Mối quan hệ giữa nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền quốc gia và các nguyên tắc khác trong luật quốc tế. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn về mối quan hệ, sự tác động đến sự hình thành và thực hiện các nguyên tắc khác
Trang 1MỤC LỤC
BẢNG TỪ VIẾT TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QG 2
a) Lịch sử hình thành: 2
b) Khái niệm chủ quyền quốc gia 2
c) Nội dung nguyên tắc 3
d) Vị trí của nguyên tắc BĐCG giữa các QG trong Luật quốc tế 3
II MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHÁC CỦA LUẬT QUỐC TẾ 4
1 Mối quan hệ giữa nguyên tắc BĐCQ giữa các QG và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tê. 4
2 Mối quan hệ giữa nguyên tắc BĐCQ giữa các QG và các nguyên tắc cơ bản hình thành trong Luật quốc tế hiện đại. 5
KẾT LUẬN 8
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong mọi quan hệ, quốc gia luôn luôn trân trọng và gìn giữ chủ quyền của mình Giống như bản ngã của mỗi cá nhân, chủ quyền quốc gia là thuộc tính mà Quốc gia nào cũng có và muốn bảo toàn tuyệt đối, Luật quốc tế đã sớm hình thành nên một bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia làm nền tảng vững chắc cho việc hình thành những nguyên tắc khác của Luật quốc tế cũng như chi phối hay tác động đến việc đảm bảo thực hiện các nguyên tắc ấy Để có được những hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tắc này cũng như thực
tiễn áp dụng nó trong Luật quốc tế hiện đại, nhóm chúng em đã chọn thực hiện Đề bài 02:
“Bình luận mối quan hệ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia với việc hình thành và thực hiện các nguyên tắc cơ bản khác của luật quốc tế.”
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VỀ CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QG
a) Lịch sử hình thành:
Ngay từ thủa phong kiến ở châu Âu, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đã xuất hiện trong bối cảnh xã hội có sự phát triển mạnh mẽ của tôn giáo và chịu ảnh hưởng cuả tôn giáo trong mọi mặt đời sống Sau Hiệp ước Westphalie năm 1648, ảnh hưởng của Thiên chúa giáo và Đạo giáo hoàng bị suy giảm, chiến tranh tôn giáo chấm dứt, một cộng đồng quốc tế được hình thành giữa các quốc gia có chủ quyền và quyền ngang nhau Nguyên tắc này được hình thành từ đó Thời kì Tư bản chủ nghĩa, nó được coi là nguyên tắc cơ bản nhưng chỉ được áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia tư bản chủ nghĩa với nhau Đến sau Thế chiến Thứ II, bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được ghi nhận tại Điều 2, Hiến Chương Liên Hợp Quốc và tiếp tục được phát triển nội dung trong Tuyên bố về những Nguyên tắc của Luật Quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1970
b) Khái niệm chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính chính trị - pháp lý xuất hiện cùng với sự ra đời của quốc gia và là cơ sở cho quyền nằng chủ thể Luật Quốc tế của quốc gia Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế, nó được thể hiện trên hai phương diện gắn liền với chức năng cơ bản của nhà nước đó là đối nội và đối ngoại
Trang 4c) Nội dung nguyên tắc
Thời kì La Mã cổ đại đã tồn tại một nguyên tắc pháp lý có tên là Par is parem non habet prostatem (tức kẻ ngang quyền này không có quyền trên kẻ ngang quyền kia), ấy chính là tiền thân của nguyên tắc BĐCQ giữa các QG ngày nay Nội dung nguyên tắc này hiện được ghi nhận trong Điều 2, Hiến chương LHQ “Tổ chức LHQ dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia thành viên.” Và được cụ thể hóa trong Tuyên bố năm 1970 của Đại Hội đồng LHQ như sau:
“Tất cả mọi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền Các QG bình đẳng về quyền và nghĩa vụ và là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, bất chấp sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội.
Cụ thể, bình đẳng về chủ quyền bao gồm những nội dung sau:
a Tất cả các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
b Mỗi quốc gia được hưởng các quyền xuất phát từ chủ quyền hoàn toàn
c Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng tư cách của các quốc gia khác;
d Sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của quốc gia là bất khả xâm phạm
e Mỗi QG có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của mình.
f Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ một cách đầy đủ và có thiện chí các nghĩa vụ quốc tế của mình và chung sống trong hòa bình với các quốc gia khác.”
Như vậy, bình đẳng về chủ quyền giữa các QG được nhìn nhận ở cả phương diện pháp lý và thực tiễn Về mặt pháp lý, tất cả các quốc gia đều được hưởng các quyền mà pháp luật quốc tế thừa nhận như quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ,… và đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ quốc tế như tuân thủ pháp luật quốc tế, tôn trọng quyền của các chủ thể khác Từ góc độ thực tiễn, bình đẳng về chủ quyền được xem xét trong mối quan hệ giữa các QG với nhau cũng như mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ quốc tế mà quốc gia thực hiện
d) Vị trí của nguyên tắc BĐCG giữa các QG trong Luật quốc tế
Nguyên tắc BĐCQ giữa các QG là nguyên tăc cơ bản của Luật quốc tế, do đó đây là thước đo giá trị hợp pháp của mọi nguyên tắc, mọi quy phạm pháp luật khác của LQT Nguyên tắc này là nền tảng để trên cơ sở đó các chủ thể LQT thực hiện các nguyên tắc cơ bản khác Việc vi phạm hay tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc này sẽ tác động rất lớn đến việc thực hiện một loạt các nguyên tắc còn lại của LQT
Nguyên tắc đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các QG và của cả cộng đồng quốc tế nói chung, không cho phép một nhóm nước lớn phong tỏa ý chí và quyền lợi của đại đa số
Trang 5QG trên thế giới vì LQT được hình thành bởi đa số quốc gia chứ không riêng một cường quốc nào, được áp dụng công bằng cho tất cả và có hiệu lực pháp lý như nhau, không có ngoại lệ cho bất cứ QG nào Nó thể hiện vai trò khi tham gia quan hệ quốc tế, các QG có quyền như tham gia vào các lĩnh vực của đời sống quốc tế
II MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC QUỐC GIA VỚI VIỆC HÌNH THÀNH VÀ THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHÁC CỦA LUẬT QUỐC TẾ
1 Mối quan hệ giữa nguyên tắc BĐCQ giữa các QG và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tê
Tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tê hay vẫn được biết đến với tên gọi Pacta sun servanda là nguyên tắc có lịch sử lâu đời nhất trong số các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Hiện nay, nguyên tắc này tồn tại trong hầu hết các văn bản pháp lý quan trọng của LQT, và được ghi nhận chính thức tại khoản 2 điều 2 của Hiến chương Liên hợp
quốc: "Tất cả các nước thành viên đều phải làm tròn nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này” Theo đó, mỗi QG phải thiện chí thực hiện các nghĩa vụ quốc tế do Hiến
chương đặt ra, các nghĩa vụ quốc tế phát sinh từ các quy phạm và nguyên tắc được công nhận rộng rãi của Luật quốc tế
Mối quan hệ giữa nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia với Pacta sunt servanda thể hiện ở chỗ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng cho việc các quốc gia tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế như một chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia còn tồn tại ở việc chấp nhận, tôn trọng, tự nguyện trong việc hưởng quyền cũng như gánh vác nghĩa vụ quốc tế Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia chính là nền tảng và chi phối các quốc gia là chủ thể của quan hệ quốc tế trong việc tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế
Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của LHQ; thành viên của Công ước Luật biển 1982 Trong vụ việc năm 2014, Trung Quốc đã hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương
981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, theo Công ước, biện pháp tiên quyết để giải quyết vấn đề tranh chấp của các thành viên được nêu rõ tại Điều 279 là phải sử dụng các biện pháp hòa bình Các biện pháp hòa bình này còn được quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên Hiệp Quốc từ việc đàm phán giữa các bên tranh chấp đến các biện pháp có sự can thiệp từ một bên thứ thứ là trọng tài quốc tế hay tòa án quốc tế Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý đối với các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam theo quy định của Công ước và kiên định giữ thái độ bình tĩnh, thực hiện đúng tinh thần đã cam kết
Trang 6trong Công ước mình tham gia bằng việc tiến hành các biện pháp ngoại giao như trao đổi công hàm, đưa ra những tuyên bố về tình hình căng thẳng tại vùng Đặc quyền kinh tế của mình từ khi có sự xuất hiện của giàn khoan HD-981 của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc đưa giàn khoan ra khỏi vùng thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam và chủ động đề nghị đàm phán với nước này bất chấp những hành động hung hăng của từ phía Trung Quốc Có thể thấy, việc bình đẳng về chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tranh chấp này
là cơ sở để Việt Nam tận tâm thiện chí thực hiện cam kết theo đúng các Điều ước mà quốc gia này là thành viên
2 Mối quan hệ giữa nguyên tắc BĐCQ giữa các QG và các nguyên tắc cơ bản hình thành trong Luật quốc tế hiện đại
Sau Cách mạng tháng Mười Nga, LQT chịu tác động sâu sắc của những thay đổi mang tính thời đại, chuyển mình và hình thành một loạt những nguyên tắc tiến bộ mới trong đó có các nguyên tắc đã được ghi nhận trở thành nguyên tắc cơ bản của LQT đó là Dân tộc tự quyết Cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, Không can thiệp vào nội bộ của quốc gia khác, Hòa bình giải quyết các tranh chấp, Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
2.1 Cơ sở lý luận
Trước hết, nếu như nguyên tắc dân tộc tự quyết có vai trò đảm bảo tuyệt đối quyền chủ quyền của mỗi quốc gia thì nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ quốc gia khác chính là nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền mà các quốc gia dành cho chủ thế khác Quyền
dân tộc tự quyết là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển của đất nước Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Điều 55, Hiến chương Liên hợp quốc:
“Với mục đích nhằm tạo những điều kiện ổn định và những điều kiện đem lại hạnh phúc cần thiết để duy trì những quan hệ hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc, dựa trên sự tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc, Liên hợp quốc khuyến khích…”
Ngay từ quy định của Hiến chương, ta đã có thể dễ dàng nhận thấy rằng giữa nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia và nguyên tắc dân tộc tự quyết có mối quan hệ vô cùng mật thiết với nhau Xuất phát từ các nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia bao gồm việc các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý và mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của quốc gia khác nên từ đó các quốc gia, với tư các chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế hoàn
Trang 7toàn có quyền tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến chức năng đối nội, đối ngoại của mình Bởi vì tính bình đẳng về chủ quyền nên các quốc gia có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền trên của quốc gia khác Quốc gia là chủ thể duy nhât có quyền quyết định tới những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình trên cơ sở chủ quyền mà không một quốc gia nào khác có quyền can dự
Thứ hai, trong quan hệ quốc tế, xảy ra mâu thuẫn giữa các chủ thể là điều khó tránh khỏi, về
biện pháp xử lý các xung đột này, LQT có nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có thể được hiểu là việc cấm các quốc gia sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
thông qua các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế hoặc ngoại giao mà quốc gia này sử dụng bất hợp pháp đối với quốc gia khác Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 4 Hiến chương
LHQ: “Tất cả các nước thành viên LHQ từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ” Thông qua quy định này, ta có
thể thấy rõ được sự chi phối giữa nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Thứ nữa, lịch sử nhân loại đã trải qua quá đủ những cuộc chiến tranh để thể giới đều thừa nhận
rằng dùng vũ lực giải quyết xung đột chỉ đem đến thất bại cho tất cả, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế chính là biện pháp nhân loại lựa chọn thay cho vũ lực Tranh chấp quốc tế là
những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế và những bất đồng về các vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế Vì vậy các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn các cách thức giải quyết tranh chấp Các quốc gia phải có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình Sự đề nghị, hoặc sự chấp nhận về quá trình giải quyết mà các quốc gia tự nguyện đồng ý đối với các tranh chấp đang tồn tại hoặc trong tương lai mà các bên liên quan sẽ không được coi là vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công lý quốc tế (Theo Điều 33 Hiến chương LHQ)
Ngoài ra, xét từ góc nhìn phát triển chung, xu thế tất yếu của tiến trình phát triển quan
hệ quốc tế là sự hội nhập, sự hợp tác trên cơ sở các bên cùng có lợi lại đòi hỏi sự hợp tác chặt
chẽ của các quốc gia Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác chính là điều kiện đảm
bảo cho sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế Sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong tất cả các lĩnh vực không phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và nhằm duy trì hòa bình, an ninh quốc tế đã được pháp luật hóa Theo Hiến chương, các quốc gia có nghĩa vụ “ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo trên phạm vi quốc tế” cũng như “duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả.” Song song với việc bình đẳng các quyền về chủ quyền giữa các QG,
Trang 8các QG cũng có nghĩa vụ hợp tác ngang nhau trong quan hệ quốc tế Trước nhiều vấn đề đang nhức nhối đối với cả cộng đồng quốc tế như người di cư, khủng bố, tội phạm ma túy,… các quốc gia buộc phải cùng chung tay giải quyết thì mới đảm bảo được lợi ích quốc gia của riêng mình
Nguyên tắc BĐCQ giữa các QG chính là cơ sở để hình thành “nghĩa vụ hợp tác” của
QG và việc đảm bảo nghĩa vụ hợp tác của các QG cũng chính là đảm bảo lợi ích, chủ quyền của từng quốc gia
2.2.Thực tiễn
Vụ việc các nước NATO không kích Nam Tư 24/03/1999
Tình hình căng thẳng ở Kosovo và Nam Tư những năm cuối thế kỷXX đã hội tụ đủ yếu
tố để NATO đứng đầu là Mỹ buộc Nam Tư phải chấp nhận một sự áp đặt về quân sự Tổng thống Milosevic của Nam Tư bị Mỹ và NATO buộc tội “Phá hoại hòa bình” khi ông này từ chối đề nghị đối thoại Mỹ và NATO lấy cớ này để mở cuộc tấn công quy mô lớn vào lãnh thổ Nam Tư khiến cho dư luận thế giới hết sức bàng hoàng và phẫn nộ
Cuộc tấn công này đã vi phạm nghiêm trọng phần lớn các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực Đối chiếu với hành động NATO, hành vi tấn công vũ trang này không thuộc hai trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc Thứ nhất Nam Tư không có hành vi tấn công hay đe dọa nào với NATO Vì vậy không thể coi hành động ném bom của NATO là sự tự vệ chính đáng Thứ hai, một quốc gia chỉ có quyền
có hành động tấn công vũ trang khi xuất hiện hành động xâm lược hay đe dọa hòa bình từ nước khác Và quan trọng hơn, theo LQT, hành động sử dụng vũ trang này này phải bắt buộc được sự cho phép của hội đồng Bảo an LHQ Tuy nhiên sự thật là cuộc tấn công này của NATO không được Hội đồng Bảo an LHQ thông qua
Như vậy, trong vụ việc này, NATO đã vi phạm tất cả các nguyên tắc cơ bản của LQT và cũng chính là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc BĐCQ giữa các QG
Chiến tranh Iraq 2003
Ngày 5/2/2003, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cáo buộc Iraq tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt, nhằm chuẩn bị “hành lang” cho cuộc xâm lược sắp xảy ra Ngày 20/3/2003, không hề tuyên chiến, Liên quân gồm Mỹ, Anh và một số nước bất ngờ tấn công Iraq Chiến dịch “Tự do Iraq” bắt đầu bằng những loạt bom sấm sét để dọn đường cho lục quân tiến vào Iraq Ngày 9/4, Baghdad thất thủ khi quân Mỹ chiếm được dinh Tổng thống Iraq và các bộ, rồi kiểm soát toàn thành phố, chấm dứt thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Saddam Hussein Ông này sau đó biến mất (đến cuối năm 2003 ông mới bị bắt giữ khi đang lẩn trốn, và sang năm 2006 thì bị xét xử và treo cổ)
Trang 9Từ góc nhìn của Luật quốc tế, Iraq đã thể hiện thái độ tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế tiêu biểu là khi Hội đồng Bảo an thông qua Nghị quyết 1441, buộc Iraq từ bỏ mọi vũ khí huỷ diệt và đe doạ Baghdad “phải hứng chịu những hậu quả nghiêm trọng” nếu không tuân thủ thì Iraq chấp nhận mọi điều khoản trong văn bản này và nộp tài liệu dài 12.000 trang về tất cả các chương trình tên lửa, vũ khí hạt nhân, sinh học và hoá học nhằm bác bỏ cáo
buộc họ có vũ khí hạt nhân, sinh hoá Thế nhưng đến ngày 19/12 năm này, Mỹ vẫn tuyên bố
Iraq “vi phạm nghiêm trọng” nghị quyết 1441 vì Washington tin rằng báo cáo của Baghdad không đầy đủ Cùng ngày, Trưởng đoàn UNMOVIC Hans Blix báo cáo tại Hội đồng Bảo an lần đầu tiên Ông tuyên bố Iraq còn chưa đề cập đến một số vũ khí Trưởng đoàn Hans Blix cũng đề nghị Mỹ, Anh cung cấp thông tin tình báo chứng tỏ Baghdad có vũ khí huỷ diệt và Mỹ vẫn tiếp tục triển khai các lực lượng quân sự ở đây với lý do Iraq vẫn đang có vũ khí nguy hại đến an ninh thế giới Những lý do phía Mỹ đưa ra tuy với mục đích bảo vệ an ninh thế giới nhưng lại không hề có bằng chứng cụ thể chứng minh độ xác thực dẫn đến hành động với mục đích cao cả của Mỹ không đáng tin cậy
Ở đây có thể về hành vi thấy Mỹ đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của LQT: vi phạm nguyên tắc Cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và nguyên tắc Hòa bình giải quyết các tranh chấp (bằng hành vi vũ trang), vi phạm nguyên tắc Dân tộc tự quyết và nguyên tắc Không can thiệp vào nội bộ của quốc gia khác (khi tham gia vào việc dựng lên Chính Phủ mới cho Iraq sau khi ông Saddam Hussein bị trừng phạt dã man),
Mỹ cũng không tuân thủ nguyên tắc Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác hay nguyên tắc tận tâm thiện chí khi không hợp tác với Iraq khi nước này giải trình cũng như nghi ngờ nước này mà không có chứng cứ xác đáng Chủ quyền QG của Iraq không hề được tôn trọng Có thể thấy nguyên tắc BĐCQ giữa các QG và các nguyên tắc cơ bản khác của Luật Quốc tế có sự liên kết mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau
KẾT LUẬN
Một Chính trị gia lỗi lạc của Ấn Độ đã từng nói “Cũng giống như con người sẽ không vui sướng sống trong cơ thể của người khác, một quốc gia cũng vậy, không muốn sống dưới bóng quốc gia khác dù có cao quý và vĩ đại đến bao nhiêu.” Chủ quyền của mỗi quốc gia đều phải được tôn trọng dù đó là đất nước có diện tích bao nhiêu, trình độ dân trí ở mức độ nào,… Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia chính là nguyên tắc mang tính tư tưởng cốt lõi của pháp luật quốc tế Đây là nguyên tắc cội nguồn để Luật quốc tế hình thành nên các nguyên tắc hay quy phạm mới
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2015
biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và
ngoại giao), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012
quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1970
http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/trung-quoc-dua-gian-khoan-hai-duong-981-vao-bien-dong-20150626094501268.htm
http://hahung0706.blogspot.com/2012/01/chuong-ii-cac-nguyen-tac-co-ban-cua.html
7 “Luật quốc tế và chiến lược cho Việt Nam” http://nghiencuuquocte.org/2014/06/26/luat-quoc-te-va-chien-luoc-cho-viet-nam/
#sthash.dn8ZptHQ.8SO6kKWB.dpuf
8 “Quan hệ pháp luật quốc tế” https://luatduonggia.vn/quan-he-phap-luat-quoc-te
http://vov.vn/the-gioi/ho-so/chien-tranh-iraq-bai-hoc-ve-tao-co-gay-chien-253146.vov
http://text.123doc.org/document/2143037-nhung-vi-pham-cua-nato-khi-tan-cong-vao-kosovo-theo-cac-nguyen-tac-co-ban-cua-luat-quoc-te-potx.htm
default.aspx