Tín dụng là một trong những chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính, là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất của các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác. Trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa kéo theo sự cạnh tranh gay gắt, tín dụng chính là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trong những năm qua, vấn đề tín dụng đối với doanh nghiệp của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp không ít khó khăn và tồn tại như sự an toàn, chất lượng, hiệu quả… Điều này cho thấy tầm quan trọng của tín dụng đối với không chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng chính là hạn chế rủi ro, hạn chế những tổn thất to lớn có thể xảy ra làm ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của từng ngân hàng thương mại nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung. Do đó, củng cố, tăng cường, nâng cao chất lượng tín dụng là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại, trong đó có Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam bởi đây luôn là vấn đề cấp thiết và quan trọng đối với mỗi ngân hàng. Từ thực tế của nền kinh tế Việt Nam với hơn 95% các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn là rất cấp thiết, đồng thời xuất phát từ thực tế tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, sưau thời gian học tập, nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, em lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” đề làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Mục đích của chuyên đề Em muốn đánh giá một cách khách quan thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, để từ đó, đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam. Phạm vi của chuyên đề Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam từ các số liệu thống kê trong 3 năm gần đây. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận tư duy: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp tổng hợp, phân tích, thực chứng, diễn giải, kết hợp với quy nạp và diễn dịch. Phương pháp thu thập thông tin từ các số liệu báo cáo do Chi nhánh cung cấp, tham khảo các sách chuyên ngành, thông tin từ báo, tạp chí… Phương pháp quan sát: quan sát tình hình thực tế tại Chi nhánh Kết cấu của chuyên đề Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề bao gồm 3 phần lớn: Phần 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Phần 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Phần 3: Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 5
1.4 Nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ 8
2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 10
2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 10
2.2 Những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
2.3 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 11
3 Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 15
3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng 15
3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 16
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng 22
PHẦN 2:THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH CHƯƠNG DƯƠNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 27
1 Khái quát về Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam 27
1.1 Nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Chi nhánh Chương Dương 27
1.1.1 Nhiệm vụ 27
1.1.2 Bộ máy tổ chức 28
1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Chương Dương 31
1.2.1 Tình hình huy động vốn 31
Trang 21.2.2 Tình hình sử dụng vốn 33
1.2.3 Tình hình một số hoạt động khác 35
1.2.4 Kết quả hoạt động tài chính 36
2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương 37
2.1 Quy định về tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng Techcombank 37
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 39
2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 43
2.3.1 Những kết quả đạt được 43
2.3.2 Những hạn chế tồn tại 44
2.3.3 Nguyên nhân gây hạn chế 45
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH CHƯƠNG DƯƠNG – NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 48
1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chi nhánh Techcombank Chương Dương 48
2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 49
2.1 Đa dạng hóa các hình thức tín dụng 49
2.2 Hoàn thiện phương pháp thẩm định tín dụng 50
2.3 Đa dạng hóa các hình thức đảm bảo tiền vay 51
2.4 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và nhận biết dấu hiệu rủi ro 51
2.5 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác thông tin tín dụng 52
2.6 Các giải pháp khác 52
3 Một số kiến nghị 53
3.1 Đối với Chính phủ 53
3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 53
3.3 Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam 54
KẾT LUẬN 56
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Cơ cấu lao động của Chi nhánh Techcombank Chương Dương 30
Bảng 2: Trình độ lao động của Chi nhánh Techcombank Chương Dương 30
Bảng 3: Tình hình huy động vốn của Chi nhánh Techcombank Chương Dương 31
Bảng 4: Tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh Techcombank Chương Dương 33
Bảng 5: Tình hình dư nợ tín dụng theo đối tượng khách hàng tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 39
Bảng 6: Tình hình dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo thời hạn tín dụng tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 40
Bảng 7: Tình hình dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo ngành kinh tế tại Chi nhánh Techcombank Chương Dương 41
Bảng 8: Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có quan hệ vay vốn tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng Techcombank 42
Bảng 9: Tình hình nợ quá hạn và nợ xấu của doanh nghiệp vừa và nhỏ 43
Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Techcombank 28
Sơ đồ 2: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Chi nhánh Chương Dương 29
Biểu đồ 1: Tình hình nợ xấu của Chi nhánh 34
Biểu đồ 2: Tình hình hoạt động tài chính của Chi nhánh 36
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Tín dụng là một trong những chức năng quan trọng nhất của các tổ chứctrung gian tài chính, là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vựcchứa đựng nhiều rủi ro nhất của các ngân hàng thương mại và các định chế tàichính khác
Trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa kéo theo sự cạnh tranh gay gắt, tín dụngchính là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp được liên tục và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên,trong những năm qua, vấn đề tín dụng đối với doanh nghiệp của các ngân hàngthương mại, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp không ít khó khăn vàtồn tại như sự an toàn, chất lượng, hiệu quả… Điều này cho thấy tầm quan trọngcủa tín dụng đối với không chỉ hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế Việt Nam Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng chính là hạn chế rủi
ro, hạn chế những tổn thất to lớn có thể xảy ra làm ảnh hưởng tới sự tồn tại và pháttriển của từng ngân hàng thương mại nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nóichung Do đó, củng cố, tăng cường, nâng cao chất lượng tín dụng là mối quan tâmhàng đầu của các ngân hàng thương mại, trong đó có Chi nhánh Chương DươngNgân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam bởi đây luôn là vấn đề cấpthiết và quan trọng đối với mỗi ngân hàng
Từ thực tế của nền kinh tế Việt Nam với hơn 95% các doanh nghiệp làdoanh nghiệp vừa và nhỏ, do có vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn là rất cấp thiết,đồng thời xuất phát từ thực tế tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thươngmại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, sưau thời gian học tập, nghiên cứu những
vấn đề mang tính lý luận, em lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” đề làm chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của mình
Trang 6Phạm vi của chuyên đề
Chuyên đề tập trung nghiên cứu thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần
Kỹ Thương Việt Nam từ các số liệu thống kê trong 3 năm gần đây
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận tư duy: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các phương pháp tổng hợp, phân tích, thực chứng, diễn giải, kết hợp với quynạp và diễn dịch
Phương pháp thu thập thông tin từ các số liệu báo cáo do Chi nhánh cung cấp, tham khảo các sách chuyên ngành, thông tin từ báo, tạp chí…
Phương pháp quan sát: quan sát tình hình thực tế tại Chi nhánh
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề bao gồm 3 phần lớn:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại
Phần 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
Phần 3: Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Chương Dương Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
Trang 7PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặtvốn, lao động hay doanh thu Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể chia thành ba loại,cũng căn cứ vào quy mô, là: Doanh nghiệp siêu nhỏ, Doanh nghiệp nhỏ, Doanhnghiệp vừa Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ baogồm:
Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 10 người,tổng tài sản có giá trị không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm khôngquá 100.000 USD
Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 đến dưới 50người, tổng tài sản có giá trị không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng nămkhông quá 3 triệu USD
Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 50 đến dưới 300 lao động,tổng tài sản có giá trị không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm khôngquá 15 triệu USD
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quiđịnh số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi làdoanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là doanhnghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là doanh nghiệp vừa
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay chiếm trên 95% tổng số doanhnghiệp trên toàn quốc với gần 120.000 doanh nghiệp Trong đó, doanh nghiệp Nhànước chiếm 3,5%, còn lại chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm xấp xỉ97% Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, lĩnh vực xây dựng chiếm 14%, nông nghiệp
Trang 8chiếm 14%, còn lại 55% số doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.Những số liệu này cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam góp phầnđóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của cả nước.
1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có vốn đầu tưban đầu thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh, tạo điều kiện tăng tốc độ vòng quay vốn
Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ không thuộc diện kinh doanh những mặthàng mang tính chất độc quyền, tính ổn định trong sản xuất kinh doanh không cao.Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có định hướng lâu dài trong hoạt độngkinh doanh mà thường xuyên thay đổi ngành nghề, cơ cấu mặt hàng, các mặt hàngsản phẩm dịch vụ nhiều về chủng loại, nhưng không lớn về số lượng
Thứ ba, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa vànhỏ thường gọn nhẹ, các mối quan hệ nội bộ dễ điều chỉnh Vì thế, doanh nghiệpvừa và nhỏ có tinh linh hoạt cao, dễ thích ứng với biến động của nền kinh tế thịtrường Công tác điều hàng mang tính trực tiếp, quan hệ giữa người quản lý vàngười lao động khá chặt chẽ Mô hình quản lý gọn nhẹ, ít trung gian đầu mối sẽgiúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, tận dụng được các cơ hội kinh doanhkhi thời cơ đến
Thứ tư, doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động đa dạng, phong phú, trong mọilĩnh vực , trong mọi thành phần kinh tế như sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân, sởhữu hỗn hợp, sở hữu nước ngoài Ở Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu làdoanh nghiệp ngoài quốc doanh
Thứ năm, năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp dẫn đến vốnđầu tư cho doanh nghiệp hạn hẹp cùng với khả năng tiếp cận vốn vay của doanhnghiệp còn nhiều hạn chế, khả năng tự tích lũy thấp nên nhiều doanh nghiệp phảitìm đến con đường kinh doanh liên kết Khi tìm đến con đường này, các doanhnghiệp sẽ phát huy được sức mạnh tập thể, nâng cao uy tín cũng như giá trị tài sản,việc tiếp cận với vốn tín dụng cũng sẽ dễ dàng hơn
Thứ sáu, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp do hạn
Trang 9chế về vốn, trình độ công nghệ, phương thức quản lý Đồng thời, khả năng tiếp cậnthông tin, tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp loại này vẫn chưa cao Đâychính là yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Trong những năm gần đây, người ta đã nhận thấy nền kinh tế càng phát triểnthì vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng trở nên quan trọng, khu vực cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ là nhân tố kinh tế cực kỳ quan trọng thúc đẩy và mở rộngcạnh tranh, đảm bảo ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng… Vai trònày được thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăngtrưởng của nền kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều trong giá trị GDP Doanhnghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản suấtkinh doanh và ngày càng tăng mạnh Ở hầu hết các nước, doanh nghiệp vừa và nhỏchiếm khoảng trên dưới 90% tổng số các doanh nghiệp Tốc độ gia tăng của cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ nhanh hơn các doanh nghiệp lớn Ở Việt Nam, con số này
ở mức trên 95% nên hàng năm các doanh nghiệp này cung cấp một khối lượng sảnphẩm hàng hóa đa dạng và phong phú, đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốcnội Trên thế giới, phần đóng góp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng50% GDP ở mỗi nước; ở Việt Nam là trên 40%
Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ giải quyết một số lượng lớn chỗ làm việccho dân cư, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổnđịnh xã hội Nguyên nhân là do các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thành lập dễdàng với số vốn nhỏ, hoạt động ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau và nhiềukhu vực địa lý kể cả các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi mà các doanh nghiệplớn khó có thể vươn tới Sự tồn tại và kinh doanh có hiệu quả của các doanh nghiệpvừa và nhỏ đã tạo thu nhập và việc làm cho người lao động Ở hầu hết các nước trênthế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm cho khoảng 50%-80% lao độngtrong các ngành công nghiệp và dịch vụ, còn ở Việt Nam là 70%
Thứ ba, các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm năng động nền kinh tếtrong cơ chế thị trường Nguyên nhân là do lợi thế quy mô vừa và nhỏ, chuyển đổi
Trang 10mặt hàng nhanh, tận dụng các nguồn nguyên vật liệu, nhân lực tại chỗ, những nơi
ko thích hợp cho sản xuất lớn nhưng lại sẽ lãng phí nếu không sản xuất
Thứ tư, doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng trong việc tạo lập sựphát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu theo vùng, lãnh thổ Thông thường cácdoanh nghiệp lớn tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế phát triển như các thành phốlớn, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển nhưng lại không đáp ứng được tất cả các yêu cầunhư: lưu thông hàng hóa, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp, giải quyết laođộng, ổn định đời sống nhân dân… Chiều hướng đó sẽ gây ra tình trạng mất cân đốinghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội giữa thành thị với nôngthôn, giữa các vùng trong cả nước Với ưu thế là năng động, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ là động lực chính để phát triển các làng nghề truyền thống, tận dụngnguồn lao động tại địa phương phù hợp với tiềm năng của từng vùng, đặc biệt cácvùng có tiềm năng chỉ vừa đủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự phát triển củaloại hình doanh nghiệp này góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làmthu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và góp phần
đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp
Thứ năm, doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng trong việc thu hútvốn đầu tư trong dân cư và sử dụng tối ưu các nguồn vốn địa phương Do tính chấtnhỏ lẻ, dễ phân tán, đi sâu vào dân cư và yêu cầu số lượng không nhiều nên cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ có tác động rất lớn trong việc thu hút các nguồn nhỏ lẻ,nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tưphát triển
Thứ sáu, doanh nghiệp nhà nước góp phần làm tăng nguồn hàng xuất khẩu
và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hiện nay, trong xu hướng hội nhập thìquan hệ giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hóa giữa các nước là một tất yếu và ngàycàng gắn bó khăng khít Do đó, các sản phẩm truyền thống của từng nước đã trởthành nguồn xuất khẩu quan trọng, vừa có ý nghĩa quảng bá cho hình ảnh của đấtnước đó, vừa tăng thêm thu nhập cho quốc gia Việc tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ đã thúc đẩy việc khai thác tiềm năng các ngành nghềtruyền thống ở các địa phương của từng nước Bên cạnh đó, việc thành lập các
Trang 11doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làm tăng khả năng cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho
xã hội Cùng với đó, ngân sách Nhà nước cũng được tăng lên Mặc dù số đóng gópcủa mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ là không lớn, nhưng với số lượng đông đảo thì sựđóng góp đó là đáng kể
Thứ bảy, doanh nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ cho sự phát triển của các doanhnghiệp lớn thông qua việc cung cấp nguyên vật liệu, thực hiện các hợp đồng phụ,làm đại lý tạo lập các kênh phân phối sản phẩm Một doanh nghiệp lớn để đảm bảocho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thường phải có một mạng lưới các nhàcung cấp và phân phối sản phẩm Những đối tượng này, không ai khác chính là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này giúp cho các doanh nghiệp lớn làm giảm được
sự ảnh hưởng do biến động của thị trường Mặt khác, các doanh nghiệp vừa và nhỏlàm hạn chế sự độc quyền của các tập đoàn lớn, duy trì tính cạnh tranh lành mạnhcủa nền kinh tế, đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng Bản thân cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cạnh tranh với nhau gay gắt nhằm tìm một chỗ đứngcho mình trên thị trường để tồn tại và hơn nữa, để phát triển thành các doanh nghiệplớn Chính yếu tố này làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn, dễ thích nghi hơntrước những biến động của thị trường trong nước cũng như quốc tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu sử dụng các công nghệ trung gian vàosản xuất kinh doanh Họ tìm mọi cách sử dụng tối đa những công nghệ đó, tìm hiểunhững phương pháp sử dụng hiệu quả và đặc biệt luôn tìm cách sáng tạo, cải tiếncông nghệ ở một mức độ nào đó Quá trình này thúc đẩy nhanh tốc độ chuyển giaocông nghệ, tránh lãng phí nguồn lực về tri thức của mỗi quốc gia
Thứ tám, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra môi trường thuận lợi cho việcđào tạo và phát triển kỹ năng kinh doanh Mọi người khi làm quen với môi trườngkinh doanh thường bắt đầu với doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ những doanh nghiệpvừa và nhỏ, các nhà kinh doanh sẽ được làm quen với sự cạnh tranh, tiếp cận các kỹnăng quản lý cơ bản, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Họ sẽ là người lãnh đạocác doanh nghiệp này phát triển thành các doanh nghiệp lớn hoặc tự tìm kiếm cácdoanh nghiệp lớn để phát triển hơn nữa năng lực của mình Nguồn nhân lực về quản
lý vì thế được nâng cao cả về số lượng và chất lượng
Trang 121.4 Nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào trong nền kinh tế, nguồn vốncủa doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa vào hai nguồn sau:
Thứ nhất là nguồn vốn chủ sở hữu Đây là số vốn của các chủ sở hữu màdoanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanhnghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đónguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ Nguồn vốn chủ sở hữu baogồm:
Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộngdoanh nghiệp Chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặccác tổ chức tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu;
Các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặcthấp hơn mệnh giá;
Các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng vốn chủ sởhữu);
Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệptheo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, củaHội đồng quản trị,
Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hốiđoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, và các quỹ hình thành tư lợinhuận sau thuế (Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộcvốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư XDCB, .);
Giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn an toàn nhất cho doanh nghiệp Tuy nhiên, việc mở rộngkinh doanh dựa trên nguồn vốn này là không khả thi đối với các doanh nghiệp vừa vànhỏ vì hạn chế về tiềm lực tài chính Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn chủ sở hữu làmcho các doanh nghiệp không tận dụng được khoản tiếp kiệm thuế nhờ đòn bẩy nợ
Thứ hai là vốn vay Các nguồn tín dụng chính thức mà các doanh nghiệphiện có thể tiếp cận được là từ trái phiếu, cổ phiếu, tín dụng thương mại, tín dụngngân hàng…
Trang 13Tiếp cận vốn thông qua thị trường chứng khoán chính là bán cổ phiếu và tráiphiếu công ty ra công chúng Cổ phiếu chính là một công cụ huy động vốn một cáchnhanh chóng của doanh nghiệp Ngoài ra, cổ phiếu còn nhiều ưu điểm khác như:mệnh giá thấp nên dễ thu hút nhà đầu tư, thủ tục đơn giản, là nguồn vốn dài hạntương đối ổn định Tuy nhiên, thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn “lìnhxình” và cổ phiếu cũng có nhược điểm như: chỉ có công ty đại chúng (tức công ty
cổ phần nằm trong các loại hình mà Nhà nước quy định) mới được phép phát hành
cổ phiếu hoặc doanh nghiệp phải có vốn điều lệ từ 10 tỉ đồng trở lên, trong khi đã làdoanh nghiệp nhỏ thì thường có vốn điều lệ thấp hơn mức này; ngoài ra, phát hành
cổ phiếu doanh nghiệp phải chia sẻ lợi nhuận với cổ đông theo tỷ lệ góp vốn, chi phí
sử dụng vốn cao Còn đối với trái phiếu cũng là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệphuy động vốn trung hạn hoặc cho các dự án Nhưng trái phiếu cũng có nhược điểmnhư: để vay vốn từ trái phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải là doanh nghiệp lớn vàđược sự bảo lãnh tốt; hơn nữa, giao dịch trái phiếu trên thị trường chứng khoán hiệntại chưa sôi động, chi phí phát hành cao, áp lực trả lãi và nợ gốc, phát hành tráiphiếu quá mức sẽ giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nên kế hoạch sửdụng vốn phải rất khả thi
Nguồn vốn tín dụng thương mại được hình thành dưới dạng các khoản phảithu có ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung
Tỷ lệ nguồn vốn tín dụng thương mại có thể chiếm đến 20% tổng nguồn vốn, thậmchí lên tới 40% Đây là một phương thức tài trợ có chi phí thấp, tiện dụng và linhhoạt trong hoạt động kinh doanh, tạo cơ hội cho việc mở rộng các quan hệ hợp táckinh doanh một cách lâu bền Tuy nhiên, có thể thấy rằng nguồn vốn tín dụngthương mại dựa trên sự tín nhiệm trong kinh doanh giữa các đối tác với nhau nênđiều này gây ra những cản trở cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cậnnguồn vốn này
Các doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận nguồn vốn thông qua các công ty chothuê tài chính Công ty cho thuê tài chính là tổ chức phi tín dụng, hoạt động gầngiống như ngân hàng Các công ty thực hiện cho thuê tài chính dưới hình thứckhông cần thế chấp ngân hàng Thế nhưng, thời gian qua còn nhiều doanh nghiệp
Trang 14vừa và nhỏ hầu như chưa tiếp cận dịch vụ này vì các loại hình của các hình thức nàychưa đa dạng, chỉ ưu tiên cho các khách hàng thuê tài chính mua các thiết bị thôngdụng phục vụ sản xuất, kinh doanh như: phương tiện vận tải (ô tô, tàu), máy ủi, máymóc văn phòng, thiết bị ngành mà loại trừ các thiết bị có khấu hao lớn và phứctạp, hoặc có giá trị vài chục tỉ đồng Ngoài ra, khi chọn cách tiếp cận nguồn vốnnày, doanh nghiệp ngoài tham gia 20% vốn trên giá trị tài sản còn phải ký quỹ thêmkhoảng 10%, quỹ này không được xem là trả nợ trước và được khấu trừ vào kỳ nợcuối cùng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng được xem là nguồn vốn căn bản của các doanhnghiệp vừa và nhỏ bởi ngân hàng là một tổ chức tài chính huy động vốn từ nhiềunguồn khác nhau, vì thế luôn có đủ khả năng cung cấp các nguồn tài trợ ngắn, trung
và dài hạn cho các doanh nghiệp trong các dự án mở rộng hoặc đầu tư theo chiềusâu của doanh nghiệp Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm như tínhlinh hoạt về thời hạn, sự đa dạng về hình thức tài trợ Tuy nhiên, nó hạn chế sự tiếpcận của doanh nghiệp vì các điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí
sử dụng vốn
2 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một mắt xích quan trọng trong quá trình phát triển của cả mộtnền kinh tế bởi tín dụng thúc đẩy, làm cho nền kinh tế không những thay đổi vềlượng mà còn thay đổi về chất Đã có rất nhiều những khái niệm khác nhau về tíndụng tồn tại qua các thời kỳ; song, tín dụng có thể được hiểu một cách chung nhấtnhư sau:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa haichủ thể; trong đó, người sở hữu chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị chongười sử dụng, sau một thời gian nhất định, người sở hữu sẽ thu hồi lại một lượnggiá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bêncho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác),
Trang 15trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thờihạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốngốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tóm lại, quan hệ tín dụng ngân hàng, cũng như quan hệ tín dụng, bao giờcũng dựa trên ba đặc tính cơ bản: lòng tin, tính thời hạn và tính hoàn trả
2.2 Những đặc trưng cơ bản của tín dụng ngân hàng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất phong phú và đa dạng.Theo các tiêu thức khác nhau thì các loại tín dụng cũng được phân loại khác nhau.Các loại tín dụng khác nhau lại có những đặc điểm khác nhau Tín dụng ngân hàngđối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, do quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏkhông lớn, cùng với đó, việc tiếp cận thôgn tin và công nghệ tiên tiến thường là mộttrở ngại lớn khó vượt qua nên tín dụng cho loại hình các doanh nghiệp này thườngkhông lớn lắm
Thứ hai, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nền hầu hếtcác doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ vay các khoản vốn ngắn hạn Các khoản vốn nàychủ yếu phục vụ cho quá trình sản xuất chứ chưa có tác dụng nâng cao, mở rộngnăng lực sản xuất
Thứ ba, vì thường có vốn chủ sở hữu nhỏ, quy mô sản xuất nhỏ, thương hiệuchưa được biết đến rộng rãi cùng với hạn chế trong khả năng trình bày về sự hiểuquả của phương án sản xuất kinh doanh nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa đủsức thuyết phục đối với các ngân hàng, do đó họ khó tiếp cận được với nguồn vốncủa ngân hàng Thêm vào đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường hạn chế về mặttài sản thế chấp Vì thế, việc vay vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt khókhăn cho các dự án đầu tư trung và dài hạn
2.3 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng nhóm dựatrên một số tiêu thức nhất định Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề
để thiết lập các quy trình để cung cấp vốn cho khách hàng một cách thích hợp và
Trang 16nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng Các hình thức tín dụng được phân loạidựa trên những căn cứ sau đây:
Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, đượcngân hàng sử dụng để cho vay vốn lưu động tạm thời thiếu ở cácdoanh nghiệp
Tín dụng trung hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm,các doanh nghiệp sử dụng loại vốn vay này để mua sắm thêm máymóc thiết bị, dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm hoặc xây dựng các công trình nhỏ có thời hạnthu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được
sử dụng để cung cấp vốn cho việc xây dựng cơ bản như: đầu tư xâydựng các xí nghiệp mới, xây dựng cơ sở hạ tầng…
Cách phân chia này giúp ngân hàng biết được nhu cầu vốn của các doanhnghiệp trong từng thời kỳ nhất định, để từ đó, điều chỉnh mức cung tín dụng chophù hợp với nhu cầu của nền kinh tế
Căn cứ vào đối tượng tín dụng:
Tín dụng vốn lưu động: là loại hình tín dụng được cung cấp để hìnhthành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dữ trữhàng hóa đối với xí nghiệp, thương nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếuhụt tạm thời Loại tín dụng này được thực hiện dưới hai phương thức:
Cho vay dữ trữ hàng hóa, cho vay chi phí sản xuất
Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiếtkhấu kỳ phiếu với thời hạn cho vay là ngắn hạn
Tín dụng vốn cố định: là loại hình tín dụng mà ngân hàng cho vay đểhình thành tài sản cố định trong các doanh nghiệp, doanh nghiệp dùngvốn này để mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, xâydựng nhà xưởng, kho bãi… Tín dụng vốn cố định được thực hiện theocác phương thức: tín dụng theo dự án, tín dụng thuê mua, tín dụng trảgóp… Thời hạn cho vay đối với loại này là trung và dài hạn
Trang 17 Căn cứ vào mức độ đảm bảo tiền vay:
Tín dụng có đảm bảo: là loại hình tín dụng, trong đó, ngân hàng cungcấp với điều kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh củabên thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngânhàng, khi vay vốn, đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này là căn cứpháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồnthu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trongtrường hợp người vay không có khả năng trả nợ
Tín dụng không có đảm bảo: là loại hình tín dụng, trong đó, khoảnvay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ
ba Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín Đối với những khách hàng tốt,trung thực trong kinh doanh, có khả nâng tài chính mạnh, quản trị cóhiểu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồnthu nợ bổ sung
Căn cứ vào mục đích tín dụng:
Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnhvực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổsung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này
Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sảnxuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, laođộng…
Căn cứ vào phương thức cấp tiền vay:
Phương thức cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn, khách hàng vàngân hàng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tíndụng, mỗi hợp đồng có thể phát tiền vay một lần hay nhiều lần phùhợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng.Mỗi lần nhận tiền vay, khách hàng phải làm giấy nhận nợ
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: khách hàng và ngân
Trang 18hàng căn cứ vào dự án, phương thức sản xuất, kế hoạch sản xuấtkinhdoanh để tính toán và thỏa thuận một hạn mức tín dụng đượcduy trì trong một thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuấtkinh doanh Phương thức cho vay này áp dụng cho các doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả, khả năng quay vòng vốn nhanh, hệ sốthanh toán cao, vay trả thường xuyên.
Căn cứ vào hình thức giá tự có:
Cho vay bằng tiền: là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng, đượcthực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau
Cho vay bằng tài sản: là loại cho vay được áp dụng phổ biến dướihình thức tài trợ thuê mua
Ngoài ra, các hình thức tín dụng còn được phân chia căn cứ vào phương thứchoàn trả tiền vay (trả nợ một lần trong kỳ, trả nợ nhiều lần trong kỳ), xuất xứ vốnvay (cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp), đối tượng được cấp tín dụng (tín dụngcho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác; tín dụng cho Nhà nước vay)
Các hình thức tín dụng là sản phẩm của ngân hàng thương mại trên thịtrường kinh doanh tín dụng và cung cấp dịch vụ ngân hàng Chính sự phong phú vềnhu cầu vay vốn của doanh nghiệp cùng với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trườngngân hàng đã làm cho các sản phẩm tín dụng của ngân hàng ngày càng được cảithiện theo hướng đi lên Để đạt được doanh số và hiệu quả cho vay cao, các ngânhàng đã không ngừng tìm cách đổi mới nghiệp vụ kinh doanh của mình cho phùhợp với các đối tượng khách hàng Điều đó có nghĩa là không phải đối với mọidoanh nghiệp, ngân hàng đều cung cấp một sản phẩm tín dụng như nhau mà đối vớitừng khách hàng, ngân hàng sẽ áp dụng một hình thức tín dụng hợp lý, với một mứclãi suất và thời hạn cho vay phù hợp Nhận thức rõ vấn đề này là vô cùng cần thiếtđối với ngân hàng, nhất là khi cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mộtđối tượng khách hàng có độ rủi ro cao
3 Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương
Trang 193.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợpvới sự phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với khả năng của ngân hàng, và số vốn vaynày được khách hàng đứa vào quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra số tiền lớn hơn,đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đủ và đúng hạn, đồng thời, kháchhàng vay có thể trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận, khối lượng sản phẩm hàng hóahữu ích cung cấp cho xã hội tăng
Như vậy, khi xem xét chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung và đốivới doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, cần tính đến ba nhân tố: ngân hàng thươngmại, khách hàng và nền kinh tế
Xét từ giác độ ngân hàng thương mại: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm
vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tíchcực của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường,đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Chất lượng hoạt động tín dụngphải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng,
tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữangắn hạn, trung và dài hạn trong nền kinh tế
Xét từ giác độ khách hàng: thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự amhiểu khách hàng sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng, đảmbảo thỏa mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,chất lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầuhợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hútđược khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phùhợp với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng,góp phần làm lành mạnh tài chính khách hàng
Xét từ giác độ nền kinh tế: hoạt động tín dụng trong những năm gần đâyphản ánh rõ nét sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới với nhiềukhái niệm mới, nội dung mới để đạt được sự thống nhất về nhận thức và tạo điềukiện nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Tín dụng phục vụ sản xuất kinh
Trang 20doanh, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phầntăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đanguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tếphát triển.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ảnh mức độthích nghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thểhiến sức mạnhc ủa một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại Chất lượngtín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơngiản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về sản xuất, chiphí nghiệp vụ…
3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng,trong đó có các chỉ tiêu cơ bản sau:
Nợ xấu mang các đặc trưng sau:
Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi cáccam kết này đã hết hạn
Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫnđến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi
Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trịphát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày
Cụ thể, các khoản nợ xấu bao gồm:
- Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3)
- Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4)
Trang 21- Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5)
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tổng dư nợ cho vayCũng theo quy định này, các ngân hàng có thể chọn phân loại nợ theophương pháp định lượng hay phương pháp định tính với các cách xếp loại khácnhau như sau:
Phương pháp định lượng của Quyết định 493 phân loại nợ thành năm nhóm,
bao gồm:
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá cókhả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phátsinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấpnhận thanh toán
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơcấu lại thời hạn trả nợ
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày,
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chínhphủ xử lý
Theo phương pháp này, mặc dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể đểphân loại nợ như trên nhưng tổ chức tín dụng vẫn có quyền chủ động tự quyết địnhphân loại bất kỳ khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức
độ rủi ro cao nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm
Phương pháp định tính của Quyết định 493 cũng quy định phân loại nợ thành
năm nhóm tương ứng như năm nhóm nợ theo cách phân loại nợ theo phương pháp
Trang 22định lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ,
mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của
tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận Các nhóm nợ bao gồm:
Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năngthu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn
Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ được đánh già là có khả năng thuhồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khảnăng trả nợ
Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là không cókhả năng thu hồi gốc và lãi khi đến hạn
Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng tổnthất cao
Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là khôngcòn khả năng thu hồi, mất vốn
Tỷ lệ nợ xấu được coi là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến nhất khi đánh giá vềchất lượng tín dụng ngân hàng vì nó biểu hiện cho những rủi ro tiềm ẩn về khả năngthu hồi gốc và lãi vay của ngân hàng Chỉ tiêu này càng thấp thì chất lượng tín dụngcủa ngân hàng càng cao và ngược lại Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nướccho phép tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%,nghĩa là trong 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ xấu tối đa chỉ đượcphép là 5 đồng Tuy nhiên, để chỉ tiêu này không vượt quá quy định của Ngân hàngNhà nước, hầu hết các ngân hàng thương mại đều phân loại nợ theo phương phápđịnh lượng do việc phân loại nợ theo phương pháp định tính có nguy cơ làm tăng tỉ
lệ nợ xấu của một ngân hàng gấp 2-3 lần so với cách phân loại định lượng Ngânhàng Nhà nước trong một khảo sát công bố mới đây cũng nhận thấy, phần đông các
tổ chức tín dụng đang thực hiện phân loại nợ theo quy định tại Điều 6 (theo phươngpháp định lượng) đều có tỉ lệ nợ xấu dưới 3%
Tỷ lệ nợ quá hạn:
Bên cạnh tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cũng góp phần phản ánh chất lượng
Trang 23tín dụng ngân hàng, tuy với mức độ thấp hơn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quáhạn Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trảđúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ Các khoản nợ quáhạn bao gồm:
- Nợ cần chú ý
- Nợ dưới tiêu chuẩn
- Nợ nghi ngờ
- Nợ có khả năng mất vốn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn x 100%
Tổng dư nợ cho vayChỉ tiêu này cho biết việc khách hàng không thực hiện được việc trả nợ đúnghạn theo cam kết Cũng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cao phản ánh tình hìnhtín dụng của ngân hàng có chất lượng thấp Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấpnhận được là dưới 3%
Các khoản nợ quá hạn phát sinh có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan (trình
độ quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hâu, doanh nghiệpkhông thích nghi được với thị trường, doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất…) và nguyênnhân khách quan (rủi ro trong kinh doanh do thiên tai, chiến tranh, có các khoản nợ
do bị chậm thanh toán tiền hàng…) Trong thực tế, rủi ro trong hoạt động kinh doanh
là không thể tránh khỏi, do đó, các ngân hàng thương mại phải tùy thuộc vào đốitượng khách hàng của mình mà thiết lập mức giới hạn tỷ lệ nợ quá hạn nhất định
Hiệu suất sử dụng vốn:
Đây là chỉ tiêu dùng để so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khảnăng huy động vốn của ngân hàng đó tại một thời điểm, đồng thời, xác định hiệuquả của một đồng vốn huy động Chỉ tiêu này được tính như sau:
Hiệu suất sử
Tổng dư nợTổng vốn huy độngThông thường, nếu nhìn vào cách tính, ta sẽ thấy chỉ tiêu này càng lớn chứng
Trang 24tỏ ngân hàng sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của ngân hàng sẽ hiệu quảhơn Tuy nhiên, điều này chưa chắc đã đúng Thực ra, ta chưa thể khẳng định đượchiệu suất sử dụng vốn cao thì chất lượng tín dụng cùa ngân hàng là tốt và ngược lại,bởi tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động lớn song có thể tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn vẫn ở tỷ lệthấp, làm ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng Ngoài ra, ta có thể thấy rằngngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn cao chưa hẳn đã tốt hoặc ngược lại, do nếu chỉtiêu này có giá trị lớn (càng lớn hơn 1, tức tổng số tiền huy động ít hơn tổng số tiềncho vay) thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn khác có chi phí cao hơn; đồngthời, nếu hiệu suất sử dụng vốn thấp (có giá trị càng nhỏ hơn 1, tức tổng số tiền huyđộng được nhiều hơn tổng số tiền cho vay) thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thừavốn Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp so sánh khả năng cho vay vàhuy động vốn của ngân hàng Vì vậy, khi xem xét ảnh hưởng của chỉ tiêu này tớichất lượng tín dụng của ngân hàng, chúng ta phải xem xét một cách tổng hợp chỉtiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác.
Tỷ lệ thu nợ:
Tỷ lệ thu nợ = Doanh số thu nợ x 100%
Doanh số cho vayChỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng Nóphản ánh với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêuđồng vốn Tỷ lệ này càng cao càng tốt và càng chứng tỏ ngân hàng có nhiều khoảntín dụng có chất lượng tốt
Vòng quay vốn tín dụng:
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng trongmột thời gian nhất định (thường là một năm), phản ánh thời gian thu hồi nợ củangân hàng là nhanh hay chậm và được xác định như sau:
Vòng quay vốn
Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quânChỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất lượngtín dụng càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vì
Trang 25lượng vốn do các doanh nghiệp sản xuất vay chiếm tỷ trọng lớn dư nợ thì chỉ tiêunày của ngân hàng sẽ thấp hơn (vốn quay vòng chậm hơn) so với lượng vốn do cácdoanh nghiệp thương mại vay chiếm tỷ trọng lớn dư nợ Do vậy, để có sự chính xáctrong xem xét chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu này thì các tiêu thức tính toánphải thống nhất, vòng quay vốn tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạnvay và từng đối tượng vay cụ thể.
Tỷ suất lợi nhuận của hoạt động tín dụng:
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận của
hoạt động tín dụng =
Lợi nhuận từ hoạt động
Tổng dư nợ tín dụngChỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của các khoản tín dụng, một khoản tíndụng ngắn hạ hay dài hạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lạilợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này có giá trị lớn chứng tỏ các khoản vay củangân hàng sinh lời và ngược lại Đánh giá chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêunày cũng chỉ mang tính chất tương đối vì chỉ tiêu này cũng phụ thuộc khá nhiều vàochính sách lãi suất Chẳng hạn trường hợp khách hàng được vay một khoản tíndụng, cam kết trả nợ theo niên kim cố định và đã trả nợ đầy đủ qua các kỳ đầu,nhưng đến kỳ cuối cùng, do khó khăn trong sản xuất kinh doanh, khách hàng nàykhông trả được nợ đúng hạn, lúc này khoản vay có sinh lời nhưng vẫn tồn tại mộtkhoản nợ quá hạn là một phần trong dư nợ gốc ban đầu nên cũng không thể khẳngđịnh đây là một khoản tín dụng có chất lượng tốt Ngoài ra, khi so sánh chất lượngtín dụng giữa các ngân hàng thương mại, không thể kết luận được chất lượng tíndụng của ngân hàng này cao hơn ngân hàng khác do có tỷ suất lợi nhuận của hoạtđộng tín dụng cao hơn, nguyên nhân cũng bởi do sự khác nhau trong chính sách lãisuất của từng ngân hàng Vì vậy, chỉ tiêu này cũng nên được xem xét một cáchtương đối trong mối quan hệ với các chỉ tiêu và yếu tố quan trọng khác làm ảnhhưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng
Trang 263.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanhnghiệp, ta phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để
từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực.Mặt khác, cả ngân hàng và doanh nghiệp cần cố gắng linh hoạt để phù hợp vớinhững quy định về hoạt động tín dụng của Nhà nước Có như thế, cả ngân hàng vàdoanh nghiệp mới đề ra được các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt đượcmục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất Các nhân tố ảnh hưởng tới chấtlượng tín dụng bao gồm:
a Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, nó có ý nghĩaquyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng Chính sách tín dụng chính làquy định, hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăngcường chuyên môn hóa trong phan tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạtđộng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Chính sách tíndụng của ngân hàng thương mại phải phù hợp với chính sách tín dụng của Ngânhàng Nhà nước, với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước; đồng thời,cũng phải hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sửdụng vốn vay Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoahọc và thực tiễn
Chính sách tín dụng của ngân hàng gồm có những nội dung cơ bản sau:chính sách khách hàng, chính sách quy mô và giới hạn tín dụng, lãi suất và phí suấttín dụng, thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ, các khoản đảm bảo, chính sách đối với cáctài sản có vấn đề Những nội dung cơ bản, cụ thể trong chính sách tín dụng đã trỏthành xương sống trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Mục tiêucủa nó là giảm thiểu rủi ro tín dụng, phục vụ khách hàng trên cơ sở an toàn và làmtăng khả năng sinh lời Chính sách tín dụng của ngân hàng càng cụ thể, logic, chặt
Trang 27chẽ, vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng, mà không làm bóhẹp, gây ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng thì chấtlượng tín dụng của ngân hàng càng cao và ngược lại.
Thông tin tín dụng
Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết địnhcần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tíndụng, nâng cao hiệu quả tín dụng Những quyết định đúng đắn này góp một phầnkhông nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tín dụng của khoản vay cũng như chấtlượng tín dụng chung của toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng Thông tin tíndụng có thể thu thập được từ nguồn thông tin tín dụng sẵn có của ngân hàng, từkhách hàng, từ đối thủ cạnh tranh, từ nguồn trực tiếp, nguồn gián tiếp, từ các nguồnthông tin của cơ quan pháp luật…
Công tác tổ chức của ngân hàng
Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động đếnmọi hoạt động của ngân hàng Một ngân hàng có cơ cẩu tổ chức được sắp xếp mộtcách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liênkết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ được thực hiệnkịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có hiệu của và an toàn các khoảntín dung, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng
Chất lượng, trình độ cán bộ tín dụng
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanhnói chung và với hoạt động ngân hàng nói riêng Chính nhân viên tín dụng là nhữngngười thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp, đánh giá tài sản, các khoản nợcủa doanh nghiệp, phân tích luồng tiền, đưa ra quyết định cho vay, thu nợ, kiểm tra,kiểm soát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp, đồng thời kiểm tra, kiểm soát đối vớiviệc thu nợ… Như vậy, trình độ, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớntới chất lượng của các khoản tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh của ngân
Trang 28hàng nói chung bởi đây là hoạt động chính và cơ bản của bất cứ một ngân hàng nào.
Vì vậy, cán bộ tín dụng phải có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, như vậy sẽgiúp ngân hàng hạn chế tối đa những sai phạm có thể xảy ra để đem lại nhữngkhoản tín dụng có chất lượng cho ngân hàng
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Đây là công tác mà ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên, liên tụcnhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình, để phù hợp với các chínhsách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra Công tác này có tác dụng điều chỉnh hoạtđộng tín dụng của ngân hàng cho đúng hướng, phát hiện những sai phạm trong quátrình làm việc, trong đội ngũ cán bộ nhân viên, kiểm tra hiệu quả hoạt động tín dụngnói riêng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung Để làm tốt công tácnày, ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệpv ụ, trungthực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh Có như thế, côngtác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
b Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Năng lực của doanh nghiệp
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệuquả Nhưng nhiều khi do năng lực còn hạn chế, họ không thực hiện được mục đíchcủa mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng, làmgiảm hoặc mất khả năng trả nợ Như vậy là làm giảm chất lượng của khoản tín dụng
mà doanh nghiệp đã vay
Trình độ quản lý và điều hành của doanh nghiệp
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế (về học vấn, kiến thức,kinh nghiệm thực tế…) nên nhiều khi công việc không được tổ chức, sắp xếp hợp
lý, doanh nghiệp chuyên môn hóa chưa cao, phân công công tác chưa rõ ràng, nhânviên chưa làm việc với hiệu suất, mang lại hiệu quả cao, cán bộ lãnh đạo không dựđoán được những biến động của thị trường, có những yếu kém trong marketing sản
Trang 29phẩm… Do bảo thủ, nhiều nhà quản lý không dám đổi mới, khiến hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp không có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hồi hếtđược vốn và làm ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đếnchất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng.
Đạo đức của khách hàng
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liênquan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốnvay Nhưng những thông tin mà cán bộ tín dụng thu thập được có thể bị thay đổi saukhi doanh nghiệp nhận được tiền vay Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốnvay sai mục đích dẫn đến không đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm hiệuquả sử dụng vốn vay ngân hàng kém, khiến nợ chậm thu hồi, thậm chí không thuhồi được Vì vậy, đạo đức của người đi vay cũng là một phần quan trọng ảnh hưởngtới chất lượng tín dụng của khoản vay
c Các nhân tố khác
Môi trường kinh tế
Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng tới khả năng tài chính của người vay hay nói
rõ hơn là môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khókhăn, ảnh hưởng tới thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng,
do đó, ảnh hưởng đến chất lượng của khoản tín dụng ngân hàng Ngược lại, môitrường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh, đồng thời, lợi nhuận thu được sẽ cao và
từ đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khoản vay sẽ được trả đúng hạn, khoản tíndụng ngân hàng sẽ có chất lượng tốt
Môi trường pháp lý
Pháp luật luôn điều chỉnh hoạt động của tất cả các doanh nghiệp trong mọingành nghề sản xuất kinh doanh để đảm bảo sự lành mạnh, cân đối, hợp lý và đúngđịnh hướng trong sự phát triển chung của nền kinh tế Vì vậy, các văn bản pháp quy
Trang 30điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp đều có ảnh hưởng nhất định tới hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kéo theo sự ảnh hưởng đến khả năng, thờihạn trả nợ và như vậy, pháp luật ảnh hưởng một cách gián tiếp tới chất lượng tíndụng ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, luôn hoạt động trong hànhlang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào Cơ chếhoạt động của ngân hàng nói chung và cơ chế vận hành hoạt động tín dụng nói riêngcủa ngân hàng luôn nằm dưới sự quản lý, kiểm tra, kiểm soát, điều hành của Nhànước Do đó, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì càng đem lại hiệuquả hoạt động cảu ngân hàng cũng như của các doanh nghiệp và đảm bảo được chấtlượng tín dụng của doanh nghiệp đối với ngân hàng Ngược lại, nếu môi trườngpháp lý không hoàn chỉnh, có nhiều lỗ hổng thì kết quả mang lại sẽ là tiêu cực cho
cả ngân hàng và doanh nghiệp, có nghĩa là, làm cho chất lượng tín dụng ngân hàngkém đi, nợ khó có thể thu hồi
Môi trường tự nhiên
Yếu tố thiên tai không chỉ gây ảnh hưởng xấu tới kết quả kinh doanh của cácdoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp mà còn ảnh hưởngtiêu cực tới các doanh nghiệp kinh doanh thương mại Thiên tai (lũ lụt, hạn hán,mưa bão, hỏa hoạn…) xảy ra làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc khôngthể, làm cho chất lượng các khoản tín dụng bị giảm sút Đây là yếu tố khách quan,khó lường trước có tác động không nhỏ tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, đồng thời là yếu tố gián tiếp tác động tới chất lượng tín dụng củakhoản vay
PHẦN 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH
CHƯƠNG DƯƠNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI