ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC Đề tài: CÁCH GHI NHÂN DANH TRONG CÁC VĂN BẢ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tài:
CÁCH GHI NHÂN DANH TRONG CÁC VĂN BẢN QUỐC NGỮ THỜI KÌ ĐẦU
CBHD: Ths Trần Thị Thúy An SVTH: Bùi Thị Diệu Trang LỚP: Ngôn ngữ K12
MSSV: 1256010178
TP.HCM, ngày 31 tháng 12 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
2
Trang 3DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Chữ Quốc ngữ là vốn quý của dân tộc Việt Nam, kể từ khi có chữ Quốcngữ, các tư liệu quý báu cũng như các tác phẩm văn học nghệ thuật hay khoahọc có nhiều thuận lợi để phát triển Nguồn dữ liệu được lưu giữ trong chữquốc ngữ đã trở thành vốn quý cho rất nhiều ngành khoa học, nhân danh họccũng không là một ngoại lệ Có lẽ văn bản quốc ngữ xuất hiện cũng là lúc cácnhân danh xuất hiện đồng thời, được ghi dấu không ngừng nghỉ Lật lại cáctrang sách lịch sử ấy chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp những vốn hiểu biết hữuích về cách ghi nhân danh trong những ngày đầu hình thành chữ quốc ngữ
Trong vài chục năm trở lại đây, bộ môn khoa học Nhân danh học mớithực sự được chú tâm nghiên cứu và phát triển Công tác nghiên cứu còn gặprất nhiều khó khăn do nguồn tài liệu còn sơ sài, chưa được hệ thống hóa mộtcách hoàn chỉnh Thế nhưng nhu cầu sử dụng các danh xưng trong cuộc sốnghàng ngày cũng như mong muốn hiểu biết về nó lại rất phong phú và đa dạng.Với những nhu cầu cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Cách ghinhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu”
2. Mục đích nghiên cứu
Ở Việt Nam, ngành Nhân danh học là một khoa học còn non trẻ, chúngtôi mong muốn rằng thông qua đề tài này sẽ:
- Hệ thống hóa lại cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu, từ
đó nhìn thấy lịch sử phát triển của nhân danh tại Việt Nam góp phần đưa ra
Trang 4những cứ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu nhân danh một cách khoa học,
dễ dàng
- Cung cấp những kiến thức bổ ích để người Việt có những nhận thức đúng đắnhơn về nhân danh học trong các cứ liệu ngôn ngữ học lịch sử
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữthời kì đầu
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi niên luận này, chúng tôi tiến hànhkhảo sát các văn bản quốc ngữ thời kì đầu thuộc thế kỉ 17-18
4. Lịch sử vấn đề
Nhân danh học là một trong hai chuyên ngành lớn thuộc nhân xưng họcbên cạnh địa danh học, ngành này chủ yếu nghiên cứu các khía cạnh xungquanh tên người dưới góc nhìn ngôn ngữ học Ở các nước Âu- Mĩ, khoa họcnày ra đời khá sớm vào khoảng những năm cuối thế kỉ XIX với hàng trăm côngtrình lớn nhỏ được công bố
Ở Việt Nam, ngành khoa học này chưa nhận được sự quan tâm thỏa đángmặc dù đã xuất hiện từ lâu Vào cuối thế kỉ thứ XVIII, nước ta đã có những loạisách ghi tên các bề tôi nổi tiếng, những người đỗ tiến sĩ, có thể kể đến như:
“Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” (1779) của Nguyễn Hoản; “Quốc triều đăngkhoa lục” (1894) của Cao Xuân Dục Từ năm 1945 đến nay, rất nhiều cuốn từđiển nhân danh Việt Nam ra đời, đáng chú ý nhất là: Nguyễn Huyền Anh với”Việt Nam nhân danh tự điển” (1967): Trần Văn Giáp chủ biên cuốn “Lượctruyện các tác giả Việt Nam” (1971-1972); Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn
Bá Thế với “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” (1992); không thể không nhắc
4
Trang 5đến Nhật Tịnh- Nguyễn Thị Khuê Giung với “Sơ thảo tự điển biệt hiện ViệtNam” (1975);…Tuy nhiên, những bài nghiên cứu quy mô vẫn chưa xuất hiệnnhiều bởi các nhà ngôn ngứ học vẫn cho rằng nhân danh chỉ mang tính chấtđịnh tên, dán nhãn vào một sự vật, chưa mang nhiều thuộc tính ngôn ngữ Cácnhà nghiên cứu đi tiên phong, phá vỡ quan niệm đó có thể kể đến như:
- Nguyễn Bạt Tụy( 1954), “Tên người Việt Nam”, liệt kê 308 họ và khảo cứucách đặt tên đệm, tên chính của người Việt Nam
- Trịnh Huy Tiến (1961), “Các loại nhân danh Việt Nam” đề cập đến 15 loạidanh hiệu và tên chính nhưng lại không nhắc đến họ và tên đệm
- Nguyễn Kim Thản (1975), “Vài nét về tên người Việt” trình bày nguồn gốc củamột số họ người Kinh và đặc điểm của tên đệm, tên chính
- Trần Ngọc Thêm (1976), “Về lịch sử hiện tại và tương lai của tên riêng trongngười Việt”, nêu chức năng của tên người trong đời sống xã hội cũng như gợi ýcác nguyên tắc đặt tên chính
- Phạm Tất Thắng (1988),” Một cách phân loại tên riêng trong tiếng Việt”, “Cáckiểu cấu trúc tên chính của người Việt”, “Vài nhận xét về yếu tố đệm trong têngọi của người Việt”, các tác phẩm nêu một cách tổng quan các nhận định về tênchính, tên đệm cũng như bước đầu có cách phân loại tên riêng của ngườiViệt
- Lê Trung Hoa (1992), “Họ và tên người Việt Nam”, công bố 679 họ Năm
2002, sách được tái bản và bổ sung thêm với con số 938 họ Và gần đây nhất,sau rất nhiều công sức tìm tòi, nghiên cứu, ông cho ra đời cuốn “Nhân danhhọc” với 1.050 học của người Việt, nghiên cứu kĩ lưỡng và hệ thống các thànhphần của tên gọi bao gồm họ, tên đệm, tên chính,…và các khía cạnh khác nhưdanh hiệu, tước hiệu,… Ông cũng chính là người cho rằng đây là một bộ mônkhoa học gọi là Nhân danh học
- Lin Vĩ Tuấn (2007), luận văn thạc sĩ” Vấn đề phiên dịch tên người Tiếng Việtsang tiếng Hán”, nhận định những vấn đề khái quát về nhân danh người Việt
Trang 6cũng như đưa ra hướng chuyển đổi tên người Việt sang tiếng Hán góp phần đơngiản hóa công việc hành chính, giao tiếp xã hội của người Việt với người TrungQuốc.
- Vũ Gia Kiêm ( 2009), luận văn thạc sĩ “Đối chiếu họ tên người Việt và ngườiAnh”, hệ thống hóa các quy cách đặt tên vủa người Việt và người Anh từ đónêu lên những điểm giống và khác biệt trong cách đặt tên của người Việt vàngười Anh góp phần tích cực vào việc thúc đẩy giao lưu văn hóa, kinh tế
Đề tài “Cách ghi nhân danh học trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu”còn khá mới mẻ ở Việt Nam, trong phạm vi khảo sát của chúng tôi, chưa tìmthấy một đề tài nào có đối tượng nghiên cứu trùng lặp, vì vậy đề tài này đượcchúng tôi kì vọng sẽ mở ra những cái nhìn mới trong bộ môn khoa học Nhândanh học
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Khảo sát các văn bản quốc ngữ thời kì đầu, thống kêcác danh xưng được nhắc đến để đưa ra làm các luận cứ cho bài nghiên cứu
- Phương pháp phân tích- miêu tả: Nêu lên những nét cơ bản, đặc trưng trongcách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu
- Phương pháp so sánh- đối chiếu: Làm rõ những nét tương đồng hay khác biệttrong sự thay đổi cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu vàhiện nay
6. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn
- Việc khảo sát cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu sẽcung cấp cách nhìn khoa học, tổng quát về một khía cạnh phát triển quan trọng
6
Trang 7trong lịch sử chữ quốc ngữ từ đó nâng cao niềm tự hào, sự trân trọng với vốnngôn ngữ quý giá của dân tộc.
- Hiểu rõ cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu sẽ giúp choviệc tiếp xúc với các nguồn tài liệu khác nhau, nhất là các tài liệu cổ bằng chữquốc ngữ trở nên dễ dàng hơn, khả năng đánh giá, phân tích tài liệu sẽ tốt hơn
- Chương 2: Quy cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu,khảo sát những văn bản chữ quốc ngữ đầu tiên, tổng hợp lại một cách cụ thểquy tắc ghi nhân danh thời kì này
- Chương 3: So sánh cách ghi nhân danh trong các văn bản quốc ngữ thời kì đầu
và hiện nay, trình bày những đặc điểm của cách ghi nhân danh Việt hiện naycũng như những khác biệt so với cách ghi nhân danh trong các văn bản quốcngữ thời kì đầu
Trang 8Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành chữ quốc ngữ và những văn bản quốc ngữ đầu tiên
1.1.1 Về lịch sử hình thành chữ quốc ngữ
Chữ viết là một trong những vấn đề quan trọng của bất kì quốc gia nào.Nghiên cứu chữ quốc ngữ ở nước ta là một công việc cấp thiết Rất nhiều nhàkhoa học ở nhiều ngành khác nhau như sử học, ngôn ngữ học đã tham gia giảiquyết vấn đề này
Vào thế kỉ 17, nước Việt dưới thời hậu Lê, đất nước suy yếu, bị chia cắt
ra làm hai miền mà sông Gianh làm ranh giới Phía Bắc gọi là đàng Ngoài doChúa Trịnh đứng đầu, vua Lê chỉ là bù nhìn Phía Nam là đằng Trong do ChúaNguyễn cai trị Cả hai bên đều chờ thời cơ nhằm tiêu diệt lẫn nhau, chiến tranhxảy ra liên miên không dứt, biết bao gia đình phải li tán, đau thương, mất mát,
…Trong bối cảnh đau thương ấy, người Việt tiếp nhận một tôn giáo mới do cácgiáo sĩ Tây phương mang đến, đó là đạo Thiên Chúa
Chữ quốc ngữ là do các giáo sĩ nước ngoài đặt ra nhằm giải quyết nhữngnhu cầu bức thiết của họ, nhất là công việc truyền giáo Ban đầu, họ chỉ có thểtruyền giáo thông qua một số người Nhật, Trung có đạo Thiên Chúa Thếnhưng, tùy thuộc vào một bên trung gian không phải là kế lâu dài Ngoài ra,trong sinh hoạt cũng như báo cáo với bề trên họ tìm cách để ghi lại các địadanh, tên người Tiếng Việt tuy khó nhưng nếu cố công học tập cũng sẽ đạtđược những mục đích tốt Linh mục Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, đếnđàng Trong năm 1617 là người nước ngoài đầu tiên được ghi nhận nói tiếngViệt rất thạo Còn bấy giờ, chữ Hán rất khó học, mà có thông thạo được chữ
8
Trang 9Hán mới có thể đọc được chữ Nôm Chữ Nôm còn khó học, khó nhớ hơn, dùbiết cũng mất nhiều công phu học hỏi nữa Thêm vào đó, loại chữ này khó màphổ biến đại chúng, nhất là các tầng lớp thấp trong xã hội vốn không có điềukiện học hành nhiều Bằng chứng rõ nhất là sau đến năm năm truyền đạo tạinước Việt, chỉ có một cuốn giáo lý bằng chữ Nôm và chắc chắn là do tay ngườiViệt viết Cuốn này chỉ đơn thuần dành cho người Việt, không phải cho cácgiáo sĩ nước ngoài Xuất phát từ những nhu cầu bức thiết ấy, các giáo sĩ nướcngoài dùng mẫu tự La Tinh để ghi âm lại tiếng Việt
Chữ quốc ngữ ngày nay là thứ chữ đã được rất nhiều linh mục dòng Tên
ở Việt Nam (với sự cộng tác thầm lặng của một số thầy giảng người Việt) sángtạo ra vào thế kỉ thứ 17, ghi âm tiếng Việt rồi dần dần xếp đặt thành hệ thống.Một cách cụ thể hơn, những giáo sĩ này đã dùng mẫu tự La Tinh rồi dựa vàomột phần của chữ Bồ Đào Nha, Ý và mấy dấu chữ Hy Lạp để kết hợp nên thứchữ quốc ngữ chúng ta đang dùng Alexandre de Rhodes là người ghi nhữngdấu ấn quan trọng trong công cuộc sáng tạo này với cuốn tự điển An Nam- BồĐào Nha- Latin (gọi tắt là từ điển Việt- Bồ- La) và “Phép giảng tám ngày” bằngchữ quốc ngữ được tòa thánh La Mã cho xuất bản năm 1651 Nhà nghiên cứu
Võ Long Tê nhận xét: “Đành rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes không phải là
người duy nhất đã sáng chế và làm cho chữ quốc ngữ trở nên hoàn hảo, nhưng lịch sử vẫn xem vị giáo sĩ này là thủy tổ chữ quốc ngữ vì đã có công thử thách chữ quốc ngữ trong các lĩnh vực soạn sách tự điển, văn phạm, giáo lý, và nhất
là phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ bằng những tác phẩm ấn loát tại nhà in của Thánh bộ Truyền giáo tại La Mã” Đó là những quyển sách được coi là công cụ
bước đầu trong việc phổ truyền việc dạy và học chữ Việt, mở ra sự xuất hiệnchữ Việt trên bản đồ chữ viết của thế giới Kể từ đó về sau, có nhiều công trình
Trang 10từ điển, từ vựng và sách báo in bằng chữ quốc ngữ ra đời giúp cho ta hiểu sựthống nhất, ổn định cũng như sự phát triển của chữ quốc ngữ Bấy giờ chưa đề
ra chuẩn chính tả, song mặc nhiên các tài liệu đã cho ta thấy một số những quitắc chính tả chung toàn dân, kể cả chuẩn về phát âm, từ vựng, ngữ pháp Sosánh chữ quốc ngữ trên tờ báo in bằng chữ quốc ngữ sớm nhất nước ta- tờ “Gia
Định báo”, xuất bản ở Sài Gòn năm 1865 với chữ quốc ngữ ở các từ điển cuối
thế kỉ XIX không khác với chữ quốc ngữ hiện nay bao nhiêu Thực dân Pháp đãlợi dụng chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thức để củng cố chế độ bảo hộ thìnhân dân ta đã nắm bắt chữ quốc ngữ làm công cụ đắc lực để truyền bá tưtưởng cách mạng, văn hoá
Trải qua quá trình biến đổi và phát triển lâu dài, tiếng nói thay đổi, chữquốc ngữ cũng đã có những thay đổi cho phù hợp nhất với đặc tính âm thanhcủa dân tộc và tồn tại cho đến ngày nay
1.1.2 Về những văn bản chữ quốc ngữ thời kì đầu
Hiện nay, việc sưu tập và tìm lại một cách đầy đủ nhất những văn bảnquốc ngữ thể hiện quá trình hình thành và phát triển của chữ quốc ngữ vẫn còngặp nhiều khó khăn và mang tính nhỏ lẻ
Theo Lý Toàn Thắng (1996), có một bài báo ngắn với tiêu đề “Chữ Quốcngữ cổ” của V Barbier đăng trên tạp chí Nam Phong (1923) công bố 1 trangsách “Phép giảng 8 ngày” của Alexandre de Rhodes, thế nhưng xuất xứ tài liệu
và danh tính của tác giả đến nay vẫn chưa được làm rõ
Từ những năm 60 của thế kỉ XX đến nay, việc công bố, sưu tầm chủ yếu
là do các nhà Ngôn ngữ học ở nước ngoài và miền Nam thực hiện, đáng chú ý
là những sự kiện sau:
10
Trang 11- Năm 1959, Hoàng Xuân Hãn giới thiệu tập “Một vài văn bản quốc âm tàng trữ
ở Châu Âu” (báo Đại học số 10, 1959)
- Từ 1959 đến 1963, Nguyễn Khắc Xuyên công bố nhiều khảo cứu liên quan đến
sự hình thành, ra đời của chữ quốc ngữ mà đáng quan tâm nhất là “ Sưu tập vềtài liệu cổ tại Châu Âu” (Việt Nam khảo cổ tập san 1, 1960)
- Năm 1961, lần đầu tiên cuốn “Phép giảng tám ngày” được nhóm “Tinh Việtvăn đàn” xuất bản tại Sài Gòn, do Nguyễn Khắc Xuyên viết lời giới thiệu Chỉđáng tiếc là công trình này không in theo đúng như bản gốc
- Năm 1968, Thanh Lãng đã sưu tầm và có công bố quan trọng nhất là cuốn
“Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh”, đây thực sự là nguồn tư liệu vôcùng quý giá trong việc nghiên cứu chữ quốc ngữ thế kỉ XIX
- Năm 1972, Đỗ Quang Chính cho ra đời công trình “Lịch sử chữ quốc ngữ1620- 1659” (Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1972), trong công trình này, lần đầutiên tác giả công bố những bản viết tay quý giá bằng chữ quốc ngữ do ngườiViệt viết đó là: bức thư của Igesico Văn Tín viết ngày 12/09/1658 gửi cho linhmục Marini; bức thư của Bento Thiện viết ngày 25/01/1659 gửi cho linh mụcMarini; tập “Lịch sử nước Annam” do Bento Thiện viết năm 1959 tại ThăngLong
- Năm 1982, Nguyễn Tài Cẩn và N Stankievich công bố phát hiện một số vănbản quốc ngữ thế kỉ XVII- XVIII tại Paris trên tạp chí Tổ Quốc (s38,1982), vànăm 1991, N Stankievich đã thông báo trên tạp chí Khoa Học của Đại họcTổng hợp Hà Nội (số 4, 1991) về một số tài liệu chữ quốc ngữ viết tay giaiđoạn 1687- 1797, khoảng 600 trang, lưu trữ tại Thư viện hội truyền giáo nướcngoài ở Paris Mặc dù lúc đó các tài liệu này chưa xuất bản nhưng một số vănbản chẳng hạn như “Phép giảng tám ngày” của Alexandre de Rhodes đã đượcsao chụp và lưu giữ tại Phòng tư liệu khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội trong nhiều năm
Trang 12NGÔN NGỮ HỌC
DANH XƯNG HỌC
ĐỊA DANH HỌCNHÂN DANH HỌC
- Năm 2000, Đoàn Thiện Thuật công bố những tài liệu bằng chữ quốc ngữ ở thế
kỉ XVIII được tìm thấy tại kho lưu trữ ở hội truyền giáo nước ngoài tại Paris.Nhưng mãi đến năm 2008 ông mới cho xuất bản cuốn “Chữ quốc ngữ thế kỉXVIII” (Nxb Khoa học Xã hội, 2008), lần đầu tiên 42 văn bản chữ quốc ngữ từnăm 1687- 1825 bằng cả dạng gốc lẫn văn bản được chuyển đổi, xử lí sang chữquốc ngữ hiện nay Có thể nói đây là công trình nghiên cứu công bố phong phú
và công phu nhất từ trước tới nay
Những tác phẩm sưu tầm được công bố đã giúp cho việc nghiên cứu chữQuốc ngữ trở nên dễ dàng và đầy đủ hơn Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi
sẽ chọn những văn bản Quốc ngữ thời kì đầu thế kỉ XVII-XVIII để làm cứ liệu,tham khảo đặc biệt các văn bản trong “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620- 1659” của
Đỗ Quang Chính và “Chữ quốc ngữ thế kỉ XVIII” của Đoàn Thiện Thuật Đâythực sự là những văn bản có đề cập rõ ràng và thiết thực nhất đến vấn đề chúngtôi rất quan tâm trong công trình này là cách ghi nhân danh trong các văn bảnQuốc ngữ thời kì đầu
1.2 Vài nét về nhân danh học
Danh xưng học là một phân nhánh của từ vựng học, thuộc chuyên ngànhngôn ngữ học, đối tượng chủ yếu là tên riêng của người, động vật và sự vật.Danh xưng học được chia làm hai ngành nhỏ là: Địa danh học và nhân danhhọc:
- Địa danh học nghiên cứu về tên đất (địa danh) ;( Lê Trung Hoa, 2013: 8)
- Nhân danh học nghiên cứu về tên người (nhân danh) ;( Lê Trung Hoa, 2013: 8)
Ta có thể hình dung một cách khái quát qua sơ đồ sau:
12
Trang 13Trong xã hội hiện nay, khi giao tiếp với một người mới, thông thườngngười ta sẽ quan tâm hàng đầu đến tên riêng của người đó như một cách đểphân biệt người đó với những con người khác, một cách đặc biệt để ghi dấu ấnriêng con người đó trong bộ não.Nhưng một cách cụ thể hơn, tác giả Trần NgọcThêm (1976: 11-13) cho rằng họ tên riêng có 5 chức năng cơ bản như sau:
- Chức năng phân biệt: họ và tên xuất hiện do nhu cầu cần được phân biệt giữamột đối tượng này với một đối tượng khác Chỉ riêng loại người mới có tênriêng khu biệt từng cá thể để không nhầm lẫn, đây cũng là chức năng chính củatên riêng
- Chức năng biệt giới: chỉ trong một tín hiệu nhỏ là danh xưng, người ta có khảnăng phân biệt được người mang nhân danh đó là thuộc giới nào do những đặc
Trang 14điểm chung nhất mà nhân danh khoác vào mình Tuy nhiên chức năng này chỉ
là tương đối do sự biến đổi trong cách đặc tên không phân biệt nam nữ hiệnnay
- Chức năng thẫm mĩ: tên của một người thường có ý nghĩa kỉ niệm ghi dấu ấnmột mong ước, một kỉ niệm, một giá trị truyền thống nào đó mà người đặt tênhướng đến, nhìn vào tên của một lớp người trong một thời kì, một giai đoạn nào
đó ta có thể hiểu được mong ước của dân tộc đó
- Chức năng bảo vệ: điều này thể hiện rõ ràng nhất qua việc đặt cho con nhữngcái tên xấu, không hay vì mong con không bị ganh ghét, sẽ được các thần bảovệ
- Chức năng xã hội: nhờ vào cái tên người ta biết được thành phần xuất thânhay , thân phận hay địa vị của con người
Theo tác giả Lê Trung Hoa trong cuốn “Nhân danh học” (2013: 19-20)thì các chức năng phân biệt và biệt giới có thể gộp vào làm một, chức năng bảo
vệ không phổ biến và chức năng xã hội thì quá rộng về nghĩa nhưng lại hẹp vềphạm vi sử dụng nên thiết nghĩ, họ tên chỉ còn hai chức năng chủ yếu là phânbiệt và thẩm mĩ
Cũng theo tác giả Lê Trung Hoa (2013: 12-13), nhân danh Việt Nam cóthể phân loại như sau:
- Họ: là một tập hợp hữu hạn, kín về nguyên tắc, bị trung hòa về các giá trị xãhội, ổn định, ít biến động, có lịch sử lâu đời và có tính cha truyền con nối
- Tên đệm: đây là một hệ thống có tính chất mở, thường có chức năng khu biệtgiới tính, vừa liên hệ tới tập thể vừa liên hệ đến cá nhân, rất biến động, là mộthiện tượng tâm lý- thẫm mỹ
14
Trang 15- Tên chính: đây cũng là một hệ thống mở, có số lượng phong phú hơn họ và tênđệm, gắn chặt với cá nhân và cũng là một hiện tượng tâm lý- thẫm mỹ.
- Các danh hiệu: hệ thống này thay đổi tùy theo thành phần xã hội (vua chúa; nho
sĩ, quan lại; lãnh tụ, trí thức; văn nghệ sĩ; tu sĩ; dân thường….), mang tính thẫm
mĩ cao, thấp tùy thành phần
Nhân danh học mang đến những lợi ích thật rõ ràng Về khía cạnh lịch
sử, nhân danh học sẽ trình bày rõ ràng được nguồn gốc, diễn biến phát triển củacác họ, tên đệm, tên chính của người Việt Ở khía cạnh dân tộc và xã hội, nhândanh cho thấy tâm lí của người Việt qua quá trình thay đổi cách đặt tên chocon Đặc biệt, về mặt ngôn ngữ nhân danh học cho thấy sự khác biệt và quan hệgiữa tên chung và tên riêng, giữa nhân danh và địa danh Nhân danh học sẽđem lại những bất ngờ vô cùng thú vị qua những chi tiết liên quan đến nhữngtên người cụ thể trong tên, họ, tự, bút danh, biệt danh,… (Lê Trung Hoa, 2013:14-17)
Trang 16Chương 2: CÁCH GHI NHÂN DANH TRONG
CÁC VĂN BẢN QUỐC NGỮ THỜI KỲ ĐẦU
2.1 Họ
Họ vốn chỉ một tập hợp người cùng tổ tiên, cùng một dòng máu Về sau,
họ được dùng để chỉ các tiếng đặt trước tên đệm và tên chính, dùng chung chonhững người cùng một họ để phân biệt với những người của họ khác (LêTrung Hoa, 2013: 28)
Chức năng của họ là phân biệt một tập hợp người cùng tổ tiên, dòng máunày với một tập hợp cùng tổ tiên, dòng máu khác Họ luôn luôn đi đôi với tênchính (và cả tên đệm, nếu có), nên nó góp phần cá thể hóa, phân biệt người nàyvới người khác (Lê Trung Hoa, 2013:28)
Họ của người Việt Nam luôn luôn đứng ở vị trí thứ nhất trong họ tên (LêTrung Hoa, 2013:29)
Tập “Lịch sử nước Annam” viết tay năm 1659 của Bento Thiện gửi chogiáo sĩ Marini bao gồm 6 tờ giấy viết chữ cỡ nhỏ ở hai mặt, khoảng 12 trang,phần nhiều viết trong khổ 20x29 Có thể nói tập “Lịch sử nước Annam” là vănbản quốc ngữ dài nhất của người Việt được lưu lại Nhận thức được rằng đây làmột công trình có ý nghĩa đối với nước ngoài, đặc biệt là giáo sĩ Marini nênBentô Thiện đã viết thành hai bản đề gửi giáo sĩ Marini qua hai chuyến tàu, mỗichuyến một bản đề phòng rủi ro thất lạc ở chuyến tàu này thì còn một bản ởchuyến tàu kia Bản ở chuyến tàu thứ nhất được tác giả ghi ở đầu thư là 1a via,còn bản kia có đánh dấu là 2a via Thật may mắn, cả hai bản đều đến được taycủa giáo sĩ Marini, hiện được lưu trữ tại văn khố dòng Tên ở La Mã Vỏn vẹn
16
Trang 17trong 12 trang viết, tập “Lịch sử nước Annam” viết một cách khái lược những
sự kiện chính yếu đã diễn ra qua các triều đại bao gồm chuyện Sơn Tinh- ThủyTinh, Trọng Thủy- Mỵ Châu, Thánh Gióng và những phần về phong tục tậpquán, hành chính, địa lý, điểm qua một số chùa chiền, nhà thờ Trong đó có
nhắc đến một số họ của người Việt thuở ban đầu như sau: “ Nước Ngô trước
hết mới có vua trị là Phục Hi Vua thứ hai là Thần Nông Con cháu vua Thần Nông sang trị nước Annam, liền sinh ra vua kinh Dương Vương Trước hết lấy
vợ là nàng Thần Long, liền sinh ra vua Lạc Long Quân Lạc Long Quân trị vì, lấy vợ tên là Âu Cơ…”
Đáng chú ý là sự khác biệt về họ của các nhân vật lịch sử được ghi lại
như sau: “Ngày sau Tô Định sang làm loạn phạt nước Annam Khi ấy còn hai
con gái của Vua Hùng Vương tên là Trương Trắc, Trương Nhị, là hai đền Bà
đi đánh Tô Định Ngô liền thua, mới lập nên đồng trụ trên Quảng Tây.” Hai
nhân vật Trương Trắc, Trương Nhị được nhắc đến ở đâycó sự khác biệt vớicuốn Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn, có viết: “ Tên húy làTrắc, họ Trưng Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh,Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên” Cũng với sự biến đổi tương
tự, trong đoạn khác ta lại có các nhân vật với tên gọi khác với thời điểm hiện
nay: “ Đến đời sau, vua Hán Quảng nhà Ngô lại sai Tướng Mã Viện cùng Lý
Nam Đế cùng Trần Bá Tiên, Triệu Việt Vương cùng sang nước Annam mà ở một người một xứ Đến ngày sau, vua Đàng Vương lại sai Cao Chính Bằng lại
có Cao biền học phép thiên văn địa lí mà lập thành Đại La Kẻ Chợ” Cao
Chính Bằng là Cao Chính Bình và Đàng Vương là Đường Vương như các tàiliệu ngày nay vẫn ghi nhận lại Ngoài ra, trong số 12 nhân vật được nhắc đến
trong đoạn lịch sử sau:“ Đến ngày sau lại dấy loạn, đặt làm 12 nhà Chúa, ở