảnh hưởng, sức hấp dẫn của sản xuất toàn cầu hóa

Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc luận giải các tác động từ sự trỗi dậy của Trung Quốc và cạnh tranh chiến lược Mỹ

- Trung đến ổn định và phát triển của ĐNA nói chung và độc lâọ chủ quyền của các nước trong khu vực nói riêng

Trang 25

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI SÁCH CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC MỸ - TRUNG

1.3.1 Các nghiên cứu tron nước

Trước hết phải kể đến cuốn “Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển

trong xu thế toàn cầu hóa” của tác giả Thái Văn Long (2006) [110], đã phân tích

rất chi tiết về những nội dung cơ bản về đấu tranh vì ĐLDT của các nước đang phát triển hiện nay Chương 4, tác giả đã phân tích nội dung Việt Nam đấu tranh bảo vệ và củng cố ĐLDT trong TCH, qua đó tác giả đã phân tích đóng góp của Việt Nam vào cuộc đấu tranh chung của các nước đang phát triển hiện nay và nêu một số bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đấu tranh này

Cùng đề cập vấn đề trên còn có cuốn sách “Chủ quyền quốc gia dân tộc

trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam” do tác giả Phan Văn Rân

và Nguyễn Hoàng Giáp (2010) đồng chủ biên [157] Đây là công trình chuyên sâu nghiên cứu về bảo vệ ĐLDT của các nước đang phát triển Các tác giả đã phân tích đối sách của một số nước nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia trước xu thế toàn cầu hóa; tập trung làm rõ nội dung về chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa Từ đó, các tác giả nêu lên một số khuyến nghị nhằm tăng cường bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc và hội nhập quốc tế của Việt Nam

Hai công trình nghiên cứu trên giúp tác giả hiểu rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa Các công trình này là tài liệu quý giá gợi mở cho tác giả hướng tiếp cận về cách thức bảo vệ ĐLDT của các quốc gia tại khu vực ĐNA

Đề cập đến đối sách của các nước tại khu vực phải kể đến sách “Hợp tác

liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam” của các tác giả Nguyễn

Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu Cát và Nguyễn Thị Quế (2006) [48] đã góp phần làm rõ thêm những bước phát triển mới và triển vọng của quá trình phát triển hợp tác, liên kết ASEAN sau Chiến tranh lạnh trong một số lĩnh vực chủ yếu, đồng thời cũng nêu bật sự tham gia và đóng góp của Việt Nam đối với quá trình này Cuốn

Trang 26

sách này giúp tác giả có thêm tư liệu để viết phần đối sách của ASEAN trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại ĐNA

Sách “Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam” (1986-2012)”, tác giả

Phạm Quang Minh (2012) [123] đã phân tích quá trình chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam hình thành và phát triển, đồng thời đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối ngoại trong giai đoạn sau

Sách “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới

(1986-2016)” [38] và cuốn “30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” [82] là các

công trình tổng kết lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt với sự nghiệp đổi mới toàn diện mà Đảng và toàn dân đang đẩy mạnh Hai cuốn sách làm cơ sở cho tác giả luận án xác định những giải pháp, đề xuất mới trong việc xây dựng và bảo vệ ĐLDT cho Việt Nam trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Trên các tạp chí và báo có các viết tiêu biểu như: Tác giả Lương Văn Kế

(2014) với bài "Tính chất địa chính trị của liên kết song phương Việt Nam với các

nước láng giềng" [88] đã cho rằng tạo mối quan hệ hòa hiếu với các nước láng

giềng là một trong các nguyên tắc lớn của truyền thống chính sách đối ngoại; tạo dựng quan hệ đồng minh với láng giềng để cùng nhau phát triển và bảo vệ tổ quốc

Đề cập đến vấn đề đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt

Nam có hàng loạt bài viết như “Độc lập, tự chủ - định hướng và nguyên tắc bất biến

của đối ngoại Việt Nam”, tác giả Phạm Bình Minh (2014) [121], bài "Sự sáng tạo trong đường lối đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới", tác giả Nguyễn Tất Giáp

(2015) [50], bài “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực bảo vệ chủ

quyền, an ninh biên giới quốc gia trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của tác giả Ngô

Xuân Lịch (2015) [106] và bài “Nhìn lại chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới của

Việt Nam đối với khu vực Đông Nam Á”, của Phạm Quang Minh (2016) [125] Các

tác giả đã phân tích sự đổi mới tư duy của Đảng về đường lối đối ngoại, những sáng tạo này đã góp phần kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đưa nước ta ngày càng chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới vì mục tiêu phát triển Các công trình trên là nguồn tư liệu quý giá để tác

Trang 27

giả nghiên cứu trong vấn đề đối sách của Việt Nam trong việc xây dựng và củng cố ĐLDT trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Bài “Tầm nhìn của Cộng đồng kinh tế ASEAN sau 2015 và một số vấn đề đặt

ra”, của Nguyễn Huy Hoàng và Ngô Thảo Quỳnh (2015) [70] và bài “Vấn đề Biển Đông những tác động của nó tới quan hệ thương mại Việt – Trung và nền kinh tế Việt Nam”, của Lê Minh Thoa, Ngô Hoàng Đại Long (2014) [172], đã đề xuất

ASEAN cần giải quyết tốt việc phát triển kinh tế hòa nhập với khu vực và quốc tế

Đề tài cấp Bộ “Quan hệ với các nước láng giềng trong chính sách đối

ngoại của Việt Nam từ 1991 đến nay” (2010) [44] và đề tài cấp cơ sở “Sự phát triển, hợp tác liên kết ASEAN và đóng góp của Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh lạnh” (2008) [43] do Nguyễn Hoàng Giáp chủ nhiệm đã làm rõ những bước phát

triển hợp tác, liên kết ASEAN sau chiến tranh lạnh, đồng thời nêu bật những đóng góp của Việt Nam đối với quá trình này Nêu khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả sự hợp tác của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác, liên kết ASEAN hiện nay cũng như trong những năm tới

Các luận án tiến sỹ “Công cuộc bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc của cộng

hòa dân chủ nhân dân Lào trên lĩnh vực đối ngoại từ năm 1975 đến năm 2010”

của tác giả Uông Minh Long (2012) [113], “Quá trình đấu tranh củng cố độc lập

dân tộc của liên bang Malaysia tư năm 1957 đến năm 1990” của Trịnh Thị Hoa

(2014) [65] và “Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc của Vương quốc

Campuchia từ năm 1993 đến năm 2013” của Sok Dareth (2015) [159], đã nghiên

cứu quá trình đấu tranh bảo vệ ĐLDT và đánh giá những thành tựu, hạn chế và rút

ra một số kinh nghiệm trong sự nghiệp bảo vệ, củng cố ĐLDT của một số nước tại khu vực ĐNA trong giai đoạn hiện nay Các công trình này là nguồn tài liệu quí giá giúp tác giả phân tích đối sách của các nước ở ĐNA bảo vệ và củng cố ĐLDT trước ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung hiện nay

Ngoài ra, các tài liệu Văn kiện Đại hội Đảng các khóa VIII, IX, X, XI, XI, XII đã giúp tác giả luận án, nhận thức rõ hơn về đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 28

US - China’s Competition on Southeast Asian Countries” (Ảnh hưởng của cuộc

ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đông Nam Á) [164] đã phân tích đối sách của từng nước ASEAN và hầu hết các nước ASEAN đều lựa chọn phương án cùng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc để phát triển đất nước để tránh bị lệ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào

Bài “In Search of a Southeast Asian Response to China ,

s Bid for Dominance” (Tìm kiếm phản ứng của Đông Nam Á trước tham vọng thống trị của

Trung Quốc), của tác giả Patrick Cronin (2015) [253] và bài “South China Sea

Crisis How should the US Respond” (Khủng hoảng Biển Đông Mỹ nên hành xử

như thế nào), của tác giả Richard Javad Heydarian (Philippines), (2015) [258], cho rằng giải pháp là các nước ASEAN cần phải đoàn kết nhiều hơn nữa trước những hành động nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông

Giáo sư Carlyle Thayer (2015) với bài “Not Falling to the “Orbit” to

Prevent from Dependence”(Không rơi vào “quỹ đạo” để tránh bị lệ thuộc) [21] thì

cho rằng Việt Nam cần tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa

Bên cạnh đó, còn phải kể đến một số cơ quan nghiên cứu quốc tế trong nước Viện Nghiên cứu châu Mỹ, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao), Viện Quan hệ Quốc tế (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh),

Ngoài ra, người viết luận án còn nghiên cứu các tài liệu nghiên cứu trên các trang mạng điện tử, của các hãng thông tấn, truyền thông có uy tín như: Thông tấn

xã Việt Nam, Vietnamnet, Vietnamplus, Nghiên cứu Biển Đông, Nghiên cứu Quốc tế, website Tổng cục Thống kê, Foreign Affairs, National Interest, Washington Post, New York Times, Reuters

Trang 29

Đán iá c un về tình hình nghiên cứu tron v n o i nước

Nhìn chung, các nghiên cứu về ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược của Mỹ - Trung tại ĐNA trên thế giới là hết sức phong phú, đa dạng, tương đối có tính chất chuyên sâu và hệ thống hơn so với nghiên cứu trong nước Do xuất phát từ mục đích nghiên cứu và yêu cầu cụ thể, lập trường tư tưởng, quan điểm của từng quốc gia khác nhau nên các nhà nghiên cứu nước ngoài có những quan điểm, cách đánh giá khác nhau Các công trình trong nước cũng như ngoài nước thường đi theo hướng phân tích ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung trên góc độ QHQT mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu tác động của quá trình trên đến ĐLDT

Những vấn đề c ưa được giải quyết:

Thứ nhất, các tác giả chưa đề cập phân tích sâu vấn đề quyền tự quyết và

khả năng “đề kháng” của các nước ĐNA trước sự gia tăng can dự và cạnh tranh

chiến lược Mỹ - Trung Thứ hai, các nghiên cứu đưa ra chưa phân tích sâu các

khía cạnh tác động, nhất là về kinh tế trước sự tấn công mê hoặc của Trung Quốc

và truyền bá giá trị văn hóa của cả Mỹ và Trung Quốc

Tóm lại, do hướng nghiên cứu khác nhau nên các công trình trên chưa đề cập một cách cụ thể và hệ thống sự ảnh hưởng của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đến các mặt của ĐLDT

Kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đi trước, luận án tập trung lý giải

và làm rõ các vấn đề chủ yếu sau: Một là, nhận diện các khía cạnh tác động của cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung, nhất là đến chủ quyền, an ninh quốc gia Hai là,

đánh gia về nhận thức và hành động chiến lược của các nước ĐNA (chủ yếu là các nước Việt Nam, Lào , Campuchia, Philipines, Malaysia) trước sự gia tăng cạnh

tranh chiến lược Mỹ - Trung Ba là, từ kinh nghiệm thực tiễn, góp phần làm phong

phú thêm kiến thức về ĐLDT trong bối cảnh mới

Đây cũng là những vấn đề cơ bản mà tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu trong luận án này

Trang 30

C ươn 2 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC

MỸ - TRUNG TẠI ĐÔNG NAM Á TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

2.1 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CẠNH TRANH CHIẾN LƯỢC VÀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

2.1.1 Khái niệm cạnh tranh chiến lược

Trong chính trị quốc tế, khái niệm cạnh tranh được hiểu là tranh đua chính

trị, là cạnh tranh cho quyền lực chính trị Kết quả của kiểu cạnh tranh này thường dẫn đến tình trạng căng thẳng trên toàn thế giới và đôi khi có thể biến thành một cuộc chiến tranh [228]

Chiến lược theo nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và

có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian Chiến lược là tổng thể các phương châm, và mưu lược được hoạch định để xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực, toàn xã hội hoặc toàn thế giới trong một thời kỳ nhất định [211, tr.211]

Chiến lược đối ngoại của một nước lớn là đường lối chỉ đạo việc huy động

và phối hợp mọi nguồn lực quốc gia, mọi điều kiện khách quan bên trong và bên ngoài để bảo vệ lợi ích quốc gia của nước lớn đó, chủ yếu là bảo đảm an ninh, điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự phát triển, bảo đảm khẳng định và nâng cao địa

vị nước lớn của nước đó trên trường quốc tế [160, tr.26]

Từ những cách lý giải trên về thuật ngữ “cạnh tranh” và “chiến lược” cho

thấy khái niệm “cạnh tranh chiến lược” trong QHQT có đặc điểm sau: Một là,

hành động ganh đua, đấu tranh chống lại đối thủ để giành phần hơn về vị thế,

quyền lực hay ảnh hưởng, lợi ích cho mình Hai là, tổng thể các phương châm,

mưu lược, sách lược được hoạch định trong một thời kỳ nhất định nhằm thực hiện

mục tiêu đã đề ra bằng con đường có lợi nhất Ba là, mục tiêu mang tính toàn diện

trên phạm vi rộng, có tầm quan trọng đối với quốc gia

Trang 31

Với ba đặc điểm này, có thể hiểu khái niệm “cạnh tranh chiến lược” trong

QHQT như sau: Cạnh tranh chiến lược là sự ganh đua, đấu tranh của một nước

hoặc liên minh các nước với đối thủ của mình về phương châm, phương cách, chính sách và mưu lược được hoạch định trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra để giành phần hơn, phần thắng về vị thế, quyền lực, sự ảnh hưởng hay lợi ích trên toàn phương diện

Cạnh tranh quyền lực trong QHQT được hiểu là hình thái đối kháng (trực

tiếp - gián tiếp) giữa hai (hoặc nhiều) chủ thể nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với phục tùng ý chí của mình [84]

Từ khái niệm về cạnh tranh chiến lược và cạnh tranh quyền lực nêu trên có thể thấy chúng có cùng đặc điểm là tranh giành ảnh hưởng, vị thế đối với phục tùng ý chí của mình Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược là nói đến việc chủ thể triển khai phương châm, phương cách, chính sách và mưu lược trước đối thủ để đạt được mục đích của mình, còn cạnh tranh quyền lực là việc chủ thể tìm mọi cách

để tăng cường sức mạnh thay đổi cán cân quyền lực có lợi cho mình

Quan hệ giữa các nước lớn là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển thế giới; chi phối QHQT và quá trình hình thành, cơ chế vận hành của trật tự thế giới Lịch sử hơn 500 năm qua đã chứng minh sự cường thịnh của một quốc gia này

là nguyên nhân của mối quan tâm của một hay một số quốc gia khác và cuối cùng dẫn đến chiến tranh hay cạnh tranh giữa các cường quốc với nhau Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn hiện nay có những chuyển biến rất cơ bản Trạng thái cạnh tranh đan xen, phức tạp; giữa hợp tác và đấu tranh với nhau, giữa can dự và kiềm chế lẫn nhau Trong giai đoạn hiện nay, các cường quốc ngoài việc chi phối về chính trị, còn có khả năng to lớn về kinh tế, tài chính, điều này đã làm tăng tính phụ thuộc của các nước đang phát triển vào các nước lớn, kéo theo việc tập hợp lực lượng của các cường quốc đang có những thay đổi hết sức phức tạp, gây ra những biến chuyển địa chính trị, địa kinh tế và tác động trực tiếp đến lợi ích của các nước khác Sự dịch chuyển, cọ xát trong chiến lược giữa các nước lớn không chỉ ảnh hưởng đến các cường quốc mà còn làm nóng lên hay dịu đi tại các điểm nóng tranh

Trang 32

chấp lãnh thổ, vị thế của các tổ chức quốc tế, khu vực và các nước vừa và nhỏ ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, điều này còn tạo ra nhiều thách thức về ĐLDT đối với các nước đang phát triển trong xử lý quan hệ với các nước lớn Các nước chậm phát triển hiện nay không có một sự độc lập thực sự về kinh tế vì còn phải nương tựa quá nhiều vào nền kinh tế của các cường quốc kéo theo nó là nhân tố chính trị

và quân sự cũng bị ảnh hưởng sâu sắc Tình trạng khủng hoảng chính trị, lệ thuộc kinh tế của một số nước xảy ra do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc chính phủ

bế tắc và thất bại trong việc dung hòa quan hệ với các nước lớn dựa trên nền tảng đảm bảo an ninh quốc gia, nền kinh tế, xã hội phát triển độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế tránh rơi vào chiến tranh hay bị lệ thuộc nước lớn

Hiện nay sức mạnh quân sự, kinh tế, chính trị của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ

và Trung Quốc vẫn là nhân tố tác động chi phối đời sống thế giới trên nhiều phương diện Trật tự khu vực phụ thuộc nhiều vào cách Mỹ và Trung Quốc triển khai sức mạnh và ứng xử với lợi ích cốt lõi của nhau Do đó, mối quan hệ Trung - Mỹ ổn định

và lành mạnh sẽ là nền tảng cho hòa bình và phát triển trong khu vực, và ngược lại nếu mối quan hệ này xấu đi sẽ gây ra nhiều nguy hại cho thế giới Các nước nhỏ nếu không xử lý khôn khéo trong mối quan hệ với các cường quốc này sẽ có thể dẫn đến đối đầu và thậm trí là chiến tranh khu vực đe dọa nền ĐLDT của mỗi quốc gia

Tại ĐNA hiện nay tồn tại cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ - Trung Quốc, Trung Quốc - Nhật Bản, Trung Quốc - Ấn Độ; Nhật Bản với Mỹ, Ấn Độ và Liên minh Châu Âu (EU), Ấn Độ - Mỹ - Nga và EU, giữa Nga với Mỹ và Nhật Bản… Các nước lớn đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Ấn Độ đều thực hiện chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của mình, có những chính sách chi phối ảnh hưởng đến khu vực với những mức độ khác nhau, đồng thời tìm cách thỏa hiệp, hợp tác và cả kiềm chế các đối thủ khác trong cạnh tranh ảnh hưởng đối với khu vực, xác lập vị trí của mình ở ĐNA theo hướng có lợi cho mình [47, tr.252]

2.1.2 Khái niệm Độc lập dân tộc

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, ĐLDT là có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác, dân tộc khác

Trang 33

Theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ĐLDT bao hàm trong đó cả nội dung dân tộc và dân chủ Trong tư tưởng của Người, một dân tộc độc lập thì phải có quyền tự quyết định trên tất cả các mặt kinh tế chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lãnh thổ, mà trước hết và quan trọng nhất là quyền quyết định về chính trị; ĐLDT phải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; ĐLDT bao giờ cũng gắn với tự do, dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động [117]

Nghiên cứu về ĐLDT, PGS.TS Thái Văn Long cho rằng: ĐLDT là cái đích trực tiếp của công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, đô hộ và xâm lược từ bên ngoài để khẳng định quyền làm chủ đất nước và quyền phát triển của dân tộc,

là sự thống nhất lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, là sự độc lập và tự chủ trong mối quan hệ với các quốc gia dân tộc khác với cộng đồng quốc tế, là ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân [110, tr.81]

Như vây, ĐLDT bao hàm quyền tối cao trong việc định đoạt các vấn đề trong nước và quyền được bình đẳng trong QHQT, cũng như quyền tự quyết định các vấn đề đối ngoại của quốc gia dân tộc [153, tr.117]

Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo

vệ và củng cố ĐLDT của các nước đang phát triển là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ nhưng đã làm thay đổi một cách sâu sắc bức tranh toàn cảnh của thế giới hiện đại, nhất là hệ thống tư bản chủ nghĩa Việc giành được ĐLDT là một thành tựu có tính chất lịch sử không chỉ của các nước thuộc địa, mà còn là của tất

cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã làm đảo lộn cục diện thế giới và đời sống kinh tế quốc tế đặt vấn đề bảo vệ ĐLDT của các nước đang phát triển trước những cơ hội, thời cơ mới và cả những thách thức nghiêm trọng Hiện nay, ĐLDT đang chịu những tác động không nhỏ trước sự xâm hại của chủ nghĩa đế quốc và mặt trái của toàn cầu hóa (TCH) ĐNA hầu hết đang là các nước đang phát triển, giành được độc lập về chính trị, nhưng về kinh

tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật ít nhiều còn phụ thuộc vào các nước phát triển

Để giành vị thế có lợi, các quốc gia dân tộc đều điều chỉnh chính sách, tạo cơ hội tận dụng, tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, vốn đầu tư và

Trang 34

những kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển kinh tế - xã hội Đối với các nước đang phát triển, do phải phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về khoa học, công nghệ, vốn đầu tư…, nên những nước này đang đứng trước nhiều thách thức lớn Trong bối cảnh đó, các nước vừa và nhỏ luôn nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực,

tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của các nước lớn

Các nước lớn cậy thế ức hiếp nước nhỏ, áp đặt các luật lệ cùng giá trị văn hóa thu vén lợi ích cho mình tạo nên sự bất bình đẳng Thông qua chính sách đầu

tư, hỗ trợ, viện trợ về kinh tế các nước lớn thường ra giá, mặc cả các điều kiện về chính trị, dùng kinh tế để đổi lấy chính trị tạo ra nguy cơ xâm phạm đến ĐLDT, chủ quyền và an ninh quốc gia Các nước lớn thường can thiệp vào nội bộ của các nước khác đặc biệt là các nước đang phát triển, theo những phương cách thô bạo, cường quyền Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chế chính trị và an ninh cho các nước nhỏ khi tham gia, dẫn đến lệ thuộc vào các nước lớn trong tất cả các lĩnh vực của quốc gia Thậm chí, một số cường quốc sử dụng các thủ đoạn, cơ hội làm gia tăng mâu thuẫn, trầm trọng thêm những khó khăn nhằm đẩy nhanh việc thay đổi chế độ chính trị đối với những nước khác biệt về chế độ chính trị, hoặc thu hút các nước đó vào khu vực ảnh hưởng của họ Trong điều kiện đó, độc lập, chủ quyền và

an ninh quốc gia bị uy hiếp nghiêm trọng, thậm chí bị xâm phạm [209]

Hiện nay, trên thế giới, người ta thường nhấn mạnh đến 3 yếu tố: an ninh, phát triển và vị thế quốc tế để nhìn nhận về ĐLDT của một quốc gia Để bảo vệ và củng

cố ĐLDT, các nước ĐNA cần phải có những chính sách phát triển đất nước, lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm, giữ vững ổn định chính trị, tạo lập sự đoàn kết, đồng thuận xã hội; mặt khác cần chú trọng xử lý các vấn đề đối ngoại để tận dụng cơ hội phát triển và hạn chế những khó khăn, thách thức do ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung đem lại Đoàn kết và cùng nhau phát triển bền vững, giữ vững ổn định an ninh - chính trị, phát triển kinh tế quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tăng cường hội nhập quốc tế là việc làm cấp bách và cần thiết hiện nay nhằm bảo

vệ và củng cố ĐLDT, ứng phó với các ảnh hưởng từ cạnh tranh Mỹ - Trung đem lại

Trang 35

2.1.3 Quan điểm của chủ n ĩa Mác - Lênin về cạnh tranh chiến lƣợc

Học thuyết Mác - Lenin cho rằng quan hệ xã hội trong đó có QHQT suy cho cùng do quan hệ vật chất quyết định Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin

về cạnh tranh chủ yếu đề cập tới mâu thuẫn trong đấu tranh giai cấp và các chế độ

xã hội; giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp giữa giai cấp thống trị và bị trị

Mác và Ăngghen lập luận rằng các dân tộc lớn và tiến bộ có vai trò lịch sử trong việc hoàn thành cách mạng thế giới, trong khi liên kết với nhiều dân tộc nhỏ khác và tạo điều kiện cho chủ nghĩa xã hội thành công Nhưng các ông cũng phản đối một số người theo quan điểm “dân tộc phản động” và những phong trào dân tộc bị các cường quốc lợi dụng nhằm chống lại cách mạng thế giới

Sau này, Lênin phát triển chủ nghĩa Mác, và cho rằng, chính vì

sự phụ thuộc chặt chẽ của hệ thống kinh tế tư bản vào thị trường và nguồn tài nguyên hải ngoại, nên xung đột quốc tế là căn bệnh cố hữu trong thế giới của các nước tư bản Chủ nghĩa đế quốc đã biến thế giới thành hai mảng, một bên là các dân tộc bị áp bức và kia là đi áp bức Chính sự phát triển không đồng đều của các nước tư bản dẫn tới chiến tranh đế quốc và phân chia thuộc địa Nhà nước xã hội chủ nghĩa không thể quan hệ sinh tồn với các nước tư bản chủ nghĩa

Khi bàn về lợi ích dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, lợi ích quốc gia là sự phổ cập hóa lợi ích giai cấp này đối với giai cấp khác

và đưa đến cộng đồng hóa trong toàn xã hội Xã hội quốc tế là một hệ thống thế giới, trong đó xung đột quốc tế, hợp tác quốc tế, cục diện thế giới v.v cơ bản được giải quyết bởi quan hệ giữa hai giai cấp với nhau Muốn loại bỏ chiến tranh xâm lược và thái độ cường quyền của các nước lớn thì phải làm cách mạng vô sản, loại trừ các nước tư bản Khi lực lượng sản xuất và giao lưu quốc tế phát triển cao sẽ đưa thế giới đến đại đồng [216, tr.100-102]

Trang 36

Theo các nhà tư tưởng Mác-xít, các nước tư bản sẽ rơi vào khủng hoảng, bất lực trước tình trạng bạo lực tăng cao và suy yếu khi uy tín của chính quyền bị suy giảm Trung Quốc sẽ trở thành một nền kinh tế hùng mạnh, lãnh đạo các quốc gia kém phát triển trong cuộc chiến với các nước phát triển - đứng đầu là Mỹ [10, tr.31]

2.1.4 Lý thuyết của Chủ n ĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các nước lớn

Nội dung chính của Chủ nghĩa hiện thực đó là: lợi ích là yếu tố căn bản trong QHQT và được đảm bảo bằng quyền lực QHQT được mô tả như một cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chất của QHQT

Trong đời sống chính trị quốc tế, không phải tất cả các quốc gia đều bình đẳng như nhau, mà các nước lớn thường nắm vai trò chi phối, định đoạt Nước lớn luôn có thiên hướng chi phối không gian chiến lược xung quanh họ, trong khi nước nhỏ luôn tìm cách thích nghi và trong nhiều trường hợp phải chấp nhận, cam chịu [193, tr.108] Để tự cứu mình, các nước có thể sử dụng chính sách liên minh Trong các cuộc xung đột, các quốc gia có thể có lợi ích nhất định nhưng tất cả sẽ thay đổi một khi tương quan so sánh lực lượng thay đổi và xung đột chấm dứt theo hướng có lợi cho họ Liên minh của các quốc gia không bền vững, hôm nay có thể là bạn bè nhưng ngày mai có thể trở thành đối thủ, thậm chí là kẻ thù và ngược lại chỉ vì lợi ích khác biệt Những khác biệt về lợi ích chính là nguyên nhân dẫn đến xung đột, cạnh tranh giữa các nước nhất là các nước lớn

Từ Chủ nghĩa hiện thực, các cường quốc cho rằng chỉ có con đường duy nhất là trở thành nước mạnh nhất trong hệ thống quốc tế mới đảm bảo được sự tồn vong của mình

Các nước lớn đều nuôi tham vọng trở thành bá quyền khu vực và quốc tế, dùng “khu vực sân sau” làm bàn đạp để tiến xa hơn Khi giành được vị trí bá quyền nước lớn tìm cách ngăn không cho các nước lớn khác xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của mình Nếu một nước có khả năng làm bá quyền xuất hiện, mà các nước lớn trong khu vực không có khả năng kiềm chế, nước bá quyền ngoài khu vực sẽ sử dụng các biện pháp thích hợp để xử lý nước mới nổi lên đó [73, tr.63]

Trang 37

Hiện nay, Mỹ có địa vị bá quyền thống trị Tây bán cầu và có ảnh hưởng lớn tới các khu vực khác trên thế giới Tuy nhiên, Trung Quốc nổi lên trở thành một cường quốc đang thách thức vị thế bá quyền của Mỹ trên thế giới Vì vậy, cạnh tranh, xung đột giữa hai nước là điều khó tránh khỏi

Các nước lớn do quyền lợi khác biệt nhau nên có nhiều mâu thuẫn, song xu hướng chung là các nước này thường thỏa hiệp, phân chia lợi ích với nhau và điều này làm phương hại đến lợi ích các nước vừa và nhỏ Các nước lớn luôn tìm mọi cách làm thay đổi cục diện thế giới đồng thời tác động, gây ảnh hưởng tới các nước đang phát triển, các nước nhỏ hơn mình, hi sinh quyền lợi của các nước nhỏ

để thỏa mãn quyền lợi của các nước lớn Trên thực tế khả năng giữ ĐLDT của các nước nhỏ luôn lép vế về thế và lực so với các nước lớn [113, tr.32] Lịch sử đã chứng minh, một số các nước lớn đã bàn bạc và quyết định các vấn đề liên quan đến vận mệnh các nước nhỏ mà không có sự tham gia của các nước này Vì vậy, các nước nhỏ phải tỉnh táo, cảnh giác để bảo vệ nền ĐLDT của đất nước mình Các nước vừa và nhỏ thường theo đuổi chính sách cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, tận dụng cơ hội, hạn chế tiêu cực do cạnh tranh của các nước lớn mang lại để phát triển đất nước, bảo vệ ĐLDT

Lý thuyết hiện thực đã đưa ra những lý giải về cạnh tranh, va chạm, xung đột giữa các nước lớn, ảnh hưởng của nó đến ĐLDT của các nước nhỏ Trong môi trường cạnh tranh các nước lớn vẫn có thể tìm thấy cơ hội hợp tác nếu như có điểm tương đồng về lợi ích và đạt được sự tin tưởng lẫn nhau [133, tr.14]

Như vậy, chủ nghĩa Hiện thực và chủ nghĩa Mác - Lênin góp phần quan trọng trong việc nhận diện các nguyên nhân đưa đến cạnh tranh quốc tế và tác động đến độc lập chủ quyền của các nước đang phát triển cũng như công cuộc bảo

vệ ĐLDT của các nước này Trong đó, Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng mâu thuẫn và lợi ích giai cấp, sự khác nhau về ý thức hệ chính trị tư tưởng và tham vọng đế quốc là một trong những nguyên nhân chính tạo ra cạnh tranh chiến lược giữa các nước với nhau, nhất là các nước khác nhau về chế độ chính trị [94, tr.21] gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ĐLDT, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các

Trang 38

nước nhỏ; Chủ nghĩa hiện thực thì cho rằng sự khác biệt về lợi ích là nguyên nhân chính tạo ra sự cạnh tranh, xung đột của các nước lớn

2.2 NHÂN TỐ QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG 2.2.1 Những biến đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, QHQT có nhiều biến chuyển và phức tạp hơn Hệ thống quốc tế Yanta tan rã kéo theo quá trình tan rã của trật tự thế giới hai cực Xô - Mỹ Thế giới đang quá độ sang trật tự thế giới mới, trật tự đa cực Hiện nay, ngoài siêu cường Mỹ còn có các cường quốc như: Nga và Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ , tổ chức của các khu vực, EU, nhóm BRICS tác động tới tình hình chính trị thế giới đương đại Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, thực hiện 2 cuộc chiến tranh với Afghanistan và Iraq nhưng sa lầy tại các cuộc chiến này Cuộc chiến chống khủng bố sau sự kiện 11/9, cùng sự lớn mạnh của Trung Quốc và những mâu thuẫn, bất đồng xung đột ở khu vực Đông Á và ĐNA đã khiến Mỹ nhận ra đã bỏ trống quyền lực một thời gian dài ở CA-TBD đặc biệt là ĐNA là nơi duy nhất để Trung Quốc dễ dàng biến thành “bàn đạp” mở rộng ra thế giới Mỹ buộc phải dần chuyển trọng tâm “chiến lược toàn cầu” của mình từ châu

Âu - Đại Tây Dương về khu vực này, đẩy mạnh quá trình điều chỉnh chính sách an ninh và đối ngoại, coi chống khủng bố là ưu tiên cao nhất và là chuẩn mực để đánh giá quan hệ của Mỹ với các nước Thách thức của Mỹ hiện nay không phải ở tầm toàn cầu mà là một chuỗi các thách thức khu vực Đó là sự cứng rắn của Nga và cuộc khủng hoảng di cư ở châu Âu; là Trung Quốc mở rộng, cải tạo đảo đá ở Biển Đông;

là chủ trương tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân của Triều Tiên; là tình hình bạo lực ở Trung Đông Mỹ tuy vẫn là cường quốc số một thế giới, nhưng ở từng khu vực, vị trí Mỹ chỉ đứng thứ hai, thứ ba Vị thế lãnh đạo của Mỹ đang bị lung lay, trật

tự thế giới do Mỹ đề xuất và thực hiện đang bị thách thức

Cục diện thế giới hiện nay với xu thế hòa bình hợp tác và phát triển tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho việc bảo vệ và củng cố ĐLDT của các nước đang phát triển Xu thế này giúp các nước này tránh được phần nào sự lôi kéo, tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn; tự chủ hơn trong việc hoạch định đường lối,

Trang 39

chính sách; chủ động hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau để cùng hướng tới hòa bình, ổn định và phát triển tạo thuận lợi trong đoàn kết nội bộ; tạo điều kiện cho việc giải quyết các xung đột sắc tộc, dân tộc theo hướng hòa bình, hòa hợp dân tộc và hợp tác, cùng các nước phát triển xây dựng những định chế quốc tế có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển chung trên toàn thế giới

Tuy nhiên, chiến tranh cục bộ, xung đột và chạy đua vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên và cạnh tranh kinh tế vẫn diễn ra gay gắt Các vấn đề toàn cầu, an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống diễn biến ngày càng phức tạp Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh gay gắt, chi phối và làm phức tạp hơn các QHQT [82, tr.14-15] ĐLDT và chủ quyền quốc gia của các nước trên thế giới nói chung, các nước đang phát triển nói riêng đang bị tham vọng của các cường quốc đe dọa Chính trị của các nước đang phát triển diễn ra hết sức phức tạp, thường rơi vào thế bị động và chịu nhiều thua thiệt trong QHQT, ảnh hưởng đến ĐLDT bởi tham vọng của các cường quốc đe dọa

Thế giới hiện nay đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu đe dọa đến sự sống

và sự phát triển bền vững của nhân loại, không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không có sự hợp tác đa phương Những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễm HIV/AIDS, SARS, dịch cúm gia cầm nhưng tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu đang đòi hỏi các nước đóng góp tích cực hơn nữa trong

sự phối hợp, hợp tác hành động một cách hiệu quả, thiết thực để đối phó

Toàn cầu hóa (TCH) đã giúp các nước đang phát triển có cơ hội để phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia và đấu tranh giành vị thế trong hệ thống phân công lao động quốc tế, từng bước vươn lên giành độc lập về kinh tế, củng cố độc lập về chính trị [132, tr.78] Tuy nhiên mặt trái của TCH là làm thay đổi các thể chế và cơ chế chính trị quốc gia TCH còn tấn công vào chủ quyền quốc gia, làm xói mòn nền văn hóa và truyền thống dân tộc, đe dọa sự ổn

Trang 40

định về kinh tế và xã hội [158, tr.3] Tính độc lập của mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, làm hạn chế thẩm quyền và khả năng hành xử theo ý chí riêng của từng nước Các nước không thể tự quyết được cơ cấu sản xuất theo ý mình Nền tài chính của nhiều nước dễ bị lũng đoạn,

sẽ dẫn đến sự đổ vỡ hoặc mất đi nhiều ngành sản xuất, sự phá sản của hàng loạt các

xí nghiệp yếu kém của các nước đang phát triển kéo theo nó nạn thất nghiệp và

hàng loạt các vấn đề tiêu cực xã hội nảy sinh khác [57]

Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển đã tác động mạnh

mẽ và sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn làm thay đổi cơ bản lực lượng sản xuất , quan hệ xã hội và QHQT Cuộc cách mạng này giúp các nước nghèo, lạc hậu có những bước bứt phá, giảm tụt hậu so với các nước công nghiệp tiên tiến Tuy nhiên, cuộc cách mạng này làm gia tăng nạn thất nghiệp, khoảng cách giàu - nghèo, tụt hậu về mức sống và trình độ phát triển, tính phụ thuộc lẫn nhau và

sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia Một số nước vươn lên sở hữu công nghệ hạt nhân đã làm các nước lớn phải dè chừng trong chính sách cứng rắn của mình với các nước khác Khoa học - công nghệ ngày càng phụ thuộc vào nhân tố tri thức, do

đó nó tạo ra những biến đổi trong phương thức sản xuất, kinh doanh và các mối quan hệ xã hội Khoa học kỹ thuật phát triển kéo theo sự bùng nổ thông tin Truyền thông là công cụ sắc bén cho việc nhận thức thế giới quan, vì vậy xu hướng chung của các nước là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trong hòa bình

Có thể nói, xu thế lớn của thế giới hiện nay là hòa bình, hợp tác và phát triển Tuy nhiên, nguy cơ chiến tranh, xung đột cục bộ cũng gia tăng, sự tồn tại các điểm nóng và vấn đề an ninh đặc biệt là an ninh phi truyền thống nổi lên gây

ra nhiều tác động tiêu cực bắt buộc tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới đứng trước những thách thức mới về bảo vệ và củng cố ĐLDT, vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn được bản sắc mỗi quốc gia Quan hệ giữa các nước lớn có xu thế vừa hợp tác, vừa đấu tranh

2.2.2 Tình hình khu vực châu Á - T ái Bìn Dươn

Hiện nay, CA - TBD đang diễn ra quá trình phát triển năng động Kinh tế khu vực liên tục tăng trưởng và có vị trí địa chính trị quan trọng đối với các cường

Ngày đăng: 27/11/2016, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Châu An (2016), “Chiến tranh mạng được công khai hóa ở tầm quốc gia” Báo điện tử Vnexpress, ngày 01/12/2015, http://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/bao-mat/chien-tranh-mang-duoc-cong-khai-hoa-o-tam-quoc-gia-3320863.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh mạng được công khai hóa ở tầm quốc gia” "Báo điện tử Vnexpress
Tác giả: Châu An
Năm: 2016
2. Hoàng Anh (2004), “Đông Nam Á trong chiến lược toàn cầu của Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2/2004, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á trong chiến lược toàn cầu của Mỹ”, Tạp chí "Nghiên cứu quốc tế
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2004
3. Huệ Anh (2013), “Ảnh hưởng của cuộc ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đông Nam Á”, tạp chí Quan hệ Quốc phòng, quý 3/2013, tr.41-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của cuộc ganh đua Mỹ - Trung đối với các nước Đông Nam Á”, tạp chí "Quan hệ Quốc phòng
Tác giả: Huệ Anh
Năm: 2013
4. Mai Hoài Anh (2013), “Tác động cạnh tranh chiến chiến lược giữa các nước lớn ở Đông Nam Á với Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị số 4/2013,http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/quoc-te/item/618-tac-dong-cua-canh-tranh-chien-luoc-giua-cac-nuoc-lon-o-dong-nam-a-voi-viet-nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động cạnh tranh chiến chiến lược giữa các nước lớn ở Đông Nam Á với Việt Nam”, Tạp chí "Lý luận chính trị
Tác giả: Mai Hoài Anh
Năm: 2013
5. Thùy Anh (2015), Campuchia “đi trên dây” giữa Trung Quốc và Mỹ, Tạp chí điện tử Nghiên cứu Biển Đông, ngày 09.6.2015,http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/4990-cambodia-di-tren-day-giua-trung-quoc-va-my Sách, tạp chí
Tiêu đề: đi trên dây
Tác giả: Thùy Anh
Năm: 2015
6. Vân Anh (2015), “Nóng với Biển Đông”, Tạp chí Hồ sơ sự kiện, số 304, ngày 10/6/2015, tr.18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nóng với Biển Đông”, Tạp chí "Hồ sơ sự kiện
Tác giả: Vân Anh
Năm: 2015
7. . Nguyễn Ngọc Ánh (2012), “Châu Á – Thái Bình Dương trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc”, tạp chí Quan hệ Quốc phòng, quí 4/2012, tr.19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Á – Thái Bình Dương trong chiến lược của Mỹ và Trung Quốc”, tạp chí "Quan hệ Quốc phòng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Ánh
Năm: 2012
8. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
9. H.Bình (2015), Nhật viện trợ 6,1 tỷ USD cho năm nước Đông Nam Á, Báo điện tử người Lao động, ngày 4/7/2015, http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/nhat-vien-tro-6-1-ti-usd-cho-5-nuoc-dong-nam-a-20150704145806913.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tử người Lao động
Tác giả: H.Bình
Năm: 2015
10. Lê Hải Bình (2013), “Tác động của quan hệ Mỹ - Trung Quốc đến an ninh Châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh”, luận án Tiến sỹ, Học viện Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quan hệ Mỹ - Trung Quốc đến an ninh Châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh”
Tác giả: Lê Hải Bình
Năm: 2013
11. Ngô Xuân Bình (2008), “Bàn về sức mạnh của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 1/2008, tr.5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sức mạnh của Trung Quốc”, Tạp chí "Nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Ngô Xuân Bình
Năm: 2008
12. Nguyễn Đức Bình (chủ biên), (2007), Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
13. Vương Quốc Bình (2005), “Nhân tố nước lớn trong ngoại giao Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2005, tr.5-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tố nước lớn trong ngoại giao Việt Nam”, Tạp chí "Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Vương Quốc Bình
Năm: 2005
14. Bizlive (2015), “Vì sao các nước Đông Nam Á đua nhau sắm tàu ngầm?”, Thứ năm, 16/07/2015, http://nguyentandung.org/vi-sao-cac-nuoc-dong-nam-a-dua-nhau-sam-tau-ngam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao các nước Đông Nam Á đua nhau sắm tàu ngầm
Tác giả: Bizlive
Năm: 2015
18. Bộ Ngoại giao (2007), những thông tin cơ bản về và quan hệ Việt Nam - Bru-nây Đa-rút-xa-lam,http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/ca_tbd/nr040819102445/ns070731141247 Link
166. Như Tâm (2015), Mỹ nói trao 5 tàu tuần tra cho Việt Nam, Báo điện tử VnExpress, ngày 6.2.1015, http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/my-noi-trao-5-tau-tuan-tra-cho-viet-nam-3144238.html Link
183. Minh Thu (2013), Những rào cản ngăn Nhật Bản xoay trục hàng hải sang Đông Nam Á, Cổng thông tin điện tử huyện Hoàng Sa, Thành phố Đà Nẵng,http://www.hoangsa.danang.gov.vn/index.php/2012-08-24-02-10-30/tu-li-u-l-ch-s-phap-ly/777-nh-ng-rao-c-n-ngan-nh-t-b-n-xoay-tr-c-hang-h-i-sang-dong-nam-a Link
218. Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (2010), Mỹ sẽ giúp 4 nước hạ nguồn sông Mekong chống biến đổi khí hậu, Cổng thông tin điện tử Viện Khoa học Thủ lợi Việt Nam,http://www.vawr.org.vn/index.aspx?aac=CLICK&aid=ARTICLE_DETAIL&ari Link
228. Almon Leroy Way, Political Competition, PS201H-1D1. http://www.proconservative.net/CUNAPolSci201PartOneD.shtml Link
263. Subhash Kapila (2001), Southeast Asia: Strategic power play and regional arms buildup – Analysis, http://www.eurasiareview.com/24082011-south-east-asia-trategic-power-play-and-regional-arms-buildup-analysis Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TỔNG HỢP PHÂN TÍCH SWOT VỀ ĐIỂM MẠNH, YẾU, - (LUẬN ÁN TIẾN SỸ LỊCH SỬ) Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ  Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc các nước trong khu vực từ năm 2001 đến năm 2015
BẢNG TỔNG HỢP PHÂN TÍCH SWOT VỀ ĐIỂM MẠNH, YẾU, (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w